1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn miếu quốc tử giám thăng long hà nội trong nền văn hóa giáo dục việt nam

142 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Ủy ban Nhân dân Tổ chức Khoa học, Giáo dục, Văn hóa của Liên Hiệp Quốc VHGD Văn hóa giáo dục VHKH Văn hóa, khoa học VM-QTG Văn Miếu-Quốc Tử Giám... Lý do

Trang 1

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

LÊ THỊ THU HƯƠNG

VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM

THĂNG LONG - HÀ NỘI

TRONG NỀN VĂN HÓA GIÁO DỤC VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

Hà Nội 2015

Trang 2

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

LÊ THỊ THU HƯƠNG

VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM

THĂNG LONG - HÀ NỘI

TRONG NỀN VĂN HÓA GIÁO DỤC VIỆT NAM

Chuyên ngành: Văn hóa học

Mã số: 60310640

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Quý Đức

Hà Nội 2015

Trang 3

1

XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS Lê Quý Đức

Trang 4

2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Quý Đức Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được

ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan

Lê Thị Thu Hương

Trang 5

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ GIÁO DỤC

VÀ KHÁI QUÁT VỀ VĂN MIẾU-QUỐC TỬ GIÁM THĂNG LONG-HÀ NỘI

1.1 Những vấn đề lý luận chung về văn hóa giáo dục 12

1.1.2 Cơ cấu và chức năng của văn hóa giáo dục 16

1.2 Khái quát về Văn Miếu-Quốc Tử Giám Thăng Long-Hà Nội 22

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Văn Miếu-Quốc

Tử Giám

22

1.2.3 Khái lược hoạt động của Văn Miếu-Quốc Tử Giám Thăng Long 32

Chương 2:

VAI TRÒ CỦA VĂN MIẾU-QUỐC TỬ GIÁM THĂNG

LONG-HÀ NỘI ĐỐI VỚI NỀN VĂN HÓA GIÁO DỤC VIỆT NAM

THỜI TRUNG ĐẠI

39

2.1 Văn Miếu-Quốc Tử Giám: nơi truyền bá triết lý của nền

văn hóa giáo dục

39

2.1.1 Bản chất, mục tiêu của nền văn hóa giáo dục Việt Nam 39 2.1.2 Đường lối phát triển nền văn hóa giáo dục 42

2.2 Văn Miếu-Quốc Tử Giám: thiết chế tiêu biểu thực hành

nền văn hóa giáo dục

45

2.2.1 Trường đào tạo trình độ cao nhất của nền văn hóa giáo dục 45 2.2.2 Cơ quan (sự nghiệp) phục vụ nền giáo dục 48 2.2.3 Nơi tổ chức các hoạt động khác của nền văn hóa giáo dục 49

2.3 Văn Miếu-Quốc Tử Giám: cơ quan truyền bá tri thức,

tư tưởng

53

Trang 6

4

2.3.1 Quốc Tử Giám- cơ quan truyền bá tri thức, tư tưởng và

văn chương

53

2.3.2 Văn Miếu-Quốc Tử Giám: cơ quan thực thi phương pháp giáo dục 57

2.4 Văn Miếu-Quốc Tử Giám: nơi rèn luyện nhân cách các

chủ thể của nền văn hóa giáo dục

2.5.1 Tôn vinh Tiên thánh, Tiên sư của nền Văn hóa giáo dục Nho học 65

2.5.3 Tôn vinh nền văn hiến của dân tộc 72

KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA VĂN MIẾU-QUỐC

TỬ GIÁM THĂNG LONG-HÀ NỘI ĐỐI VỚI NỀN VĂN HÓA

GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1 Sự tương đồng giữa nền văn hóa giáo dục thời trung đại và

3.2 Những vấn đề đặt ra kế thừa và phát huy giá trị của Văn

Miếu-Quốc Tử Giám trong nền văn hóa giáo dục hiện đại

Trang 7

Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

Ủy ban Nhân dân

Tổ chức Khoa học, Giáo dục, Văn hóa của Liên Hiệp Quốc VHGD Văn hóa giáo dục

VHKH Văn hóa, khoa học

VM-QTG Văn Miếu-Quốc Tử Giám

Trang 8

6

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỔ

2 Sơ đồ 1.2: Sơ đồ kiến trúc Văn Miếu-Quốc Tử Giám hiện nay 32

3 Bảng 1.2: Số lượt khách tham quan trong và ngoài nước từ 2010

đến 2014

36

Trang 9

7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn Miếu – Quốc Tử Giám (VM-QTG) được khởi lập vào nửa cuối thế

kỷ XI dưới vương triều Lý làm nơi thờ tự Khổng Tử - ông tổ của Nho giáo cùng các vị tiên hiền Nho học, đồng thời là nơi đào tạo tầng lớp trí thức Nho học của nền văn hóa giáo dục chính thống ở Việt Nam Với vai trò vừa là một thiết chế văn hóa, vừa là một trung tâm giáo dục lớn dưới thời quân chủ, VM-QTG đã góp phần to lớn trong việc đào tạo tầng lớp trí thức, “nguyên khí của quốc gia”, đồng thời hun đúc nên nhiều truyền thống văn hóa quý báu của dân tộc như truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, truyền thống tôn trọng hiền tài Những truyền thống này tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam,

đó cũng chính là nét văn hóa đặc biệt trong giáo dục Cùng với VM-QTG là một hệ thống các thiết chế văn hóa tương tự được thiết lập ở các địa phương như Văn miếu hàng tỉnh, hàng huyện, văn từ, văn chỉ, từ đường Nho học, các trung tâm giáo dục, góp phần truyền bá, khuyếch trương, bồi đắp, những nét văn hóa đó ở các địa phương thấm sâu vào trong đời sống sinh hoạt của mọi tầng lớp nhân dân Trong suốt hơn 9 thế kỷ (XI – XX), VM-QTG luôn giữ vai trò là một thiết chế văn hóa, giáo dục lớn nhất nước, có vai trò quyết định trong việc hình thành nên nền văn hóa giáo dục (VHGD) thời Trung đại

Trải qua thời gian cùng nhiều biến cố lịch sử, hiện nay, VM-QTG trở thành một di tích Nho học cấp quốc gia đặc biệt, là biểu tượng của văn hiến, trí tuệ Việt Nam Mặc dù không còn chức năng đào tạo, giáo dục như trước, nhưng VM-QTG cùng với hệ thống các di tích Nho học hiện còn vẫn là những thiết chế văn hóa đặc thù, có vai trò to lớn không chỉ hàng ngày gìn giữ những nét văn hóa giáo dục truyền thống, mà còn bồi đắp, phát huy những nét văn hóa đó, góp phần vào công cuộc xây dựng nền VHGD mới của dân tộc

Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay,

Trang 10

8

cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, những nét văn hóa giáo dục truyền thống có xu hướng bị mai một, bản sắc dân tộc bị xóa nhòa, việc nghiên cứu để chỉ ra giá trị của VM-QTG trong nền VHGD hiện đại càng trở nên có ý nghĩa hơn Đây sẽ là cơ sở để không chỉ bảo tồn và phát huy hiệu quả di tích lịch sử, văn hóa mà còn đảm bảo cho bản sắc văn hóa của dân tộc không bị mai một – một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong hội nhập quốc tế, cũng là nguyên tắc sống còn trong quá trình xây dựng một quốc gia phát triển bền vững

Là một cán bộ công tác lâu năm tại di tích VM-QTG, được trang bị kiến thức về văn hóa học, về phát triển bền vững, học viên mạnh dạn chọn vấn đề: “Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long – Hà Nội trong nền văn hóa giáo dục Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp khóa cao học của mình, đồng thời mong muốn góp phần nhỏ bé vào công cuộc gìn giữ bản sắc văn hóa giáo dục của dân tộc, bảo tồn và phát huy di tích VM-QTG một cách khoa học, bền vững

2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

Văn Miếu – Quốc Tử Giám hình thành và tồn tại hơn 900 năm Vì vậy,

đã có rất nhiều các ghi chép, nghiên cứu, khảo cứu về lịch sử của di tích Rất nhiều sách chính sử hiện còn được soạn thảo từ thời Trần, Lê, Nguyễn như:

Đại Việt sử ký, Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, … đều đã ghi chép khá cụ thể về lịch sử hình thành và phát triển của

VM-QTG, về vai trò của VM-QTG đối với nền giáo dục Việt Nam Tuy nhiên, các sách này phần lớn mô tả chức năng nhiệm vụ của VM-QTG trong việc đào tạo nhân tài, lịch sử xây dựng, hoạt động của VM-QTG trong quá trình tồn tại của nó, mà chưa xem xét đến vai trò của nó trong việc hình thành nên một nền VHGD, đặc biệt chưa đề cập cụ thể đến các thành tố, đặc điểm của nền văn hóa giáo dục, vai trò, tác động của nó đến văn hóa giáo dục

Trang 11

9

Kể từ khi nền giáo dục, khoa cử theo Nho học kết thúc với khoa thi Hội vào năm 1919, vai trò của VM-QTG trở nên mờ nhạt đối với nền giáo dục, cũng như đối với nền văn hóa Việt Nam Nhưng cũng là lúc, nhiều công trình nghiên cứu của các học giả cả trong và ngoài nước được tiến hành, trong đó phải kể đến những công trình như của học giả người Pháp G Dumoutier

(1887), Le Temple royal Confuceen de Hanoi và Leonard Aurousseau (1913),

Temple de la Litterature de Ha Noi, của học giả Việt Nam Đào Duy Anh

(1992) Việt Nam văn hóa sử cương Tuy nhiên, các công trình này cũng đều

thực hiện theo cùng một mô tif là cố gắng ghi chép, mô tả lại kiến trúc của một thiết chế văn hóa, giáo dục xưa với mong muốn lưu lại những nét kiến trúc đặc sắc của một di tích vốn huy hoàng

Gần đây, cùng với định hướng bảo tồn và phát huy giá trị của di tích

lịch sử văn hóa, đã có nhiều công trình khảo cứu như: Văn Miếu – Quốc Tử

Giám và 82 Bia tiến sĩ của Ngô Đức Thọ (chủ biên), Văn Miếu – Quốc Tử Giám và hệ thống văn từ văn chỉ của Đỗ Hương Thảo (2003), Văn Miếu – Quốc Tử Giám và giáo dục khoa cử Nho học Việt Nam (2013) của Trung tâm

hoạt động VHKH VM-QTG Mặc dù các nghiên cứu đã đi sâu khảo cứu những di sản vật thể, phi vật thể của VM – QTG song chưa chỉ ra ý nghĩa của chúng đối với nền VHGD Việt Nam một cách tổng thể dưới góc nhìn của văn hóa học Một số nghiên cứu đề xuất được các biện pháp quản lý và phát huy giá trị di tích trong giai đoạn hiện nay, nhưng vẫn chưa có một nghiên cứu nào chỉ ra được một cách có hệ thống vai trò, vị trí của VM-QTG đối với việc hình thành nên nền VHGD xưa, cũng như giá trị của VM-QTG trong nền văn hóa giáo dục hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát và phân tích vai trò của Văn Miếu – Quốc Tử Giám đối với

Trang 12

nền văn hóa giáo dục Việt Nam thời trung đại để thấy được giá trị của thiết chế văn hóa quan trọng này, từ đó đề xuất các vấn đề nhằm phát huy vai trò của nó trong nền văn hóa giáo dục Việt Nam hiện đại

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Vai trò của Văn Miếu – Quốc Tử Giám đối với nền văn hóa giáo dục thời Trung đại ở nước ta

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Khu vực Văn Miếu- Quốc Tử Giám và vùng phụ cận;

- Về thời gian: từ khi khu Văn Miếu- Quốc Tử Giám được thành lập (thế kỷ XI) đến năm 1802 và hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối về văn hóa, giáo dục của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính sách của Nhà nước ta hiện nay

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phân tích sự tác động qua lại giữa Văn Miếu – Quốc Tử Giám và nền văn hóa giáo dục xưa để tìm ra mối quan hệ, vai trò giữa Văn Miếu – Quốc

Tử Giám và nền văn hóa giáo dục

- Phương pháp lịch sử

Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của Văn Miếu – Quốc Tử Giám gắn với sự hình thành và phát triển của nền văn hóa giáo dục Việt Nam, từ đó

Trang 13

tìm ra mối quan hệ giữa Văn Miếu – Quốc Tử Giám và nền Văn hóa giáo dục Việt Nam xưa

- Phương pháp chuyên gia

Phỏng vấn, tham khảo ý kiến các chuyên gia trong việc đánh giá vai trò của Văn Miếu - Quốc Tử Giám và việc bảo tồn, phát huy di tích này trong nền văn hóa giáo dục hiện nay

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa khoa học

Chỉ ra được vai trò, vị trí, tầm quan trọng của VM-QTG đối với nền VHGD Việt Nam thời Trung đại, làm cơ sở để nghiên cứu các giải pháp phát huy giá trị của di tích với nền VHGD hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Làm cơ sở để các nhà quản lý thực hiện các giải pháp quản lý, bảo tồn, phát huy di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám, góp phần xây dựng nền văn hóa giáo dục mới hiện đại của dân tộc

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, nội dung của luận văn được

trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về Văn hóa giáo dục và khái quát về Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long – Hà Nội

Chương 2: Vai trò của Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long – Hà Nội đối với nền văn hóa giáo dục Việt Nam thời Trung đại

Chương 3: Kế thừa và phát huy giá trị của Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long – Hà Nội đối với nền văn hóa giáo dục Việt Nam hiện nay

Trang 14

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ GIÁO DỤC

VÀ KHÁI QUÁT VỀ VĂN MIẾU – QUỐC TỬ GIÁM

THĂNG LONG – HÀ NỘI 1.1 Những vấn đề lý luận chung về văn hóa giáo dục

1.1.1 Khái niệm Văn hóa giáo dục

1.1.1.1 Khái niệm giáo dục

Đã có nhiều nhà nghiên cứu trong quá trình nghiên cứu về văn hóa và giáo dục đưa ra khái niệm “giáo dục” Các khái niệm đó xem xét giáo dục ở các khía cạnh khác nhau, phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình Cũng chính vì vậy, cho đến nay chưa có một khái niệm hoàn toàn thống nhất về giáo dục

GS.TS Phan Ngọc Liên (2006) cho rằng: “Trong một ý nghĩa nhất định,

giáo dục ra đời cùng với sự xuất hiện con người và xã hội” Vì vậy, về từ nguyên, thuật ngữ “giáo dục” theo tiếng La tinh có nghĩa là “dẫn dắt ai qua

đường” Đó là giáo dục dân gian, tồn tại từ buổi đầu lịch sử cho đến ngày nay

và mãi mãi sau này” [30, tr 9]

Theo Từ điển Tiếng Việt, “giáo dục” là động từ chỉ hoạt động nhằm tác

động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra [59, tr 616]

Từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích từ “giáo dục” như sau:

Quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và

Trang 15

lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính chất, mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục biến đổi theo các giai đoạn phát triển của xã hội, theo các chế độ chính trị - kinh

tế của xã hội [22]

Trong Hán – Việt Từ điển của Đào Duy Anh, chữ “giáo dục” được cắt nghĩa là dạy dỗ cho con người thoát khỏi trạng thái tự nhiên, chữ giáo hoá được cắt nghĩa là lấy giáo dục mà cải hoá con người và lại có chữ “hoá dân” được cắt nghĩa là giáo hoá cho nhân dân, như sách xưa có câu “hoá dân dịch

tục” nghĩa là giáo hoá nhân dân và cải biến phong tục [37, tr 170]

Theo Đào Duy Anh giáo dục gắn với văn hóa, giáo dục cũng là một biểu hiện văn hóa, hay nói cách khác giáo dục là văn hóa Trong Hán - Việt từ

điển, 教育 (giáo dục) là dạy dỗ người ta khiến cho thoát trạng thái tự nhiên

của tạo vật sinh ra [2]

Qua các quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu giáo dục là hiện tượng xã hội đặc trưng của loài người xuất hiện từ khi con người xã hội ra đời Giáo dục là hoạt động tác động vào đối tượng làm cho đối tượng biến đổi theo mục đích của chủ thể bằng các hình thức, biện pháp khác nhau Giáo dục là quá trình trao truyền những kinh nghiệm, kiến thức từ chủ thể giáo dục sang đối tượng được giáo dục Giáo dục là một phạm trù lịch sử, thay đổi và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người

Trang 16

1.1.1.2 Khái niệm Văn hoá

Hiện nay, chúng ta đã biết hơn 500 định nghĩa khác nhau về văn hóa Ở Châu Âu, từ thời Cổ đại, từ “văn hóa” bắt nguồn từ động từ tiếng La tinh

“colere” sau chuyển thành “culture”, có nghĩa là cày cấy, vun trồng, và từ

“agri – culture” là trồng trọt ngoài đồng, tức nông nghiệp Về sau từ “culture”

chuyển sang nghĩa vun trồng tinh thần, trí tuệ, khai mở tinh thần Ciceron – nhà chính trị hùng biện thời La Mã có một câu thành ngữ nổi tiếng là

“Filosofia cultura animiest”, nghĩa là: Triết học là văn hóa (sự vun trồng) tinh thần, là quá trình giáo dục, bồi dưỡng về tinh thần, trí tuệ cho con người

Ở phương Đông, thời Cổ đại, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, văn hóa là “Nhân văn giáo hóa” nghĩa là đem cái văn (nhân văn) cải biến con người làm cho con người trở lên tốt đẹp Ở đây “nhân” là người,

“văn” là vẻ đẹp mà con người tạo ra đó là trí tuệ, tri thức, điển chương, chế độ

để cải biến con người tự nhiên thành con người xã hội; Thứ hai, văn hóa tức

“Văn trị giáo hóa”, đem văn ra để cai trị, tổ chức xã hội, đưa con người vào trật tự kỷ cương, chế độ, phép tắc để cai trị họ Từ văn hóa đã có từ thời Tây

Hán (Trung Quốc) Sách “Thuyết Uyển Chi Vũ” của Lưu Hướng thời Tây Hán

có câu: “Thánh nhân cai trị thiên hạ, trước hết dùng văn đức, sau mới sử dụng

vũ lực Phàm khi đã thiên về dùng vũ lực, thì không khuất phục nổi, văn hóa không sửa đổi được ” Chữ văn hóa ở đây là chỉ sự giáo hóa

Các nhà nghiên cứu phương Tây hiểu văn hóa theo hai nghĩa: Văn hóa nói chung - Culture (chữ C viết hoa) và các nền văn hóa – culture (chữ c viết thường) Theo đó, Văn hóa nói chung là “thuộc tính của nhân loại – đó là khả năng học hỏi và sáng tạo ra những hành vi và quan niệm để chủng loài có thể

tồn tại được như những cơ thể sinh học”, và văn hóa với ý nghĩa là các nền

văn hóa: “là những truyền thống khác nhau bao gồm những hành vi và quan

Trang 17

niệm mà những tập thể người học hỏi được vì họ là thành viên của những xã

hội đó Mỗi truyền thống có thể được gọi là một nền văn hóa riêng”

Như vậy, văn hóa là một tổng thể các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ và trong hiện tại, là thiên nhiên thứ hai, một môi trường thứ hai nuôi dưỡng con người Văn hóa là tất cả những gì do con người sáng tạo ra trong quá trình đấu tranh sinh tồn, trong hoạt động nhằm bảo tồn và phát triển xã hội con người Văn hóa cũng bao gồm việc trao truyền lại những gì mình sáng tạo ra cho thế hệ sau nhằm bảo đảm sự tồn tại

và phát triển của mình

1.1.1.3 Định nghĩa khái niệm Văn hóa giáo dục

Như trên đã xem xét, giáo dục là một hoạt động nhằm trao truyền lại cho con người những kinh nghiệm, kiến thức, phương thức ứng xử, vì thế, giáo dục là một hoạt động văn hoá hay cũng là văn hoá Vì văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động, sáng tạo của con người nên chỉ có con người mới có, mới biết giáo dục Theo nghĩa hẹp, giáo dục là phương thức trao truyền văn hoá Văn hoá bao giờ cũng gắn với giáo dục và giáo dục luôn đi liền với văn hoá Xã hội loài người muốn tồn tại và phát triển thì phải duy trì, bảo tồn và phát triển văn hoá bằng giáo dục, thông qua giáo dục

Khái niệm VHGD đã được dùng khá phổ biến ở Việt Nam như Dương Thiệu Tống (2000), Vũ Ngọc Khánh và Nguyễn Thị Hà (2010) song đến nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất Do vậy, học viên dựa trên hai khái niệm Văn hóa và Giáo dục để đưa ra quan niệm về VHGD làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài của luận văn

Văn hóa giáo dục được hiểu theo hai nghĩa Thứ nhất, VHGD là bộ phận của một nền văn hóa cùng với các thành tố khác: Văn hóa đạo đức, Văn hóa chính trị, Văn hóa kinh doanh, Văn hóa nghệ thuật tạo nên các nền văn

Trang 18

hóa Văn hóa giáo dục bao gồm mục tiêu, nội dung, cách thức giáo dục được qui định bởi đặc trưng của nền văn hóa mỗi cộng đồng; Thứ hai, Văn hóa giáo dục chỉ thuộc tính văn hóa (nhân văn, nhân bản, tiến bộ) của nền giáo dục Hồ Chí Minh trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường dưới chế độ mới - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tháng 9 năm 1945) có viết: “Ngày nay các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục

của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những

người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em” [39, tr 37]

Trong bản luận văn học viên nghiên cứu Văn hóa giáo dục chủ yếu theo nghĩa thứ nhất ở trên Văn hóa giáo dục được quan niệm như sau:

Văn hóa giáo dục là một thành tố (hay một bộ phận) của nền văn hóa bao gồm hệ thống triết lý, thể chế, thiết chế, công nghệ giáo dục bị quy định bởi trình độ, đặc trưng văn hóa của một cộng đồng, ở một thời đại nhất định

có chức năng trao truyền văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác, góp phần hình thành nhân cách và bảo tồn, phát triển văn hóa cộng đồng

Trên thế giới có nhiều kiểu, loại hay nền VHGD khác nhau Xét về lịch đại thì có nền VHGD nô lệ, phong kiến, tư bản và xã hội chủ nghĩa Xét về phương diện đồng đại, mỗi cộng đồng, quốc gia dân tộc có một nền VHGD riêng biệt như: VHGD Việt Nam, Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc hiện đang cùng tồn tại

1.1.2 Cơ cấu và chức năng của văn hóa giáo dục

1.1.2.1 Cơ cấu của văn hóa giáo dục

Như đã trình bày, VHGD đặt trong nền văn hóa của mỗi cộng đồng, quốc gia dân tộc thì nó là một thành tố của nền văn hóa cộng đồng, quốc gia dân tộc ấy Theo cách chia cơ cấu nền văn hóa của các cộng đồng, quốc gia dân tộc mà xã hội học văn hóa nêu ra thì VHGD là một bộ phận thuộc lĩnh

Trang 19

vực văn hóa tinh thần (một trong ba lĩnh vực cơ bản) của một nền văn hóa (xem phụ lục 1) Nếu tách riêng VHGD một cách trìu tượng nó sẽ là “tiểu hệ thống” bao gồm các vi hệ sau:

- Triết lý giáo dục: là những tư tưởng có tính chất triết học giải thích về bản chất, nguồn gốc, mục tiêu, chức năng của nền giáo dục, nền giáo dục đó

từ đâu mà ra, vì lợi ích của ai, ai làm chủ nó và để làm gì Triết lý giáo dục thể hiện ở tư tưởng đường lối giáo dục

- Thể chế, thiết chế giáo dục: thể chế giáo dục đó chính là luật pháp về giáo dục, qui chế, qui định về giáo dục Thiết chế là bộ máy tổ chức vận hành nền giáo dục và các nhà trường, học viện thực hành giáo dục

- Yếu tố công nghệ giáo dục: Nội dung và cách thức giáo dục, đào tạo, thi cử

- Yếu tố nhân cách chủ thể nền giáo dục: Bao gồm nhận thức, thái độ, hành vi, đạo đức của chủ thể giáo dục (thầy giáo, học trò)

- Hệ thống ngoại hiện của nền giáo dục: Là các biểu trưng, biểu tượng

về giáo dục, nghi lễ (khai trường, nhập học ), nghi thức (chào hỏi, xưng hô giữa thày và trò ), giai thoại tôn vinh người thầy, tôn vinh học trò

Chúng ta có sơ đồ hóa cơ cấu của một nền VHGD như là lát cắt ngang của một thân cây, các lớp hình tròn là các vi hệ cấu thành của nó

Triết lý giáo dục Thể chế, thiết chế giáo dục Công nghệ giáo dục

Nhân cách của chủ thể

Hệ thống ngoại hiện

Sơ đồ 1.1 Văn hóa giáo dục

Trang 20

1.1.2.2 Chức năng của văn hóa giáo dục

Văn hóa giáo dục là một thành tố, một bộ phận của văn hóa, chính vì vậy văn hóa có chức năng gì thì VHGD có chức năng ấy Cũng có thể quan niệm chức năng của VHGD là chức năng của giáo dục bị chi phối bởi tính chất của nền văn hóa hay, chức năng của VHGD là văn hóa hóa chức năng của giáo dục

Có nhiều cách trình bày chức năng của văn hóa khác nhau nên khi nói

về chức năng của VHGD cũng có nhiều ý kiến khác nhau Ở đây chúng tôi xin nêu ra các chức năng của VHGD được nhiều người đề cập đến:

- Chức năng trao truyền tri thức

Chức năng giáo dục gắn liền với chức năng nhận thức, chức năng trao truyền tri thức chính là chức năng nhận thức Nhận thức là nhu cầu của con người Văn hóa tích lũy các tri thức, và VHGD có chức năng chuyển tải tri thức, kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác Như vậy với chức năng trao truyền tri thức, VHGD đóng vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc Tri thức là nguồn tài nguyên đặc biệt, tri thức là vô hạn và là đòn bẩy phát triển kinh tế - xã hội Tri thức là những dữ liệu, những thông tin, những kỹ năng mà con người có được qua trải nghiệm và qua giáo dục VHGD truyền lại những thành tựu của nền văn minh theo con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất Văn hóa giáo dục góp phần vào việc đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, lưu truyền những giá trị tốt đẹp của mỗi quốc gia, dân tộc Những tri thức được con người tích lũy, mỗi thế hệ đi vào cuộc sống, hướng theo cuộc sống chung của nhân loại và dân tộc không thể không mang theo những giá trị của quá khứ Những hiểu biết, sáng tạo hay nói cách khác

là tri thức của con người không tự nhiên mà có được, nó phải trải qua một quá trình nhận thức tích lũy và với chức năng trao truyền của VHGD đã góp phần truyền thụ từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác Xã

Trang 21

hội mới tiến bộ hơn không thể xuất hiện nếu không có sự kế thừa và phát triển các tri thức, kinh nghiệm và bài học của xã hội trước đó

- Chức năng giáo dục đạo đức

Giáo dục là một trong những chức năng của văn hóa nói chung Truyền thống văn hóa được tồn tại là nhờ giáo dục Đạo đức là một thành tố quan trọng và là trung tâm của mỗi nền văn hóa Đạo đức đóng vai trò nền tảng trong mọi hoạt động văn hóa Đặc trưng của đời sống con người và bản thân tính người hoặc nhân phẩm là đạo đức Theo quan niệm truyền thống, ở phương Đông cho rằng văn hóa là “nhân văn giáo hóa” đem cái văn (vẻ đẹp)

do con người sáng tạo ra để cải biến con người từ sinh thể tự nhiên thành sinh thể xã hội Ở phương Tây người ta quan niệm văn hóa (culture) là khai

mở tinh thần, gieo trồng trí tuệ Chức năng giáo dục đạo đức của VHGD giúp con người giáo dục điều chỉnh hành vi, suy nghĩ, ứng xử và định hướng các cảm xúc, tư tưởng của mình theo những chuẩn mực, những giá trị nhất định Văn hóa giáo dục góp phần vào việc hình thành nhân cách con người Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao việc giáo dục nhân cách con người Nhân cách con người được hoàn thiện bởi một nền giáo dục xã hội và tự giáo dục toàn diện sẽ trở thành những người vừa “hồng”, vừa “chuyên”, vừa

có phẩm chất, vừa có năng lực, là những công dân tốt Trong bài thơ “Nửa đêm”, Bác Hồ đã khẳng định vai trò của văn hóa giáo dục trong việc hình thành đạo đức của con người:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện

Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên”

Trang 22

Thiện hay ác không phải là bản tính định sẵn ở con người, phần đông là

do sự giáo dục mà con người trở nên thiện hay ác

Chính vì vậy, chức năng giáo dục đạo đức của VHGD đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách, đạo đức con người, tạo cơ sở để con người ứng xử đúng đắn trong các mối quan hệ giữa bản thân với xã hội, với môi trường tự nhiên

- Chức năng thúc đẩy hoạt động, sáng tạo

Theo Hồ Chí Minh, văn hóa là toàn bộ những sáng tạo, những phát minh, các phương thức sinh hoạt của con người nhằm thích ứng với nhu cầu

và đòi hỏi của sinh tồn Sáng tạo là hoạt động văn hóa đặc trưng của con người Hoạt động sáng tạo là thành tố quan trọng của văn hóa khi nó chứa đựng các hình thức, các nội dung sáng tạo khoa học, nghệ thuật theo hướng nhân văn Bên cạnh đó, tri thức cũng là một thành tố của văn hóa gắn liền với tiến trình phát triển xã hội Mỗi lĩnh vực tri thức nhất định của xã hội gắn với các hoạt động của mỗi khoa học Trình độ của khoa học – công nghệ - kỹ thuật chính là hiện thân của văn hóa với tư cách là sản phẩm của văn hóa, các trình độ tiến bộ của khoa học – công nghệ - kỹ thuật thể hiện trình độ phát triển từng bước của văn hóa Chức năng thúc đẩy hoạt động sáng tạo là chức năng quan trọng của VHGD đặc biệt trong thời đại ngày nay hệ thống giáo dục gắn liền với hệ thống nghiên cứu khoa học, hệ thống sản xuất vật chất và tinh thần của xã hội một cách trực tiếp nên chức năng thúc đẩy sáng tạo càng

có tác dụng to lớn

- Chức năng tổ chức xã hội, điều chỉnh hành vi con người

Văn hóa nói chung có chức năng tổ chức xã hội, tổ chức cộng đồng Theo Trần Ngọc Thêm thì chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương diện cần thiết để ứng phó với

Trang 23

môi trường tự nhiên và xã hội Thời cổ đại ở phương Đông văn hóa được quan niệm là “Văn trị giáo hóa” đem văn ra để cai trị, tổ chức xã hội, đưa con người vào trật tự kỷ cương, chế độ, phép tắc để đảm bảo trật tự xã hội Văn hóa tạo ra các phương thức, và chuẩn mực tổ chức xã hội, điều hòa quá trình hoạt động sống VHGD có chức năng tổ chức xã hội, cộng đồng chính ở việc các thể chế, thiết chế, chủ thể giáo dục luôn phải tự điều chỉnh để đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội Nhà trường là một thực thể xã hội, nhà trường có chức năng như một tổ chức xã hội thông qua các thể chế, các qui định, các qui chế của nó

Bên cạnh những chức năng như đã đề cập ở phần trên, VHGD còn có chức năng điều chỉnh hành vi của con người, của các chủ thể tham gia vào hoạt động giáo dục (giáo viên, học sinh) Các chuẩn mực, các hệ giá trị của văn hóa định hướng các xúc cảm, tư tưởng, ứng xử và lý tưởng sống của con người tác động đến chủ thể giáo dục (giáo viên, học sinh), định hướng hành

vi cho phù hợp với yêu cầu của xã hội đối với các cá nhân và cộng đồng Đồng thời kiểm soát, đánh giá hành vi của các chủ thể giáo dục xem có phù hợp với chuẩn mực, khuân mẫu văn hóa đã đặt ra hay không VHGD xây dựng nhân cách chủ thể giáo dục, đó là phẩm chất và năng lực của người thầy Bởi sản phẩm lao động của người thầy là nhân cách học trò Thầy giáo

là người quyết định đến chất lượng giáo dục Trong việc dạy và giáo dục, người thầy dùng nhân cách của mình để tác động vào học sinh Nhân cách của học sinh là phải sống có lý tưởng, có trách nhiệm với công việc, xã hội, với mọi người và với chính bản thân, phát triển lành mạnh thể chất, tinh thần, trí tuệ VHGD xây dựng những mẫu nhân cách chủ thể giáo dục tiêu biểu để cộng đồng học tập và noi theo Nó tạo nên hệ thống thể chế, thiết chế VHGD nhằm định hướng cho mỗi cá nhân, cộng đồng thực thi theo đúng những chuẩn mực, giá trị của nó đã đặt ra

Trang 24

- Chức năng tổng hợp (giao tiếp, thông tin )

Thông qua chức năng giao tiếp của VHGD mà con người tiếp thu được những giá trị văn hóa của cộng đồng hay bên ngoài cộng đồng Điều đó làm cho đời sống của mỗi cá nhân trở nên phong phú hơn, đồng thời tạo nên sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các cộng đồng văn hóa VHGD làm cho con người gần gũi, thân thiện, hòa hợp có sự đồng cảm với nhau, từ đó làm cho các mối quan hệ trở nên tốt đẹp hơn VHGD hình thành con người - giao tiếp, tức con người có năng lực giao tiếp bao gồm giao tiếp với người khác và giao tiếp với chính mình làm phong phú đời sống tinh thần và những giá trị đạo đức mà mỗi cá nhân có được Bên cạnh đó VHGD còn chức năng thông tin, đảm bảo cung cấp những thông tin khoa học, kinh tế, chính trị, xã hội, hữu ích

và có định hướng cho chủ thể giáo dục Chủ thể giáo dục (sinh viên, học sinh) thu nhận được những kiến thức, kỹ năng cơ bản, tư duy sáng tạo để thích ứng được với mọi môi trường lao động và xã hội

Trên đây là các chức năng cơ bản của VHGD nói chung (của các cộng đồng, quốc gia dân tộc) Các chức năng này không tồn tại và tác động biệt lập

mà chúng gắn bó với nhau, xâm nhập và biểu hiện lẫn nhau cùng tác động đến chủ thể và khách thể VHGD Ở bất cứ nền VHGD nào cũng có những chức năng ấy, song tùy thuộc tính chất của mỗi nền VHGD riêng biệt mà chức năng nào đó sẽ giữ vai trò ưu trội hơn

1.2 Khái quát về Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long – Hà Nội

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Văn Miếu-Quốc Tử Giám

Có thể chia lịch sử hình thành và phát triển của Văn Miếu - Quốc Tử Giám thành các giai đoạn sau:

1.2.1.1 Văn Miếu-Quốc Tử Giám giai đoạn hình thành thời Lý- Trần - Hồ

Năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho dựng Văn Miếu Đây là sự kiện

Trang 25

được sử sách trân trọng ghi chép: “Năm Canh Tuất niên hiệu Thần Vũ thứ 2 (1070) đời Lý Thánh Tông, mua Thu, tháng Tám dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng

tế Cho Hoàng thái tử đến học ở đó” [8, tr 275] Văn Miếu được xây dựng ở phía Nam thành Thăng Long để thờ Khổng Tử (551-479 TCN) - ông tổ của Nho giáo cùng các vị Tiên hiền Nho học, đồng thời cho Hoàng thái tử Lý Càn Đức đến đây học Như vậy, Văn Miếu ngoài chức năng thờ các bậc Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho, còn mang chức năng trường học của Hoàng gia Học trò đầu tiên là Thái tử Lý Càn Đức, con trai vua Lý Thánh Tông

Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám ở phía sau Văn Miếu để làm nơi học tập cho con em của nhà vua và quan lại biết chữ đến học Kể từ đây khu vực này trở thành một cơ quan quan trọng của triều đình, gồm hai phần: miếu và trường

Thời Lý (1009 – 1225), quy mô của VM – QTG còn khiêm tốn bởi lúc

đó Phật giáo vẫn chiếm giữ vai trò chi phối xã hội, nhưng xu thế phát triển của Nho giáo đã thể hiện rõ qua việc lựa chọn quan chức bằng các kì thi Nho học tam trường

Đến thời Trần (1225 – 1400), dù Phật giáo vẫn còn phát triển mạnh, nhưng các Vua Trần vẫn quan tâm đến VM – QTG và việc giáo dục Nho học

Năm 1243, nhà Trần cho tu sửa Quốc Tử Giám Tháng 6 năm 1253, vua Trần Thái Tông xuống chiếu lập Quốc Học Viện, cho vời Nho sĩ trong nước đến giảng Tứ thư, Lục kinh và lấy Phạm Ứng Thần giữ chức Thượng thư kiêm Đề điệu Quốc Tử Viện Việc lập Quốc Tử Viện (giám - trường được đổi thành Viện) làm nơi học tập cho quan viên biết chữ ở các địa phương và con em nhà vua, quan lại ở kinh đô đánh dấu sự trưởng thành cũng như vai trò to lớn của VM-QTG trong thời kỳ này Quốc Học Viện được sử

Trang 26

dụng làm nơi giảng dạy học tập của nhà nước Văn Miếu Thăng Long thời Trần không chỉ là nơi thờ các ông tổ của Nho học Trung Quốc, mà còn là nơi thờ nhà Nho tiêu biểu của người Việt Năm 1370, sau khi mất, Chu Văn An (1292 – 1370), người làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm, nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội, được phong tặng là Văn Trinh Công hiệu Khang Tiết và cho phối thờ tại Văn Miếu

Thời Hồ (1400 – 1407), tại Văn Miếu Thăng Long, Hồ Quí Ly cho đặt tượng Chu Công ở chính giữa, nhìn về phía Nam, Khổng Tử ở phía bên, nhìn

về phương Tây Do chỉ tồn tại được 7 năm nên việc tu sửa xây dựng VM – QTG không tiến hành được bao nhiêu

Thời thuộc Minh, rất nhiều di tích lịch sử bị tàn phá do chính sách hủy diệt nền văn hóa Đại Việt, song VM – QTG không bị đụng chạm đến, vì là nơi thờ Khổng Tử Nhà Minh áp dụng mô hình Quốc Tử Giám của Trung Quốc vào nước ta, cho học sinh cả nước đến học tập tại Quốc Tử Giám Nhà Minh định lệ sung sinh viên vào Quốc Tử Giám: “Nhà phủ học mỗi năm 2

tên, nhà châu học 2 năm 5 tên, nhà huyện học 3 năm 1 tên” [8, tr 238]

1.2.1.2 Văn Miếu - Quốc Tử Giám giai đoạn phát triển thời Lê sơ

Triều Lê sơ (1428 – 1527) chú trọng Nho giáo, coi trọng việc học, cho

mở trường học nhằm đào tạo đội ngũ quan lại cho nhà nước phong kiến

Văn Miếu-Quốc Tử Giám thời kì này được quan tâm đặc biệt Năm

1428, Quốc Tử Giám được mở lại Năm 1434, Vua Lê Thái Tông xuống chiếu

tuyển chọn con các quan và học trò sung vào Quốc Tử Giám Sách Đại Việt

sử ký toàn thư ghi:

Muốn có được nhân tài, trước hết phải lựa chọn kẻ sĩ, mà phép chọn lựa kẻ sĩ phải lấy thi cử làm đầu Nhà nước ta thủa xưa loạn lạc, người anh tài như lá mùa thu, bậc tuấn kiệt như sao buổi

Trang 27

sớm Thái tổ ta buổi đầu dựng nước, mở mang nhà học, dùng cỗ Thái lao để tế Khổng Tử, rất mực sùng Nho, trọng đạo Nhưng vì nước mới dựng nên chưa kịp đặt khoa thi Trẫm noi theo chí hướng

người xưa, lo được nhân tài để thỏa lòng mong đợi [8, tr 329]

Dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497), Quốc Tử Giám được đổi tên thành Thái Học Nho học thời kỳ này chiếm vị chí ưu thế, VM – QTG đã được tu bổ và xây dựng lớn Năm 1483, Vua cho trùng tu VM – QTG khang trang to đẹp gồm có điện Đại Thành để thờ Tiên Thánh, Đông vũ và Tây vũ thờ các Tiên hiền, Tiên nho; điện Canh Phục để làm nơi túc yết, kho chứa đồ

tế khí và nhà bếp; cửa Thái Học vào khu trường học gồm nhà Minh Luân, Giảng đường phía đông và giảng đường phía tây, kho Bí thư để chứa ván gỗ

đã khắc thành sách; bên đông, bên tây có nhà cho học sinh nghỉ ngơi, mỗi bên ba dãy, mỗi dãy 25 gian [8, tr 492]

Năm 1484, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu cho dựng bia Tiến sĩ tại

VM – QTG Đây là sự kiện đặc biệt, khởi đầu cho lệ dựng bia tiến sĩ tại Văn Miếu, đề cao những người hiền tài Chính vì thế mà sự nghiệp giáo dục của Việt Nam thời kỳ này phát triển cực thịnh Hiện nay tại VM-QTG còn lưu giữ được 82 tấm bia Tiến sĩ dựng cho các khoa thi được tổ chức từ năm 1442 đến năm 1779 Bia được dựng làm ba đợt Đợt thứ nhất dựng vào năm 1484 gồm

10 tấm cho các khoa thi từ 1442 đến 1484 Đợt thứ hai dựng vào năm 1653 gồm 25 tấm cho các khoa thi từ năm 1554 đến 1652, và đợt thứ ba dựng năm

1717 gồm 21 tấm cho các khoa thi từ 1656 đến 1715 Số còn lại (26 bia) được dựng rải rác ngay sau các khoa thi 82 bia tiến sĩ ghi lại lịch sử của các khoa thi từ 1442 đến 1779 và tên, quê quán của những người đỗ tiến sĩ

Thời kỳ này, Quốc Tử Giám thực sự trở thành trường học cao cấp của nhà nước, là trung tâm bồi dưỡng, đào tạo nhân tài của đất nước Quốc Tử

Trang 28

Giám gồm có nhà Minh Luân, giảng đường Đông, Tây, phòng học của sinh viên ba xá, nhà che bia Tiến sĩ Trong trường có kho chứa ván in sách, là nơi cung cấp sách cho các nho sinh không chỉ ở Quốc Tử Giám mà còn ở cả các phủ lộ Quy chế lựa chọn Giám sinh (học sinh trường Giám) chặt chẽ, rõ ràng Đặc biệt, cho phép tuyển lựa cả con em dân thường có tài (đỗ thi Hương, các trường của kỳ thi Hội), có triển vọng vào học để làm nguồn bổ sung cho bộ máy quản lý đất nước

Điều hành Quốc Tử Giám là hệ thống các quan có tài, đức do triều đình bổ nhiệm Thời Trần, nhà vua cho đặt chức Tư nghiệp đứng đầu Quốc

Tử Giám trông nom toàn bộ việc giảng dạy, học tập của trường Triều Lê lại cho đặt thêm chức Tế tửu (người đứng đầu Quốc Tử Giám và chủ trì phần tế lễ), Trực giảng, Bác sĩ, Giáo thụ Đời Hồng Đức đặt thêm chức Ngũ kinh bác sĩ, qui định phẩm trật của các quan Tế Tửu và Tư nghiệp vào hàng Tứ phẩm trở xuống

Các Giám sinh được chia làm ba hạng: Thượng xá sinh mỗi tháng được hưởng 10 tiền, Trung xá sinh 9 tiền một tháng, Hạ xá sinh 8 tiền một tháng Mỗi xá gồm 100 giám sinh Cách học chính ở trường chủ yếu là tự học, tự nghiên cứu Một tháng nghe giảng kinh truyện 2 kỳ, làm văn 4 kỳ

1.2.1.3 Văn Miếu - Quốc Tử Giám giai đoạn biến động thời Mạc – Lê Trung Hưng – Tây Sơn

Thời nhà Mạc, VM-QTG vẫn là trung tâm giáo dục lớn của đất nước Năm Bính Thân niên hiệu Nguyên Hòa thứ 4 (1536), Mạc Đăng Doanh đã cho trùng tu Quốc Tử Giám, công việc tu sửa kéo dài từ năm 1536 đến năm

1537 tuy nhiên không thấy sử sách ghi chép lại những công trình nào được

tu sửa Mùa xuân năm sau (1538), đích thân Mạc Đăng Doanh đến dâng hương ở Văn Miếu và thăm Quốc Tử Giám

Trang 29

Thành Trong sách Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn đã miêu tả chi tiết

VM-QTG thời kỳ này như sau:

Cửa Đại Thành 3 gian 2 chái, lợp bằng ngói đồng Đông vũ

và Tây vũ mỗi dãy đều 7 gian Đằng sau có cửa nhỏ 1 gian, điện Canh Phục 1 giam 2 chái Nhà bếp 2 gian Kho tế khí 3 gian 2 chái, cửa Thái Học 3 gian, có tường ngang, lợp ngói đồng Nhà bia phía đông và tây mỗi dãy đều 12 gian Kho để ván in sách 4 gian Ngoại nghi môn 1 gian xung quanh đắp tường Cửa Hành mã ngoài tường

3 gian Nhà Minh Luân 3 gian 2 chái Cửa nhỏ bên Tả và bên Hữu đều 1 gian, có tường ngang Nhà giảng dạy phía đông và phía tây 2 dãy, mỗi dãy đều 14 gian Phòng học của học sinh tam xá ở phía đông và phía tây đều 3 dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian 2 người [9,

tr 58-59]

Năm 1762, chúa Trịnh Doanh lại tiếp tục cho tu sửa Quốc Tử Giám Năm 1771, Nguyễn Hoản khi trông coi Quốc Tử Giám đã cho giải tỏa bớt nhà ở của dân xây dựa lưng vào hồ Văn, mở rộng đường, cho lát gạch, trồng cây cho cảnh quan Thái Học Bia Hạ Mã được lập, quan lại hay thứ dân đi qua Văn Miếu đến giới hạn bia Hạ Mã đều phải xuống ngựa, xe đi bộ

Năm 1785, Bùi Huy Bích tiếp tục chỉ đạo trùng tu nhà Thái Học

Có thể thấy dưới thời Lê Trung Hưng, VM-QTG được quan tâm đặc biệt thông qua nhiều đợt trùng tu lớn Quốc Tử Giám thực sự trở thành trung tâm giáo dục cao cấp lớn nhất của cả nước Các buổi bình văn, thơ tại trường

Trang 30

“Tính gồm lại số bia trong Giám

Cả trước sau là tám ba

Dựng theo thứ tự từng khoa…”

Bài sớ còn nói rõ trước khi quân Tây Sơn đến, Văn Miếu vẫn được gữ gìn cẩn thận:

“Cửa vào then chốt canh phòng

Ba cơ, bẩy vệ canh trong, quét ngoài”

Nhưng khi quân Tây Sơn ra Bắc, trong binh đao khói lửa, nhà che bia

đã bị phá, bia Tiến sĩ bị đạp đổ ngổn ngang:

“Bia thì đạp đổ lung tung

Nhà bia thì đốt tan tành ra tro”

Sau khi nhận được bài sớ, vua Quang Trung đã nhận lỗi và hứa sẽ cho dựng lại bia Tiến sĩ:

“Thôi, thôi, việc đã rồi

Trăm nghìn xin cứ trách bồi vào ta

Nay mai dọn lại nước nhà

Bia nghè lại dựng trên tòa muôn gian”

Trang 31

Rất tiếc ước nguyện của vua Quang Trung không trở thành hiện thực Tuy nhiên bài sớ đã góp phần vào việc mô tả lại hiện trạng của Văn Miếu và cũng khẳng định tầm quan trọng của VM – QTG trong xã hội phong kiến Việt Nam

1.2.1.4 Văn Miếu - Quốc Tử Giám thời Nguyễn

Thời Nguyễn, VM–QTG Thăng Long-Hà Nội chỉ còn là Văn Miếu của Bắc Thành, nhưng vẫn được các nhà Nho quan tâm và phát triển Các cuộc tế

lễ vẫn diễn ra đều đặn 2 lần/năm

Năm 1805, Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành đã cho xây một lầu gác thể hiện vẻ đẹp của sao Khuê: Khuê Văn các Khuê Văn các đã được chọn làm biểu tượng cho Thủ đô Hà Nội

Quốc Tử Giám trở thành trường học của phủ Hoài Đức Một thời gian sau bị dỡ bỏ, nhà Nguyễn cho cải tạo lại và cho xây trên nền cũ của trường điện Khải Thánh thờ cha, mẹ của Khổng Tử

Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc kỳ, có lúc chúng đã dùng VM–QTG làm trại lính, huỷ hoại một số công trình kiến trúc của VM–QTG Đầu thế kỷ

XX, mặc dù thi cử Nho học vẫn còn nhưng khói hương ngày càng lạnh lẽo Khoa thi năm 1919 là khoa thi cuối cùng kết thúc lịch sử khoa cử Hán học tại Việt Nam, việc thờ cúng Khổng Tử theo nghi lễ cũng hoàn toàn chấm dứt

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954), Văn Miếu bị hoang phế Khu điện Khải Thánh và một vài kiến trúc của Văn Miếu đã bị phá huỷ trong thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1947) Một số người có tâm huyết muốn gìn giữ nền giáo dục lâu đời của dân tộc đã đứng ra thành lập Hội trùng tu Văn Miếu Hà Nội

Khu di tích đã được xếp hạng Di tích lịch sử, văn hóa cấp Quốc gia đợt

1 theo quyết số 343 – VHVP ngày 28/04/1962 của Bộ Văn hóa

Trang 32

1.2.2 Văn Miếu - Quốc Tử Giám hiện nay

Văn Miếu - Quốc Tử Giám hiện nay là Di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia đặc biệt của Thủ đô Hà Nội và cả nước Đến nay VM–QTG vẫn còn giữ được dáng vẻ cổ kính, các loại hình kiến trúc của triều đại Lê, Nguyễn Tại di tích còn lưu giữ nhiều hiện vật quý, chứng tích của nền văn hoá giáo dục của các triều đại phong kiến Việt Nam, thể hiện nét truyền thống, trí tuệ, tri thức của con người Việt Nam Di tích VM–QTG hiện nay có tổng diện tích 55.023 m2, bao gồm 3 khu vực: Hồ Văn, Vườn Giám và khu Nội Tự được bao quanh bởi những bức tường gạch vồ Hồ Văn hiện nay có diện tích 12.297 m2 Khu vực này đang được tu sửa để làm nơi biểu dương, tuyên truyền nền giáo dục truyền thống và nơi thư giãn cho du khách thi tham quan khu di tích

Khu vườn Giám hiện được dùng để tổ chức các hoạt động văn hóa phù hợp với truyền thống, đạo lý của dân tộc

Khu Nội tự là kiến trúc chủ thể của di tích được xây dựng trên khu đất

có chiều dài 300m Khu Nội tự được chia thành 5 không gian khác nhau, bao gồm: Khu Nhập Đạo, khu Thành Đạt, khu Bia Tiến sĩ, khu điện Đại Thành, khu Thái Học

Khu thứ nhất - Khu Nhập Đạo có đường chính giữa là đường Hoàng đạo, trước đây chỉ dành cho các bậc vua quan khi đến thăm và tế lễ tại Văn Miếu Dân thường và học trò đi đường hai bên

Khu thứ hai – khu Thành Đạt Đại Trung môn là lối vào chính giữa, hai bên có hai cổng nhỏ: Thành Đức và Đạt Tài Tên hai cổng này mang ý nghĩa giáo dục, đào tạo con người vừa có đức, vừa có tài

Khu thứ ba - khu Bia Tiến sĩ Lối vào chính khu này là Khuê Văn Các Ngoài ra còn có hai cổng nhỏ hai bên là Bí văn (văn chương đẹp đẽ) và Súc văn (văn chương hàm ý, súc tích) Chính giữa khu thứ hai là giếng Thiên

Trang 33

Quang (giếng ánh sáng trời) hình vuông Hai bên giếng Thiên Quang là 82 bia Tiến sĩ triều Lê - Mạc Bia Tiến sĩ được dựng trong thời gian gần 300 năm từ năm 1484 đến năm 1780

Khu thứ tư - Khu điện Đại Thành là khu vực chính thờ Khổng Tử và các bậc Tiên hiền, Tiên nho Lối vào chính là Đại Thành môn, hai bên còn có hai cổng nhỏ là Kim Thanh và Ngọc Chấn Khu điện Đại Thành là nơi hàng năm tổ chức tế Khổng Tử vào ngày Đinh đầu tiên của tháng hai và tháng tám, bao gồm nhà Bái Đường, điện Đại Thành, hai dãy Đông vu, Tây vu Chính giữa Bái Đường đặt một hương án, trên bày đồ thờ chính là nơi Hoàng đế, đại thần dâng hương, hành lễ khi tổ chức tế lễ Phía sau Bái Đường là điện Đại Thành Tại đây, ở gian chính giữa đặt tượng thờ Khổng Tử, Tứ phối (bốn học trò xuất sắc của Khổng Tử: Nhan Hồi, Tăng Sâm , Tử Tư, Mạnh Tử) Hai bên đầu hồi đặt bài vị của Thập Triết (10 học trò của Khổng Tử tiêu biểu cho 4 khoa: Đức hạnh, ngôn ngữ, chính trị và văn học)

Khu thứ năm - Khu Thái Học được xây dựng năm 2000 theo kiến trúc truyền thống với diện tích 1530 m2 trên diện tích còn lại của Quốc Tử Giám xưa (6150m2) gồm có nhà Tiền Đường, Hậu Đường, Tả vu, Hữu vu, nhà chuông, nhà trống Quy mô kiến trúc khu Thái Học rất bề thế, trang nghiêm

và hài hòa với kiến trúc cảnh quan của khu Văn Miếu phía trước Nhà Tiền đường là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, khoa học như hội thảo khoa học, tuyên dương những gương hiếu học, học sinh xuất sắc…Hậu đường là tòa nhà hai tầng Tầng 1 là nơi trưng bày khái quát lịch sử hình thành và phát triển của VM-QTG cũng như những giá trị của truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học,

đề cao nhân tài Đây cũng là nơi tôn vinh Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn

An - một trong những vị hiệu trưởng đầu tiên của Quốc Tử Giám Tầng 2 là nơi tôn vinh 3 vị vua đã trực tiếp sáng lập VM – QTG và nền giáo dục nước nhà

Đó là: Vua Lý Thánh Tông, vua Lý Nhân Tông, vua Lê Thánh Tông Nhà Tả vu, Hữu vu ở hai bên sân Thái Học hiện nay được dùng làm văn phòng và thư viện

Trang 35

1.2.3 Khái lược hoạt động của Văn Miếu-Quốc Tử Giám Thăng Long

1.2.3.1 Hoạt động của Văn Miếu-Quốc Tử Giám xưa

Với bề dày gần ngàn năm lịch sử, VM-QTG được coi là trung tâm giáo dục Nho học lớn nhất nước ta thời phong kiến, nơi đã đào tạo nên hàng ngàn các bậc đại khoa, hiền tài cho đất nước Ngay từ khi xây dựng Văn Miếu năm

1070, vua Lý Thánh Tông - người đứng đầu đất nước lúc bấy giờ đã ấn định đây không chỉ là nơi thờ tự mà còn là nơi đào tạo, là trường học, và người học trò đầu tiên của Văn Miếu chính là Hoàng thái tử Lý Càn Đức, sau này trở thành vua Lý Nhân Tông

Năm 1076, vua Lý Nhân Tông thành lập Quốc Tử Giám ở ngay sau Văn

Miếu làm nơi học tập cho con em Hoàng tộc và cho “Chọn quan viên văn

chức, người nào biết chữ cho vào Quốc Tử Giám”[8, tr 280] theo học Đến đây

thì vai trò là nơi giáo dục của VM-QTG đã được xác lập rõ ràng

Thời Trần, VM-QTG đã thực sự trở thành trung tâm giáo dục cao nhất của Đại Việt Đây không chỉ là nơi học tập của các nhà quản lý, lãnh đạo đất nước tương lai, mà việc giáo dục đã được mở rộng và có quy củ Trường đã được nâng cấp thành Viện, đứng đầu là quan Thượng thư (tương đương Bộ trưởng ngày nay) Các sách giáo khoa dùng tại trường là các kinh điển cao cấp của Nho giáo như: Tứ thư, Ngũ kinh Nho sinh đến đây học tập để chuẩn

bị tham gia các kỳ thi Đại khoa giành học vị tiến sĩ - học vị học thuật cao nhất lúc bấy giờ Như vậy, vai trò là trung tâm giáo dục lớn nhất của cả nước của VM-QTG được xác lập và khẳng định từ thời Trần, tuy nhiên việc giáo dục và học tập được mở rộng, nâng cấp, quy mô nhất là vào thời Lê

Ngay năm đầu lên ngôi (1428), vua Lê Thái Tổ đã cho chọn con cháu các quan và con nhà thường dân tuấn tú vào Quốc Tử Giám làm Giám sinh Quốc Tử Giám từ thời Lê được gọi là Thái Học Viện Đến đây, số lượng Nho

Trang 36

sinh tại Quốc Tử Giám đã đông hơn rất nhiều Giảng quan không chỉ có Tế tửu, Tư nghiệp, còn có Giáo thụ, Trực giảng, Bác sĩ lo việc giảng dạy, rèn tập cho sĩ tử Quốc Tử Giám có quy chế học tập, sinh hoạt chặt chẽ

Giai đoạn này, các Giám sinh được tuyển chọn rất kỹ càng, người nào thi Hội trúng ba kỳ thì sung vào Thượng xá sinh, trúng hai kỳ sung vào Trung

xá sinh, trúng một kỳ sung vào hạng Hạ xá sinh Mỗi xá 100 người

Ngoài những người đủ tiêu chuẩn được chọn vào học chính thức ở Quốc Tử Giám, hàng năm có một số lượng lớn các Hương cống từ khắp các địa phương trong nước về Kinh theo học Các Nho sinh này chỉ cần làm thủ tục ghi tên là được đến nghe giảng bài, tập văn như các Giám sinh Vì vậy, số lượng Nho sinh ở Quốc Tử Giám có lúc đông đến hàng nghìn người

Ngoài việc đào tạo, Quốc Tử Giám còn có nhiệm vụ Bảo cử Giám sinh với triều đình để bổ dụng làm quan Hàng năm, 4 tháng trọng, các quan ở Quốc

Tử Giám tiến hành khảo hạch Giám sinh, đề cử những người trúng cách để Bộ Lại tuyển dụng khi cần Qui định về Bảo cử được tiến hành nghiêm ngặt, nếu sai người tiến cử bị phạt rất nặng nên thường hiếm khi có chuyện gian trá Do vậy, đội ngũ quan lại hùng hậu được Bảo cử từ Quốc Tử Giám trong suốt mấy trăm năm liền đã góp phần không nhỏ vào việc truyền bá, giáo dục tư tưởng Nho học và làm hùng mạnh thêm thiết chế Nhà nước phong kiến tập quyền

Năm 1484, niên hiệu Hồng Đức thứ 15, Lê Thánh Tông đã xuống chiếu cho dựng bia tiến sĩ tại VM-QTG nhằm biểu dương hiền tài và khuyến học Đến đây, VM-QTG còn làm thêm nhiệm vụ biểu dương những người xuất sắc, khích lệ việc học hành, thi cử đương thời cũng như hậu thế

Có thể nói, VM-QTG thời Lê Thánh Tông là một trung tâm giáo dục lớn, xứng tầm một trường đại học của đất nước Xét về mặt kiến trúc, trường

có đầy đủ cơ sở vật chất của một trường đại học hiện đại: có giảng đường,

Trang 37

hội trường lớn (nhà Minh Luân), ký túc xá cho 300 Giám sinh, nhà kho, thư viện (Bí Thư khố, nhà cho giảng quan nghỉ ngơi Xét về mặt giảng dạy, học tập: giáo viên của trường là các nhà Nho đạo đức trong sáng, học vấn uyên

thâm; sinh viên là những “nghiên cứu sinh” đã đỗ thi Hương, hoặc trúng từ

1 đến 3 kỳ thi Hội (tạm coi như tương đương tốt nghiệp đại học bây giờ) đến Giám học tập, rèn luyện để tham gia thi Hội và thi Đình để trở thành tiến sĩ Sách giáo khoa dùng trong trường đều là các kinh điển Nho giáo

Ngoài nhiệm vụ dạy, học và bảo cử, Quốc Tử Giám còn thực hiện những việc liên quan đến việc khảo đính, biên soạn sách vở, đặc biệt là in ấn các sách kinh điển Nho giáo để cung cấp cho các Nho sinh cả trong và ngoài Giám Năm 1734, triều đình ra lệnh cấm mua sách của Trung Quốc Điều này chứng tỏ việc in ấn sách trong nước đã có thể đủ cung cấp cho người dùng

Nhiệm vụ cụ thể của Trường là đào tạo ra những bậc trí sĩ vừa có đức vừa có tài để thực hiện một trong hai nhiệm vụ: hoặc trực tiếp tham gia vào

bộ máy quản lý nhà nước hoặc trở thành những người tiếp tục sự nghiệp truyền bá tri thức, dạy dỗ đào tạo các thế hệ kế tiếp Đây cũng chính là nhiệm

vụ chung của toàn bộ hệ thống giáo dục Nho học Việt Nam thời phong kiến

Việc dạy và học tại Quốc Tử Giám được coi như chuẩn mực cho cả nước Giảng viên từ Tế tửu, Tư nghiệp đến các giảng quan đều là các bậc túc Nho tài cao, đức rộng Giám sinh, ngoài số lượng tập ấm (con em của Hoàng tộc và quan lại từ Tứ phẩm trở lên) còn lại đều được tuyển chọn từ các Nho sinh ưu tú tại các địa phương đưa lên Trường có nội qui, chương trình học tập, rèn luyện cụ thể, nghiêm túc Điều kiện giảng dạy, học tập được triều đình quan tâm từ cơ sở vật chất giáo trình, trường lớp, lương bổng đến tinh

thần của thầy và trò Sách Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại

chí hiện vẫn còn ghi lại không chỉ những các qui chế về phẩm phục, học qui,

đãi ngộ …tại nhà Giám mà cũng chép cả việc Vua Lê Thánh Tông thân chinh

Trang 38

mẹ Khổng Tử

1.2.3.2 Hoạt động của Văn Miếu – Quốc Tử Giám hiện nay

Văn Miếu - Quốc Tử Giám hiện nay là Di tích quốc gia đặc biệt, là một địa chỉ du lịch văn hóa nổi tiếng của Thủ đô, hàng năm thu hút được hàng triệu lượt khách tham quan trong nước và quốc tế

Bảng 1.2: Số lượt khách tham quan trong và ngoài nước từ 2010-1014

(Nguồn: Trung tâm hoạt động VHKH Văn Miếu - Quốc Tử Giám) Văn Miếu - Quốc Tử Giám còn là biểu tượng cho trí tuệ của người Việt Nam, là nơi biểu dương truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, trọng hiền tài của dân tộc Văn Miếu – Quốc Tử Giám nay là nơi lưu trữ những tư liệu quý của nền văn hóa, giáo dục của Việt Nam xưa

Trang 39

Đến VM – QTG, các nhà sử học có thể tìm thấy những tư liệu lịch sử

về nền giáo dục Việt Nam, về các danh nhân của dân tộc Nhà kiến trúc, mỹ thuật tìm hiểu về nghệ thuật kiến trúc thời Lê - Nguyễn, hay họa tiết hoa văn trang trí truyền thống trên bia Tiến sĩ và kiến trúc gỗ Nhà Triết học có thể tìm thấy những cứ liệu về vai trò của Nho giáo tại Việt Nam Nhiều gia đình, dòng họ có thể tìm thấy tên tuổi của tổ tiên trên bia đá nhằm khích lệ tinh thần học tập cho con em mình

Trong những năm qua, nhiều hoạt động tại di tích đã khơi lại và củng

cố những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đó là truyền thống hiếu học, coi trọng hiền tài và truyền thống tôn sư trọng đạo, đồng thời phát huy những giá trị này vào công cuộc xây dựng nền giáo dục và văn hóa tiên tiến hiện nay Hoạt động tại di tích không những giúp cho đông đảo nhân dân, khách du lịch trong nước hiểu sâu sắc về một di tích quan trọng của Thủ đô, mà còn giúp khách quốc tế, bè bạn trên thế giới hiều hơn về dân tộc, về nền văn hiến lâu đời và đặc sắc của Việt Nam

Năm 2011, 82 bia Tiến sĩ được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới trên phạm vi toàn cầu Năm 2012, Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt Tháng 12 năm 2014, 82 bia Tiến sĩ được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia

Trang 40

Tiểu kết chương

Văn hóa giáo dục là một bộ phận của một nền văn hóa bao gồm: Triết

lý giáo dục, thể chế, thiết chế, công nghệ giáo dục bị qui định bởi đặc trưng của nền văn hóa của một cộng đồng, có chức năng trao truyền văn hóa từ thế

hệ này sang thế hệ khác, góp phần bảo tồn và phát triển văn hóa cộng đồng VHGD phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi giai đoạn phát triển của mỗi cộng đồng, quốc gia dân tộc Trong các giai đoạn lịch sử phát triển của Việt Nam đều có một nền VHGD Xã hội phong kiến Việt Nam (thời

kỳ độc lập tự chủ) kéo dài hơn 1000 năm đã có một nền VHGD đặc trưng

Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long được xây dựng vào triều Lý có

ý nghĩa lịch sử to lớn, đánh dấu một bước phát triển trong nền giáo dục Nho học ở Việt Nam VM – QTG với hơn 700 năm hoạt động đã đào tạo được hàng ngàn các bậc đại khoa, hiền tài cho đất nước Đây cũng là nơi để lại dấu

ấn đậm nhất, rõ nét nhất về một nền giáo dục nước nhà Thời Lý - Trần – Lê, VM-QTG Thăng Long giữ vai trò là trung tâm thờ tự Nho giáo, giáo dục – đào tạo quan lại, tri thức Nho học lớn nhất Việt Nam thời quân chủ

Văn Miếu - Quốc Tử Giám xưa là cửa Khổng, sân Trình, là trung tâm giáo dục nho học lớn nhất của Việt Nam, là nơi hun đúc nên bao truyền thống tốt đẹp của dân tộc, trong đó có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, coi trọng hiền tài, là nơi biểu dương, vinh danh danh nhân Nho học Văn Miếu-Quốc Tử Giám nay là di tích Quốc gia đặc biệt, là nơi lưu giữ nhiều hiện vật quý giá của dân tộc, là biểu tượng của trí tuệ, sự thành đạt trong giáo dục, là

di sản văn hóa quý giá của dân tộc và nhân loại Vai trò to lớn, toàn diện của VM-QTG sẽ được nghiên cứu sâu hơn ở chương 2 của bản luận văn

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỔ - Văn miếu quốc tử giám thăng long hà nội trong nền văn hóa giáo dục việt nam
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỔ (Trang 8)
Bảng 1.2: Số lượt khách tham quan trong và ngoài nước từ 2010-1014 - Văn miếu quốc tử giám thăng long hà nội trong nền văn hóa giáo dục việt nam
Bảng 1.2 Số lượt khách tham quan trong và ngoài nước từ 2010-1014 (Trang 38)
2 Phụ lục 2: Một số hình ảnh về Văn - Văn miếu quốc tử giám thăng long hà nội trong nền văn hóa giáo dục việt nam
2 Phụ lục 2: Một số hình ảnh về Văn (Trang 111)
CÁC VỊ TẾ TỬU, TƯ NGHIỆP QUỐC TỬ GIÁM QUỐC TỬ GIÁM THĂNG LONG  - Văn miếu quốc tử giám thăng long hà nội trong nền văn hóa giáo dục việt nam
CÁC VỊ TẾ TỬU, TƯ NGHIỆP QUỐC TỬ GIÁM QUỐC TỬ GIÁM THĂNG LONG (Trang 114)
Bảng nhãn  - Văn miếu quốc tử giám thăng long hà nội trong nền văn hóa giáo dục việt nam
Bảng nh ãn (Trang 114)
Bảng nhãn  - Văn miếu quốc tử giám thăng long hà nội trong nền văn hóa giáo dục việt nam
Bảng nh ãn (Trang 117)
LONG BẢNG Tư  nghiệp  - Văn miếu quốc tử giám thăng long hà nội trong nền văn hóa giáo dục việt nam
nghi ệp (Trang 120)
Bảng nhãn  - Văn miếu quốc tử giám thăng long hà nội trong nền văn hóa giáo dục việt nam
Bảng nh ãn (Trang 122)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w