1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội” (Khảo sát tại các khu nhà trọ thuộc xã Hải Bối, huyện Đ

150 1,3K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này muốn đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng đời sống của nữ công nhân nhập cư tại khu Công nghiệp Bắc Thăng Long – Thuộc khu vực thành Phố Hà Nội là một trong hai khu công ngh

Trang 1

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

huyện Đông Anh, Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội, 2014

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -

LÊ THỊ THU NGÂN

ĐỀ TÀI: ĐỜI SỐNG NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ TẠI KHU CÔNG NGHIỆP BẮC THĂNG LONG – HÀ NỘI

DƯỚI GÓC NHÌN CÔNG TÁC XÃ HỘI

(Khảo sát tại các nhà trọ trên địa bàn xã Hải Bối

huyện Đông Anh, Hà Nội)

Chuyên nghành Công tác xã hội

Mã số: 60.90.01.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà

Hà Nội, 2014

Trang 3

3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 8

3 Ý nghĩa của nghiên cứu 16

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 17

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 18

6 Phạm vi nghiên cứu 18

7 Câu hỏi nghiên cứu 19

8 Giả thuyết nghiên cứu 19

9 Phương pháp nghiên cứu 19

10 Cấu trúc của luận văn 24

NỘI DUNG CHÍNH 26

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 26

1.1 Các khái niệm công cụ 26

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 28

1.2.1 Tháp nhu cầu của Maslow 28

1.2.2 Thuyết hệ thống và sinh thái 30

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ TẠI KHU CÔNG NGHIỆP BẮC THĂNG LONG – HÀ NỘI 35

2.1 Đặc trưng nhân khẩu xã hội của nữ công nhân nhập cư 36

2.1.1 Trình độ học vấn 36

2.1.2 Nghề nghiệp trước khi đến khu công nghiệp 38

2.1.3 Quê quán 40

2.1.4 Tình trạng hôn nhân 42

2.1.5 Độ tuổi 45

2.2 Đánh giá cụ thể các khía cạnh đời sống 47

2.2.1 Thu nhập 47

2.2.2 Các khoản chi tiêu 50

Trang 4

4

2.2.3 Nhà ở 52

2.2.4 Chế độ dinh dưỡng 56

2.2.5 Tài sản 59

2.2.6 Thời gian tham gia các hoạt động giải trí 61

2.3 Đánh giá về sức khỏe và khám chữa bệnh 64

2.3.1 Những bệnh thường gặp 64

2.3.2 Lý do mắc bệnh 66

2.3.3 Cách chữa trị 68

2.4 Mức độ hài lòng với cuộc sống 69

2.4.1 Đánh giá mức sống hiện tại so với trước kia 69

2.4.2 Mong đợi trong công việc và dự định tương lai 71

CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC CUNG CẤP KIẾN THỨC PHÒNG TRÁNH THAI VÀ NẠO HÚT THAI AN TOÀN CHO NHÓM NỮ CÔNG NHÂN 75

3.1 Mục đích can thiệp 76

3.2 Thành lập nhóm can thiệp và thống nhất kế hoạch can thiệp 76

3.3 Các hoạt động can thiệp 78

3.3.1 Đánh giá kiến thức ban đầu về phòng tránh thai, nạo hút thai an toàn và thống nhất các hoạt động can thiệp 78

3.3.2 Cung cấp kiến thức về phòng tránh thai và nạo hút thai an toàn qua tờ rơi và trang web của tổ chức MSI (Marie stopes international) tại Việt Nam 86

3.3.3 Cung cấp kiến thức qua việc thực hành trên các dụng cụ và đoạn Video 93

3.3.4 Thực hành giải quyết tình huống và cung cấp địa chỉ tin cậy 98

3.4 Lượng giá và kết thúc can thiệp 104

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109

1 Kết luận 109

2 Khuyến nghị 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHỤ LỤC 116

Trang 5

Bảng 2.8: Các khoản chi tiêu

Bảng 2.9: Số lƣợng công nhân trong một phòng Bảng 2.10: Diện tích phòng trọ

Trang 6

6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam

đã đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào và đang ngày càng tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trên mọi mặt xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tựu, vươn mình ra hội nhập với toàn cầu Vào ngày 07 tháng 11 năm

2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO Sự kiện này đã khẳng định một vị thế mới của Việt Nam trên bình diện quốc tế, mở ra một cơ hội lớn cho toàn dân tộc gia nhập vào nền kinh tế toàn cầu với không ít những thách thức Mục tiêu của chúng ta là cho đến năm

2020 Việt nam trở thành một nước công nghiệp phát triển, có thể sánh vai với các nước phát triển trên toàn thế giới

Quá trình phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, đời sống vật chất và tinh thần của con người được cải thiện rõ rệt Sự xuất hiện của các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà nẵng, Hải phòng, Bình Dương với các khu công nghiệp mọc lên nhanh chóng đã góp phần không nhỏ trong việc làm “thay da đổi thịt” đất nước Khi nói đến các khu đô thị có những bước tiến đột phá, người ta không thể quên kể đến Hà Nội, với hàng loạt các khu công nghiệp lớn nhỏ, điển hình như khu công nghiệp nghiệp Bắc Thăng Long,

là một trong hai khu công nghiệp lớn nhất Hà Nội

Hà Nội nằm ở đồng bằng Bắc bộ, tiếp giáp với các tỉnh: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía bắc; phía nam giáp Hà Nam và Hoà Bình; phía đông giáp các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; phía tây giáp tỉnh Hoà Bình và Phú Thọ

Hà Nội nằm ở phía hữu ngạn sông Đà và hai bên sông Hồng, vị trí và địa thế thuận lợi cho một trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học và đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam

Hà Nội là thủ đô của đất nước, là thành phố có nền kinh tế phát triển đứng thứ hai trên cả nước sau thành phố Hồ Chí Minh với hàng loạt các khu công nghiệp lớn

Trang 7

7

với vốn đầu tư nước ngoài như Quang Minh, Bắc Thăng Long, Thạch Thất – Quốc Oai… Trong thời gian qua Hà Nội luôn là thành phố thu hút nhiều dân nhập cư từ các địa phương khác Kết quả điều tra dân số ngày 01/4/2009 của Tổng cục thống

kê dân số của Thành phố Hà nội đạt mốc 6.448.837 người Đặc biệt trong vòng 4 năm (2008-2011) dân số Hà Nội đã tăng khoảng 43 vạn người, trong đó tăng dân số

cơ học lên tới 5 vạn người/năm, chủ yếu thuộc các đối tượng trong độ tuổi lao ộng.Vài ba năm gần đây, số người nhập cư ở Việt Nam ước tính tăng 25-50% và sẽ tăng đáng kể sau khi nước ta gia nhập WTO [35, tr.5]

Ngân hàng thế giới dự tính: tình trạng nghèo khổ ở đô thị Việt Nam sẽ tập trung chủ yếu ở nhóm người nhập cư và trong vòng hai thập kỷ tới, mỗi năm sẽ có khoảng 1 triệu người rời nông thôn ra thành phố Đây cũng là những nhận định trong báo cáo nghiên cứu về người lao động nhập cư ở Việt Nam do Actionaid thực hiện, công bố trong Ngày gặp mặt tổng kết tháng đoàn kết vì người nghèo (4/12/2005) tổ chức tại Hải Phòng

Kết quả phỏng vấn công nhân từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ ra Hà Nội tìm việc cho thấy: khi lựa chọn doanh nghiệp vào làm việc, 45% lao động thiếu thông tin về tiền lương, 40% thiếu thông tin về yêu cầu kỹ năng tay nghề; 55% chưa hề được đào tạo nghề, 36% được đào tạo nghề may và 8% được đào tạo các nghề khác; 62% người ra thành phố làm việc là do gia đình cần tiền, 72% muốn kiếm được nhiều tiền hơn ở nhà [35, tr.5]

Với hành trang, trình độ học vấn cũng như kỹ năng tay nghề hạn chế như vậy,

họ rất khó khăn trong tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống nơi đô thị Trong số 737.500 công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, 70% là người lao động nhập cư và 60% là phụ nữ [35, tr.5]

Đề tài này muốn đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng đời sống của nữ công nhân nhập cư tại khu Công nghiệp Bắc Thăng Long – Thuộc khu vực thành Phố Hà Nội là một trong hai khu công nghiệp lớn nhất thành phố, để nhìn thấy được những khó khăn mà các chị gặp phải trong cuộc sống và điều gì khiến cuộc sống của họ bị

“cản trở” Dựa trên những thực trạng đời sống tôi sẽ gợi ý để xây dựng mô hình câu lạc bộ giáo dục kỹ năng sống cho các nữ công nhân nhập cư

Trang 8

8

Nếu ai đã bắt gặp hình ảnh của những chị công nhân nhập cư giờ tan ca thì không thể quên được dáng vẻ mệt mỏi thể hiện trên từng khuôn mặt, qua những bước chân tưởng chừng như không nhấc lên được của họ Những ngày làm việc căng thẳng và biết bao lo toan vất vả đã làm cho bộ dạng bên ngoài của các chị trở nên tiều tụy và xơ xác

Bản thân là một người nhập cư sống xa nhà, tự lập trong cuộc sống và có cơ hội chứng kiến hiện thực cuộc sống của các nữ công nhân nhập cư nên tôi hiểu được phần nào những vất vả cuộc sống mà các chị đang trải qua Đó cũng là động

lực thúc đẩy tôi thực hiện đề tài này để có cái nhìn thấu đáo về “Đời Sống của Nữ Công Nhân Nhập Cư tại Khu Công Nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội (Khảo sát tại các nhà trọ trên địa bàn xã Hải Bối – Huyện Đông Anh)” Mong rằng đề tài sẽ đưa ra được một bức tranh chi tiết về cuộc sống

của các nữ công nhân nhập cư cũng như những khó khăn và mong muốn của họ trong cuộc sống, để từ đó thấy được họ đang cần gì, thiếu gì cho một cuộc sống tốt đẹp hơn

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Từ trước đến nay đã có khá nhiều các nghiên cứu về công nhân lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn cả nước, trong những nghiên cứu đó cũng có không ít các nghiên cứu về nữ công nhân nhập cư Đây là vấn đề chiếm được sự quan tâm từ nhiều các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau: Kinh tế, xã hội, văn hóa, tâm lý,…Với mỗi lĩnh vực nghiên cứu lại có những cách thức đánh giá, hướng nghiên cứu khác nhau Nhưng các nghiên cứu đó đều hướng tới việc đi sâu tìm hiểu

về những khó khăn của công nhân gặp phải trong cuộc sống, trong công việc từ đó

có những giải pháp để hỗ trợ cho quá trình sống và làm việc của họ

- Các nghiên cứu, bài báo, tạp chí

Kim Anh, Nguyễn Tập và Quốc Linh (2004), “Chuyện dài nhiều tập của công nhân nhập cư” Nhóm tác giả đã nói lên được thực trạng đời sống của công nhân nhập cư mà đáng chú ý hơn cả là nữ công nhân Các nữ công nhân đều gặp các vấn đề từ nhà trọ đến ăn uống hàng ngày, thu nhập, tình cảm, sức khỏe…Họ phải sống trong các khu nhà trọ ẩm thấp, dột nát, chật hẹp, ăn uống thì tằn tiện vì đồng

Trang 9

9

lương quá ít ỏi Tình trạng sống thử xảy ra đầy rẫy, không nhận được sự quan tầm

về mặt sức khỏe từ phía công ty nên nữ công nhân dễ mắc các bệnh: Đau bao tử, viêm xoang, viêm phụ khoa…

Phan Thị Mai Hương Viện Tâm lý học làm chủ nhiệm (2011), “Báo cáo kết quả nghiên cứu về công nhân” Đề tài đã thực hiện khảo sát với những công nhân trên cả ba miền đất nước về vấn đề kinh tế - xã hội Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng người công nhân có sự quan tâm đối với các vấn đề lớn của đất nước nhưng nhận thức còn chưa thực sự đầy đủ, còn có những hạn chế Các thông tin về những vấn đề lớn, được nhiều người quan tâm được người công nhân tiếp nhận chủ yếu qua các phương tiện truyền thông đại chúng như truyền hình, đài, báo chí Thậm chí ngay cả việc tiếp thu thông tin qua các phương tiện truyền thông đại chúng cũng không phải

là nhiều, do phần lớn thời gian người công nhân đành để làm việc, làm tăng ca , do người công nhân còn đang phải lo cho cuộc sống hàng ngày, lo kiếm sống Vì vậy, thông tin thu được cũng không phải là nhiều Bên cạnh đó, trình độ học vấn của người công nhân nói chung chưa cao nên điều này cũng có ảnh hưởng đến nhận thức của họ

Lê Trọng và Nguyễn Minh Ngọc (2001), “Lao động nữ ra thành phố cư trú tự do tìm việc làm: thực trạng và giải pháp” Tác giả đã đưa ra các nguyên nhân của vấn đề lao động nữ ra thành phố cư trú tự do, bên cạnh nguyên nhân là do kinh tế khó khăn thì còn bao gồm cả nguyên nhân về tinh thần Trong bài viết, tác giả cũng nói tới những khó khăn mà nữ công nhân phải đối mặt trong quá trình di cư đi tìm việc làm

PTS Nguyễn Văn Tài và CTV, “Di dân tự do nông thôn – thành thị ở Thành phố Hồ Chí Minh”, NXB Nông nghiệp, 1998 Tác giả đã giúp người đọc có một cái nhìn tổng quát về vấn đề di dân tự do từ nông thôn ra thành thị tại Thành phố Hồ Chí Minh, những tích cực và tiêu cực của việc di dân tự do đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những biện pháp vừa mang tính chất dài hạn và ngắn hạn đối với hiện tượng di dân tự do

Hà Thị Phương Tiến và Hà Quang Ngọc, “Lao động nữ di cư tự do nông thôn – thành thị”, NXB Phụ nữ, 2000 Công trình này đã cung cấp cho chúng ta biết được thực trạng cuộc sống của lao động nữ di cư tự do từ nông thôn ra thành phố,

Trang 10

10

vấn đề việc làm, thu nhập, điều kiện sống của họ tại thành phố Họ gặp nhiều vấn đề khó khăn, trở ngại trong cuộc sống như sự bất cập giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa năng lực và yêu cầu, giữa đóng góp và hưởng thụ Theo tác giả cần phải giải quyết những vấn đề trên bằng những chính sách cụ thể giúp cho cuộc sống của lao động

nữ được cải thiện, được bình đẳng và hưởng các quyền lợi công dân nhằm nâng cao khả năng đóng góp và vị thế xã hội của họ

Tổ chức di cư Quốc tế (International Organization for Migration) kết hợp với Trung tâm thúc đẩy chất lượng cuộc sống một tổ chức phi chính phủ địa phương

“Nghiên cứu về Bạo lực Giới đối với các Phụ nữ di cư là Công nhân nhà máy” Nghiên cứu này thực hiện tại các khu công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh và các khu vực xung quanh, thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2006 đến tháng 6/2007 Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm cải thiện hiểu biết về tình trạng bạo lực đối với nữ công nhân di cư ở Việt Nam và cung cấp thông tin chính xác về nhận thức, trải nghiệm và phản ứng của phụ nữ di cư đối với bạo lực giới mà có thể được sử dụng

để hỗ trợ các nỗ lực vận động thông qua xây dựng chính sách và chương trình Sáng ngày 3/12/2013, tại Hà Nội, Tổng Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) Việt Nam và Tổ chức Action Aid t ổ chức hội thảo công bố kết quả Đề tài nghiên cứu

“Thực trạng mức sống của lao động nữ nhập cư tại các khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN - KCX) hiện nay” Báo cáo công bố kết quả Đề tài nghiên cứu cho thấy: Việt Nam có 15 triệu công nhân, lao động đang làm việc trong doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; gần 2 triệu công nhân, lao động làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, trong đó gần 70% là lao động nữ Sự gia tăng nhanh chóng số lượng công nhân lao động nhập cư đã tạo áp lực lớn và những hệ lụy trong đời sống văn hóa - xã hội ở các địa bàn dân cư Nghiên cứu đã chỉ ra được những hạn chế trong thu nhập của đa số công nhân, trong đó có nữ công nhân nhập cư Họ đã bị doanh nghiệp chèn ép, sẵn sàng cắt tiền lương khi doanh nghiệp khó khăn và thông thường chỉ trả lương bằng mức lương tối thiểu Đứng trước những khó khăn đó nữ công nhân đã phải đi kiếm các công việc làm thêm khác để tăng thêm thu nhập và cải thiện cuộc sống

Trang 11

11

Trung tâm hợp tác phát triển nguồn nhân lực và Actionaid, “Tác động của khủng hoảng kinh tế tới đời sống, việc làm của công nhân nữ nhập cư và nguy cơ buôn bán người” Nghiên cứu này được thực hiện từ ngày 05/7/2009 tại một số địa điểm ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, đến ngày 08/9/2009 nghiên cứu được công bố tại Hà Nội trong Hội thảo do trung tâm Hợp tác phát triển nguồn nhân lực và Actionaid phối hợp tổ chức Qua nghiên cứu này đã chỉ ra rằng có 28% nữ công nhân nhập cư có hợp đồng lao động không xác định thời hạn và 36% số nữ công nhân nhập cư chuyển chỗ làm từ 1 đến 5 lần trong 5 năm qua Họ phải làm việc với cường độ cao nhưng đồng lương lại không tương xứng với sức lao động họ

bỏ ra Họ được xem là đối tượng chịu sự tác động lớn của khủng hoảng kinh tế nên vấn đề mất việc, thiếu việc, không tìm được việc làm, dẫn tới nguy cơ là nạn nhận của tệ nạn mua bán người là điều khó tránh khỏi Từ đó nghiên cứu cũng đưa ra một

số đề xuất cho việc triển khai mô hình hỗ trợ cho nữ công nhân khi đang làm việc lẫn khi về quê

Nghiên cứu trên của Trung tâm Hợp tác phát triển nguồn nhân lực (C&D) và ActionAid Việt Nam “Tác động của khủng hoảng tài chính kinh tế đối với công nhân nữ nhập cư và những nguy cơ về mua bán người” Nghiên cứu cho thấy lao động nữ đã và đang chịu nhiều tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng kinh tế Nhiều công nhân nữ không biết “mặt mũi” hợp đồng lao động , nên khi có khủng hoảng kinh tế xảy ra, doanh nghiệp sãn sàng cắt giảm lao động và nghiễm nhiên họ

sẽ mất việc làm Đứng trước vấn đề mất việc buộc họ phải đi tìm những công việc khác có thu nhập để trang trải cho cuộc sống hàng ngày, ít người lựa chọn về quê Chính vì vậy, việc chấp nhận một công việc nhiều rủi ro, bất chấp hậu quả là điều

dễ xảy ra, nhiều chị em dễ bị lợi dụng, dụ dỗ, lừa gạt vào con đường mại dâm, lấy chồng nước ngoài

Báo Hà Nội Mới ra ngày 01/5/2013 có bài viết về “Đời sống văn hoá ở các KCN: Gần như bị lãng quên!” Trong bài viết này cũng đã đề cập sơ qua một vài nét

về nới ăn chốn ở của các công nhân lao động, tuy nhiên nhấn mạnh đến vấn đề văn hóa, giải trí của công nhân tại đây Họ gọi là “Phòng trọ ba không”, không ti vi, không sách báo và không internet Thời gian chủ yếu của họ là làm việc tại các công

Trang 12

12

ty, khu chế xuất, họ có thể tan ca là họ lại trở về phòng trọ, họ luôn trong tình trạng

“đói văn hóa” triền mien Bài viết cũng đã chỉ ra rằng do áp lực về kiếm sống nên

họ đã lãng quên những thứ xa xỉ như “văn hóa”, đây là bài toán đặt ra cho các cấp các ngành, chính sách nhà nước

Báo Nhân dân với bài viết “Người lao động chật vật với mức lương tối thiểu” Trong bài viết tác giải đã nêu được vấn đề thu nhập thực tế của phần lớn người lao động (NLÐ) trong các khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN, KCX) hiện nay còn ở mức thấp, hầu như chỉ đủ trang trải cho cuộc sống cá nhân, ít có tích lũy Ðối với NLÐ nhập cư nói chung và các lao động nữ (LÐN) nhập cư đã có gia đình nói riêng, cuộc sống đang gặp không ít khó khăn do mọi chi phí đều trông vào khoản lương ít ỏi Bên cạnh đó tác giải còn đề cập đến vấn đề người lao động cần doanh nghiệp xây dựng nhà gửi trẻ để họ an tầm làm việc

“ Cực lắm đời công nhân”, www.tuoitre.com Bài viết đã cho chúng ta biết nỗi cực nhọc của công nhân tại khu công nghiệp Mỹ Phước Họ phải tăng ca rất nhiều, thậm chí là làm thâu đêm, nhưng mức lương mà họ nhận được chỉ từ 1.200.000 đồng đến 1.600.000 đồng Với mức lương đó, cuộc sống của công nhân hết sức chật vật trong điều kiện giá cả ngày một tăng cao Thêm vào đó, họ còn bị đối xử rất tệ,

cụ thể phải làm việc dưới cơn nắng

“Ăn ở, nghe xem đều thiếu thốn”, www.giaoduc.edu.vn, 10/01/2007 Bài viết phản ánh cuộc sống của công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất: Tân Bình, Tân Tạo hết sức khó khăn và thiếu thốn Họ phải sông trong những khu nhà trọ chật chội và không đảm bảo vệ sinh Ngoài ra, bài viết cũng đề cập tới vấn đề nhà ở do doanh nghiệp xây dựng rất ít

“Đời sống công nhân trước cơn bão giá”, www.quangngai.gov.vn 21/3/2008 Bài viết đã cho chúng ta biết cuộc sống vô cùng chật vật của công nhân tại các KCN Quảng Phong, Tịnh Phong, KCN Phổ Phong tại tỉnh Quảng Ngãi trong “cơn bão” giá vừa qua Thức ăn của họ chẳng có gì khác ngoài mấy miếng đậu khuôn, cá kho mặn và rau muống xào bởi tiền lương quá thấp nên họ chẳng có tiền mà chăm lo cho sức khoẻ Tìm cách cải thiện cuộc sống vật chất của công nhân đang là một vấn

đề đáng quam tâm tại tỉnh

Trang 13

13

“Bức xúc đời sống công nhân”, Thời báo kinh tế Việt Nam 25/10/2007 Bài viết đã phản ánh điều kiện làm việc, điều kiện sống của công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất của Hà Nội chưa đựợc đảm bảo Việc vi phạm Luật lao động vẫn còn tồn tại trong ký kết hợp đồng giữa doanh nghiệp và người lao động

- Các nghiên cứu độc lập

Luận văn tốt nghiệp của Sinh viên Trần Thị Hồng Châu (Khóa 1996 -2000), Khoa Phụ nữ học, Trường Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh, “Tìm hiểu đời sống nữ công nhân nhập cư tại công ty may Việt Tiến” Nghiên cứu đã nêu ra thực trạng của nhóm nữ công nhân tại công ty may Việt Tiến về các vấn đề như: điều kiện dự tuyển, quyền lợi và nghĩa vụ của họ đối với công ty, những khó khăn về thời gian lao động, sức khỏe, mối quan hệ, nơi ở Nghiên cứu nhấn mạnh đến những khó khăn trong quá trình làm việc mà công nhân tại công ty đang gặp phải, đó là, điều kiện làm việc không thoải mái, họ luôn ở trong tình trạng căng thẳng, bị stress

Nguyễn Thị Chiến, “Nghiên cứu đời sống văn hóa của công nhân các khu công nghiệp vùng tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh” Nghiên cứu này được bắt đầu vào tháng 01/2009, kết thúc vào tháng 12/2010, với việc khảo sát đánh giá thực trạng đời sống văn hóa của công nhân các KCN trong đó bao gồm: đời sống văn hóa vật chất, đời sống văn hóa tinh thần của công nhân.Trên cơ sở những nhận định về nguyên nhân chủ quan và khách quan tác động đến đời sống văn hóa của công nhân, đề tài đề xuất các giải pháp và kiến nghị về nâng cao đời sống văn hóa cho công nhân các KCN ở Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh

Bùi Thị Thanh Hà, Viện xã hội học, “Đời sống và việc làm của công nhân xuất thân từ nông thôn” thực hiện từ tháng 10/2008 Nghiên cứu này đã đề cập đến những khó khăn trong công việc cũng như trong việc tìm kiếm bạn đời của các công nhân nhập cư Họ có thể thích nghi được với cuộc sống nhưng vấn đề tìm được bạn đời là điều khó khăn đối với họ, do điều kiện kinh tế chưa ổn định, tính chất công việc và các mối quan hệ giáo lưu hạn chế Vì vậy nhiều các công nhân đã chọn con đường trở về quê để tìm việc khác và lập gia đình Bên cạnh đó nghiên cứu cũng đã nêu ra được những kiến nghị đến các cấp như: Điều chỉnh tăng lương, thiết kế các khu nhà ở cho công nhân,…

Trang 14

14

Tiểu luận tốt nghiệp của Sinh viên Vũ Thị Khương (Khóa 1992 -1996), Khoa Phụ nữ học, Đại học Mở bán công Thành Phố Hồ Chí Minh, “ Việc thực hiện luật Lao động đối với nữ công nhân ở một vài doanh nghiệp nhà nước tại Thành Phố Hồ Chí Minh” Đề tài tiểu luận đã nghiên cứu việc thực hiện luật lao động tại hai doanh nghiệp dệt may Tiểu luận đã nêu ra được những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện những chính sách lao động cho phụ nữ

Nguyễn Huyền Lê, Viện Khoa học Lao động và Xã hội trong bài viết “Rủi ro của lao động di cư và một số kiến nghị”, đã chỉ ra được các khó khăn và rủi ro mà người lao động nhập cư sẽ phải đối đầu trong quá trình sống và lao động Rủi ro về

an sinh thấp, nguy cơ bị lừa gạt, khó khăn nhà ở, rủi ro trong suy giảm sức khỏe,…Thông qua đó tác giả đã đề cập đến những đề xuất như: Giảm dòng di cư tự

do bằng cách phát triển các đô thị vệ tinh tại các vùng nông thôn, tăng cường cung cấp thông tin cấp xã cho lao động di cư, chính quyền nên có các biện pháp hữu hiệu

để đáp ứng nhà ở,…

Luận văn tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Ngọc (Khóa 1997 -2001), Khoa Phụ nữ học, Trường Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh, “ Khảo sát đời sống và điều kiện làm việc của lao động nữ nghành dệt may”, ( Điển cứu tại công ty dệt may Việt Thắng và công ty dệt may Thành Công) Nghiên cứu đã cung cấp những thông tin về đời sống của nữ công nhân nghành dệt may Họ thường xuyên phải làm việc trong điều kiện chật hẹp, nóng bức, bụi bặm, thiếu ánh sang, tăng ca…Nhưng đổi lại hàng tháng họ chỉ nhận được những đồng lương ít ỏi không đủ

để họ có thể có một cuộc sống đảm bảo

Nguyễn Tín Nhiệm, “Điều kiện lao động của nữ công nhân : Thực trạng và giái pháp” Nghiên cứu này được tiến hành trong vòng 3 năm từ 1995 đến 1997, với việc khảo sát trực tiếp 1294 doanh nghiệp trên cả nước, về vần đề môi trường lao động Nghiên cứu này phản ánh được tình hình chung về điều kiện lao động của nữ công nhân và từ đó đã nêu ra được một số giải pháp để khắc phục tình trạng này

Phạm Thanh Thôi Đại học xã hội và nhân văn, đại học Quốc gia Thành phố

Hồ Chí Minh, “Đời sống xã hội của thanh niên nhập cư lao động phổ thông tại các

cơ sở sản xuất nhỏ ở Tp.HCM” Nghiên cứu này chủ yếu tập trung về các khía cạnh

Trang 15

15

đời sống xã hội của thanh niên nhập cư lao động phổ thông tại các cơ sở sản xuất nhỏ ở TP Hồ Chí Minh Các khía cạnh của đời sống xã hội như mạng lưới xã hội, quan hệ xã hội, các điều kiện sống, làm việc, thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội

đô thị được mô tả và phân tích trong nghiên cứu này Đời sống xã hội của thanh niên nhập cư xét trên quan hệ với chủ cơ sở, với các đồng nghiệp tại nơi sống và làm việc được xây dựng chủ yếu trên nền tảng các quan hệ “tình cảm”, “thân thuộc”, “đồng tộc”, “đồng hương” Theo đó, các cơ sở sản xuất nhỏ như là các “hộ gia đình hoạt động kinh tế công nghiệp” và cũng là các “tiểu văn hóa” đa dạng trong quá trình đô thị hóa ở TP Hồ Chí Minh

Leslie T Chang “Gái công xưởng” Cuốn sách viết về các cô gái rời quê nhà, hòa mình vào thế giới công xưởng khắc nghiệt, nơi bạn thậm chí sẽ đánh mất bạn trai chỉ vì đánh mất cái điện thoại, hoặc một chút kỹ năng sử dụng máy tính sẽ đưa bạn lên một tầng lớp mới trong xã hội Trong cuộc vật lộn mưa sinh họ đã nếm trải

đủ thành công cũng như thất bại cay đắng Cuốn “Gái công xưởng” còn là cuốn sách đầy thương cảm thiết tha lưu lại trong lòng người đọc về những con người đang hàng ngày tạo ra hàng hóa công nghiệp, tiêu dùng cho chúng ta Đây là cuốn sách viết về nữ lao động Trung Quốc nhưng cũng đã phản ánh được những hiện thực tồn tại mà có lẽ các “thân phận: công nhân đều phải trải qua

Bùi Thị Thanh Hà, “Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới”, NXB Khoa học xã hội, 2003 Cuốn sách đã đi sâu nghiên cứu đội ngũ giai cấp công nhân trong các doanh nghiệp liên doanh, mà cụ thể là ngành dệt may, giày da thực phẩm trong thời kỳ đổi mới của nước ta Cuốn sách tập trung nghiên cứu về các vấn đề như cơ cấu công nhân, điều kiện làm việc, các mối quan hệ trong doanh nghiệp liên doanh Đồng thời, cũng có đề cập đến cơ hội thăng tiến nghề nghiệp đối với công nhân trong doanh nghiệp liên doanh so với các doanh nghiệp khác

Các tài liệu vừa nêu trên phần lớn đã đề cập đến thực trạng các vấn đề của công nhân, công nhân nhập cư và nữ công nhân nhập cư về cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, điều kiện làm việc tại công ty, các chế độ lao động, mức sống, văn hóa

Trang 16

16

Và có một số nghiên cứu đã nghiên cứu cụ thể đời sống của nữ công nhân nhập cư trong nghành dệt may Nhưng chưa có nghiên cứu nào đánh giá được hậu quả của thực trạng đời sống nữ công nhân nhập cư, cũng như chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu độc lập vấn đề đời sống của nữ công nhân nhập cư về cả vật chất lẫn tinh thần Những nghiên cứu đi trước đã có các khuyến nghị, đề xuất mang tính chung chung tới các cấp chính quyền nhà nước và chưa có biện pháp hay cách thức nào cụ thể cho những khó khăn của nữ công nhân

Kế thừa kết quả của các nghiên cứu trên, tôi tiến hành nghiên cứu chi tiết cuộc sống vật chất và tinh thần hiện nay của các nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội, sau đó đưa ra đánh giá hậu quả của thực trạng đó mang lại trên cơ sở đó sẽ ứng dụng Công tác xã hội nhóm vào việc hỗ trợ nhằm nâng cao kỹ năng cho nhóm nữ công nhân Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về nữ công nhân nhập cư trên nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng chủ yếu nghiên cứu nữ công nhân nhập cư trên khu vực Thành Phố Hồ Chí Minh mà chưa có nhiều nghiên cứu nói tới nữ công nhân nhập cư trên địa bàn Thành phố Hà Nội Đây cũng là một khu vực tập trung đông đúc các nữ công nhân nhập cư do có rất nhiều khu công nghiệp lớn Vậy nên việc nghiên cứu về đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu vực khu công nghiệp Bắc Thăng Long là một nghiên cứu khá mới Trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá được những khó khăn của nữ công nhân nhập cư trong cuộc sống vật chất, tinh thần cũng như vấn đề chăm sóc sức khỏe hiện nay đang gặp phải

và hiện tại họ có những mong muốn, dự định gì cho cuộc sống, cho tương lai để từ

đó có cái nhìn khách quan về họ, dựa trên những đánh giá có được sẽ đưa công tác

xã hội nhóm vào để hỗ trợ cho họ

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu có cơ hội sử dụng một số lý thuyết Công tác xã hội, lý giải một số vấn đề trong thực tiễn thông qua việc tìm hiểu đời sống nữ công nhân nhập cư, bao gồm: Lý thuyết nhu cầu (Maslow), lý thuyết vai trò, lý thuyết hệ thống Đồng thời vận dụng các phương pháp, kỹ năng trong công tác xã hội để ưng dụng trong quá trình thực hiện nghiên cứu: Thu thập thông tin, xây dựng mối quan hệ, thảo luận

Trang 17

17

nhóm, phỏng vấn sâu,…Ngoài ra nghiên cứu sẽ góp phần củng cố sâu sắc hơn những hiểu biết về các lý thuyết, phương pháp và kỹ năng Công tác xã hội đã được học và thực hành

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Tiến hành nghiên cứu đề tài này, tôi hi vọng kết quả của cuộc nghiên cứu sẽ góp phần vào việc mô tả thực trạng chung, những khó khăn về vật chất lẫn tinh thần, những nhu cầu mong muốn trong cuộc sống hàng ngày và tương lai của các nữ công nhân nhập cư tại các khu công nghiệp nói chung và nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long nói riêng, thông qua đó có thể huy động sự hỗ trợ hợp tác từ nhiều phía nhằm xây dựng thành công mô mô hình sinh hoạt kỹ năng sống cho các nữ công nhân Từ đó, các cấp, các cơ quan có trách nhiệm quan tâm nhiều hơn từ đến đời sống vật chất và tinh thần cho các nữ công nhân nhập cư

- Hi vọng rằng đề tài này cũng sẽ giúp ích phần nào cho các nhân viên xã hội trong việc đề ra những hoạt động hỗ trợ, xây dựng được kế hoạch bảo vệ và phát triển cho các nữ công nhân nhập cư

- Đề tài góp phần làm phong phú thêm các nghiên cứu về vấn đề nữ công nhân nhập cư

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tư liệu tham khảo thông tin học tập cho các sinh viên ngành xã hội học, đô thị học, công tác xã hội, cũng như cho các tổ chức quan tâm tới vấn đề công nhân nhập cư nói chung, và nữ công nhân nhập cư nói riêng

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp thêm số liệu cho các cơ quan đoàn thể để họ có thể nhận thấy được những khó khăn mà nữ công nhân nhập cư đang gặp phải một cách cụ thể và rõ nét hơn

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này nhằm nhận diện và mô tả thực trạng chung về đời sống của nữ công nhân nhập cư để từ đó có thể chỉ ra được những khó khăn cũng như thuận lợi trong cuộc sống của họ Kết quả thu thập được cũng là nền tảng để nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị gửi các cấp có liên quan góp phần cải thiện được cuộc sống

Trang 18

18

hiện tại và tạo cơ hội cho nữ công nhân có một cuộc sống ổn định hơn Với tư cách

là nhân viên Công tác xã hội, tác giả sẽ lựa chọn một nhóm nữ công nhân có chung nhu cầu trợ giúp để áp dụng công tác xã hội nhóm trong việc can thiệp nhằm đáp ứng nhu cầu của họ

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Tìm hiểu những đặc điểm của nhóm nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long

 Phân tích được đời sống của nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long qua các khía cạnh về thu nhập, các khoản chi tiêu, nhà ở, chế độ dinh dưỡng, tài sản, thời gian tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, vấn đề chăm sóc sức khỏe, mức độ hài lòng của họ với cuộc sống hiện tại

 Ứng dụng Công tác xã hội nhóm trong việc cung cấp kiến thức về phòng tránh thai và nạo hút thai an toàn cho nhóm nữ công nhân nhập cư

 Đề xuất một số khuyến nghị về giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhóm nữ công nhân nhập cư

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội

- Khách thể nghiên cứu:

+ Nữ công nhân nhập cư

+ Người nhà (nếu có) của các nữ công nhân nhập cư

+ Hàng xóm, chủ các khu trọ của các nữ công nhân nhập cư

+ Chính quyền địa phương nơi nữ công nhân thuê nhà trọ

Trang 19

19

- Giới hạn nội dung nghiên cứu

+ Tìm hiểu thực trạng đời sống của nữ công nhân nhập cư thông qua các chỉ báo về thu nhập, các khoản chi tiêu, tài sản có được, nhà ở, chế độ dinh dưỡng, thời gian tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, vấn đề sức khỏe và khám chữa bệnh + Tìm hiểu những mong muốn về khía cạnh kinh tế, đời sống tình cảm, vui chơi giải trí của nữ công nhân nhập cư trong thực tế cuộc sống hiện nay

+ Vận dụng Công tác xã hội nhóm trong việc cung cấp kiến thức về phòng tránh thai và nạo hút thai an toàn cho nhóm nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp

7 Câu hỏi nghiên cứu

- Những đặc điểm chính của nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long là gì?

- Đời sống hiện tại của nữ công nhân nhập cư ra sao xét theo các khía cạnh về đời sống vật chất, tinh thần cũng như vấn đề chăm sóc sức khỏe?

- Nhân viên Công tác xã hội có thể làm gì để giúp đỡ cho nhóm nữ công nhân nhập cư tiếp cận các kiến thức về phòng tránh thai và nạo hút thai an toàn?

8 Giả thuyết nghiên cứu

- Nhóm nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long đến từ nhiều vùng miền khác nhau, có trình độ học vấn tương đối thấp, họ xuất thân chủ yếu từ nông nghiệp hoặc chưa có việc làm trước khi đến khu công nghiệp, phần lớn trong số họ chưa lập gia đình

- Cuộc sống hiện tại của các nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long đang gặp nhiều khó khăn về cả vật chất lẫn tinh thần, đặc biệt là vấn đề chăm sóc sức khỏe và chăm sóc sức khỏe sinh sản

- Nhân viên Công tác xã hội có thể vận dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm trong can thiệp, trợ giúp cho nhóm nữ công nhân nhập cư về phòng tránh thai

và nạo hút thai an toàn

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Phương pháp luận

Với đề tài này sẽ đi sâu phân tích thực trạng đời sống của nữ công nhân nhập

cư tại khu công nghiêp Bắc Thăng Long về các khía cạnh đời sống như: Chế độ ăn,

Trang 20

20

thời gian nghỉ ngơi, công việc, vui chơi giải trí, và đặc biệt quan trọng là tìm hiểu những mong muốn hiện tại của các chị về một cuộc sống tốt đẹp hơn Dựa trên những thực trạng có được qua quá trình phân tích sẽ đánh giá hậu quả của những tác động tiêu cực mà thực trạng đời sống mang lại và đưa ra nhận định về vấn đề: Các nữ công nhân nhập cư đã đối phó như thế nào trước những tác động đó? Bên cạnh đó sẽ đánh giá sự thiết yếu của việc hỗ trợ các nữ công nhân có các chương trình sinh hoạt ngoài giờ thay vì những hoạt động mang tính lặp đi lặp lại và nghèo nàn Nói chung, sử dụng phương pháp luận trong nghiên cứu này nhằm lý giải rõ hơn thực trạng đời sống

nữ công nhân nhập cư, những nhân tố tác động lên đời sống của họ

9.2 Phương pháp thu thập thông tin

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp sau:

 Thu thập thông tin bằng phiếu trưng cầu ý kiến

Nghiên cứu đã phát ra 200 phiếu trưng cầu ý kiến với khách thể là các nữ công nhân nhập cư tại các nhà trọ trên địa bàn xã Hải Bối, Huyện Đông Anh, Hà Nội và thu về 166 bảng hỏi đạt yêu cầu của nhà nghiên cứu và phục vụ được cho nội dung nghiên cứu Nội dung bảng hỏi nhằm hướng đến thu thập những thông tin cơ bản liên quan đến các đặc điểm của nhóm nữ công nhân: Độ tuổi, trình độ học vấn, quê quán, tình trạng hôn nhân hiện tại như thế nào, trước khi đến làm việc tại khu công nghiệp họ đã từng làm công việc gì và tại sao họ lại quyết định rời quê để đến làm công nhân tại khu công nghiệp Tiếp theo đó các câu hỏi sẽ được nêu ra để đi tìm hiểu về đời sống của các nữ công nhân hiện tại ra sao khi xét trên các vấn đề của cuộc sống: Nhà ở, thu nhập, các khoản chi tiêu, các hoạt động vui chơi giải trí, các mối quan hệ xã hội, vấn đề chăm sóc sức khỏe,…Bên cạnh đó sẽ đi tìm hiểu mức độ hài lòng của nhóm nữ công nhân với cuộc sống hiện tại và những mong muốn của

họ cho tương lai sau này như thế nào

 Phỏng vấn sâu

Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn sâu 26 trường hợp, trong đó 15 phỏng vấn sâu là nữ công nhân nhập cư, 10 phỏng vấn sâu cho các chủ nhà trọ và hàng xóm của các nữ công nhân, 1 phỏng vấn sâu cho lãnh đạo chính quyền nơi nữ công nhân đang cư trú

Trang 21

21

- Các phỏng vấn sâu với các nữ công nhân nhập cư

Nghiên cứu sẽ được tiến hành lựa chọn ngẫu nhiên có chọn lựa trong số những

nữ công nhân thực hiện trả lời bảng hỏi của nghiên cứu Với 15 phỏng vấn sâu sẽ là

15 nữ công nhân được lựa chọn như sau: 3 nữ công nhân dưới 20 tuổi chưa có gia đình, 3 nữ công nhân trên 20 đến 25 tuổi chưa có gia đình, 3 nữ công nhân trên 25 đến 30 tuổi chưa có gia đình, 3 nữ công nhân trên 30 tuổi chưa có gia đình, 3 nữ công nhân đã có gia đình Đối với các phỏng vấn sâu với các nữ công nhân nhập cư ngoài việc thu thập các thông tin liên quan đến đặc trưng nhân khẩu xã hội của họ

sẽ tập trung thu thập các thông tin như thu nhập hàng tháng, cảm nhận của họ về cuộc sống, các mối quan hệ xã hội của họ, họ có điều kiện để có thể nói lên những suy nghĩ của bản thân về cuộc sống, công việc, nhưng mong muốn, họ có thể trải lòng mình một cách thoải mái để nói lên những suy nghĩ của riêng họ Với việc thực hiện các phỏng vấn sâu với các nữ công nhân sẽ thu thập được những thông tin chính xác hơn, xác thực hơn và đặc biệt là sẽ được nghe chính bản thân của mỗi người nói về họ và về người khác, từ đó sẽ là cơ sở để phục vụ cho nghiên cứu

- 10 phỏng vấn sâu với các chủ nhà trọ và hàng xóm của các nữ công nhân nhập cư

Nghiên cứu thực hiện 5 phỏng vấn sâu với các chủ nhà trọ và 5 phỏng vấn sâu với hàng xóm của các nữ công nhân Các cuộc phỏng vấn sâu với các chủ nhà trọ và hàng xóm nhằm tìm hiểu xem mức độ quan tâm của họ tới cuộc sống và sinh hoạt của các nữ công nhân ra sau Cuộc sống hàng ngày của các nữ công nhân diễn ra như thế nào: giờ đi làm,, tăng ca, các mối quan hệ, đời sống sinh hoạt cá nhân, sinh hoạt tập thể,…Họ có những suy nghĩ, cảm nhận như thế nào về cuộc sống hiện tại của các nữ công nhân đang thuê trọ hoặc sinh sống gần họ

- 1 phỏng vấn sâu được thực hiện với người thuộc chính quyền địa phương nơi các nữ công nhân cư trú

Với phỏng vấn sâu này nhằm thu thập thông tin liên quan đến việc các nữ công nhân có giấy đăng ký tạm trú không, phường hay tổ dân phố có tổ chức các chương trình, hoạt động và có sự tham gia của các nữ công nhân không, chính quyền địa phương quản lý họ trực tiếp hay thông qua các chủ nhà trọ

Trang 22

22

 Thảo luận nhóm

Ngoài thu thập thông tin thông qua phiếu trưng cầu ý kiến và các cuộc phỏng vấn sâu, nghiên cứu còn thực hiện 3 cuộc thảo luận nhóm với đối tượng tham gia trực tiếp là các nữ công nhân nhập cư, mỗi cuộc thảo luận nhóm kéo dài từ 1,5 tiếng đến 3 tiếng, với số lượng thành viên tham gia mỗi nhóm dao động từ 5 đến 10 người Nghiên cứu thực hiện 3 cuộc thảo luận nhóm với 3 chủ đề khác nhau: Chủ đề chăm sóc sức khỏe sinh sản, chủ đề HIV/AIDS, chủ đề thảo luận những vấn đề của cuộc sống hàng ngày

- Nhóm 1: Chủ đề chăm sóc sức khỏe sinh sản

Với nhóm chăm sóc sức khỏe sinh sản đối tượng tham gia sẽ được lựa chọn trong số các nữ công nhân từ 18 đến 30 tuổi, trong đó có 2 nữ công nhân từ 18 đến

20 tuổi chưa có gia đình, 2 nữ công nhân trên 20 tuổi đến 25 tuổi chưa có gia đình,

2 nữ công nhân trên 25 đến 30 tuổi chưa có gia đình, 1 nữ công nhân đã có gia đình

và có con Với chủ đề chăm sóc sức khỏe sinh sản mục đích hướng tới của buổi thảo luận nhóm là tìm hiểu những hiểu biết của các chị về vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản, các chị hiểu như thế nào về vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản, công

ty các chị có tổ chức các buổi nói chuyện về chăm sóc sức khỏe hay không Những vấn đề thảo luận xoay quanh nội dung và cách thức chăm sóc sức khỏe sinh sản, hiện nay các chị có gặp khó khăn trong vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản, các chị

có biết đến những địa chỉ khi cần thiết liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản

- Nhóm 2: Chủ đề HIV/AIDS

Đối tượng tham gia trong chủ đề thảo luận về HIV/AIDS là các nữ công nhân đang làm việc tại các công ty thuộc khu công nghiệp Bắc Thăng Long và ở trọ tại địa bàn nghiên cứu Các nữ công nhân được lựa chọn tham gia vào nhóm thảo luận gồm 7 thành viên, 4 thành viên từ 18 đến 25 tuổi chưa có gia đình, 1 thành viên trên

25 tuổi chưa có gia đình, 2 thành viên đã có gia đình Mục đích của buổi thảo luận

là tìm hiểu những hiểu biết của các nữ công nhân về vấn đề HIV/AIDS, từ đó cung cấp cho họ những kiến thức liên quan đến vấn đề: HIV/AIDS là gì? Các con đường lây nhiễm HIV/AIDS, cách phòng tránh HIV/AIDS hiệu quả nhất,…để họ có thể tự bảo vệ bản thân trước những nguy cơ tiềm ẩn

Trang 23

23

- Nhóm 3: Những vấn đề của cuộc sống hàng ngày

Đây là chủ đề khá rộng và nên sự tham gia của nhóm là hỗn hợp và tự nguyện, những chị nào mong muốn tham gia đều trở thành thành viên của nhóm thảo luận Nhớ sự phong phú của đối tượng tham gia nên sẽ có nhiều nguồn thông tin hơn được đưa ra, sẽ có nhiều chia sẻ hơn và dựa vào đó có thể làm dữ liệu để minh họa cho nghiên cứu Mục đích chính của buổi thảo luận về chủ đề cuộc sống hàng ngày nhằm tìm hiểu những khó khăn gặp phải trong cuộc sống hiện tại của các chị, những hoạt động văn hóa tinh thần mà các chị thường tham gia Các chị lý giải tại sao bản thân và những người cũng là công nhân như mình lại gặp những khó khăn đó, qua

đó các chị thử đưa ra các cách thức để giảm bớt những khó khăn, hay có những mong muốn như thế nào đến công ty, đến các cấp có trách nhiệm

 Quan sát, hình ảnh

Ngoài những phương pháp tiếp cận trực tiếp để lấy ý kiến từ các nữ công nhân

và những người sống xung quanh họ, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp quan sát và lưu lại những hình ảnh có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu sẽ tiến hành quan sát nơi ăn chốn ở của các nữ công nhân để biết được rõ hơn về diện tích cũng như điều kiện sinh hoạt của họ ra sao Quan sát những công việc họ thường thực hiện vào những lúc rảnh rỗi đẻ đánh giá được một cách khách quan hơn, xác thực hơn về chất lượng đời sống văn hóa tinh thần của các nữ công nhân tại đây Bên cạnh đó nghiên cứu sẽ lưu lại những hình ảnh có liên quan để làm tài liệu tham khảo cũng như để mình họa cho những phân tích, đánh giá sẽ thực hiện trong nội dung nghiên cứu

9.3 Phương pháp can thiệp

Nghiên cứu sử dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm để can thiệp đến nhóm khách thể nghiên cứu là nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội nhằm cung cấp kiến thức về phòng tránh thai và nạo hút thai

an toàn cho nhóm nữ công nhân Các thành viên trong nhóm can thiệp sẽ được nhà nghiên cứu lựa chọn theo các tiêu chí về độ tuổi, tình trạng hôn nhân, có chỗ trọ khác nhau và sự tham gia vào nhóm một cách tự nguyện Nhóm can thiệp được lựa chọn sẽ có 15 thành viên, trong đó có 3 thành viên dưới 20 tuổi chưa có gia đình, 6

Trang 24

24

thành viên trên 20 tuổi đến 25 tuổi chưa có gia đình, 3 thành viên trên 25 tuổi chưa

có gia đình, 3 thành viên đã có gia đình Để thực hiện can thiệp cho nhóm nữ công nhân nghiên cứu đã thực hiện lần lượt các hoạt động can thiệp: Đánh giá kiến thức ban đầu và thống nhất các nội dung can thiệp; Cung cấp kiến thức về phòng tránh thai và nạo hút thai an toàn thông qua tờ rơi và trang web của tổ chức MSI tại Việt Nam; Cung cấp kiến thức qua việc thực hành trên dụng cụ và đoạn video; Thực hành giải quyết tình huống và cung cấp địa chỉ tin cậy Thông qua các hoạt động này nữ công nhân nhập cư sẽ lần lượt được cung cấp kiến thức về phòng tránh thai

và nạo hút thai an toàn để từ đó nhận thức đung đắn hơn về vấn đề và có thể tự bảo

vệ mình trước những nguy cơ nảy sinh trong cuộc sống

10 Cấu trúc của luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Trong chương này tôi sẽ trình bày các khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài, một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu Cũng trong chương này tôi sẽ trình bày rõ đặc điểm của địa bàn nghiên cứu có những vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội

Trong chương này tôi sẽ trình bày và phân tích bốn vấn đề lớn đó là: Một là đặc trưng nhân khẩu xã hội của nhóm nữ công nhân nhập cư bao gồm độ tuổi, trình

độ học vấn, quê quán, tình trạng hôn nhân, ghề nghiệp trước khi đến khu công nghiệp; Hai là đánh giá các khía cạnh của đời sống bao gồm các khía cạnh như thu nhập, các khoản chi tiêu, vấn đề nhà ở, chế độ dinh dưỡng, tài sản họ có, thời gian tham gia các hoạt động vui chơi giải trí; Ba là đánh giá về vấn đề sức khỏe và khám chữa bệnh bao gồm tìm hiểu những bệnh họ thường gặp, lý do họ mắc nhưng căn bệnh đó và cách họ chữa trị như thế nào; cuối cùng tìm hiểu mức độ hài lòng của các nữ công nhân với cuộc sống bao gồm việc đánh gia mức sống hiện tại và so sánh cuộc sống hiện tại với trước đó

Chương 3: Ứng dụng Công tác xã hội nhóm trong việc cung cấp kiến thức

về phòng tránh thai và nạo hút thai an toàn cho nhóm nữ công nhân

Trang 25

25

Trong chương này tôi sẽ nêu lên mục đích của việc can thiệp chp nhóm nữ công nhân nhập cư, thành lập nhóm can thiệp diễn ra như thế nào và kết quả đạt được ra sao Sau khi đã thành lập nhóm can thiệp tôi sẽ trình bày cụ thể có phân tích, đánh giá các hoạt động can thiệp diễn ra trong quá trình thực hiện can thiệp Trong mỗi hoạt động được trình bày cụ thể mục đích của hoạt động, tổ chức hoạt động đó ra sao, kết quả đạt được khi kết thúc hoạt động và kết hợp có sự bình luận trong suốt quá trình phân tích

Trang 26

26

NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm giai cấp công nhân

Giai cấp công nhân là những tập đoàn người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành những công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại, ngày càng có trình độ xã hội hóa cao [28, tr.24]

Từ khái niệm giai cấp công nhân sẽ liên hệ để nêu ra được những mặt mạnh của công nhân Việt Nam như: Trẻ tuổi, có sức khỏe tốt, cần cù, chăm chỉ Nhưng bên cạnh đó lại có những hạn chế đã làm kìm hãm sự phát triển của chính họ Đó là tác phong công nghiệp hạn chế, trình độ học vấn thấp, chuyên môn tay nghề không qua đào tạo cơ bản, nên đã tạo ra một rào cản lớn cho việc hội nhập với xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa như ngày nay

1.1.2 Khái niệm di dân

Di dân là di chuyển dân cư trong nước (từ nông thôn ra thành thị và ngược lại, hoặc từ vùng này sang vùng khác) và từ nước này sang nước khác Việc di dân

từ nông thôn ra thành thị có thể là biểu hiện trình độ công nghiệp hoá đất nước, mặt khác, cũng có khi phản ánh sự phát triển chậm chạp hơn hoặc sự lạc hậu về các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội của nông thôn so với thành thị Đây là một xu hướng ít nhiều có tính phổ biến ở các nước Để khắc phục tình hình này, biện pháp tích cực

là coi trọng việc xây dựng nông thôn, cải thiện cơ sở hạ tầng, phát triển sinh hoạt văn hoá, tinh thần, phát triển công nghiệp, chủ yếu là công nghiệp nhỏ ở nông thôn Việc di dân đến những vùng có nhiều đất hoang hay có nhiều đất đai nhưng thiếu lao động, lập nên những vùng kinh tế mới là một chính sách và biện pháp có ý nghĩa chiến lược quan trọng để phân bố lại dân cư, sức lao động giải quyết vấn đề thiếu việc làm, khai thác tài nguyên, đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế [36, tr.24]

“Di dân” trong đề tài này sẽ được nhắc đến khi nói tới việc một bộ phận lớn thanh niên nông thôn đang có xu hướng lên thành phố tìm việc Từ đó chứng minh cho việc tại sao một lực lượng lớn công nhân tại các thành phố lớn chủ yếu là người từ nơi khác đến Qua đó thể hiện vấn đề trình độ học vấn của họ thấp, khả năng kiếm việc khó khăn nên buộc họ phải đi làm công nhân

Trang 27

27

1.1.3 Khái niệm dân di cư

Dân di cư là những người, vì các lí do khác nhau, đã rời bỏ nơi họ thường trú hoặc nước mà họ mang quốc tịch sang thường trú ở một nước khác Khoản 2, điều

12, Công ước Quốc tế năm 1966 về các quyền dân sự và chính trị thừa nhận quyền của mỗi người rời bỏ nước mình hoặc nơi mình đã thường trú để sang thường trú ở một nước khác Theo Công ước, quyền này có thể bị giới hạn vì lí do bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự xã hội, sức khoẻ, đạo đức của dân cư hoặc các quyền và tự do của những người khác Nhà nước Việt Nam cho phép những người dân Việt Nam rời Tổ quốc để định cư ở nước ngoài vì lí do đoàn tụ gia đình [36, tr.25]

Khái niệm dân di cư được nhắc đến trong đề tài như một công cụ để chứng minh lý do các nữ công nhân lên thành phố làm Do điều kiện kinh tế của nơi họ sống gặp nhiều khó khăn, để có thu nhập, để có tiền họ đã chấp nhận rời quê lên thành phố kiếm cơ hội việc làm

1.1.5 Khái niệm dân nhập cư

Dân nhập cư ở Hà Nội được xác định là những người từ các tỉnh khác về sinh sống, làm việc tại thành phố Hà Nội và chưa có hộ khẩu thường trú tại Thành phố Hà Nội

1.1.6 Khái niệm đô thị hóa

“Đô thị hóa là một quá trình mà trong đó sự tăng trưởng nhanh về kinh tế kéo theo sự phát triển quy mô dân số, mật độ dân số, mật độ xây dựng cao, thúc đẩy sự phát triển xã hôi về mọi mặt Nó tác động sâu sắc đến mọi khía cạnh đời sống cộng đồng cư dân với những kiểu tổ chức cộng đồng khác nhau nếu không muốn nói là đối lập với nông thôn Trong khu vực phát triển này luôn diễn ra sự di chuyển nghề nghiệp và di động xã hội cao Điều này đã trở thành áp lực trong quản lý đô thị, vuợt quá khả năng điều tiết của xã hội

Trang 28

28

Đô thị hóa là một quá trình tích tụ năng lực ( Nguồn nhân lực, của cải vật chất, tài sản, khoa học công nghệ, văn hóa…) từ đó năng suất sản xuất tăng nhanh, khả năng đáp ứng nhu cầu cho người dân ngày càng cao, tăng trưởng kinh tế nhanh, mang đến lối sống đô thị cho người dân…Bên cạnh những mặt tích cực không thể phủ nhận, quá trình đô thị hóa cũng bộc lộ một số hệ quả khó tránh khỏi, ở các đô thị đặc biệt là các đô thị lớn như sự tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường, thất nghiệp và các tệ nạn xã hội khác.” [34, tr.26]

Dựa vào khái niệm này tôi sẽ nêu lên được những mặt tích cực của quá trình

đô thị hóa diễn ra một cách nhanh chóng, nhưng bên cạnh đó cũng nêu lên những hạn chế của quá trình đô thị hóa mang lại Từ những hạn chế của quá trình đô thị hóa nó đã tác động rất lớn đến đời sống của các nữ công nhân nhập cư trên cả hai phương diện của cuộc sống: Vật chất và tinh thần

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Tháp nhu cầu của Maslow [20, tr.26]

Theo Maslow về căn bản nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: Nhu cầu căn bản và nhu cầu bậc cao Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này

Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn

có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ…Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được, họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày

Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiểu nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui

vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân…

Cấu trúc của tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình Kim tự tháp

Những nhu cầu cơ bản ở phái đáy tháp phải được thỏa mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn đươc thỏa mãn ngày càng mạnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới đã được đáp ứng đầy đủ

Trang 29

29

Năm tầng trong tháp nhu cầu của Maslow:

Tầng thứ nhất: Các nhu cầu căn bản nhất về “ thể lý” (physiological), đó là

thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi

Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety), cần có cảm giác yên tâm về an toàn

than thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo

Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc

(love/belonging), muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy

Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem), cần có cảm giác

được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng

Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization), muốn

sáng tạo được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhân là thành đạt

Dựa vào nội dung của tháp nhu cầu Maslow, tôi sẽ nêu lên được những nhu cầu mà mỗi con người chúng ta cần đến để có thể duy trì cuộc sống và có một cuộc sống tốt đẹp, ấm no, hạnh phúc, an toàn Sau đó tôi sẽ nhận định xem hiện tại họ đã giải quyết được những nhu cầu gì trong cuộc sống và những nhu cầu nào họ chưa giải quyết được, họ mong muốn đạt được trong tương lai Để từ đó đánh giá được vấn đề để đạt được những nhu cầu hiện tại họ đã phải trải qua những khó khăn như

Trang 30

30

thế nào, hay họ đạt được những nhu cầu đó một cách dễ dàng Liệu những nhu cầu

họ đạt được ở hiện tại họ đạo đã thỏa mãn hay chưa, với cuộc sống của một con người trong một xã hội đang không ngừng phát triển như hiện nay nhưng nhu cầu cao hơn liệu có cần thiết

1.2.2 Thuyết hệ thống và sinh thái [20, tr.28]

Lý thuyết hệ thống và sinh thái sẽ giúp chúng ta phân tích thấu đáo sự tương tác giữa các hệ thống xã hội và hình dung những tương tác này ảnh hưởng ra sao đến hành vi con người

Lý thuyết hệ thống và sinh thái là sự kết hợp giữa lý thuyết hệ thống và lý thuyết sinh thái Lý thuyết hệ thống chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, các chính sách, các cộng đồng và các nhóm ảnh hưởng lên cá nhân Cá nhân được xem là bị lôi cuốn vào sự tương tác không dứt với nhiều hệ thống khác nhau trong môi

trường Còn lý thuyết sinh thái chỉ là tập hợp con của lý thuyết hệ thống Nó chỉ ra 3 cấp độ hệ thống khác nhau của một cá nhân đó là:

• Cấp vi mô: Hệ thống này đề cập đến một cá nhân và kết hợp các hệ thống sinh

học, tâm lý và xã hội tác động lên cá nhân ấy Với hệ thống này cá nhân gần như không thể thay đổi trong suốt cuộc đời vì bản thân mỗi người sinh ra đã có hệ thống này, nó tồn tài và phát triển tùy theo quá trình lớn lên của một con người Như vậy

để tác động lên cuộc sống một con người thông qua cấp độ vi mô đòi hỏi chính bản thân người đó phải tự thay đổi trong chính con người mình, đó là năng lực bản thân,

là sự tự vươn lên trong cuộc sống, chỉ có bản thân người đó mới có thể làm thay đổi

hệ thống này

• Cấp trung mô: Hệ thống này đề cập đến các nhóm nhỏ ảnh hưởng đến cá nhân

như gia đình, nhóm làm việc, và những nhóm xã hội khác

• Cấp vĩ mô: Hệ thống này nói đến các nhóm và những hệ thống lớn hơn gia đình

Bốn hệ thống vĩ mô quan trọng tác động đến cá nhân là các tổ chức, các thiết chế, cộng đồng và nền văn hóa

Dựa vào nội dung của lý thuyết hệ thống sinh thái nghiên cứu sẽ nhìn nhận hiện tại các nữ công nhân đang có những tác động nào từ các hệ thống vi mô, trung

mô và vĩ mô Những sự tác động từ các cấp độ đó mang lại điều tích cực hay còn có những vấn đề tiêu cực đi kèm Sự tác động từ các hệ thống đó đã ảnh hưởng như thế

Trang 31

31

nào đến cuộc sống của các nữ công nhân nhập cư, đó có phải là nơi để nữ công nhân nhập cư tìm đến khi gặp những vấn đề trong cuộc sống Liệu có rất nhiều hệ thống từ nhỏ đến lớn nhưng hiện tại nữ công nhân nhập cư có nhận được sự tác động trực tiếp từ các hệ thống đó, hay chỉ một số ít trong số đó có sự tác động lên cuộc sống của họ, trong khi cuộc sống của một còn người được “bao bọc” bởi rất nhiều hệ thống khác nhau Hay sự tác động dù chỉ là ít đó có thể làm thay đổi được điều gì trong cuộc sống còn đầy khó khăn của họ, một khi nhu cầu bản thân chưa đáp ứng được đầy đủ thì việc quan tâm tới những hệ thông xã hội xung quanh họ có thực hiện được không

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

- Đặc điểm địa bàn khu công nghiệp Bắc Thăng Long

Khu công nghiệp Bắc Thăng Long do tập đoàn Sumitomo liên doanh với công

ty cơ khí Đông Anh, thành lập năm 1997 Khu công nghiệp này nằm ở huyện Đông Anh, về phía bên kia sông Hồng so với nội thành Hà Nội Các nhà đầu tư coi đây là một địa điểm lý tưởng vì khu công nghiệp này nằm giữa đường đi từ sân bay Nội Bài đến trung tâm thủ đô Hà Nội Đây được xem là một khu công nghiệp lớn và là một trong những khu công nghiệp thành công nhất ở miền bắc Việt Nam Trong khu công nghiệp này có 85 nhà đầu tư trong đó 67 nhà máy sản xuất, còn lại là các văn phòng Có nhiều tập đoàn lớn đang đầu tư tại đây như Canon, Yamaha Các công ty đầu tư vào khu công nghiệp này chủ yếu là các công ty sản xuất hàng xuất khẩu Hiện nay các công ty tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long đã có những chế độ chính sách, đãi ngộ nhằm thu hút nguồn lao động nhằm vào mục đích mở rộng sản xuất kinh doanh Hàng loạt các chế độ, chính sách thiết thực đã được đưa ra như từ việc mức lương hấp dẫn đến trợ cấp tiền ăn trưa, trợ cấp các khoản như đi lại, phí sinh hoạt, thưởng chuyên cần,…được khám sức khỏe định kỳ, tham gia các loại bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp Bên cạnh đó các công ty cũng chú trọng đến việc chăm lo nhiều hơn cho đời sống văn hóa tinh thần của công nhân bằng việc hưa hẹn sẽ được tham gia vào các hoạt động giao lưu tập thể ngoại khóa,

đi tham quan nghỉ mát,…Bên cạnh việc cam kết công việc nhẹ nhàng, các công ty, doanh nghiệp còn đưa ra cơ hội thăng tiến; mức lương cơ bản cao cùng với hàng loạt phụ cấp và tiền hỗ trợ đi lại, nhà ở, chuyên cần, thâm niên, tay nghề, môi trường Các loại tiền thưởng cũng được đưa ra rất hấp dẫn (như thưởng năm,

Trang 32

32

thưởng dịp 30/4, 2/9, Trung thu, Tết âm lịch, tặng quà vào dịp sinh nhật…) Ngoài

hỗ trợ tiền làm thêm giờ, làm ca đêm, nhà ở , các công nhân nữ còn được hỗ trợ tiền nuôi con nhỏ, cha mẹ và hỗ trợ đời sống bằng gạo, trả tiền thuê nhà…Bằng việc đưa ra hàng loạt các chế độ chính sách mới phù hợp với tâm lý của các công nhân lao động nên các công ty, doanh nghiệp trong khu công nghiệp Bắc Thăng Long đã thu hút được nguồn lao động dồi dào phục vụ cho mục đích sản xuất và mở rộng kinh doanh Nhưng chế độ chính sách, chế độ phụ cấp đãi ngộ của các công ty hầu hết nhắm đến những khó khăn mà công nhân đang gặp phải, đang phải băn khoăn suy nghĩ khi đi kiếm việc làm, nên điều đó đã tạo điều kiện cho công nhân có nhiều

cơ hội hơn để lựa chọn công việc, công ty phù hợp với bản thân mình Bên cạnh đó những công nhân là nữ còn có các chế độ đặc biệt khác như đã đề cập ở trên, điều này cho thấy các doanh nghiệp bắt đầu có sự quan tâm đặc biệt hơn đến đời sống của nữ công nhân Ngoài các chế độ về tiền lương, tiền thưởng thì vấn đề nhà ở cho công nhân cũng được các doanh nghiệp chú ý và đầu tư xây dựng, tuy nhiên một thực tế là những khu nhà tập thể được công ty xây cho công nhân thuê đang trong tình trạng “ế ẩm”, không có người ở, mặc dù trên thực tế công nhân hiện tại vẫn đang thiếu chỗ ở, vẫn đi thuê trọ tại các khu nhà kém chất lượng Một lý do được đưa ra đó là khi công nhân thiếu chỗ ở lúc đó các sự án xây nhà cho công nhân mới được nghĩ tới, nhưng trong quá trình thực hiện số lượng công nhân bắt đầu thay đổi

do khủng hoảng kinh tế, mất việc làm, số lượng giảm xuống đáng kể, khi dự án hoàn thành công nhân lại không “mặn mà” với các khu ký túc xá của công ty, mà họ chọn giải pháp thuê trọ tại các nhà dân Lý do bởi tại các khu nhà dành cho công nhân dù chất lượng có nhỉnh hơn nhưng họ lại bị quản lý quá chặt: “Công nhân lao động phần lớn đều là trai chưa vợ, gái chưa chồng Họ có nhu cầu đi chơi, tụ tập, giải trí… mà các ban quản lý khu nhà khống chế thời gian đi về là việc khiến họ rất khó chấp nhận Ngoài ra việc tiếp bạn bè, người thân đến thăm cũng bị giới hạn, kiểm soát hoặc phải vào khu tiếp khách riêng nên mất đi sự riêng tư Đây có lẽ là mấu chốt khiến các dự án nhà ở cho công nhân không thu hút được người đến ở Dự

án thí điểm nhà ở công nhân tại xã Kim Chung có tổng diện tích sử dụng đất là 20ha với 24 đơn nguyên gồm 1.084 phòng có thể phục vụ gần 1vạn chỗ ở Tuy nhiên thực tế hiện nay chúng tôi mới chỉ cho thuê được 16 đơn nguyên, số còn trống tương đương 3.666 chỗ ở Theo kế hoạch, khi các khu nhà ở này đưa vào sử dụng

Trang 33

33

thì kèm theo cả các công trình phụ trợ phục vụ dự án như nhà trẻ mẫu giáo, công viên cây xanh, bãi đỗ xe tập trung Thế nhưng quỹ nhà đã đưa vào vận hành được 6 năm nay, nhưng các hạng mục trên vẫn chưa hề có Đó là chưa kể đến thiết kế của khu nhà NO-01 và NO-02 khi đưa vào khai thác không phù hợp với thực tế Đơn cử như một phòng ở sức chứa hơn 20 công nhân nhưng khu phụ lại quá nhỏ chỉ có 2 chậu rửa mặt, 2 bệ xí nên không đáp ứng được Công nhân đi làm theo ca, ví dụ 7h sáng tất cả đều dậy đi làm mà người này cứ chờ người kia để vào vệ sinh cá nhân thì sẽ muộn giờ Việc khắc phục những sự cố, hỏng hóc tại các khu nhà ở công nhân được tiến hành rất chậm Trong tổng số 24 đơn nguyên đã bàn giao cho xí nghiệp quản lý thì có đến 15 đơn nguyên vẫn đang trong thời hạn bảo hành Tuy vậy, khi

sự cố xảy ra như tắc đường nước thải, hỏng mạng lưới cấp nước sinh hoạt… xí nghiệp phải gửi rất nhiều văn bản mới được chủ đầu tư xây dựng xử lý Hiện nay tại các kỹ túc xá chưa có chủ trương cho thuê nhà đối với các đối tượng là công nhân đang ở theo cặp vợ chồng và có thêm con cái

- Đặc điểm địa bàn xã Hải Bối, Huyện Đông Anh

Xã Hải Bối nằm về phía tây huyện Đông Anh, nằm trong vùng quy hoạch phát triển hạ tầng đô thị Bắc Thăng Long - Vân Trì, là vùng quy hoạch lõi của Thủ

đô Hà Nội Xã Hải Bối cách khu công nghiệp Bắc Thăng Long khoảng 2km, là nơi thuận lợi để phát triển về cơ sở hạ tầng và kinh tế, xã hội Nhưng năm gần đây xã Hải Bối phát triển nhanh và mạnh về kinh tế xã hội, do lực lượng lao động đổ về huyện Đông Anh ngày một đông đúc và vốn đầu tư từ các doanh nghiệp nước ngoài Cơ sở vật chất hạ tầng tại xã cũng phát triển và được cải thiện đáng kể Đây

là nơi tập trung khá đông lao động nhập cư trong đó có công nhân đang làm việc tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long Đây là khu vực thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội do gần trục đường chính, gần với khu công nghiệp Bắc Thăng Long Khu công nghiệp (KCN) thường là nơi thu hút rất đông lao động từ các tỉnh khác tới làm việc

Số nhân công lao động ngoài một phần đến từ địa phương, thì số còn lại đến từ khắp các tỉnh, thành ở miền Bắc Từ Nghệ An, Thanh Hóa đến Thái Nguyên, Tuyên Quang, rồi Sơn La… Phần lớn các công nhân vì nhà xa, đi lại khó khăn và thực tế KCN cũng chưa thể đủ nhà cho công nhân thuê ở nên họ đã phải tự túc thuê trọ ngay trên địa bàn để tiện cho việc đi làm Chính vì thế, nhiều người dân các vùng lân cận KCN đã tận dụng thời cơ mở thêm hàng loạt dịch vụ kèm theo khiến cuộc

Trang 34

để ở Phải nói rằng việc xây dựng các KCN đã làm đổi mới, sầm uất thêm cho các địa phương này nhưng mặt khác cũng kéo theo một số tệ nạn xấu nếu chúng ta không biết cách quản lý hạn chế các tiêu cực này Một trong những cách quản lý có hiệu quả nhất đó là chăm lo tới đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân cũng như dân cư ở khu vực này Bên cạnh đó, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân nơi đây thì luôn trong tình trạng thiếu thốn mà chưa tìm ra cách khắc phục

Trang 35

35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ TẠI

KHU CÔNG NGHIỆP BẮC THĂNG LONG – HÀ NỘI

Những năm gần đây, sự gia tăng của các khu công nghiệp mới thành lập gắn liền với sự gia tăng mạnh mẽ của lực lượng lao động từ từ nhiều vùng miền khác nhau Điều đó đã góp phần giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ và lao động nhập cư Khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội là một trong 2 khu công nghiêp lớn nhất thành phố, hàng năm cũng thu hút hàng nghìn lao động từ khắp các tỉnh thành miền Bắc, miền Trung đến làm việc Do tính chất công việc tại khu công nghiệp này chủ yếu là lắp ráp các linh kiện điện tử, yêu cầu sự khéo léo và tỉ mẫn nên lực lượng lao động tại đây phần lớn là các nữ công nhân Trong phần này nội dung hướng đến của nghiên cứu sẽ là phân tích đặc trưng nhân khẩu xã hội của nhóm nữ công nhân: Độ tuổi, trình độ học vấn, quê quán, nghề nghiệp trước khi đến khu công nghiệp, tình trạng hôn nhân để từ đó có thể đưa ra những đánh giá có liên quan đến sự tác động từ những yếu tố đó lên cuộc sống và công việc hàng ngày của các chị Những yếu tố về đặc trưng nhân khẩu xã hội tác động như thế nào đến cuộc sống, công việc của các chị, đó là tác động tích cực hay tiêu cực Để biết được rõ hơn, nhìn nhận được khách quan hơn cuộc sống của các nữ công nhân tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long nghiên cứu sẽ thực hiện phân tích, đánh giá về các khía cạnh đời sống của các chị cụ thể như sau: Thu nhập hàng tháng của các chị ra sao, các chị sử dụng tiền lương của mình như thế nào để chi tiêu cho cuộc sống hàng ngày, chỗ ở của các chị có được đảm bảo về diện tích, độ an toàn sạch sẽ, thoáng mát, bữa ăn hàng ngày của các chị tại công ty cũng như bữa ăn tại phòng trọ có đủ dinh dưỡng để tái tạo sức lao động, với đồng lương các chị nhận được hàng tháng các chị có mua sắm cho bản thân mình những tài sản giá trị nào, ngoài công việc hàng ngày trên công ty còn lại thời gian được nghỉ các chị thường làm gì, có tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, tham gia các câu lạc bộ Hiện nay các nữ công nhân có gặp những khó khăn liên quan đến thu nhập, đến các chế độ đãi ngộ của công ty đang làm việc Bên cạnh đánh giá các khía cạnh về đời sống sinh hoạt cũng như công việc của các nữ công nhân, còn một khía cạnh nữa mà nghiên cứu cũng muốn tìm hiểu đánh giá đó là khía cạnh về sức khỏe Sức khỏe hiện nay của nhóm

nữ công nhân ra sao, họ có mắc các bệnh liên quan đến nghề nghiệp, họ chữa trị bằng những phương pháp như thế nào, là phụ nữ vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản của họ có được bản thân họ và công ty quan tâm chú ý Với cuộc sống hiện tại các

Trang 36

36

nữ công nhân đang trải qua, họ có cảm nhận gì, họ thấy đây là một cuộc sống tốt, thoải mái hay đằng sau cuộc sống đó họ còn có những cảm nhận khác nhau, những mong muốn lớn hơn những gì họ đang sống, đang có Với những vấn đề nêu trên, trong phần Thực trạng đời sống nữ công nhân nhập cư sẽ đi phân tích và đánh giá lần lượt các khía cạnh, các vấn đề đề có cái nhìn đúng hơn, khách quan hơn về nhưng gì các nữ công nhân đang trải qua hàng ngày Các tác động từ những khía cạnh của cuộc sống ảnh hưởng đến các chị như thế nào Những phân tích, đánh giá

đó là cơ sở để nhân viên công tác xã hội đưa ra được phương án hỗ trợ, giúp đỡ mang lại hiệu quả nhất cho các nữ công nhân

Những phân tích cụ thể về thực trạng đời sống của nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc thăng long dưới đây chủ yếu dựa trên những số liệu định lượng và phân tích định tính Trong quá trình thực hiện khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến tác giả đã có cơ hội để quan sát cũng như ghi lại những hình ảnh về cuộc sống thực tế đang diễn ra của các nữ công nhân nhập cư tại đây, những kết quả thu được đều nhằm mục đích phục vụ cho việc phân tích, đánh giá, nhìn nhận đúng hơn

về cuộc sống của các chị Những số liệu định lượng dùng để phân tích dưới đây có được thông qua kết quả của phiếu trưng cầu ý kiến, nghiên cứu đã thu về 166 phiếu đạt chất lượng trên tổng số 200 phiếu phát ra Tuy nhiên việc thực hiện khảo sát dựa trên tinh thần tự nguyện và chủ động đưa ra ý kiến nên việc kiểm tra lại ngay sau khi nữ công nhân thực hiện là khá khó khăn Bởi vậy nên sẽ không tránh khỏi những phiếu trả lời còn thiếu một số thông tin, vì vậy nên tổng số được phân tích ở các nội dung sẽ có sự khác nhau Và để có được cái nhìn chính xác nhất tác giả đã

sử dụng những số liệu có trên thực tế để phân tích những vấn đề liên quan đến đời sống của nhóm nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc thăng long

2.1 Đặc trưng nhân khẩu xã hội của nữ công nhân nhập cư

100.0

Trang 37

37

Nữ công nhân nhập cư tại khu vực Bắc Thăng Long đã tham gia làm việc khi còn khá trẻ tuổi, nên cơ hội học tập của các chị bị hạn chế rất nhiều Bảng số 2.1 cho thấy rằng trình độ học vấn của nữ công nhân ở đây tương đối thấp Phần lớn các chị chỉ tốt nghiệp cấp 3, chiếm 62.2% Số chị có trình độ trung cấp chỉ chiếm 14.6%

và trong số công nhân được hỏi cũng có những chị có trình độ Cao đẳng, Đại học, nhưng vì hoàn cảnh không cho phép cộng với việc xin việc gặp nhiều khó khăn sau khi tốt nghiệp nên đã có không ít các chị quyết định đi làm công nhân để kiếm sống thay vì ngồi chờ công việc phù hợp, tỷ lệ đó chiếm 9.8% Như vậy đôi khi việc xin vào làm công nhân tại các nhà máy, xí nghiệp là một cách khá dễ dàng để vừa có việc làm, vừa có thu nhập trang trải cho cuộc sống Đây có lẽ là cách lựa chọn gặp thuận lợi nhất của các chị, khi những công việc đó không đòi hỏi quá nhiều về trình

độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm hay trình độ học vấn phải quá cao mới có thể vào làm Các chị chỉ cần tốt nghiệp cấp 3, sau đó sẽ được công ty đào tạo ngắn hạn và làm việc luôn trong thời gian ngắn Đây chính là điều thuận lợi cho các chị, khi hành trang của các chị còn hạn chế, tuy nhiên liệu việc đó chỉ có thuận lợi thôi, hay nó còn đưa lại những vấn đề gì khác nữa ngoài công việc hay nói cách khác là trong cuộc sống

Theo Alvin Toffler, thời đại hiện nay là thời đại mà chất xám lên ngôi, thu nhập được tính bằng khả năng của trí tuệ Với trình độ học vấn tương đối thấp như thế nhất là chưa được đào tạo chuyên môn, chắc chắn các chị khó có thể kiếm được công việc nhẹ nhàng có thu nhập cao, ngược lại buộc họ phải lao động cơ bắp nặng

nề, yêu cầu nhiều thời gian nhưng đồng lương lại hạn hẹp Điều này cũng ảnh hưởng không ít đến việc hội nhập và giao tiếp xã hội, hạn chế đến việc học tập nâng cao nhận thức, vị thế để cải thiện cuộc sống của họ Đó là tình trạng chung không chỉ của các nữ công nhân nhập cư mà còn là của một lực lượng lớn tầng lớp công nhân Việt Nam hiện nay Cần phải nhận thức đúng đắn nếu giai cấp công nhân Việt nam ngày càng bị coi nhẹ về học vấn thì chắc hẳn bản chất và giác ngộ giai cấp sẻ

bị phai nhạt, một tiềm ẩn nguy hại cho đất nước mai sau Vậy nên chăng nhà nước cần có các chính sách, chủ trương để họ vừa đi làm vừa được học tập để nâng cao trình độ học vấn cho lao động trẻ? đối với các doanh nghiệp nên chăng cần có các

Trang 38

38

chương trình đào tạo tay nghề cho công nhân trước khi đi vào dây chuyền sản xuất? Chưa bàn đến vấn đề lớn lao nào khác, chúng ta chỉ cần nói đến việc nhận thức cuộc sống, tiếp nhận văn hóa mới với trình độ học vấn thấp như vậy liệu họ có nhận thức đúng đắn, tiếp nhận đầy đủ được những sự đổi mới hay sự tiếp nhận đó đôi khi bị lệch lạc và đi theo chiều hướng tiêu cực Ví dụ như vấn đề sống hiện đại của giới trẻ với câu tuyên truyền mà chúng ta không khó để bắt gặp trên các bảng truyền thông khắp thành phố: “Sống hiện đại không ngại nói Ừ “Nếu có Bao cao su”” Trên thực

tế câu tuyên truyền này giáo dục giới trẻ về ý thức bảo vệ chính mình trong các mối quan hệ, nhưng nếu nhận thức không đầy đủ thì nó không dừng lại ở giáo dục mà đôi khi là khuyến khích giới trẻ sống “thoáng” hơn trong các mối quan hệ Đây chỉ

là một ví dụ rất nhỏ cho rất nhiều các ví dụ mà các nữ công nhân sẽ gặp phải trong quá trình sống và làm việc tại thành phố, nơi có quá nhiều cám dỗ trong khi họ chỉ

có vẻn vẹn công việc và một nới cư trú, không kỹ năng, hạn chế kiến thức, rủi ro sẽ

là điều không khó xảy ra

2.1.2 Nghề nghiệp trước khi đến khu công nghiệp

Bảng 2.2: Nghề nghiệp trước khi đi làm

Nghề nghiệp trước khi đến KCN Tần số Phần trăm hợp lệ

100.0

Như đã đề cấp ở trên, các nữ công nhân nhập cư phần đông xuất thân từ các tỉnh lẻ khắp miền Bắc, miền Trung vào khu công nghiệp làm việc khi còn khá trẻ,

Trang 39

Thực tế tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long cho thấy: Do không có tay nghề nên khi vào thành phố kiếm việc các chị đã lựa chọn làm công nhân và chấp nhận cuộc sống vất vả để có thể có thêm thu nhập nuôi sống bản thân và phụ giúp gia đình Chị L.T.P, 28 tuổi, quê ở Hà Tĩnh, làm việc tại công ty Hoya glass disk Việt Nam (Công ty chuyên về sản xuất đĩa thủy tinh dùng trong ổ cứng) đã chia sẻ

rằng: “Tại mình học hành dở quá, ở nhà làm ruộng khổ lắm nên mới đi làm công nhân đấy chứ” Còn chị N.T.N, 20 tuổi, quê ở Thanh Hóa, làm việc tại công ty Canon Việt Nam thổ lộ: “Em học xong cấp 3, nhà nghèo nên em không thì gì cả, em

ở nhà một năm giúp cha mẹ làm ruộng rồi vào đây”

Hầu hết những công việc mà các chị làm trước khi vào đây thu nhập rất khiêm tốn, không đáng kể và không cần trình độ hay vốn đầu tư Do đó, khi tới khu công nghiệp, với hai bàn tay trắng, dường như nghề công nhân – một cái nghề không kén chọn một ai, không đòi hỏi bằng cấp – trở nên phù hợp với các chị và được các chị chọn lựa làm kế sinh nhai

Trang 40

40

2.1.3 Quê quán

Bảng 2.3: Quê quán

Qua khảo sát, chúng ta thấy được rằng các nữ công nhân tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long đến từ nhiều nơi khác nhau, trong

đó các nữ công nhân đến từ Phú Thọ và Thanh Hóa chiếm phần trăm lớn hơn Tuy nhiên điều này không có nghĩa là tại các tỉnh đó có nhiều công nhân nữ cần việc làm hơn, chúng

ta có thể quan sát tổng thể và thấy rằng sự phân bổ lao động ở đây khá đồng đều Họ đến từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung và đều vì một mục đích chung là kiếm việc làm tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long Như vậy bất kỳ ai trong số họ cho dù họ đến từ đâu thì họ cũng cần công việc và thu nhập

Các nữ công nhân đều tới từ các tỉnh lẻ tại đây điều kiện phát triển kinh tế đang gặp nhiều khó khăn nhất là sự phát triển của các khu công nghiệp còn ít, nghành nghề việc làm còn hạn chế nên cuộc sống của người dân còn nghèo, một bộ phận rất lớn thanh niên rời quê lên thành phố kiếm việc với ước mong đổi đời Điều này cho thấy với bản tính cần cù chịu khó, trước mắt giúp họ cải thiện được vấn đề tài chính, mặt khác tạo cho họ có một việc làm chính thức Tuy nhiên, với trình

độ thấp kém, ý thức làm việc tiểu nông thiếu tính công nghiệp chắc chắn họ họ sẽ gặp nhiều khó khăn trong công việc và thu nhập Vấn đề rất đáng được đề cập đó là; vốn dĩ

1.8 100.0

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Kim Anh, Nguyễn Tập và Quốc Linh (2004), “Chuyện dài nhiều tập của công nhân nhập cƣ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện dài nhiều tập của công nhân nhập cƣ
Tác giả: Kim Anh, Nguyễn Tập và Quốc Linh
Năm: 2004
3. Beneria, Lourdes (2008). "Cuộc khủng hoảng chăm sóc, di cƣ quốc tế, và chính sách công&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc khủng hoảng chăm sóc, di cƣ quốc tế, và chính sách công
Tác giả: Lourdes Beneria
Năm: 2008
5. Hunga, Arianti Ina (1998). "The Social-Kinh tế Tác động của phụ nữ lao động nhập cƣ vào gia đình và cộng đồng&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Social-Kinh tế Tác động của phụ nữ lao động nhập cƣ vào gia đình và cộng đồng
Tác giả: Hunga, Arianti Ina
Năm: 1998
6. Leslie T. Chang, “Gái công xưởng” Dịch giải Lục Hương, sách văn học nước ngoài, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gái công xưởng
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
7. Trần Thị Hồng Châu (2000), “ Tìm hiểu đời sống nữ công nhân nhập cƣ tại công ty may Việt Tiến”, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Phụ nữ học, Trường Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đời sống nữ công nhân nhập cƣ tại công ty may Việt Tiến
Tác giả: Trần Thị Hồng Châu
Năm: 2000
8. Nguyễn Thị Chiến (2010), “Nghiên cứu đời sống văn hóa của công nhân các khu công nghiệp vùng tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đời sống văn hóa của công nhân các khu công nghiệp vùng tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh
Tác giả: Nguyễn Thị Chiến
Năm: 2010
10. Đề án “Xây dựng đời sống văn hóa CN ở các KCN đến năm 2015, định hướng đến năm 2020” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1780/QĐ-TTg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đời sống văn hóa CN ở các KCN đến năm 2015, định hướng đến năm 2020
11. Trần Thị Minh Đức, Nguyễn Thúy Lành (2002), “Phác thảo một vài đặc điểm tâm lý xã hội của người phụ nữ ngoại tỉnh bán hàng rong trên đường phố Hà Nội”, Tạp chí tâm lý học, số 6/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác thảo một vài đặc điểm tâm lý xã hội của người phụ nữ ngoại tỉnh bán hàng rong trên đường phố Hà Nội
Tác giả: Trần Thị Minh Đức, Nguyễn Thúy Lành
Năm: 2002
12. Tổ chức di cƣ Quốc tế (International Organization for Migration) kết hợp với Trung tâm thúc đẩy chất lượng cuộc sống một tổ chức phi chính phủ địa phương“Nghiên cứu về Bạo lực Giới đối với các Phụ nữ di cƣ là Công nhân nhà máy” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về Bạo lực Giới đối với các Phụ nữ di cƣ là Công nhân nhà máy
13. Báo Hà Nội Mới (01/5/2013), “Đời sống văn hoá ở các KCN: Gần nhƣ bị lãng quên!” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hoá ở các KCN: Gần nhƣ bị lãng quên
14. Nguyễn Kim Hà (2001), “Một số vấn đề đặt ra trong nghiên cứu phụ nữ và di dân ở Việt Nam”, Khoa học về phụ nữ, số 2/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đặt ra trong nghiên cứu phụ nữ và di dân ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Kim Hà
Năm: 2001
15. Bùi Thị Thanh Hà, Viện xã hội học (2008), “Đời sống và việc làm của công nhân xuất thân từ nông thôn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống và việc làm của công nhân xuất thân từ nông thôn
Tác giả: Bùi Thị Thanh Hà, Viện xã hội học
Năm: 2008
16. Bùi Thị Thanh Hà (2003), “Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới”, NXB Khoa học xã hội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới
Tác giả: Bùi Thị Thanh Hà
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
17. Phan Thị Mai Hương Viện Tâm lý học làm chủ nhiệm (2011), “Báo cáo kết quả nghiên cứu về công nhân” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả nghiên cứu về công nhân
Tác giả: Phan Thị Mai Hương Viện Tâm lý học làm chủ nhiệm
Năm: 2011
18. Vũ Thị Khương (1996), “ Việc thực hiện luật Lao động đối với nữ công nhân ở một vài doanh nghiệp nhà nước tại Thành Phố Hồ Chí Minh”, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Phụ nữ học, Đại học Mở bán công Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc thực hiện luật Lao động đối với nữ công nhân ở một vài doanh nghiệp nhà nước tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Vũ Thị Khương
Năm: 1996
19. Nguyễn Huyền Lê (2013), Viện Khoa học Lao động và Xã hội trong bài viết “Rủi ro của lao động di cƣ và một số kiến nghị” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro của lao động di cƣ và một số kiến nghị
Tác giả: Nguyễn Huyền Lê
Năm: 2013
21. Nghị quyết hội nghị lần thứ ba ngày 17/2/2014 của ban chấp hành tổng liên đoàn lao động Việt Nam khóa XI về “Nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của công nhân lao động khu công nghiệp, khu chế xuất” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của công nhân lao động khu công nghiệp, khu chế xuất
23. Nguyễn Thị Ngọc (2001), “ Khảo sát đời sống và điều kiện làm việc của lao động nữ nghành dệt may”, (Điển cứu tại công ty dệt may Việt Thắng và công ty dệt may Thành Công), Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Phụ nữ học, Trường Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát đời sống và điều kiện làm việc của lao động nữ nghành dệt may
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc
Nhà XB: Khoa Phụ nữ học, Trường Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001
26. PTS. Nguyễn Văn Tài và CTV (1998), “Di dân tự do nông thôn – thành thị ở Thành phố Hồ Chí Minh”, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di dân tự do nông thôn – thành thị ở Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: PTS. Nguyễn Văn Tài và CTV
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
27. Hà Thị Phương Tiến và Hà Quang Ngọc (2000), “Lao động nữ di cư tự do nông thôn – thành thị”, NXB Phụ nữ, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động nữ di cư tự do nông thôn – thành thị
Tác giả: Hà Thị Phương Tiến và Hà Quang Ngọc
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Trình độ học vấn - Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội” (Khảo sát tại các khu nhà trọ thuộc xã Hải Bối, huyện Đ
Bảng 2.1 Trình độ học vấn (Trang 36)
Bảng 2.3: Quê quán - Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội” (Khảo sát tại các khu nhà trọ thuộc xã Hải Bối, huyện Đ
Bảng 2.3 Quê quán (Trang 40)
Bảng 2.4: Tình Trạng hôn nhân - Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội” (Khảo sát tại các khu nhà trọ thuộc xã Hải Bối, huyện Đ
Bảng 2.4 Tình Trạng hôn nhân (Trang 42)
Bảng 2.6: Mức lương - Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội” (Khảo sát tại các khu nhà trọ thuộc xã Hải Bối, huyện Đ
Bảng 2.6 Mức lương (Trang 47)
Bảng 2.9: Số lượng công nhân trong một phòng - Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội” (Khảo sát tại các khu nhà trọ thuộc xã Hải Bối, huyện Đ
Bảng 2.9 Số lượng công nhân trong một phòng (Trang 52)
Hình 3: Dãy nhà vệ sinh chung của một khu trọ ở khu công nghiệp - Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội” (Khảo sát tại các khu nhà trọ thuộc xã Hải Bối, huyện Đ
Hình 3 Dãy nhà vệ sinh chung của một khu trọ ở khu công nghiệp (Trang 54)
Hình  4:  Bữa  cơm  đạm  bạc  8000  đồng  của các chị công nhân: 2 cái trứng chiên, - Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội” (Khảo sát tại các khu nhà trọ thuộc xã Hải Bối, huyện Đ
nh 4: Bữa cơm đạm bạc 8000 đồng của các chị công nhân: 2 cái trứng chiên, (Trang 57)
Hình  5:  Căn  phòng  trọ  đơn  giản của các chị công nhân - Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội” (Khảo sát tại các khu nhà trọ thuộc xã Hải Bối, huyện Đ
nh 5: Căn phòng trọ đơn giản của các chị công nhân (Trang 60)
Bảng 2.12: Các loại hình giải trí - Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội” (Khảo sát tại các khu nhà trọ thuộc xã Hải Bối, huyện Đ
Bảng 2.12 Các loại hình giải trí (Trang 61)
Bảng 2.13: Những bệnh thường gặp - Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội” (Khảo sát tại các khu nhà trọ thuộc xã Hải Bối, huyện Đ
Bảng 2.13 Những bệnh thường gặp (Trang 64)
Bảng 2.14: Lý do mắc bệnh - Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội” (Khảo sát tại các khu nhà trọ thuộc xã Hải Bối, huyện Đ
Bảng 2.14 Lý do mắc bệnh (Trang 66)
Bảng 2.15: Cách chữa bệnh - Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội” (Khảo sát tại các khu nhà trọ thuộc xã Hải Bối, huyện Đ
Bảng 2.15 Cách chữa bệnh (Trang 68)
Bảng 2.16: Mức sống - Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội” (Khảo sát tại các khu nhà trọ thuộc xã Hải Bối, huyện Đ
Bảng 2.16 Mức sống (Trang 69)
Bảng 2.17: So sánh cuộc sống hiện tại với trước đó - Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội” (Khảo sát tại các khu nhà trọ thuộc xã Hải Bối, huyện Đ
Bảng 2.17 So sánh cuộc sống hiện tại với trước đó (Trang 70)
Bảng 2.18: Nguyện vọng - Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội” (Khảo sát tại các khu nhà trọ thuộc xã Hải Bối, huyện Đ
Bảng 2.18 Nguyện vọng (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w