CÂU HỎI Câu 1: Anh chị hãy trình bày động cơ học tập và nhu cầu, động cơ học tập của người lớn. Người giảng viên phải làm gì để thu hút học viên là người lớn, hãy vận dụng vào thực tiễn nơi anh chị công tác. Câu 2: Anh chị hãy trình bày những vấn đề trong giao tiếp sư phạm đại học. Liên hệ với thực tế bản thân, anh chị đã tiến hành giao tiếp với người học như thế nào và làm thế nào để quá trình giao tiếp đó được diễn ra thuận lợi?
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-♦ -♦ -♦ -
CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM ĐẠI HỌC
BÀI THU HOẠCH CHUYÊN ĐỀ: TÂM LÝ DẠY HỌC ĐẠI HỌC
Học viên: Nguyễn Thị Lan Phương
Ngày sinh: 26/01/1988 Nơi sinh: Hà Nội
Đơn vị công tác: Trường Cao đẳng Công thương Hà Nội
Năm 2021
Trang 2PHẦN NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
ĐIỂM
Bằng số Bằng chữ
Hà Nội, ngày … tháng … Năm 2021
Giảng viên
Trang 3
CÂU HỎI
Câu 1: Anh chị hãy trình bày động cơ học tập và nhu cầu, động cơ học tập của
người lớn Người giảng viên phải làm gì để thu hút học viên là người lớn, hãy vận dụng vào thực tiễn nơi anh chị công tác
Câu 2: Anh chị hãy trình bày những vấn đề trong giao tiếp sư phạm đại học
Liên hệ với thực tế bản thân, anh chị đã tiến hành giao tiếp với người học như thế nào và làm thế nào để quá trình giao tiếp đó được diễn ra thuận lợi?
Trang 4MỤC LỤC
I – ĐỘNG CƠ HỌC TẬP 5
1.1 Khái niệm về động cơ học tập 5
1.2 Sự hình thành động cơ học tập 7
2.3 Động cơ học tập của người lớn 8
2.4 Vận dụng để thu hút đối tượng học viên người lớn trong dạy học 9
II- GIAO TIẾP SƯ PHẠM ĐẠI HỌC 10
2.1 Các đặc trưng cơ bản của giao tiếp sư phạm đại học 10
2.2 Các kỹ năng giao tiếp sư phạm đại học 11
2.3 Ứng dụng giao tiếp sư phạm đại học trong thực tế 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 5I – ĐỘNG CƠ HỌC TẬP
1.1 Khái niệm về động cơ học tập
Động cơ
Với ý nghĩa chung nhất, động cơ là một cấu trúc khi được kích hoạt một cách hợp lý nó sẽ vận hành và tạo ra kết quả từ sự vận hành đó
Đây là cách tiếp cận theo quan điểm cấu trúc-hệ thống, từ cách tiếp cận này chúng ta có thể phân biệt hai loại động cơ cơ bản : Động cơ cơ học và động cơ sinh học Hai loại động cơ này tuy có nguyên tắc hoạt động tương đối giống nhau nhưng có hai cơ chế hoạt động và hai hệ thống cấu trúc khác nhau:
- Động cơ cơ học theo cơ chế kích hoạt-vận hành ( các loại động cơ chạy bằng năng lượng khác nhau thì có cách kích hoạt khác nhau) Cấu trúc động cơ thuộc dạng vật thể, có định hình (bánh răng, thanh chuyền…)
- Động cơ sinh học theo cơ chế kích thích-phản ứng (khác với cơ chế phản xạ đơn thuần và chỉ có ở động vật có hệ thần kinh cấp cao, bộ óc phát triển) Cấu trúc động cơ thuộc dạng phi vật thể, không định hình, chỉ định tính (bao gồm các thuộc tính tâm lý riêng - cá nhân cấu thành)
Đối với con người là sinh vật bậc cao, có ý thức, động cơ hoạt động của người là một dạng thức đặc thù có cơ chế phức tạp như sơ đồ sau:
Qua sơ đồ trên, ta thấy hai cơ chế hoạt động có một số nét giống nhau Điểm khác nhau cơ bản là ở cơ chế của động cơ cơ học, vai trò trung gian của động lực được thể hiện rất rõ nét Trong cơ chế động cơ hoạt động của người, động cơ tác động trực tiếp lên hành vi không qua trung gian Như vậy, động cơ bao hàm cả động lực hay nói cách khác động lực tiềm ẩn trong hoạt động của động cơ
Động cơ hoạt động của người
Trang 6Hoạt động của người rất đa dạng, như hoạt động sản xuất, hoạt động chính trị, hoạt động học tập…nhưng mỗi hoạt động đều có một đối tượng hoạt động riêng nhất định, đó là cái cần chiếm lĩnh thông qua hoạt động Thí dụ lương thực, thực phẩm là đối tượng của hoạt động sản xuất nông nghiệp, thơ là đối tượng hoạt động sáng tác của thi sĩ, tri thức là đối tượng hoạt động học tập của người học
Dù ở bất kỳ hoạt động nào, con người cũng cần có động lực thúc đẩy để hoạt động được liên tục và đạt kết quả mong muốn tức là phải có động cơ hoạt động Động cơ hoạt động chính là nguyên nhân làm cho các hoạt động của con người được duy trì và thúc đẩy thường xuyên, liên tục
Về khái niệm động cơ, theo từ điển tiếng Việt thì : "Động cơ là cái chi phối thúc đẩy
người ta suy nghĩ và hành động" [3]
Theo Jean Piaget (1896-1980)- một nhà tâm lý học người Thụy Sĩ " Động cơ là tất cả
những yếu tố thúc đẩy cá thể hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu và định hướng cho hoạt động đó"
Đây cũng chính là định nghĩa cho động cơ hoạt động của người Động cơ hoạt động là yếu
tố cơ bản quyết định kết quả của hoạt động
Động cơ học tập
Với các khái niệm dẫn dắt như trên, ta có thể suy ra "Động cơ học tập là những nhân tố kích thích, thúc đẩy tính tích cực, hứng thú học tập liên tục của người học nhằm đạt kết quả về nhận thức, phát triển nhân cách và hướng tới mục đích học tập đã đề ra"
Sơ đồ 2: Mối quan hệ giữa mục đích, mục tiêu và động cơ học tập
Trang 71.2 Sự hình thành động cơ học tập
Hoạt động được thúc đẩy bởi những động cơ xác định và diễn ra trong một tình huống xác định Động cơ không phải là cái gì trừu tượng ở bên trong cá thể Nó phải được thể hiện ở đối tượng của hoạt động Nói cách khác, đối tượng của hoạt động chính là nơi hiện thân của động cơ hoạt động ấy Động cơ học tập của sinh viên được hiện thân ở đối tượng của hoạt động học, tức là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, giá trị, chuẩn mực…mà giáo dục đã đưa lại cho họ Vấn đề đặt ra là có những động cơ học tập nào được hiện thân vào đối tượng của hoạt động học
Những công trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng có hai loại động cơ: những động cơ hoàn thiện tri thức và những động cơ quan hệ xã hội
- Thuộc về loại động cơ hoàn thiện tri thức, chúng ta thường thấy sinh viên có lòng khao
khát mở rộng tri thức, mong muốn có nhiều hiểu biết, say mê với chính quá trình giải quyết nhiệm vụ học tập…Như vậy, tất cả những biểu hiện này đều do sự hấp dẫn lôi cuốn của bản thân tri thức cũng như phương pháp giành lấy tri thức đó Mỗi lần giành được cái mới
ở đối tượng học thì các em cảm thấy nguyện vọng hoàn thiện tri thức của mình được thỏa mãn một phần Trường hợp này nguyện vọng hoàn thiện tri thức hiện thân ở đối tượng học
Do đó, người ta gọi động cơ học tập này là “động cơ hoàn thiện tri thức” Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ hoàn thiện tri thức thường không chứa đựng xung đột bên trong Nó cũng có thể xuất hiện những sự khắc phục khó khăn trong tiến trình học tập và đòi hỏi phải có những nỗ lực ý chí Nhưng đó là những nỗ lực hướng vào việc khắc phục những trở ngại bên ngoài để đạt nguyện vọng đã nảy sinh, chứ không phải hướng vào việc đấu tranh với chính bản thân mình Do đó, chủ thể của hoạt động học tập thường không có những căng thẳng tâm lý Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi loại động cơ này là tối ưu theo quan điểm sư phạm
- Thuộc về loại động cơ quan hệ xã hội, chúng ta cũng thấy sinh viên say sưa học tập
nhưng sự say sưa đó lại vì sức hấp đẫn, lôi cuốn của một “cái khác” ở ngoài mục đích trực tiếp của việc học tập Những cái đó lại chỉ có thể đạt được trong điều kiện mà các em chiếm lĩnh được tri thức khoa học Những “cái khác” đó có thể là sự thưởng và phạt, sự đe dọa và yêu cầu, thi đua và áp lực, khêu gợi lòng hiếu danh, mong đợi hành phúc và lợi ích tương lai, sự hài lòng của cha mẹ, sự khâm phục của bạn bè…đây là những mối quan hệ xã hội khác nhau của các em Những tri thức, kỹ năng, thái độ, hành vi…đối tượng đích thực của hoạt động học tập chỉ là phương tiện để đạt mục tiêu cơ bản khác Trong trường hợp này, những mối quan hệ xã hội của cá nhân được hiện thân ở đối tượng học tập Do đó, ta gọi loại động cơ học tập này là động cơ quan hệ xã hội Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ quan hệ xã hội ở một mức độ nào đấy mang tính chất cưỡng bách và có lúc xuất hiện như là một vật cản cần khắc phục trên con đường đi tới mục đích cơ bản Nét đặc trưng của hoạt động này là có những lực chống đối nhau (như kết quả học tập không đáp ứng mong ước về địa vị của cá nhân trong xã hội sau này), vì thế đôi khi gây ra những căng thẳng tâm lý, đòi hỏi những nỗ lực bên trong, đôi khi cả sự đấu tranh với chính bản
Trang 8thân mình Khi có sự xung đột gay gắt, sinh viên thường có những hiện tượng vi phạm nội quy (quay cóp, phá bĩnh), thờ ơ với học tập hoặc bỏ học
Thông thường cả hai loại động cơ học tập này cũng được hình thành ở sinh viên Chúng làm thành một hệ thống được sắp xếp theo thứ bậc Vấn đề là ở chỗ, trong những hoàn cảnh điều kiện xác định nào đó của dạy và học thì loại động cơ học tập nào được hình thành mạnh mẽ hơn, nổi lên hàng đầu và chiếm địa vị ưu thế trong sự sắp xếp theo thứ bậc của hệ thống các động cơ Làm thế nào để động cơ hóa hoạt động học tập? Động cơ học tập không có sẵn và cũng không thể áp đặt, mà phải được hình thành dần dần trong chính quá trình sinh viên ngày càng đi sâu chiếm lĩnh đối tượng học tập dưới sự tổ chức và điều khiển của giảng viên Nếu trong dạy học, giảng viên luôn luôn thành công trong việc tổ chức cho sinh viên tự phát hiện ra những điều mới lạ (cả bản thân tri thức lẫn cách thức giành tri thức đó), giải quyết thông minh các nhiệm vụ học tập, tạo ra được những ấn tượng tốt đẹp đối với việc học thì dần làm nảy sinh nhu cầu của các em đối với tri thức khoa học Học tập dần trở thành nhu cầu không thể thiếu được của các em Muốn có được điều này phải làm sao cho những nhu cầu được gắn liền với một trong những mặt của hoạt động học tập (mục đích, quá trình hay kết quả) hay với tất cả các mặt đó Khi đó, những mặt này của việc học sẽ biến thành các động cơ và bắt đầu thúc đẩy hoạt động học tập tương ứng Nó sẽ tạo nên sức mạnh tinh thần thường xuyên thúc đẩy các em vượt qua mọi khó khăn để giành lấy tri thức Cuối cùng, cần phải nhấn mạnh rằng, việc xây dựng động cơ hết sức muôn hình muôn vẻ Muốn phát động được động cơ học tập, trước hết cần khơi dậy mạnh mẽ ở các em nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học tập- vì nhu cầu, nơi khơi nguồn của tính tự giác, tính tích cực hoạt động
2.3 Động cơ học tập của người lớn
Động cơ học tập của người lớn có thể phức tạp hơn, đa dạng hơn các đối tượng khác Ngoại trừ các phương diện thực dụng, việc học bền vững và chủ động ở người lớn cũng vẫn đòi hỏi những tiền đề như là sự ham muốn học hỏi, cần sự trải nghiệm, và cần thời gian để xây dựng một hệ thống tri thức cho riêng mình
Tolkonova (1976) khi nghiên cứu động cơ học tập của 1.200 thanh niên đã xác định các loại động cơ học tập là do yêu cầu của sản xuất, nhu cầu nâng cao trình độ, nhu cầu giao tiếp xã hội, để thực hiện vai trò của cha mẹ trong gia đình Bà cũng chỉ ra sự cần thiết phải xây dựng lại và hình thành những động cơ học tập tích cực vì kết quả học tập chỉ có thể đạt được trong trường hợp học viên lớn tuổi tự giác đặt ra cho mình những mục đích nắm vững môn học
AV Davinski (1978) khi viết sách hướng dẫn dạy học trong trường buổi tối đã tìm hiểu những nguyên nhân khiến người lớn đi học là: do nhu cầu của sản xuất, cuộc sống, do thấy được giá trị của kiến thức Ông phát hiện rằng, ở những học viên trẻ tuổi động cơ học tập mang tính chất bên ngoài hơn như: học để có bằng cấp, đổi nghề, ở độ tuổi càng lớn thì động cơ học tập mang tính chất bên trong hơn khi học viên coi học tập như một phương
Trang 9tiện làm phong phú tinh thần và văn hóa cho cá nhân Ông cũng chỉ ra những yếu tố tác động đến động cơ học tập như : xác định được tương lai sau khi học, xác định được rõ ràng mục đích học tập, có kĩ năng học tập, thấy được việc học tập thu được kết quả tốt
Như vậy, có thể thấy, nghiên cứu về động cơ học tập của người lớn đều chỉ ra rằng: Người lớn là những người vừa lao động, vừa có cuộc sống gia đình, vừa đi học; Người lớn không chỉ học ở độ tuổi thanh niên, lúc đi làm để kiếm sống mà còn học có sau khi đã hết tuổi lao động, học tập suốt đời; Động cơ của người lớn chịu tác động bởi những yếu tố kinh tế - xã hội của học viên, môi trường học tập, môi trường văn hóa Để huy động và thúc đẩy động
cơ học tập các phương pháp, hình thức dạy học phù hợp với người lớn rất quan trọng
2.4 Vận dụng để thu hút đối tượng học viên người lớn trong dạy học
Xuất phát từ các đặc điểm về động cơ học tập của người lớn, dạy học cho người lớn sẽ có hiệu quả thu hút cao nếu thực hiện được ba nguyên tắc sau đây:
- Cần có sự tham gia tích cực của học viên: Sự tham gia tích cực của học viên sẽ làm tăng
khả năng ghi nhớ và áp dụng kiến thức của học viên Khác với trẻ em, người lớn học qua hiểu thì dễ nhớ hơn học thuộc lòng một cách thụ động, học qua làm thì càng nhớ lâu hơn
và có thể áp dụng được những điều đã học vào công việc thực tế
Kết quả nghiên cứu cho thấy người lớn nhớ được: 20% Những gì họ nghe ; 30% những gì
họ nhìn thấy; 50% những gì họ nghe và nhìn thấy; 70% những gì họ nghe, nhìn thấy và nói; 90% những gì họ nghe, nhìn thấy, được nói và làm
Kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng, nếu chỉ nghe đơn thuần, tức là nếu chỉ tác động vào một giác quan là thính giác thì họ chỉ nhớ được 20%, nhưng nếu kết hợp thêm với các giác quan khác thì sẽ nhớ được nhiều hơn, đặc biệt nếu kết hợp cả nghe, nhìn, nói và làm thì họ
có thể nhớ tới 90% những nội dung học Như vậy, dạy cho người lớn nếu dùng phương pháp dạy-học mà họ ở thể hoàn toàn thụ động như thuyết trình đơn thuần thì chắc chắn hiệu quả sẽ rất thấp
Để tăng hiệu quả dạy-học cần tác động phối hợp -cùng lúc vào nhiều giác quan, đặc biệt cần tạo nhiều cơ hội để họ được làm
- Tạo môi trường "hỗ trợ": Môi trường "hỗ trợ" trong lớp học là một môi trường an toàn
và thân thiện, bao gồm sự cảm thông, chia sẻ, khen ngợi, động viên, khích lệ giữa giảng viên với học viên và giữa học viên với nhau Môi trường hỗ trợ thể hiện từ việc sắp xếp chỗ ngồi trong lớp học sao cho có sự bình đẳng giữa các học viên, sao cho không có khoảng cách giữa giảng viên và học viên; cho đến cách giao tiếp ứng xử, cách giải quyết các vấn đề liên quan đến học tập cũng như những vấn đề riêng tư đều mang tính xây dựng, không cản trở sự học tập của học viên Môi trường an toàn và thân thiện này sẽ đem lại hiệu quả học tập cao hơn là sử dụng các biện pháp hành chính như phê phán, kỷ luật Tuy nhiên, một lớp học chỉ có hiệu quả khi mọi học viên đều cùng nhau thực hiện nhiệm vụ mà giảng viên giao Để đảm bảo được điều này nhưng lại không áp đặt học viên, giảng viên
Trang 10nên hướng dẫn học viên tự xây dựng nội quy học tập ngay đầu khoá học và họ sẽ giao ước với nhau để thực hiện nghiêm túc nội quy này
- Cần tận dụng các kinh nghiệm học tập độc lập và các kinh nghiệm sẵn có của học viên:
việc học tập của người lớn sẽ có hiệu quả hơn nếu khoá học được xây dựng dựa trên nền tảng kiến thức - kỹ năng - thái độ đã có của học viên và những nhu cầu của họ Do vậy để khoá học có hiệu quả, bước lượng giá nhu cầu đào tạo là rất cần thiết, và đặc biệt quan trọng đôi với những khoá đào tạo lại hoặc đào tạo liên tục ngắn ngày vì giảng viên sẽ không có thời gian để sửa chữa sai lầm, nếu có Giảng viên đánh giá đúng giá trị các kinh nghiệm sẵn có của học viên sẽ làm cho học viên cảm thấy thoải mái, phấn khởi vì được tôn trọng và có niềm tin khi học các kiến thức - thái độ - kỹ năng mới, đồng thời giúp họ liên kết được những điều họ học với những kinh nghiệm họ đã có, cũng như với thực tế công việc của họ Học viên là người lớn có khả năng tự chịu trách nhiệm về các quyết định và hành vi của bản thân Người lớn sẽ học có hiệu quả hơn nếu được giảng viên giúp họ tự lựa chọn nội dung và phương pháp học phù hợp, cũng như tạo cơ hội để tăng khả năng học tập độc lập của họ
Như vậy, phương châm chung của dạy-học cho người lớn là giảng viên không dạy những
gì mà học viên có thể làm được Ba nguyên tắc học của người lớn sẽ định hướng cho giảng viên chọn lựa các phương pháp dạy-học thích hợp cho người lớn Những phương pháp dạy-học có hiệu quả là những phương pháp lấy học viên làm trung tâm, khích lệ sự tham gia chủ động tích cực của học viên, tạo điều kiện để học viên chia sẻ kinh nghiệm với nhau, tạo điều kiện để học viên áp dụng những điều đã học như: động não, thảo luận nhóm, thực hành đóng vai, nghiên cứu tình huống, làm bài tập nhóm, thao diễn và thao diễn lại
II- GIAO TIẾP SƯ PHẠM ĐẠI HỌC
2.1 Các đặc trưng cơ bản của giao tiếp sư phạm đại học
Trường đại học có mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp giảng dạy, giáo dục khác hẳn với trường phổ thông Điều đặc biệt quan trọng ở đại học là hình thành nhân cách người chuyên gia qua sự tác động lẫn nhau giữa giảng viên và sinh viên Do đó, giao tiếp
sư phạm cũng khác về chất so với giao tiếp của giáo viên với học sinh phổ thông Giao tiếp
sư phạm đại học có các đặc trưng cơ bản sau đây:
Giảng viên với tư cách là chủ thể, thực hiện quá trình giao tiếp với sinh viên trên cương vị
là một nhà giáo dục, một nhà khoa học Với tư cách là một nhà giáo dục, người giảng viên phải mẫu mực trong nhân cách để sinh viên học tập và noi theo Với tư cách là nhà khoa học, người giảng viên phải có chuyên môn vững vàng để có thể giao tiếp với sinh viên qua nội dung bài giảng, qua sự cộng tác nghiên cứu khoa học, nhằm thu hút sinh viên về phía mình, tạo ra sự tin tưởng ở các em để tổ chức và điều khiển tốt quá trình nhận thức của sinh viên Trong giao tiếp sư phạm đại học, cả giảng viên và sinh viên nhanh hiểu nhau hơn, dễ đồng cảm với nhau hơn do có sự đồng nhất về nghề nghiệp,khiến cho giao tiếp giữa họ diễn ra thuận lợi hơn, nhanh chóng đạt mục đích