1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

LUẬT CÔNG CHỨNG CHỨNG THỰC

18 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 270 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DƯƠNG LINH THÔN 201A320045 ((((( HỌC PHẦN LUẬT CÔNG CHỨNG CHỨNG THỰC ĐỀ TÀI NGHỀ LUẬT SƯ – THỰC TIỄN HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TẠI VIỆT NAM GVHD Sinh viên thực hiện Mã số SV Lớp TP HỒ CHÍ MINH 2021 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 3 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ LUẬT SƯ VÀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Khái niệm về luật sư, nghề luật sư, và pháp luật về luật sư 4 Các giai đoạn phát triển của pháp luật về luật sư ở Việt Nam 6 Pháp luật về luật sư trước cách mạng tháng 8 năm 1945 6 Pháp luật về luật sư từ sau các.

Trang 1

- -HỌC PHẦN: LUẬT CÔNG CHỨNG & CHỨNG THỰC

ĐỀ TÀI: NGHỀ LUẬT SƯ – THỰC TIỄN HÀNH

NGHỀ LUẬT SƯ TẠI VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện:

Mã số SV:

TP HỒ CHÍ MINH - 2021

MỤC LỤC

PHẦN NỘI DUNG

Trang 2

CHƯƠNG 1.

KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ LUẬT SƯ VÀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ 1.1 Khái niệm về luật sư, nghề luật sư, và pháp luật về luật

sư………….4

1.2 Các giai đoạn phát triển của pháp luật về luật sư ở Việt Nam… 6

1.2.1 Pháp luật về luật sư trước cách mạng tháng 8 năm 1945………6

1.2.2 Pháp luật về luật sư từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay………7

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM 2.1 Thực tiễn về hành nghề luật sư ở Việt Nam………11

2.1.1 Về đội ngũ luật sư………11

2.1.2 Về hoạt động hành nghề của luật sư………12

2.1.3 Về tổ chức luật sư và quản lý luật sư……… 14

KẾT LUẬN……… 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO………

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong dòng chảy của xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, bất kỳ một quốc gia nào cũng phải "trang bị" cho mình một nền tư pháp hoàn chỉnh bên cạnh

sự ổn định về chính trị và vững mạnh về kinh tế Đó là một tất yếu cho sự phát triển của đất nước Hoà mình trong dòng chảy đó, Việt Nam cũng không ngừng hoàn thiện mình về phương diện pháp luật nói chung và pháp luật về luật sư, hành nghề luật sư nói riêng nhằm tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ luật sư, để đất nước có một đội ngũ luật sư tài năng và đạo đức

Vì rằng, trong một nền tư pháp dân chủ, khi mà các giá trị quyền con người được tôn vinh và là đích đến của toàn bộ hệ thống tư pháp thì hoạt động của luật sư với sứ mệnh bảo vệ công lý, công bằng xã hội được coi là một đại lượng để đánh giá uy tín và chất lượng của hoạt động tư pháp Nghề luật sư ở nước ta đang có những cơ hội phát triển đầy thuận lợi “Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý để phát huy chế độ tự quản của tổ chức luật sư; đề cao trách nhiệm của các tổ chức luật sư đối với thành viên của mình" Trong những năm gần đây, pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư cũng như các hoạt động lập pháp trong lĩnh vực này đã có những thành quả tích cực mà biểu hiện sinh động là việc ban hành Luật Luật sư 2006 thay thế Pháp lệnh luật sư năm 2001 (trước

đó nữa là Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987), tuy nhiên vẫn còn rất nhiều vấn đề cần được quan tâm một cách thấu đáo hơn nữa trong thực tiễn cải cách tư pháp nói chung

và vấn đề pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư nói riêng

Xuất phát từ những ý nghĩa trên, Tôi đã đề tài về vấn đề "Hành nghề luật sư – thực tiễn hành nghề luật sư tại Việt Nam" làm đề tài cho bài tiểu luận của mình để mong muốn

có một cái nhìn sâu hơn về vấn đề quan tâm

PHẦN NỘI DUNG

Trang 4

Chương 1 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ LUẬT SƯ VÀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ

1.1 Khái niệm về luật sư, nghề luật sư và pháp luật về luật sư

Mọi chúng ta đều có quyền bào chữa và quyền được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp là một trong những quyền cơ bản của công dân trong nhà nước pháp quyền; công dân có thể tự bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc nhờ người khác bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án Xuất phát từ nhu cầu

đó, luật sư và nghề luật sư đã hình thành và phát triển cách đây hàng trăm năm ở nhiều nước trên thế giới

- Khái niệm về luật sư:

Luật sư là một chức danh tư pháp độc lập, chỉ những người có đủ điều kiện hành nghề chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện việc tư vấn pháp luật, đại diện theo ủy quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức và nhà nước trước tòa án và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác” Điều 2 Luật Luật sư (29/6/2006) ghi nhận, “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân,

cơ quan, tổ chức Tiêu chuẩn luật sư được quy định tại Điều 10 Luật Luật sư như sau:

“Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng Cử nhân Luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành Luật sư

- Khái niệm về nghề luật sư:

Ở Việt Nam, nghề luật sư là một nghề luật, trong đó các luật sư bằng kiến thức pháp luật của mình, độc lập thực hiện các hoạt động trong phạm vi hành nghề theo quy định của pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp, nhằm mục đích phụng sự công lý, góp phần tích cực bảo vệ pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN

Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác vì ngoài những yêu cầu

về kiến thức và trình độ chuyên môn thì yêu cầu về việc hành nghề luật sư còn phải

Trang 5

tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp Đây là một nét đặc thù riêng của nghề luật

sư và nét đặc thù này tác động sâu sắc đến kỹ năng hành nghề, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng của luật sư Về tính chất, hoạt động nghề nghiệp của luật sư bao gồm ba tính chất: trợ giúp, hướng dẫn và phản biện

- Tính chất trợ giúp: Là sự giúp đỡ, bênh vực hoàn toàn vô tư, không vụ lợi của

luật sư cho những người ở vào vị thế thấp kém thường bị ức hiếp, bị đối xử bất công trái pháp luật trong xã hội hay những người như người nghèo, người già đơn côi, người chưa thành niên mà không có sự đùm bọc của gia đình Hoạt động trợ giúp của luật sư đối với những đối tượng này không chỉ là bổn phận mà còn là thước đo lòng nhân ái và đạo đức của luật sư

- Tính chất hướng dẫn: Là việc hướng dẫn cho đương sự hiểu đúng tinh thần và

nội dung của pháp luật để biết cách xử sự tháo gỡ vướng mắc của họ phù hợp với pháp

lý và đạo lý

- Tính chất phản biện: Tính chất phản biện trong hoạt động của luật sư là những

biện luận nhằm phản bác lại lý lẽ, ý kiến quan điểm của người khác mà mình cho là không phù hợp với pháp lý và đạo lý Hoạt động phản biện của luật sư là lấy pháp luật

và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem xét mọi khía cạnh của sự việc nhằm xác định rõ phải trái, đúng sai…từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp bảo vệ lẽ phải, loại

bỏ cái sai, bảo vệ công lý

Xuất phát từ tính chất, đặc thù của nghề luật sư, nó đòi hỏi luật sư ngoài các phẩm chất chung là Chân, Thiện, Mỹ, luật sư còn phải là người có khối óc thông minh, tấm lòng trong sáng, dũng cảm, biết lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm cơ sở hoạt động mới xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của xã hội

thành và phát triển của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về luật sư nói riêng Pháp luật về luật sư là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức và hoạt động nghề nghiệp giữa luật sư với khách hàng, các

cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan có thẩm quyền khác, về việc quản lý Nhà nước

và sự tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư do Nhà nước đặt ra, thừa nhận và bảo đảm thi hành

Trang 6

Có thể nói, pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư có một vị trí quan trọng trong nền

tư pháp, cũng như đóng vai trò rất lớn trong hệ thống pháp luật nói chung Bởi vì Luật

sư là một chức danh tư pháp độc lập và hoạt động nghề nghiệp của luật sư có vai trò rất quan trọng Tính chất quan trọng đó thể hiện hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chính vì thế, pháp luật về luật sư chính là sự bảo đảm về mặt nhà nước cũng như xã hội để luật sư và hoạt động nghề nghiệp của luật sư được thực hiện một các đúng mực mang lại sự hiệu quả và thực thi được sứ mệnh cao cả của nó

1.2 Các giai đoạn phát triển của pháp luật về luật sư ở Việt Nam

1.2.1 Pháp luật về luật sư trước cách mạng tháng 8 năm 1945

Trước khi Việt Nam bị thực dân Pháp xâm chiếm, việc xét xử ở nước ta do vua quan phong kiến tiến hành, không có sự tham gia của luật sư Chỉ sau khi xâm lược Nam kỳ, ngày 26/11/1876 người Pháp ban hành Nghị định về việc biện hộ cho người Pháp hoặc người Việt mang quốc tịch Pháp tại Tòa án Pháp

Sau khi thiết lập bộ máy cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam, năm 1884, Toàn quyền Pháp ký Sắc lệnh thành lập Luật sư Đoàn tại Sài Gòn và Hà Nội gồm các luật sư người Pháp và người Việt Nam đã nhập quốc tích Pháp Các luật sư chỉ biện hộ trước Tòa án Pháp cho người Pháp hoặc người có quốc tịch Pháp.Với Sắc lệnh ngày 30/1/1911, nhà cầm quyền Pháp đã mở rộng cho người Việt Nam không có quốc tịch Pháp được làm luật sư

Sắc lệnh cuối cùng của người Pháp về luật sư là Sắc lệnh ngày 25/5//930 về tổ chức Luật sư đoàn ở Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng Sắc lệnh này đã mở rộng cho các luật sư không chỉ biện hộ ở tòa án Pháp mà cả trước Toà án Việt Nam; không chỉ bào chữa cho người có quốc tịch Pháp mà cả người không có quốc tịch Pháp

Người Việt Nam đầu tiên làm luật sư đó là ông Phan Văn Trường (1876 - 1933) Ông

là người làng Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội Ông tốt nghiệp Đại học luật và làm luật

sư tại Paris Ông là nhà yêu nước Khi Bác Hồ hoạt động cách mạng tại Paris, đã có thời gian Bác sống tại nhà luật sư Phan Văn Trường

Một sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ là năm 1926, Bác Hồ đã bị Tòa án Vinh của thực dân

Trang 7

Pháp kết án tử hình Ngày 6/6/1931, khi Người đang hoạt động cách mạng ở nước ngoài thì bị cảnh sát Anh bắt Khi bị bắt Người mang tên là Tống Văn Sơ Thực dân Pháp tìm mọi cách yêu cầu chính quyền Anh giao Người cho thực dân Pháp ở Đông Dương Trong tình thế đó, nhờ tài ứng xử tuyệt vời của người và có sự giúp đỡ, bênh vực tích cực của luật sư Lô - dơ - bai (người anh), chính quyền Anh đã phải trả tự đo cho Người vào đầu năm 1932 Sau này với cương vị Chủ tịch nước, Bác Hồ đã mời ông bà Lô - dơ - bai sang thăm Việt Nam như là thượng khách

1.2.2 Pháp luật về luật sư từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay.

Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền về tay nhân dân, bộ máy tư pháp được tổ chức lại Chỉ hơn một tháng sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là người đứng đầu chính quyền mới đã

ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10-10-1945 về tổ chức đoàn thể luật sư Sắc lệnh số 46/SL ngày 10-10-1945 duy trì tổ chức luật sư cũ trong đó có sự vận dụng linh hoạt các quy định pháp luật cũ về luật sư nhưng không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hoà Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1946 khẳng định quyền bào chữa là một trong những quyền cơ bản của công dân Điều 67 của Hiến Pháp quy định "Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư” (Điều

67 của Hiến pháp năm 1946)

Tuy nhiên, không lâu sau khi giành được độc lập, toàn Đảng, toàn dân ta đã phải tập trung sức người, sức của cho cuộc kháng chiến cứu nước Trong điều kiện đó, tổ chức luật sư không thể tiếp tục duy trì Hưởng ứng lời kêu gọi toàn dân kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều luật gia, luật sư đã ra mặt trận, lên chiến khu hoặc tham gia vào hoạt động tư pháp tại các vùng do chính quyền ta kiểm soát Trong điều kiện khó khăn của cuộc kháng chiến, tuy tổ chức luật sư không còn được duy trì, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn quan tâm đến việc bảo đảm quyền bào chữa trước Toà

án của bị cáo, một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi trong Hiến pháp Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 quy định nguyên cáo, bị cáo có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bênh vực cho mình Để cụ thể hóa Sắc lệnh 69/SL ngày 18-6-1949, Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 1/NĐ - VY ngày 12-1-1950 quy định về bào chữa viên Chế định bào chữa viên được hình thành là một chế định phù

Trang 8

hợp với điều kiện của nước ta khi đó, thể hiện sự coi trọng, quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đến việc thực thi quyền bào chữa nói riêng và việc xây dựng một nền tư pháp công bằng, dân chủ của chế độ mới Tiếp tục khẳng định quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về quyền bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1959 (Điều 101) đã quy định "Quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm"; Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 ngoài việc khẳng định bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, còn quy định việc thành lập tổ chức luật sư để giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa

Thực hiện quy định của Hiến pháp, trong giai đoạn triển khai xây dựng văn bản pháp luật về tổ chức luật sư, đội ngũ bào chữa viên tiếp tục được củng cố và phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn về bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân,

tổ chức Ngày 31/10/1983 Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 691/QLTPK về công tác bào chữa, trong đó quy định cụ thể tiêu chuẩn, điều kiện làm bào chữa viên, quy định

ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập một Đoàn bào chữa viên, riêng

ở hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh thì thành lập Đoàn luật sư, bào chữa viên, tập hợp các luật sư đã được công nhận trước đây và các bào chữa viên Thực hiện Thông

tư số 691/QLTPK, đến cuối năm 1987, trên cả nước đã có 30 Đoàn bào chữa viên với gần 400 bào chữa viên

Từ sau ngày giải phóng, miền Nam, thống nhất đất nước đến những năm nửa đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước đã đạt được những thành tựu nhất định, tuy nhiên chúng ta đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn thức thách do sự lạc hậu của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Một yêu cầu khách quan, mang tính sống còn đối với đất nước là phải đổi mới, trước hết là xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp và mở rộng dân chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IV năm 1986 đã mở đầu một thời kỳ lịch sử mới xây dựng đất nước, thời kỳ đổi mới Đường lối đổi mới do Đại hội vạch ra đã tác động sâu rộng đến mọi mặt hoạt động trong xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp Các đạo luật về tố tụng được ban hành theo hướng mở rộng dân chủ trong tố tụng, trong đó có việc tăng cường bảo đảm quyền bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trước Toà án và các cơ quan tố tụng khác

Trang 9

Trong bối cảnh đó, Pháp lệnh tổ chức luật sư được ban hành ngày 18/12/1987 Có thể nói, Pháp lệnh tổ chức luật sư là văn bản pháp luật có ý nghĩa lịh sử trong việc khôi phục nghề luật sư và mở đầu cho quá trình phát triển nghề luật sư ở nước ta trong thời

kỳ đổi mới Pháp lệnh quy định rõ tiêu chuẩn được công nhận là luật sư, chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực giúp đỡ pháp lý của luật sư Pháp lệnh cũng đã quy định về việc

tổ chức các Đoàn luật sư ở các tỉnh, thanh phố trực thuộc Trung ương Thi hành Pháp lệnh tổ chức luật sư, chỉ sau gần 10 năm, ở hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thành lập Đoàn luật sư; đội ngũ luật sư trong cả nước đã đạt tới con số hàng ngàn luật sư Hoạt động luật sư cũng có bước phát triển đáng kể Ngoài việc tăng cường một bước về số lượng và chất lượng tham gia tố tụng của luật sư trong các vụ

án hình sự, dân sự, các luật sư đã từng bước mở rộng hoạt động hành nghề sang lĩnh vực tư vấn pháp luật và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác

Sau hơn 10 năm kể từ Đại hội Đảng lần thứ IV, công cuộc đổi mới ở đất nước ta đã thu được những thành tựu to lớn và quan trọng Từ nửa cuối thập niên 90, đất nước ta bước vào giai đoạn quan trọng của quá trình đổi mới, trong đó nhu cầu đẩy mạnh quá trình xây dựng cơ chế thị trường, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, mở rộng dân chủ, hội nhập quốc tế ngày càng trở lên sâu sắc, ở mức độ cao hơn

Trước tình hình đó, để đáp ứng nhu cầu mới, Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã được ban hành Nội dung của Pháp lệnh thể hiện quan điểm cải cách mạnh mẽ tổ chức và hoạt động luật sư ở nước ta theo hướng chính quy hoá, chuyên nghiệp hoá đội ngũ luật sư, nghề luật sư, tăng cường vai trò tự quản của tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình hội nhập quốc tế của nghề luật sư ở Việt Nam Với nội dung tiến bộ, phù hợp với yêu cầu khách quan, Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã nhanh chóng đi vào cuộc sống Chỉ sau 5 năm thi hành Pháp lệnh, đội ngũ luật sư đã tăng đáng kể cả về số lượng và chất lượng Đặc biệt, cũng trong 5 năm đó các luật sư đã thành lập trên 1.000 tổ chức hành nghề là các văn phòng luật sư, các công ty luật hợp danh Các Đoàn luật sư được xây dựng lại và củng cố để làm đúng chức năng của tổ chức xã hội-nghề nghiệp tự quản của các luật sư Hoạt động hành nghề của luật sư cũng được tăng lên đáng kể về phạm vi và chất lượng

Có thể nói, Pháp lệnh luật sư năm 2001 là văn bản mở đầu cho quá trình chuyên

Trang 10

nghiệp hoá và hội nhập quốc tế của nghề luật sư ở Việt Nam, đã tạo một bộ mặt mới với triển vọng phát triển mạnh mẽ nghề luật sư ở nước ta

Trong những năm đầu của thiên niên kỷ XXI, cùng với bước phát triển và những yêu cầu mới của xu thế toàn cầu hoá, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của nước ta

đã có những bước phát triển nhanh và mạnh mẽ với những sự kiện quan trọng mang tính chất đột phá Việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO) đã tạo

ra vị thế và những cơ hội mới phát triển đất nước, đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới to lớn cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, trong đó có nhiệm vụ quan trọng

là phải chuyển đổi hệ thống pháp luật và các thiết chế cùng với cơ chế vận hành theo

lộ trình phù hợp với các cam kết khi gia nhập WTO Tổ chức, hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động luật sư nói riêng cũng nằm trong bối cảnh chung đó Trong các năm 2005, 2006, 2007, Nhà nước ta đã ban thành một số lượng lớn các đạo luật mới hoặc thay thế các đạo luật không còn phù hợp, trong đó có Luật Luật sư được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007

Luật Luật sư được ban hành đã góp phần nâng cao vị thế của luật sư, tạo cơ sở pháp lý đẩy nhanh quá trình xây dựng một đội ngũ luật sư, nghề luật sư mang tính chuyên nghiệp, ngang tầm với luật sư và nghề luật sư ở các nước tiên tiến trên thế giới Đặc biệt Luật Luật sư đã quy định hoàn chỉnh hệ thống các tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư từ Trung ương tới các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bao gồm Tổ chức luật sư toàn quốc và các Đoàn luật sư Với quy định này, Luật Luật sư đã tạo cơ sở pháp lý nâng cao vai trò tự quản của nghề luật sư

Có thể nói, Luật Luật sư là mốc son đánh dấu một bước phát triển vượt bậc của pháp luật về luật sư ở Việt Nam qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển chế định pháp luật này

Chương 2 THỰC TIỄN HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM

Ngày đăng: 24/07/2022, 11:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w