Mục đích của bài báo cáo này là làm rõ về thẩm quyền công chứng được quy định trong Luật Công chứng. Nhiệm vụ của học viên là phân tích, trình bày quy định pháp luật về thẩm quyền công chứng theo quy định của Luật công chứng, trình bày thực tiễn thực hiện và từ đó kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Trang 1MỤC LỤC
I.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
II Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu
III Cơ cấu của bài báo cáo
I Quy định chung của pháp luật về công chứng
II Thực tiễn thực hiện và giải pháp hoàn thiện pháp luật
C Kết luận
D Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 2A MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Công chứng là một hoạt động quan trọng có vai trò rất lớn đối với đời sống xã hội
và phát triển kinh tế Để phòng ngừa các tranh chấp, bảo đảm an toàn pháp lý cho các quan hệ giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại mà cần đến chứng cứ công chứng – loại chứng cứ xác thực, chứng cứ đáng tin cậy hơn hẳn các loại giấy tờ không có công chứng hoặc chỉ trình bày bằng miệng Thông qua hoạt động công chứng và các quy định xung quanh nó, pháp luật trở nên gần với hiện thực hơn, mang lại hiệu quả rõ rệt, nâng cao sự
an toàn pháp lý cho các giao dịch, hợp đồng Góp phần phòng ngừa các vi phạm pháp luật trong các quan hệ giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại… Trong thực tế cuộc sống,
do tính cả nể, cả tin, chỉ bằng lòng với lời nói suông hoặc với những giấy tờ được in ấn rất đẹp, bằng tiếng nước ngoài nhưng là giấy tờ nguy tạo, không được công chứng, nên
có khá nhiều người trở thành nạn nhân của sự lừa đảo và phải trả giá rất đắt Mặt trái của
cơ chế thị trường đã diễn ra hàng ngày, hàng giờ và cung cấp nhiều bài học phản diện về vấn đề này cho công tác quản lý xã hội của Nhà nước Khi các giao dịch, hợp đồng được thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng có tính chuyên môn, chuyên nghiệp không chỉ là một thủ tục hành chính mà còn đảm bảo tính chính xác, đúng luật, hồ sơ văn bản công chứng được lưu giữ đầy đủ, lâu dài và có tính pháp lý, góp phần phòng ngừa rủi
ro, tranh chấp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia hợp đồng, giao dịch, giúp ổn định cho sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Bên cạnh đó thông qua hoạt động giao tiếp với người yêu cầu công chứng, các tổ chức hành nghề công chứng đã tích cực tuyên truyền, tư vấn cho cá nhân, tổ chức những quy định của pháp luật, nâng cao nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật cho người dân Để tìm hiểu kỹ hơn về thẩm quyền
công chứng hợp đồng, giao dịch cũng như về thực tiễn thực hiện, qua đó tìm hiểu các bất cập và tìm giải pháp hoàn thiện pháp luật, học viên đã chọn đề tài: “Thẩm quyền công chứng hợp đồng giao dịch theo quy định của Luật công chứng – Thực tiễn thực hiện
và giải pháp hoàn thiện pháp luật” làm bài báo cáo kết thúc học phần.
II Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu
1 Mục đích, nhiệm vụ:
Mục đích của bài báo cáo này là làm rõ về thẩm quyền công chứng được quy định trong Luật Công chứng Nhiệm vụ của học viên là phân tích, trình bày quy định pháp luật
về thẩm quyền công chứng theo quy định của Luật công chứng, trình bày thực tiễn thực hiện và từ đó kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
2 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 3Đối tượng nghiên cứu của bài báo cáo này là các quy định pháp luật về thẩm quyền công chứng theo quy định của Luật công chứng, đề xuất một vài định hướng nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật quyền của người yêu cầu công chứng
III Kết cấu bài báo cáo:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bài báo cáo gồm 3 chương:
Chương I Quy định về công chứng và thẩm quyền công chứng hợp đồng giao dịch theo quy định của Luật Công chứng
Chương II Thực tiễn thực hiện và giải pháp hoàn thiện pháp luật
Trang 4B NỘI DUNG CHƯƠNG I: QUY ĐỊNH VỀ CÔNG CHỨNG VÀ THẨM QUYỀN CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG GIAO DỊCH THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CÔNG CHỨNG
1 Công chứng
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 thì công chứng được
định nghĩa như sau: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.”
Căn cứ theo Khoản 2 Điều 2 và Điều 8, Điều 9 Luật Công chứng năm 2014 thì công chứng viên là người có đủ tiêu chuẩn, là người có đủ đạo đức và trình độ, được đào tạo
và được nhà nước giao quyền “làm chứng”, xác thực các hợp đồng, giao dịch dân sự Các loại giao dịch này có thể bắt buộc phải công chứng hoặc do người yêu cầu công chứng yêu cầu công chứng viên chứng nhận Văn bản công chứng chính là thành quả của hoạt động do công chứng viên thực hiện theo quy định của pháp luật
2 Văn bản công chứng
Theo khoản 4 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014: “Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật này.” Văn bản này được thực hiện theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ về nội dung và hình
thức theo quy định của pháp luật, bảo đảm về tính xác thực, tính hợp pháp của văn bản Văn bản công chứng được công chứng viên xem xét theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ cả
về nội dung và hình thức theo quy định của pháp luật trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên Chính vì vậy, các nội dung và sự thoả thuận của bác bên tham gia hợp đồng, giao dịch trong văn bản công chứng phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội, ý chí của hai bên giao kết và thể hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các bên khi hợp đồng có hiệu lực Tùy thuộc loại hợp đồng, giao dịch mà nội dung các thỏa thuận, cam kết có thể khác nhau nhưng nhìn chung phải bao gồm một số nội dung chủ yếu đã được pháp luật dân sự quy định như thong tin về các bên giao kết hợp đồng, giao dịch; đối tượng của hợp đồng giao dịch là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm; số lượng chất lượng; giá, phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phạt vi phạm hợp đồng và một số nội dung khác
Trang 5Lời chứng của công chứng viên là một bộ phận cấu thành của văn bản công chứng, thể hiện trách nhiệm của công chứng viên đối với việc công chứng Lời chứng được quy
định tại Điều 46 Luật công chứng 2014: “Lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng, giao dịch phải ghi rõ thời điểm, địa điểm công chứng, họ, tên công chứng viên, tên
tổ chức hành nghề công chứng; chứng nhận người tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân sự, mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ trong hợp đồng, giao dịch đúng là chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người tham gia hợp đồng, giao dịch; trách nhiệm của công chứng viên đối với lời chứng; có chữ ký của công chứng viên
và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng”.
3 Thẩm quyền công chứng hợp đồng, giao dịch theo quy định của luật công chứng.
3.1 Thẩm quyền công chứng của công chứng viên
Tại khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản
từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi
là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.”
Tại Điều 3 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Công chứng viên cung cấp dịch
vụ công do Nhà nước ủy nhiệm thực hiện nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.”
Nhắc đến khái niệm thẩm quyền thì thẩm quyền là tổng thể các quyền và nghĩa vụ được trao cho các chủ thể nhất định để áp dụng giải quyết các vấn đề cụ thể nào đó trong phạm vi quản lý của của chủ thể đó Qua khái niệm này và các quy định trong Luật Công chứng, có thể thấy rõ, thẩm quyền công chứng là thẩm quyển của công chứng viên và các
tổ chức hành nghề công chứng nơi công chứng viên hành nghề
Thẩm quyền công chứng của công chứng viên là thẩm quyền được nhà nước giao nhằm tạo lập, lưu giữ và cung cấp khi cần thiết các chứng cứ dưới hình thức văn bản cho các bên liên quan Công chứng viên là người duy nhất được Nhà nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ này để thay mặt Nhà nước tham gia các giao dịch mà Nhà nước bắt buộc hoặc người yêu cầu công chứng tự nguyện yêu cầu xác nhận tính xác thực tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch mà họ tham gia
Trang 6Trong giao kết hợp đồng, các bên tham gia cam kết đều phải thỏa thuận được với nhau về nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền và quyền lợi của mỗi bên Để bảo đảm cho hợp đồng được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, đầy đủ, đúng đắn cả về phạm vi, nội dung cam kết lẫn thời gian thực hiện, thì phải làm cho các điều cam kết đó có giá trị pháp lý bắt buộc phải tuân thủ Để bảo đảm cho hợp đồng, các cam kết của các bên có giá trị pháp lý vững chắc thì hợp đồng và các cam kết cụ thể phải thỏa mãn được hai điều kiện sau:
Một là, hợp đồng và các cam kết trước hết phải phù hợp với pháp luật Điều kiện này được đáp ứng qua sự thẩm định, xem xét hay soạn thảo theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng, tất nhiên là đã có sự chọn lọc của công chứng viên Công chứng viên phải chỉ rõ cho người yêu cầu công chứng biết những điều khoản, những cam kết nào của hợp đồng không phù hợp vối các nguyên tắc của đạo luật, bộ luật áp dụng, vối chế định luật, điều luật áp dụng, với trình tự, thủ tục do luật quy định và hướng dẫn họ làm lại cho đúng Bên cạnh việc tuân thủ các nguyên tắc chung của Bộ luật dân sự, khi ký kết các hợp đồng dân sự cụ thể loại nào thì phải tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật về loại hợp đồng đó Ký kết mua bán bất động sản thì phải tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật về mua bán bất động sản; Ký kết hợp đồng dịch vụ, vận chuyển, gia công thì phải tuân thủ đúng các quy định của luật pháp về dịch vụ, vận chuyển; Khi công chứng di chúc thì phải tôn trọng các quy định của Bộ luật dân sự về di chúc, Nếu không tuân thủ đúng, thì hợp đồng đã được công chứng trở thành vô hiệu toàn bộ hay một phần Hợp đồng chỉ có giá trị một phần hoặc mất giá trị hoàn toàn Thông thường, người yêu cầu công chứng không biết hết các quy định của luật pháp liên quan đến hợp đồng, văn bản Chính qua sự xem xét, hưóng dẫn khắc phục của công chứng viên, hợp đồng, văn bản sẽ phù hợp với pháp luật và có giá trị pháp lý
Hai là, pháp luật hiện hành nước ta quy định các hợp đồng giấy tờ được công chứng
có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp được thực hiện không đúng thẩm quyển hoặc bị Tòa
án tuyên bố là vô hiệu Do vậy, hợp đồng phải được công chứng đối với các loại hợp đồng mà luật pháp quy định phải có công chứng mới có giá trị pháp lý Còn với những giao dịch dân sự tuy pháp luật không đòi hỏi công chứng nhưng nếu có công chứng thì càng được bảo đảm về giá trị pháp lý Sự bảo đảm giá trị pháp lý của hợp đồng, văn bản được công chứng còn được thể hiện ở chỗ là các văn bản này được lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên phải chịu trách nhiệm về hồ sơ công chứng
mà mình có thẩm quyển giải quyết Theo các khoản 1, khoản 2 và khoản 3 của Điều 64
quy định về chế độ lưu trữ hồ sơ công chứng như sau:“1 Tổ chức hành nghề công chứng phải bảo quản chặt chẽ, thực hiện biện pháp an toàn đối với hồ sơ công chứng.
Trang 72 Bản chính văn bản công chứng và các giấy tờ khác trong hồ sơ công chứng phải được lưu trữ ít nhất là 20 năm tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng; trường hợp lưu trữ ngoài trụ sở thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của Sở Tư pháp.
3 Trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền có yêu cầu bằng văn bản về việc cung cấp hồ sơ công chứng phục vụ cho việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án liên quan đến việc đã công chứng thì tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm cung cấp bản sao văn bản công chứng và các giấy tờ khác có liên quan Việc đối chiếu bản sao văn bản công chứng với bản chính chỉ được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng nơi đang lưu trữ hồ sơ công chứng.”
Ba là, Công chứng viên là người thông thạo nghiệp vụ chuyên môn Do vậy, nếu có
sự tẩy xoá, sửa đổi, giả tạo văn bản yêu cầu công chứng thì công chứng viên với kinh nghiệm đã tích luỹ được, với năng lực chuyên môn đã được đào tạo sẽ dễ dàng phát hiện hơn là người không chuyên sâu Gặp trường hợp nghi vấn, công chứng viên có quyền yêu cầu giám định hoặc yêu cầu cơ quan, nơi đã cung cấp văn bằng, văn bản tiến hành kiểm tra, đối chiếu để khẳng định tính xác thực của văn bản Đối với các hợp đồng, công chứng viên cũng có quyền gợi ý, hướng dẫn sửa đổi những chỗ mập mờ khó hiểu, những chỗ thỏa thuận không chặt chẽ dễ sinh ra tranh chấp trong quá trình thực hiện sau này Đối với những cam kết trái pháp luật thì công chứng viên có quyền yêu cầu các bên loại
bỏ Đối với các cam kết mà lời văn không trong sáng, mập mờ, khó hiểu hoặc có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau thì công chứng viên chỉ gợi ý để các bên tự sửa đổi cho phù hợp Trách nhiệm trước Nhà nước, trước các bên yêu cầu công chứng của công chứng viên đối với văn bản, hợp đồng công chứng rất nặng nề Công chứng viên vừa là người kiểm tra, soát xét vừa là ngưòi hướng dẫn tận tình để phòng ngừa một cách tối đa các hiện tượng gian lận, lừa đảo và tranh chấp xảy ra sau này Do vậy, công chứng viên còn được gọi là “thẩm phán phòng ngừa”
Bốn là, hợp đồng, giao dịch do công chứng viên chứng nhận là cơ sở pháp lý để giải quyết đúng đắn các tranh chấp Khi giải quyết các tranh chấp, Tòa án, cơ quan trọng tài phải căn cứ vào pháp luật Nhưng chưa đủ bởi vì pháp luật chỉ định ra những quy tắc mang tính tổng hợp, tính chung Vì vậy, đối với từng trường hợp cụ thể, cơ quan xét xử còn phải căn cứ vào sự thỏa thuận, sự cam kết của các bên đã được ghi trong hợp đồng đã được công chứng để phân định đúng, sai của các bên tranh chấp
Đối với những hợp đồng mà pháp luật quy định bắt buộc phải công chứng, phải có
sự chứng thực của uỷ ban nhân dân mà các bên không tiến hành công chứng, không có sự chứng thực của uỷ ban nhân dân thì hợp đồng đó trở thành vô hiệu Cơ quan xét xử không thể sử dụng nó với tính chất là căn cứ pháp lý để xét xử Những hợp đồng, văn bản
đã được công chứng có giá trị chứng cứ Đây là nguyên tắc đã được pháp luật quy định Khi đã có văn bản, hợp đồng đã được công chứng, cơ quan xét xử sẽ dễ dàng hơn gấp
Trang 8nhiều lần trong việc xác định ai là người vi phạm trách nhiệm, nghĩa vụ đã được cam kết,
sự đòi hỏi về quyền, quyền lợi của bên nào là hợp pháp, của bên nào là không hợp pháp
Cơ quan xét xử cũng dễ dàng hơn trong việc xác định sự vi phạm cam kết của bên nào là
cố ý, là thiếu thiện chí, hay là sự vi phạm do vấp phải trường hợp bất khả kháng Thực tiễn cho thấy, việc xét xử sẽ gặp khó khăn hơn nhiều khi phải giải quyết tranh chấp đối với các giao dịch bằng các giấy tờ trao tay như giấy vay nợ viết tay, các hợp đồng không
có công chứng vì luật pháp không bắt buộc phải công chứng mối có giá trị pháp lý Để có căn cứ pháp lý giải quyết các tranh chấp có thể nảy sinh, nhu cầu công chứng về văn bản,
về hợp đồng trong nhân dân ngày càng nhiều Đó là xu thế lành mạnh cần được khuyên khích Ngày nay, nhiều nhà kinh doanh, đầu tư thường đến cơ quan công chứng để yêu cầu công chứng các văn bản giấy tờ mà luật pháp không yêu cầu công chứng Họ cho đó
là cách bảo đảm thực hiện hợp đồng được chắc chắn hơn là có hợp đồng, thỏa thuận mà không được công chứng
Như vậy, có thể thấy, công chứng viên được Nhà nước giao thẩm quyền để công chứng hợp đồng, giao dịch Quyền luôn đi đôi với nghĩa vụ, và pháp luật công chứng cũng quy định về các hành vi bị cấm của công chứng viên được quy định tại Khoản 1
Điều 7 Luật Công chứng năm 2014: “1 Nghiêm cấm công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng thực hiện các hành vi sau đây:
a) Tiết lộ thông tin về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; sử dụng thông tin về nội dung công chứng để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức;
b) Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch, nội dung bản dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; xúi giục, tạo điều kiện cho người tham gia hợp đồng, giao dịch thực hiện giao dịch giả tạo hoặc hành vi gian dối khác;
c) Công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch có liên quan đến tài sản, lợi ích của bản thân mình hoặc của những người thân thích là vợ hoặc chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; ông, bà; anh chị em ruột, anh chị em ruột của vợ hoặc chồng; cháu là con của con đẻ, con nuôi;
d) Từ chối yêu cầu công chứng mà không có lý do chính đáng; sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng;
đ) Nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người yêu cầu công chứng ngoài phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác đã được xác định, thỏa thuận; nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người thứ ba để thực hiện hoặc không thực hiện việc công chứng gây thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức có liên quan;
Trang 9e) Ép buộc người khác sử dụng dịch vụ của mình; cấu kết, thông đồng với người yêu cầu công chứng và những người có liên quan làm sai lệch nội dung của văn bản công chứng, hồ sơ công chứng;
g) Gây áp lực, đe dọa hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội để giành lợi thế cho mình hoặc cho tổ chức mình trong việc hành nghề công chứng; h) Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng về công chứng viên và tổ chức mình;
i) Tổ chức hành nghề công chứng mở chi nhánh, văn phòng đại diện, cơ sở, địa điểm giao dịch khác ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngoài phạm vi hoạt động đã đăng ký;
k) Công chứng viên đồng thời hành nghề tại hai tổ chức hành nghề công chứng trở lên hoặc kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác;
l) Công chứng viên tham gia quản lý doanh nghiệp ngoài tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện hoạt động môi giới, đại lý; tham gia chia lợi nhuận trong hợp đồng, giao dịch mà mình nhận công chứng;
m) Vi phạm pháp luật, vi phạm quy tắc đạo đức hành nghề công chứng.”
3.2 Thẩm quyền công chứng của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài
Căn cứ theo Điều 78 Luật Công chứng năm 2014 quy định về thẩm quyền công chứng của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thì:
“1 Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài được công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản, văn bản ủy quyền và các hợp đồng, giao dịch khác theo quy định của Luật này và pháp luật về lãnh sự, ngoại giao, trừ hợp đồng mua bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn bằng bất động sản tại Việt Nam.
2 Viên chức lãnh sự, viên chức ngoại giao được giao thực hiện công chứng phải có bằng cử nhân luật hoặc được bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng.
3 Viên chức lãnh sự, viên chức ngoại giao thực hiện công chứng theo thủ tục quy định tại Chương V của Luật này, có quyền quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 và nghĩa vụ quy định tại các điểm a, c, d và đ khoản 2 Điều 17 của Luật này.”
Như vậy, cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài được được công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản, văn bản ủy quyền và các hợp đồng, giao dịch khác theo quy định của Luật này và pháp luật về lãnh sự, ngoại giao, trừ hợp đồng mua bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn bằng bất động sản tại Việt Nam Pháp luật về công chứng đã tạo điều kiện cho người dân Việt Nam ở nước ngoài được quyền thực hiện việc công chứng thông qua cơ quan đại diện Trong thực tế đời sống có rất nhiều trường hợp người Việt Nam định cư ở nước
Trang 10ngoài cần công chứng Việc pháp luật quy định về công chứng cho người Việt Nam tại nước ngoài thể hiện tính dân chủ theo đúng tinh thần của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
3.3 Thẩm quyền công chứng theo địa hạt
Điều 42 Luật Công chứng năm 2014 quy định phạm vi công chứng hợp đồng, giao
dịch về bất động sản: “Công chứng viên của tổ chức hành, nghề công chứng chỉ được công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất động sản và văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản”
Theo quy định này, tất cả các giao dịch về bất động sản đều đặt ra vấn đề thẩm quyền địa hạt, “về bất động sản” không được hiểu là giao dịch có đối tượng là bất động sản, mà là “tất cả những giao dịch liên quan đến bất động sản” và chỉ loại trừ những giao dịch là di chúc, hợp đồng uỷ quyền về bất động sản văn bản từ chối nhận di sản
Về đối tượng của hợp đồng uỷ quyền là công việc nên cho dù nó có liên quan đến bất động sản hay không cũng nằm ngoài quy định về thẩm quyền địa hạt Công việc ở đây xuất phát từ việc người uỷ quyền không có điều kiện tự mình thực hiện nên lập văn bản uỷ quyền để người được uỷ quyền đại diện thay mình thực hiện Ví dụ như thay mặt quản lý, sử dụng, chuyển nhượng, bán hay tặng cho một căn nhà hay một quyền sử dụng đất
Về đối tượng của hợp đồng đặt cọc là số tiền Tuy nhiên, số tiền hai bên đặt cọc nếu
có liên quan đến việc mua bán, chuyển nhượng bất động sản thì cũng là “về bất động sản” Có quan điểm cho rằng đối tượng của hợp đồng đặt cọc là số tiền nên không cần phải tuân theo quy định về địa hạt trong pháp luật về công chứng Nhưng hợp đồng đặt cọc tuy không có đối tượng là bất động sản nhưng nó luôn gắn bó “hữu cơ” với hợp đồng mua bán, chuyển nhượng Việc bên bán và bên mua ký kết hợp đồng đặt cọc là để bảo vệ quyền lợi của hai bên, là một bước để tiến tới mục đích chính là giao dịch về bất động sản Khi công chứng hợp đồng đặt cọc tại tổ chức hành nghề công chứng nơi có bất động sản thì công chứng viên sẽ có cơ sở dữ liệu và các thông tin ngăn chặn về bất động sản Khi đó, việc công chứng của công chứng viên được đảm bảo an toàn, tăng tính pháp lý cho văn bản công chứng
3.4 Thẩm quyền công chứng một số hợp đồng, giao dịch
a Công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản
Căn cứ theo Điều 54 Luật Công chứng năm 2014 thì: “1 Việc công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản phải được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng có trụ
sở tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có bất động sản 2 Trường hợp một bất động sản đã được thế chấp để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ và hợp đồng thế chấp đã