Quy định của pháp luật về chuyển nhượng văn phòng công chứng, thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng văn phòng công chứngĐối tượng nghiên cứu của bài báo cáo này là các quy định pháp luật về Văn phòng Công chứng và chuyển nhượng Văn phòng Công chứng, trong đó tập trung vào một số nội dung chủ yếu như: xác định rõ khái niệm Văn phòng Công chứng, sự ra đời của Văn phòng Công chứng, quy định pháp luật về chuyển nhượng Văn phòng Công chứng, đề xuất một vài định hướng nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về chuyển nhượng Văn phòng Công chứng
Trang 1MỤC LỤC
I.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
II Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu
III Cơ cấu của bài báo cáo
B Nội dung
Chương 1: Quy định của pháp luật về chuyển nhượng Văn phòng
công chứng
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về chuyển nhượng Văn
phòng công chứng ở nước ta hiện nay và một số hạn chế, bất cập
Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp
luật về chuyển nhượng Văn phòng Công chứng
C Kết luận
Trang 2D Danh mục tài liệu tham khảo
A MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Luật Công chứng được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 và được thay thế bởi Luật Công chứng năm 2014 đến nay đã được hơn 14 năm song đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, trong đó đáng chú ý
là bước đầu đã thực hiện xã hội hóa công tác công chứng, xây dựng được mạng
lưới công chứng rộng khắp trong cả nước Quyết định số 2104/QĐ-TTg ngày 29 tháng 12 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020”, đến nay, Hiệp hội công chứng viên Việt Nam và 55 Hội công chứng viên đã được thành lập với 2.709 công chứng viên đang hành nghề tại 1.186 tổ chức hành nghề công chứng, trong
đó có 1.068 Văn phòng công chứng Hoạt động công chứng được xã hội hóa mạnh mẽ, cơ bản đáp ứng nhu cầu công chứng của cá nhân, tổ chức, khẳng định
vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, góp phần bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đóng góp vào sự phát triển của đất nước
Yêu cầu xã hội hóa dịch vụ công, trong đó có xã hội hóa công chứng một ngành dịch vụ pháp lý là hóa công chứng là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước được khẳng định trong Nghị Quyết số 59/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 Sự ra gia tăng nhanh chóng của các Văn phòng công chứng (chiếm ¾ trong tổng số các tổ chức hành nghề công chứng) là một trong những thành công của Chính phủ trong việc thực hiện xã hội hoá hoạt động công chứng, chuyển giao dần một phần quyền lực nhà nước cho tổ chức, cá nhân đủ năng lực tự thực hiện và nộp thuế cho Nhà
Trang 3của các Văn phòng công chứng dẫn tới tình trạng các Văn phòng công chứng cạnh tranh không lành mạnh đặc biệt là tình trạng chuyển nhượng các Văn phòng công chứng diễn ra lộn xộn, người không liên quan tới công chứng đứng
ra mua bán Văn phòng, hình thức chuyển nhượng nhưng hồ sơ làm không phải chuyển nhượng gây thất thu thuế cho nhà nước; các tranh chấp về chuyển nhượng Văn phòng công chứng ngày càng gia tăng… Bối cảnh đó, đòi hỏi các nhà làm luật phải xây dựng lại hành lang pháp lý, kiểm soát chặt chẽ hơn về chuyển nhượng Văn phòng công chứng là một yêu cầu cấp thiết Chính vì vậy, sau khi kết thúc Học phần “Nghề công chứng và công chứng viên”, học viên lựa
chọn đề tài “Quy định của pháp luật về chuyển nhượng văn phòng công chứng, thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng văn phòng công chứng” làm đề tài kết thúc học phần Kính mong nhận
được sự quan tâm, góp ý và giúp đỡ của các Thầy, Cô trong Học viện Tư pháp
để Học viên hiểu rõ hơn về vấn đề trên
II Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu
1 Mục đích, nhiệm vụ:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vẫn vấn đề lý luận về chuyển nhượng Văn phòng công chứng; thực tiễn áp dụng trong giai đoạn hiện nay, những hạn chế, bất cấp và từ đó Học viên đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng Văn phòng công chứng ở nước ta Nhiệm vụ nghiên cứu là các mục tiêu cụ thể mà đề tài phải thực hiện Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, Học viên đặt ra các mục tiêu cụ thể cần nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu làm rõ khái niệm về Văn phòng công chứng và chuyển nhượng Văn phòng công chứng
- Nghiên cứu làm rõ đặc trưng của chuyển nhượng Văn phòng công chứng so với chuyển nhượng doanh nghiệp thông thường
Trang 4- Nghiên cứu làm rõ những nội dung cần chú ý trong việc chuyển nhượng Văn phòng công chứng
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc chuyển nhượng Văn phòng công chứng ở nước ta hiện nay
- Nghiên cứu, đánh giá những hạn chế, bất cấp trong việc chuyển nhượng Văn phòng công chứng ở nước ta hiện nay
- Đề ra một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng Văn phòng công chứng ở nước ta hiện nay
2 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của bài báo cáo này là các quy định pháp luật về Văn phòng Công chứng và chuyển nhượng Văn phòng Công chứng, trong đó tập trung vào một số nội dung chủ yếu như: xác định rõ khái niệm Văn phòng Công chứng, sự ra đời của Văn phòng Công chứng, quy định pháp luật về chuyển nhượng Văn phòng Công chứng, đề xuất một vài định hướng nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về chuyển nhượng Văn phòng Công chứng
III Kết cấu bài báo cáo:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bài báo cáo gồm 3 chương:
Chương 1: Quy định của pháp luật về chuyển nhượng Văn phòng công
chứng
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về chuyển nhượng Văn phòng
công chứng ở nước ta hiện nay và một số hạn chế, bất cập
Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về
chuyển nhượng Văn phòng Công chứng
Trang 5B NỘI DUNG BÁO CÁO
I CÔNG CHỨNG VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG, QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG
1 Công chứng
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật công chứng năm 2014 thì công chứng
được định nghĩa như sau: “ Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch
Trang 6dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch)
mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.”
Khái niệm công chứng ở Việt Nam hiểu một cách đơn giản nhất, "công chứng" chính là việc "công" quyền đứng ra làm "chứng", là hành vi do các công chứng viên chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch được công chứng
2 Sự ra đời của Văn phòng Công chứng
Văn phòng Công chứng là một trong hai hình thức tổ chức hành nghề công chứng được quy định tại Điều 23 của luật công chứng Mô hình tổ chức Văn phòng công chứng đã có từ rất lâu trên thế giới, còn ở Việt Nam, Văn phòng công chứng chỉ xuất hiện sau khi Luật Công chứng năm 2006 có hiệu lực thi hành Đây là lần đầu tiên Việt Nam thừa nhận một mô hình văn phòng công chứng, tồn tại song song bên cạnh Phòng Công chứng Văn phòng Công chứng được hình thành xuất phát từ những lý do sau đây:
- Thực tiễn hoạt động của công chứng trong thời gian qua cho thấy, nhu cầu công chứng của tổ chức cá nhân ngày một tăng cao trong khi sự phát triển của các Phòng công chứng không theo kịp, dẫn đến quá tải Công chứng viên là công chức nhà nước nên việc phát triển đội ngũ công chứng viên gặp rất nhiều khó khăn do thiếu biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất từ đó dẫn đến việc phát triển các tổ chức hành nghề công chứng không theo kịp sự phát triển về nhu cầu công chứng của tổ chức, cá nhân
- Việc quy định Văn phòng Công chứng do công chứng viên không phải là công chức nhà nước thành lập phù hợp với mô hình công chứng Latinh, phù hợp với
xu thế phát triển của công chứng nhiều nước trên thế giới; công chứng viên không
Trang 7phải là công chức nhà nước nhưng do nhà nước bổ nhiệm, miễn nhiệm Văn phòng Công chứng không phải là cơ quan hành chính nhà nước Một số nước theo mô hình công chứng nhà nước thuần tuý trước đây cũng dần dần chuyển đổi và tồn tại cả hai
mô hình công chứng nhà nước và công chứng hành nghề tự do như Trung Quốc, Nga,
Ba Lan…
Xuất phát từ những lý do trên, Văn phòng công chứng chính thức được ra đời dưới cơ sở pháp lý là Luật Công chứng 2006 và hiện nay là Luật Công chứng 2014
3 Quy định của pháp luật về Văn phòng Công chứng
Văn phòng Công chứng là một hình thức tổ chức hành nghề công chứng được quy định tại điều 23 Luật Công chứng 2006:
“Điều 23 Hình thức tổ chức hành nghề công chứng:
1 Phòng công chứng
2 Văn phòng công chứng.”
Về khái niệm Văn phòng công chứng được đưa ra lần đầu tiên trong Luật Công
chứng năm 2006, cụ thể tại Khoản 1 Điều 26 Luật Công chứng 2006:
“Văn phòng công chứng do công chứng viên thành lập Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân Văn phòng công chứng do hai công chứng viên trở lên thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh.”
Đến Luật Công chứng 2014 quy định rất cụ thể về hình thức tổ chức, người đại
diện theo pháp luật, tên gọi và hoạt động của Văn phòng công chứng theo Khoản 1 Điều 22 Luật Công chứng 2014 là:
1 “Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này
và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh
Văn phòng công chứng phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên Văn phòng công chứng không có thành viên góp vốn.”
Trang 82 Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trường Văn phòng Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên
3 Tên gọi của Văn phòng công chứng phải bao gồm cụm từ “Văn phòng công chứng” kèm theo họ tên của Trưởng Văn phòng hoặc họ tên của một công chứng viên hợp danh khác của Văn phòng công chứng do các công chứng viên hợp danh thỏa thuận, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề công chứng khác, không được vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuận phong mỹ tục của dân tộc
4 Văn phòng công chứng phải có trụ sở đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định
Văn phòng công chứng có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc
tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác
5 Văn phòng công chứng sử dụng con dấu không có hình quốc huy Văn phòng công chứng được khắc và sử dụng con dấu sau khi có quyết định cho phép thành lập Thủ tục, hồ sơ xin khắc dấu, việc quản lý, sử dụng con dấu của Văn phòng công chứng được thực hiện theo quy định của pháp luật về con dấu
Qua đây có thể thấy sự chuyển biến trong khái niệm về Văn phòng công chứng trong hai giai đoạn này Luật Công chứng 2006 quy định cho phép có 2 loại hình hoạt động của Văn phòng công chứng là loại hình doanh nghiệp tư nhân do một công chứng viên thành lập và loại hình doanh nghiệp công ty hợp danh do hai công chứng viên trở lên thành lập Điều này dẫn đến việc đối với Văn phòng công chứng hoạt động dưới hình thức công ty tư nhân thì hoạt động của Văn phòng phụ thuộc nhiều vào công chứng viên thành lập dẫn đến việc khó khăn trong chuyển đổi mô hình nếu công chứng viên muốn rút tên khỏi Văn phòng mà chưa có người kế nhiệm
Trang 9Chính vì lẽ đó, Luật Công chứng 2014 đã định nghĩa lại khái niệm Văn phòng công chứng chỉ còn hình thức duy nhất là công ty hợp danh có từ hai công chứng viên trở lên và không có thành viên góp vốn.
II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN NHƯỢNG VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG, TRÌNH TỰ THỦ TỤC CHUYỂN NHƯỢNG VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG VÀ THỰC TIỄN
1 Quy định của pháp luật về chuyển nhượng Văn phòng Công chứng
Luật Công chứng 2014 ra đời, cho phép Văn phòng Công chứng được chuyển nhượng, quy định tại Điều 29 Luật Công chứng 2014:
Điều 29 Chuyển nhượng Văn phòng công chứng
1 Văn phòng công chứng được chuyển nhượng cho các công chứng viên khác đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này Văn phòng công chứng chỉ được chuyển nhượng khi đã hoạt động công chứng được ít nhất là 02 năm
Công chứng viên đã chuyển nhượng Văn phòng công chứng không được phép tham gia thành lập Văn phòng công chứng mới trong thời hạn 05 năm kể từ ngày chuyển nhượng
2 Công chứng viên nhận chuyển nhượng Văn phòng công chứng phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên đối với người dự kiến sẽ tiếp quản vị trí Trưởng Văn phòng công chứng;
b) Cam kết hành nghề tại Văn phòng công chứng mà mình nhận chuyển nhượng;
c) Cam kết kế thừa quyền và nghĩa vụ của Văn phòng công chứng được chuyển nhượng
Trang 103 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép chuyển nhượng Văn phòng công chứng
4 Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục chuyển nhượng Văn phòng công chứng
2. Trình tự, thủ tục về chuyển nhượng Văn phòng Công Chứng
Trình tự, thủ tục chuyển nhượng Văn phòng Công chứng được hướng dẫn tại Nghị định 29/2015/NĐ-CP về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật công chứng:
“Điều 15 Chuyển nhượng Văn phòng công chứng
1 Văn phòng công chứng có nhu cầu chuyển nhượng theo quy định tại Điều
29 của Luật Công chứng nộp 01 (một) bộ hồ sơ chuyển nhượng tại Sở Tư pháp nơi đăng ký hoạt động Hồ sơ bao gồm:
a) Hợp đồng chuyển nhượng Văn phòng công chứng, trong đó có nội dung chủ yếu sau: Tên, địa chỉ trụ sở, danh sách công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng được chuyển nhượng; tên, số Quyết định bổ nhiệm công chứng viên của các công chứng viên nhận chuyển nhượng; giá chuyển nhượng, việc thanh toán tiền và bàn giao Văn phòng công chứng được chuyển nhượng; quyền, nghĩa
vụ của các bên và các nội dung khác có liên quan
Hợp đồng chuyển nhượng Văn phòng công chứng phải có chữ ký của công chứng viên hợp danh đại diện cho các công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng được chuyển nhượng, các công chứng viên nhận chuyển nhượng và phải được công chứng;
b) Văn bản cam kết của các công chứng viên nhận chuyển nhượng về việc kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ, tiếp nhận toàn bộ yêu cầu công chứng đang thực hiện
và hồ sơ đang được lưu trữ tại Văn phòng công chứng được chuyển nhượng;
Trang 11c) Biên bản kiểm kê hồ sơ công chứng của Văn phòng công chứng được chuyển nhượng;
d) Bản sao Quyết định bổ nhiệm công chứng viên của các công chứng viên nhận chuyển nhượng; giấy tờ chứng minh đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên đối với công chứng viên nhận chuyển nhượng dự kiến là Trưởng Văn phòng công chứng;
đ) Quyết định cho phép thành lập và giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng được chuyển nhượng;
e) Kê khai thuế, báo cáo tài chính trong 03 (ba) năm gần nhất đã được kiểm toán của Văn phòng công chứng được chuyển nhượng
2 Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại Khoản 1 Điều này, Sở Tư pháp lấy ý kiến của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên (ở những nơi đã thành lập), trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép chuyển nhượng Văn phòng công chứng
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép chuyển nhượng Văn phòng công chứng; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do
3 Các công chứng viên nhận chuyển nhượng đề nghị thay đổi nội dung đăng
ký hoạt động của Văn phòng công chứng được chuyển nhượng theo quy định tại Điều 24 của Luật Công chứng
Hồ sơ đề nghị thay đổi nội dung đăng ký hoạt động bao gồm: Đơn đề nghị, Quyết định cho phép chuyển nhượng Văn phòng công chứng, giấy tờ chứng minh
về trụ sở của Văn phòng công chứng được chuyển nhượng và giấy đăng ký hành nghề của các công chứng viên