ĐỀ CƯƠNG ÔN THI CAO HỌC (LỊCH SỬ TRIẾT HỌC) VẤN ĐỀ 1 TÍNH QUY LUẬT CHUNG CỦA SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC; NHỮNG NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ TRIẾT HỌC 1 1.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN THI CAO HỌC (LỊCH SỬ TRIẾT HỌC)
VẤN ĐỀ 1.TÍNH QUY LUẬT CHUNG CỦA SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC; NHỮNG NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
1.1 TÍNH QUY LUẬT CHUNG CỦA SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
ĐVĐ: Với tính cách là một bộ phận của ý thức xã hội, lịch sử triết học là toàn bộ
quá trình phát sinh, phát triển của các tư tưởng triết học, các khuynh hướng, các hệthống triết học qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử xã hội trong sự phụ thuộc xétđến cùng vào tồn tại xã hội
Với tính cách là một khoa học, lịch sử triết học là khoa học nghiên cứu sự vậnđộng, phát triển có quy luật của các tư tưởng triết học và nghiên cứu lôgíc nội tại củacác khuynh hướng, các hệ thống triết học tiêu biểu trong lịch sử
1 Sự hình thành, phát triển của các tư tưởng triết học phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội và nhu cầu phát triển của thực tiễn xã hội
-Tính qui luật này chỉ rõ:Sự phát triển của tư tưởng triết học phụ thuộc vào tồn tại
xã hội, mà trước hết là phụ thuộc vào sự phát triển của nền sản xuất vật chất Đặc biệt,
tư tưởng triết học là sự phản ánh nhu cầu phát triển của thực tiễn xã hội Dovậy, nó trực tiếp phụ thuộc vào thực tiễn đấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị, xã hội.
+ Thời cổ đại: (TK VIII-TK III trCN) Thời kỳ này lực lượng sản xuất phát triểnlàm xuất hiện chế độ chiếm hữu nô lệ, trong xã hội có sự phân chia giữa lao động trí óc
và lao động chân tay KT-XH phát triển ( đặc biệt khoa học thời kỳ này đạt được nhiềuthành tựu quan trọng (định luật Acsimet, hình học ơclit…) làm xuất hiện các trườngphái triết học ở Hylạp và Lamã cổ đại hết sức phong phú Tuy nhiên, do khoa học tựnhiên chưa đủ sức đưa ra các bằng chứng khoa học xác thực làm căn cứ cho những nhậnđịnh đánh giá, nên các kết luận của khoa học tự nhiên phần lớn mới dừng lại ở mô tả, dựđoán, phỏng đoán Điều kiện đó đã quyết định tính chất duy vật mộc mạc, biện chứng tựphát của triết học cổ đại
+ Thời trung đại: Sự sụp đổ của đế quốc La Mã đã làm xuất hiện chế độ phongkiến ở phương Tây Trong xã hội phong kiến, kinh tế chủ yếu mang tính tự nhiên, tựcấp, tự túc; giai cấp địa chủ phong kiến nắm quyền tổ chức, quản lý sản xuất vàphânphối sản phẩm xã hội Đạo Cơ đốc đóng vai trò là hệ tưởng của xã hội Giáo lý được coinhư nguyên lý chính trị, kinh thánh được xem như là luật lệ, nhà trường trong tay thầy
tu, văn hoá và khoa học không phát triển Trong những điều kiện như vậy triết học thời
kỳ trung cổ chịu sự chi phối, kìm kẹp của tư tưởng tôn giáo thần học, chủ nghĩa duy vậtkhông có điều kiện phát triển
+ Thời kỳ Phục Hưng cận đại: Phục hưng lại các giá trị thời cổ đại, đề cao giá trịcon người và KHKT, đấu tranh hạ bệ tôn giáo thần quyền, đánh sập hệ tư tưởng PK xâydựng hệ tư tưởng tư sản thông qua CMTS mà màn giáo đầu của nó là triết học Thời kỳnày sản xuất công trường thủ công, cơ khí máy móc, khoa học thực nghiệm rất pháttriển, nên mặc dù các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản kiên quyết chống lại triết họckinh viện và thần học trung cổ, nhưng triết học duy vật thời kỳ này lại mang tính chất cơgiới máy móc, siêu hình Thời kỳ này GCTS là giai cấp tiến bộ, là trung tâm của thờiđại, càng về sau nhất là từ sau CMT10-Nga (1917) nó càng thể hiện bản chất phản độngcủa nó là liên kết với tôn giáo để chống cộng, chống lại khoa học bảo vệ địa vị và lợi íchcủa GCTS
Trang 2+ Triết học cổ điển Đức hình thành và phát triển trong điều kiện kinh tế xã hộinước Đức hết sức đặc biệt, chế độ quân chủ phong kiến lạc hậu cát cứ thành trên 300tiểu vương quốc Giai cấp tư sản Đức nhỏ yếu về kinh tế, bạc nhược về chính trị trongkhi các nước Anh, Pháp, Hà Lan đã phát triển mạnh trên con đường tư bản chủ nghĩa,khoa học kỹ thuật ở các nước Tây Âu đạt được nhiều thành tựu mới Những điều kiệnkinh tế xã hội khoa học đó đã quy định tính chất cách mạng và phản động trong triết học
cổ điển Đức
+ Triết học Mác – Lênin: TH Mác ra đời là một tất yếu của điều kiện KT-XH,những thành tựu của KHKT và các tiền đề lý luận của các giai đoạn trước đặc biệt làtriết học cổ điển Đức…Đến thời kỳ Lênin đấu tranh bảo vệ và phát triển TH Mác cũngdựa trên các điều kiện KT-XH, sự kế thừa thành tựu của KHKT và các tư tưởng trước
đó đặc biệt là của Mác – Ăngghen ( VD:Đ/n vật chất)
+ Hiện nay KHKT có sự phát triển mạnh mẽ, con người ngày càng đi sâu khámphá thế giới vật chất vô cùng vô tận (thiên hà, vũ trụ, phản hạt, phản nguyên tử, hạt gics,vật chất tối…)đòi hỏi lý luận phải có sự khái quát cao đáp ứng với sự phát triển của thựctiễn
2 Sự hình thành, phát triển của các tư tưởng triết học phụ thuộc vào sự phát triển của khoa học xã hội và khoa học tự nhiên
- Trình độ phát triển của tư duy triết học nhân loại phụ thuộc vào trình độ nhậnthức chung của nhân loại, tức là phụ thuộc vào sự phát triển của khoa học tự nhiên vàkhoa học xã hội
- Khoa học phát triển, vừa là cơ sở, điều kiện cho triết học phát triển Ngược lạitriết học phát triển, vừa là kết quả, vừa là cơ sở cho sự phát triển của các khoa học Triếthọc với tính cách là một khoa học phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học và vănhoá nói chung của nhân loại
- Cả điều kiện kinh tế-xã hội và trình độ phát triển khoa học, xét đến cùng quyếtđịnh nội dung các luận thuyết triết học và trong chừng mực, quyết định cả hình thức thểhiện tư tưởng triết học
- Chứng minh luận điểm trên: qua các thời kỳ lịch sử
3 Sự hình thành, phát triển của các tư tưởng triết học phụ thuộc vào cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng triết học cơ bản - chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
-Trong quá trình đấu tranh với các học thuyết đối lập, mỗi học thuyết triết học cũng
tự đấu tranh với bản thân mình để vươn lên một trình độ mới
-Thông qua quá trình đấu tranh với các học thuyết đối lập những mặt tiến bộ vàhạn chế của các học thuyết đều bộc lộ, đây là cơ sở cho nó tự hoàn thiện và phát triển vềbản thể luận, nhận thức luận…
-Quá trình đấu tranh giữa triết học duy vật và triết học duy tâm cũng đồng thời làmột quá trình “giao lưu”, bao gồm sự tiếp thu những mặt tích cực, tiến bộ, hợp lý và sựlọc bỏ những mặt lỗi thời, lạc hậu, tiêu cực, bất hợp lý trong nội dung tư tưởng của cáctrường phái triết học
Thông qua sự đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật tiếp nhận nhữngmặt tiến bộ, hợp lý - tinh thần biện chứng của chủ nghĩa duy tâm để không ngừng pháttriển, hoàn thiện
Thông qua sự đấu tranh với chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm tiếp nhận nhữngmặt tiến bộ, hợp lý của chủ nghĩa duy vật - tính khách quan, mối liên hệ với khoa học…
để không ngừng phát triển, hoàn thiện
Trang 3-Sự đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm làm cho triết học củamỗi thời đại có sự phát triển mới trong điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá và khoa họccủa thời đại đó (Chứng minh luận điểm trên: qua các giai đoạn lịch sử)
=>Đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là “sợi chỉ đỏ” xuyênsuốt toàn bộ lịch sử tư tưởng triết học, tạo thành động lực to lớn bên trong của sự pháttriển tư tưởng triết học nhân loại, là bản chất của toàn bộ lịch sử tư tưởng triết học
4 Sự hình thành, phát triển của tư tưởng triết học phụ thuộc vào cuộc đấu tranh giữa hai phương pháp nhận thức trong lịch sử là phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình
- Lịch sử có nhiều cách trả lời khác nhau đối với vấn đề các sự vật, hiện tượng củathế giới xung quanh ta tồn tại như thế nào, nhưng đều quy về hai quan điểm chính đốilập nhau là biện chứng và siêu hình
- Sự phát triển của lịch sử triết học cũng chính là sự phát triển của trình độ nhậnthức, của phương pháp tư duy nhân loại, thông qua cuộc đấu tranh giữa biện chứng vàsiêu hình Đây cũng là sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập, tạo nên động lực bên trong của
sự phát triển tư tưởng triết học nhân loại
- Đấu tranh giữa hai phương pháp nhận thức biện chứng và siêu hình gắn liền với củađấu tranh giữa hai thế giới quan duy vật và duy tâm, nhưng không phải là đồng nhất
(Chứng minh luận điểm trên: qua các giai đoạn lịch sử)
5 Sự hình thành, phát triển của tư tưởng triết học nhân loại phụ thuộc vào sự
kế thừa và phát triển các tư tưởng triết học trong tiến trình lịch sử, sự thống nhất
và liên hệ lẫn nhau giữa các tư tưởng triết học trong mối quan hệ dân tộc và quốc tế.
- Triết học của mỗi thời đại lịch sử bao giờ cũng dựa vào tài liệu lịch sử của triết họccác thời đại trước, lấy đó làm tiền đề, làm điểm xuất phát cho hệ thống triết học của mình.Tuy vậy bao giờ nó cũng được chọn lọc, sửa chữa lại, lý giải lại và phát triển phù hợp vớiđiều kiện lịch sử mới và theo tinh thần mà nó đại biểu về tư tưởng Đây là quy luật giaolưu tư tưởng triết học cùng loại theo chiều dọc tiến trình lịch sử (lịch đại)
- Tư tưởng triết học nhân loại không phải là tổng số đơn thuần của các hệ thốngtriết học hình thành trong từng nước riêng lẻ, tách rời, độc lập với nhau Những họcthuyết triết học phát sinh, và phát triển ở mỗi nước, bằng các phương thức khác nhau,đều nằm trong mối quan hệ lẫn nhau nhất định với những học thuyết triết học ở cácnước khác, vừa chịu ảnh hưởng, vừa tác động trở lại các học thuyết triết học khác Sựphát triển tư tưởng triết học là kết quả của sự thống nhất và liên hệ lẫn nhau giữa các tưtưởng triết học trong mối quan hệ dân tộc và quốc tế Đây là quy luật giao lưu tư tưởngtriết học cùng loại theo chiều ngang ( đồng đại)
6 Sự hình thành, phát triển của các tư tưởng triết học phụ thuộc vào mối quan
hệ với các tư tưởng chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật
-Hình thái ý thức tôn giáo hay nghệ thuật, đạo đức hay pháp quyền ảnh hưởng tácđộng qua lại với tư tưởng triết học luôn gắn với những điều kiện lịch sử cụ thể Tư tưởngtriết học là cơ sở lí luận của hệ tư tưởng chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo nghệthuật Ngược lại, các hệ tư tưởng khác là sự biểu hiện của tư tưởng triết học Hình thái ýthức nào, tôn giáo hay nghệ thuật, đạo đức hay pháp quyền có ảnh hưởng lớn đến nộidung tư tưởng triết học là tuỳ điều kiện lịch sử cụ thể
- Đây là một tính quy luật về sự giao lưu khác loại, giao lưu giữa hình thái ý thứctriết học với các hình thái ý thức xã hội khác Nhờ sự giao lưu đồng loại và khác loại màmột dân tộc có thể có trình độ phát triển kinh tế không cao, nhưng lại có trình độ pháttriển triết học khá cao, vượt xa các dân tộc khác
Trang 41.2 NHỮNG NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHỦ YẾU ĐỂ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Nhận thức khoa học phải phù hợp với quy luật khách quan Từ tính quy luật của sựhình thành, phát triển tư tưởng triết học, có thể rút ra những yêu cầu, những nguyên tắcphương pháp luận trong nghiên cứu lịch sử triết học
1 Nguyên tắc tính khách quan trong nghiên cứu lịch sử triết học
Lịch sử tư tưởng triết học phụ thuộc vào lịch sử đời sống vật chất của xã hội, trướchết là cơ sở kinh tế và thực tiễn đấu tranh giai cấp Đồng thời tư tưởng triết học tác độngtrở lại đối với điều kiện kinh tế - xã hội Do vậy, nghiên cứu sự hình thành, phát triểncủa tư tưởng triết học phải chỉ ra nguồn gốc kinh tế - xã hội (nền tảng cơ sở vật chất)của nó Phê phán quan điểm duy tâm, coi triết học tự nó sản sinh ra tư tưởng triết học,tách khỏi điều kiện kinh tế - xã hội, triết học không có tính giai cấp và không có vai tròtrong đấu tranh giai cấp Tính khách quan gắn liền với tính khoa học trong nhận thứctoàn diện những đóng góp của các tư tưởng triết học khác nhau, khắc phục tư tưởngphiến diện, chủ quan trong đánh giá các trào lưu triết học
2 Nguyên tắc tính đảng trong nghiên cứu lịch sử triết học
- Nghiên cứu lịch sử triết học buộc phải xem xét, đánh giá để rút ra được kết luận
về trào lưu triết học đang nghiên cứu là duy vật hay duy tâm, nhất nguyên hay nhịnguyên; những vấn đề mà nó giải quyết đúng hay khụng, chỳng cú ý nghĩa gỡ đối vớidũng lịch sử văn minh của nhân loại Do vậy, không được đem đối lập 1 cách đơn giảncác học thuyết triết học mà phải thấy rõ phương diện giao nhau, tiếp cận nhau, chuyểnhóa lẫn nhau giữa các tư tưởng triết học trong những điều kiện nhất định
- Tính đảng trong nghiên cứu lịch sử triết học gắn liền với tính chính trị, tính giaicấp Đằng sau cuộc đấu tranh giữa các đảng phải trong triết học là cuộc đấu tranh giữacác hệ tư tưởng đối địch của các giai cấp trong xã hội
- Triết học Mác- Lênin ra đời đánh dấu bước chuyển cách mạng trong lịch sử triếthọc Nó đũi hỏi việc nghiờn cứu lịch sử triết học phải đứng vững trên lập trường củachủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời phải căn cứ vào những thànhtựu của các khoa học cụ thể, lợi ích của nhân loại tiến bộ trước hết là lợi ích của giai cấpcông nhân Những nội dung ấy phù hợp với nhau đó là thể hiện sự thống nhất của tínhđảng và tính khoa học trong việc nghiên cứu lịch sử triết học
3 Nguyên tắc tính lịch sử trong nghiên cứu lịch sử triết học
- Xem xét các tư tưởng triết học phải theo quan điểm lịch sử, gắn liền với kinhnghiệm lịch sử trong điều kiện cụ thể Phải dựng lại 1 cách trung thực và khách quanlịch sử phát triển tiến bộ của cả triết học phương Đông và phương Tây với những đặcthù về nội dung và phong cách tư duy vốn có của nó, chống lại thái độ đề cao hoặc
hạ thấp, thậm trí phủ định sạch trơn những tư tưởng di sản triết học của quá khứ
- Quan điểm lịch sử trong xem xét các tư tưởng triết học đòi hỏi nhìn nhận 1 họcthuyết triết học không phải là có gì mới so với hiện nay, mà có gì mới so với các họcthuyết triết học trước kia Xem xét mọi học thuyết triết học với tính cách là những bậcthang nhất định trong quá trình nhận thức thế giới, đòi hỏi không được phép hiện đạihóa nó, không cho phép gán gép những tư tưởng mà họ không có và không thể có, phảitìm được sự liên hệ giữa quá khứ và hiện tại, thấy được cội nguồn lịch sử và xu hướngphát triển, không gò ép, không áp đặt, không xuyên tạc lịch sử theo ý muốn chủ quannhằm phục vụ mục địch chính trị nào đó
Trang 54 Nguyên tắc tính kế thừa trong nghiên cứu lịch sử triết học
- Xem xét sự hình thành, phát triển của tư tưởng triết học phải thấy được sự giaolưu đồng loại (với các tư tưởng triết học khác) và giao lưu khác loại (với các hình tháikhác), xác định được mối quan hệ của nó với những tư tưởng chính trị, đạo đức, phápquyền Trong mối quan hệ giữa triết học với các hình thái ý thức xã hội khác, thấy rõ sựxâm nhập, ảnh hưởng, làm tiền đề, điều kiện phát triển cho nhau
- Lịch sử tư tưởng triết học cũng chính là lịch sử phát triển của nhận thức nhânloại, cho nên trong sự phát triển của nó có mối quan hệ mật thiết và kế thừa sự phát triểncủa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
- Quan điểm kế thừa đòi hỏi xem xét lô gic phát triển nội tại của các trường pháitriết học với tính cách là 1 quá trình phủ định biện chứng, bao gồm sự kế thừa, lọc bỏ,
bổ sung, phát triển Nguyên tắc kế thừa phải gắn với nguyên tắc lịch sử, đòi hỏi phảixem xét những gì được kế thừa trong lịch sử, xem xét mối liên hệ giữa quá khứ và hiệntại mối liên hệ giữa dân tộc và quốc tế
5 Nguyên tắc tính thực tiễn trong nghiên cứu lịch sử triết học
Phải tìm được mối liên hệ giữa tư tưởng triết học với thực tiễn xã hội Lịch sử triếthọc là quá trình tư duy đi tìm lời giải đáp cho những vấn đề mà nhu cầu thực tiễn đòihỏi phải trả lời về mặt nhận thức.Phải tìm cho được yêu cầu thực tiễn của tư tưởng triếthọc Nhu cầu thực tiễn là cơ sở cho tư tưởng triết học phát triển Ngược lại, sự tiến bộ
về tư tưởng triết học là nguồn gốc lý luận cho sự tiến bộ trong thực tiễn, trong lịch sửvật chất của xã hội
* Ý NGHĨA
1 Cho ta hiểu biết khái quát về quá trình phát triển của triết học nhân loại
2 Cho phép kế thừa và phát triển những tri thức và phương pháp tư duy đúng đắn
3 Giúp ta rèn luyện tư duy, hình thành khả năng và phương pháp tư duy khoa học.Biết tranh luận, tự tranh luận, kế thừa, lọc bỏ, phát triển nhận thức khoa học, thoát khỏiảnh hởng của quan điểm duy tâm, siêu hình, phiếm diện
4 Trang bị cho ta vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiệnnay Tạo cơ sở nhận thức tính đúng đắn, khoa học, cách mạng của triết học Mác -Lênin, khẳng định sự xuất hiện triết học Mác - Lênin là tất yếu lịch sử, phù hợp với lôgic khách quan
5 Nghiên cứu lịch sử triết học cho thấy tính tất yếu mở rộng, phát triển triết họcMác - Lênin trong điều kiện mới của của thời đại; tính tất yếu của cuộc đấu tranh vớicác quan điểm sai lầm, phản động, cơ hội nhằm bảo vệ và phát triển triết học mácxit.Tạo cơ sở nhận thức tính đúng đắn khoa học của đường lối, chính sách của Đảng vàNhà nước ta
Trang 6VẤN ĐỀ 2 LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ TRUNG ĐẠI
2.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ ĐẶC ĐIỂM
a Điều kiện kinh tế - xã hội
*Về địa lý: Trung Quốc cổ đại là một quốc gia rộng lớn nằm ở Đông-Bắc châu Á,
có hai miền khác biệt Miền Bắc có lưu vực sông Hoàng Hà, khí hậu lạnh lẽo, đất đaikhô cằn, cây cối thưa thớt, ít sản vật; phía Nam có lưu vực sông Dương Tử, khí hậu ônhoà, đất đai màu mỡ, nhiều sản vật
*Về kinh tế - xã hội:Thời cổ Trung Quốc đã trải qua các triều đại: Nhà Hạ khoảng
từ thế kỷ XXII đến thế kỷ XVII tr.CN, Nhà Ân - Thương khoảng từ thế kỷ XVII đến XIItr.CN Nhà Chu từ thế kỷ XII đến thế kỷ III tr.CN Cuối thời Chiến quốc Tần Thủy Hoàngthống nhất được Trung Quốc lập nên nhà nước phong kiến đầu tiên vào năm 221 tr.CN.Thời kỳ phong kiến kéo dài đến Cách mạng Tân Hợi 1911
- Kinh tế
+ Nông nghiệp là chủ yếu, sản xuất nông nghiệp khá phát triển Thời kỳ NhàThương mặc dù công cụ sản xuất còn ở mức độ thấp nhưng nhờ vào điều kiện tự nhiênthuận lợi, cả một vùng đất phì nhiêu của lưu vực các con sông Hoàng Hà, Hắc Thủy…các bộ lạc người Ân đã có một nền sản xuất ổn định, với sản xuất nông nghiệp là chủyếu, chăn nuôi và săn bắt phát triển ở trình độ cao
+ Cơ cấu kinh tế xã hội theo cơ cấu kinh tế kiểu “công xã nông thôn” Từ thời nhàChu thực hiện chế độ quốc hữu về tư liệu sản xuất Về nguyên tắc, ruộng đất, mọi thànhviên trong xã hội đều thuộc quyền quản lý của vua
+ Thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng rất phát triển Có nhiều nghề thủ côngnổi tiếng, đạt trình độ tinh xảo
- Chính trị - xã hội
+ Giai cấp, nhà nước hình thành sớm Thời Ân - Thương tộc trưởng có vị trí chủyếu ở mặt tinh thần, quyền lực cá nhân chưa vượt qua chức năng công cộng, biên giớilãnh thổ đã hình thành nhưng chưa vững chắc Một hình thức nhà nước đang được hìnhthành manh nha.Thời nhà Chu tộc trưởng đã trở thành thiên tử, sự phân chia xã hội vềmặt giai cấp đã hình thành rõ nét Nhà Chu thành lập thành thị đại quy mô, thành thị lànơi ở của tầng lớp quý tộc, thị tộc, của kẻ thống trị, nông thôn là nơi ở của người thị tộc
bị nô dịch
+ Chế độ chính trị tổ chức theo hình thức quân chủ chuyên chế, trung ương tập quyền.Vua có quyền tuyệt đối với dân chúng, có quyền phong đất, chức tước cho các chư hầu.+ Mâu thuẫn giai cấp sâu sắc dẫn đến những cuộc khởi nghĩa, những cuộc chiến tranhthôn tính lẫn nhau xảy ra liên tục và rất khốc liệt Sự cai trị tàn khốc của quý tộc, địa chủlàm đời sống nhân dân rất khổ cực Sự phân hóa giàu nghèo rõ rệt Thời Xuân Thu - Chiếnquốc các nước chư hầu không thuần phục nhà Chu, liên tục động binh, thôn tính lẫn nhau
để giành quyền bá chủ thiên hạ Sự cai trị tàn bạo của quý tộc cộng với chiến tranh cànglàm cho đời sống của nhân dân khổ cực, mâu thuẫn giai cấp càng sâu sắc dẫn đến rất nhiềucuộc khởi nghĩa của nhân dân chống lại sự cai trị của vua chúa phong kiến
*Về văn hoá, khoa học:Trung Quốc cổ đại có một nền văn hoá phát triển rực rỡ.
Thời Xuân thu - Chiến quốc được coi là thời kỳ “bách gia chư tử” (trăm nhà trăm thầy),
“bách gia minh tranh” (trăm nhà đua tiếng) Thời kỳ này nổi lên khoảng mười trườngphái triết học lớn nhỏ khác nhau đua tranh với nhau: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Phápgia, Âm Dương gia, Các tri thức khoa học cũng hình thành và phát triển mạnh như:Thiên văn học, Hoá học, Toán học, Y học
Trang 7b Đặc điểm của triết học Trung Quốc cổ - trung đại
- Khách thể phản ánh chủ yếu là đời sống xã hội, nhưng triết học Trung Quốc có
xu hướng chủ yếu đi vào giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xãhội Triết học Trung Quốc không lấy giới tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu (nhưngkhông phải tách rời giới tự nhiên) Các trào lưu triết học Trung Quốc đều xuất hiện vàothời kỳ xã hội nô lệ gia trưởng kiểu phương Đông tan rã, bước vào xã hội phong kiến.Giai đoạn này lịch sử Trung Quốc có nhiều biến động sâu sắc, xã hội loạn lạc, vì vậymục đích của các trường phái triết học là đi tìm cách trả lời cho những câu hỏi là làmthế nào để biến xã hội từ loạn lạc thành thịnh trị
- Không có tác phẩm chuyên biệt, mà tư tưởng triết học nằm trong các kinh, các tácphẩm văn học , cho nên, các học thuyết triết học Trung Quốc (riêng), Phương Đông(chung) vừa là học thuyết triết học, vừa là học thuyết chính trị, học thuyết đạo đức
- Không có cuộc cách mạng trong triết học, mà sự phát triển triết học được thựchiện thông qua sự chú giải các tư tưởng của người sáng lập Các tư tưởng cơ bản củatriết học Trung Quốc được hình thành dưới thời Xuân Thu - Chiến quốc, các giai đoạnsau chủ yếu là làm phong phú nội dung của các tư tưởng thời kỳ này
- Không có học thuyết triết học duy vật, duy tâm, biện chứng, siêu hình rõ ràng,
mà có sự đan xen trong mỗi học thuyết, thậm chí ở một triết gia
- Nhiều vấn đề cơ bản của triết học cũng chiếm một phần quan trọng trong triết họcTrung Quốc: bản thể luận, nhận thức luận, vấn đề con người…
2.2 TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC NHO GIA (NHO GIÁO)
Trường phái Nho gia do Khổng Tử (551 - 479 Tr.CN) sáng lập Kinh điển của Nhogia thường được nói đến là Tứ Thư (Trung Dung, Đại Học, Luận Ngữ, Mạnh Tử) vàNgũ Kinh (Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu) Khổng Tử tên thật là Khâu, tự là Trọng Ni,người nước Lỗ Ông viết Kinh Xuân thu, san định các kinh điển cổ như Dịch, Lễnhạc… Học trò đời sau biên tập lời Khổng Tử dạy trước đó, chép thành cuốn Luận ngữ Triết học Nho giáo thể hiện trên những phương diện sau:
*Quan niệm về thế giới: Chủ yếu xoay quanh ba vấn đề lớn là trời, mệnh và quỷ thần.
- Về trời:Khổng Tử có quan niệm dao động về trời Theo Ông, vạn vật không
ngừng biến đổi, sinh diệt theo đạo của mình Đạo đó được ông gọi là “thiên lý”, đượchiểu là sự tương tác giữa hai lực âm và dương, là quy luật tự nhiên, cho nên trời chỉ làgiới tự nhiên, vận hành theo bốn mùa: “trời có nói gì đâu mà bốn mùa vẫn cứ vận hành,trăm vật sinh ra mãi” Nhưng đạo hay thiên lý là cái mầu nhiệm, toàn năng, chi phốitoàn thể vũ trụ mà ông không hiểu được, cho nên ông lại ví trời như thần: “có tội vớitrời thì còn cầu đảo vào đâu được nữa”
- Về mệnh trời: Khổng Tử cho rằng vạn vật không ngừng biến hoá theo những
nguyên lý màu nhiệm, sâu kín, không ai cưỡng lại được, và ông gọi đó là thiên mệnh “sốngchết tại mệnh, giàu sang là ý của trời’ Nhưng ông vẫn khuyên người ta không nên nhắmmắt theo mệnh mà mỗi người phải tự nỗ lực làm việc mới mong có mệnh tốt
- Về quỷ thần: Khổng Tử tin là có quỷ thần Theo ông quỷ thần do khí thiêng tạo
thành, nó có ở mọi nơi và chứng kiến mọi việc con người làm Nhưng ông lại cho rằngquỷ thần không can thiệp vào công việc của con người, cho nên khuyên người ta kínhthần mà không nên gần gũi quỷ thần
*Quan niệm về nhận thức
Chủ yếu hướng vào lĩnh vực chính trị, đạo đức, ít quan tâm đến các vấn đề tự nhiên.Ông đưa ra rất nhiều phạm trù đạo đức quan trọng như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng, cung,khoan, mẫn, huệ, trung, hiếu Ông cho rằng năng lực nhận thức của con người là thiên bẩm,sinh ra đã có sự phân định sẵn: có thượng trí, có trung nhân, có hạ ngu
Trang 8Ông rất quan tâm đến vấn đề giáo dục con người Ông cho rằng việc học có bamục đích: Học để hiểu biết, học để hoàn thiện nhân cách, học để làm việc Ông chủtrương “hữu giáo vô loại”, giáo dục không phân biệt đẳng cấp, bất cứ ai, hễ là loại trungnhân đều có thể dạy cho Quy trình dạy học là “tiên học lễ, hậu học văn” Học văn làhọc lục nghệ: thi, thư, xạ, ngự, dịch, nhạc.
*Tư tưởng đạo đức - nhân sinh
- Vấn đề con người: Triết học của Khổng Tử là nền triết học nhân bản, chủ yếu
xoay xung quanh các vấn đề về con người, tính người, đạo đức con người
+ Về tính người: Không tử nói “tính tương cận, tập tương viễn”, tức là tính của conngười khi sinh ra vốn là giống nhau, gần nhau, nhưng do tập nhiễm mà thành ra xa nha,khác nhau, kẻ hiền người ác Từ đó ông chủ trương giáo hoá để đưa người ta trở về bảntính gần nhau ban đầu Như vậy Khổng Tử coi tính của con người vốn là thiện
+ Về các hạng người: Trong xã hội con người có sự phân biệt về nhân cách và địa
vị thành ba hạng là quân tử, kẻ sĩ và tiểu nhân Quân tử là những người hoàn thiện vềnhân cách (theo Khổng Tử, người quâ tử phải có 9 điều: Khi nhìn phải nhìn cho minhbạch, khi nghe phải nghe cho rõ ràng, sắc mặt phải ôn hoà, tướng mạo phải trangnghiêm, nói năng phải trung thực, làm việc phải trọng sự kính nể, điều gì còn nghi hoặcphải hỏi han, khi tức giận phải nghĩ đến hậu hoạ, khi thấy lợi phải nghĩ đến điều nghĩa)
Kẻ sĩ là những người học hành đỗ đạt để ra làm quan (Theo Mạnh Tử kẻ sĩ phải: “phúquý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” - giàu sang không quyến
dũ, khéo khó khong đổi thay, uy vũ không khuất phục) Tiểu nhân là những kẻ khôngbiết lễ nghĩa, chỉ chạy theo điều lợi
- Vấn đề đạo đức: Đạo được hiểu là con đường, quy luật tiến hoá của vạn vật Đạo
người được hiểu là con đường đúng đắn phải theo để xây dựng những mối quan hệ xãhội lành mạnh Đức là tính chất của vạn vật, chỉ những đức tính tốt đẹp mà con ngườicần phải có Thuận theo Đạo thì mới có Đức sáng Tư tưởng đạo đức của Khổng Tửđược khái quát trong luân thường đạo lý Thường gồm các đức cơ bản: Nhân, nghĩa, lễ,trí, tín, dũng, cung, khoan, mẫn, huệ Luân là các quan hệ xã hội - đạo đức cơ bản gồm:Vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bè - bạn
+ Nhân là “ái nhân”, “sở kỷ bất dục vật thi ư nhân”, “kỷ dục lập nhi lập thân, kỷdục đạt nhi đạt nhân” Lễ là tế lễ; là phong tục tập quán; là chuẩn mực đạo đức; là quyphạm pháp luật Nghĩa là làm theo lẽ phải, không mưu lợi cho riêng mình; là việc taphải làm, là mệnh lệnh luân lý tối cao cho nên nghĩa đối lập với lợi Trí là soi xét thấuđáo vạn vật, hiểu biết điều hay lẽ phải Tín là giữ lòng tin với mọi người
+ Ngũ luân:Kinh lễ đã nêu 11 đức liên quan đến ngũ luân: vua nhân, tôi trung, cha
từ, con hiếu, anh lành, em đễ, chồng hoà, vợ thuận, trưởng có ân, ấu ngoan, bằng hữugiữ đức tín
*Tư tưởng chính trị - xã hội
Thời Xuân Thu - Chiến Quốc là thời kỳ có nhiều biến động chính trị, danh thựctranh nhau, đạo lý lễ nghĩa bị suy đồi cho nên Nho gia đã đề xuất nhiều chính sáchmang tính chất cải lương nhằm cải tạo xã hội đương thời
- Chính danh: Danh không chỉ là tên gọi mà trước hết là công dụng của vật, chức
năng chức phận của mỗi người Danh mà không chính thì lời nói không thuận, lời nóikhông thuận thì việc làm không đúng, hình phạt không trúng, lễ nghĩa bị bỏ Cho nêncần phải chính danh Chính danh là gọi tên sự vật đúng tên của nó, sử dụng sự vật đúngvới công dụng của nó, làm việc đúng chức năng chức phận của mình Chính danh là ngônphải chính và thân cũng phải chính, cho nên lời nói phải đi đôi với việc làm
Trang 9- Đức trị:Ông đề cao vai trò, sức mạnh của dân, coi dân là gốc nước, gốc có vững
thì nước mới yên bình Vì dân là gốc nước cho nên nước phải lấy dân làm gốc Vì vậyÔng chủ trương lấy lễ nghĩa thay thế cho pháp luật, lấy giáo hoá thay cho hình phạt chonên ông đưa ra đường lối đức trị, nhân trị hay lễ trị Đường lối đức trị bao gồm các yếu
tố trị nước như:
+ Giáo hoá dân, dạy cho dân biết lễ nghĩa
+ Dưỡng dân, nuôi dân cho no đủ, thực hiện chế độ phân phối quân bình
+ Nêu gương đạo đức để dân tin, dân theo Thực hện chính sách “thượng hiền”
- Xã hội lý tưởng: Khổng Tử mong muốn xây dựng một xã hội đẳng cấp, có tôn ti trật
tự, có trên dưới rõ ràng; các đẳng cấp có trách nhiệm tương trợ, giúp đơc lẫn nhau Xã hộilấy gia đình làm cơ sở, trọng hiếu đễ, kính già, yêu trẻ - một xã hội có lễ; xã hội phải no đủ,lấy nông nghiệp làm nền tảng, coi trọng giáo hoá và công bằng xã hội; phản đối chiến tranhbạo lực và hình phạt, dung đức trị, nhân trị, thực hiện chế độ thượng hiền
*Tóm lại: Nho giáo là trường phái triết học tiêu biểu của Trung Quốc cổ trung đại,
có nhiều yếu tố tích cực và tiêu cực đan xen
- Tích cực: Có yếu tố duy vật và biện chứng; Đề cao sự tu dưỡng đạo đức cá nhân;Mong muốn xây dựng một xã hội thái bình thịnh trị; Đã vạch ra một số vấn đề có tínhchất phương pháp luận cho nhận thức và hoạt động thực tiễn; Phương pháp dạy và học
có nhiều tiến bộ
- Hạn chế:
+ Tư tưởng ổn định xã hội duy tâm Tư tưởng chính danh thể hiện rõ tính duy tâm
và bảo thủ khi Khổng Tử muốn khôi phục lại nguyên mẫu xã hội nhà Chu, điều hòa mâuthuẫn, thủ tiêu đấu tranh Ông không nhận ra sự sự lộn xộn, hư hỏng của cái Danh, cáiĐạo nhà Chu là tất yếu của sự vận động lịch sử Cho nên đáng lẽ phải phải sửa đổi cáiDanh là hình thức cũ cho phù hợp với cái thực là nội dung mới thì ông lại làm ngược lại + Thuyết “tu thân” của ông cũng mang nặng tính chất duy tâm Khổng Tử cho rằngchỉ có người quân tử mới có điều nhân và đạt được đức nhân Đạo tu thân của ông dượcđẽo gọt cho mẫu người sống trong xã hội không bao giờ có sự thay đổi
+ Quan điểm nhận thức vẫn có yếu tố duy tâm tiên nghiệm
+ Giáo dục của ông không thoát khỏi lập trường giai cấp, lễ giáo nhà Chu
*Sự ảnh hưởng của Nho giáo đến xã hội, con người Việt Nam
- Quá trình du nhập và phát triển của Nho giáo ở VN: Nho giáo được truyền bávào VN từ đầu công nguyên thông qua hai con đường: từ bộ máy cai trị của phongkiến Trung Quốc và từ các nhân sĩ, danh nho Trung Quốc di cư sang Việt Nam
- Nho giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội và con người Việt Nam: Từ thời Lýmặc dù Phật là quốc giáo nhưng không phải là đạo trị nước, nhà Lý đã nhận thấy Nhogiáo là học thuyết có lợi cho sự thống trị của mình nên đã tích cực truyền bá và đề caoNho giáo Từ thời Lý - Trần Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp thống trị.Sang thời Lê Nho giáo đã trở thành quốc giáo
- Tư tưởng Nho giáo tác động sâu sắc đến thế giới quan, nhân sinh quan của ngườiViệt Nam: từ nhân cách, mục tiêu phấn đấu, sự suy nghĩ, đạo làm người…
- Mặt hạn chế: Tư tưởng Nho giáo chủ yếu phục vụ cho sự thống trị và củng cố trật
tự chế độ phong kiến; Nho giáo không đề cao khoa học kỹ thuật, do đó nó kìm hãm sựphát triển của sản xuất, dẫn đến sự trì trệ của xã hội phong kiến suốt nghìn năm
- Ngày nay Nho giáo vẫn ảnh hưởng nhất định đến xã hội và con người Việt Nam:như tâm lý trọng nam khinh nữ, lễ giáo phong kiến… nó cũng đang được khai thácnhững yếu tố hợp lý phục vụ cho đời sống hiện nay
Trang 102.3 ĐẠO GIA (HAY HỌC THUYẾT VỀ ĐẠO)
Người sáng lập ra Đạo gia là Lão Tử (khoảng thế kỷ VI tr.CN) Học thuyết của ôngđược Dương Chu và Trang Chu thời Chiến Quốc hoàn thiện và phát triển theo haihướng ít nhiều khác nhau
*Quan điểm về Đạo:“Đạo” là bản nguyên của vạn vật - tất cả từ Đạo mà sinh ra và
trở về với cội nguồn của Đạo “Đạo” là cái vô hình, hiện hữu, là cái “có”, song Đạo vàhiện hữu không thể tách rời nhau mà trái lại, Đạo là cái bản chất, hiện hữu là cái biểuhiện của Đạo Bởi vậy có thể nói: Đạo là nguyên lý thống nhất của mọi tồn tại “Đạo” lànguyên lý vận hành của mọi hiện hữu, nguyên lý ấy là “Đạo pháp tự nhiên” Chínhtrong quan niệm về “Đạo” đã thể hiện một trình độ tư duy khái quát cao về những vấn
đề bản nguyên thế giới, nhìn nhận thế giới trong tính chỉnh thể thống nhất của nó
*Quan niệm về tính biện chứng: Mọi hiện hữu đều biến dịch theo nguyên tắc “bình
quân” và “phản phục” (cân bằng và quay trở lại cái ban đầu) Các mặt đối lập trong thểthống nhất, quy định lẫn nhau, là điều kiện tồn tại của nhau, trong cái này đã có cái kia.Đạo gia không nhấn mạnh tư tưởng đấu tranh với tư cách là phương thức giảiquyết mâu thuẫn nhằm thực hiện sự phát triển; trái lại, đã đề cao tư tưởng điều hòa mâuthuẫn, coi đó là trạng thái lý tưởng Bởi vậy, triết học của Đạo gia không bao hàm tưtưởng về sự phát triển
*Học thuyết chính trị - xã hộicốt lõi là luận điểm “Vô vi” Vô vi là khuynh hướng
trở về với nguồn gốc để sống với tự nhiên, tức hợp thể với đạo Vô vi không phải là cáithụ động, bất động hay không hành động mà có nghĩa là hành động theo bản tính tựnhiên của “Đạo”
*Về nhận thức luận:Ông đề cao tư duy trừu tượng, coi thường nghiên cứu cụ thể.
Ông cho rằng” không cần ra cửa mà biết thiên hạ, không cần nhòm qua khe cửa mà biếtđạo trời”
2.4 MẶC GIA:
Phái Mặc gia do Mặc Tử tức Mặc Địch (khoảng 479 - 381 tr.CN) sáng lập thờiXuân Thu Sang thời Chiến Quốc đã phát triển thành phái Hậu Mặc Đây là một trong
ba học thuyết lớn nhất đương thời (Nho - Đạo - Mặc)
*Về vũ trụ quan: Tư tưởng triết học trung tâm của Mặc gia thể hiện ở quan niệm
về “Phi Thiên mệnh” Theo quan niệm này thì mọi sự giàu, nghèo, thọ, yểu… khôngphải là do định mệnh của Trời mà là do người, rằng nếu người ta nỗ lực làm việc, tiếtkiệm tiền của thì ắt giàu có, tránh được nghèo đói Đây là quan điểm khác với quanđiểm Thiên mệnh có tính chất thần bí của Nho giáo dòng Khổng - Mạnh
*Về nhận thức luận: Về quan hệ danh thực, ông chủ trương “lấy thực đặt tên”,
đúng sai là dựa vào thực tế khách quan Học thuyết “Tam biểu” của Mặc gia thể hiện rõ
xu hướng duy vật và cảm giác luận, đề cao vai trò kinh nghiệm, coi nó là bằng chứngchân xác của nhận thức
*Về tư tưởng nhân nghĩa: Nhân là kiêm ái, tức là thương yêu mọi người, không
phân biệt đẳng cấp, thân sơ, trên dưới yêu người như yêu mình, yêu người ngoài cũngnhư yêu người thân Nghĩa là lợi: Làm lợi và trừ hại cho mọi người
Thuyết “Kiêm ái” là một chủ thuyết chính trị - xã hội, mang đậm tư tưởng tiểunông Mặc Địch phản đối quan điểm của Khổng Tử về sự phân biệt thứ bậc, thân sơ…trong học thuyết “Nhân” Ông chủ trương mọi người thương yêu nhau, không phân biệtthân sơ, đẳng cấp…
Những người thuộc phái Mặc gia hậu kỳ đã phát triển những tư tưởng của Mặc gia
sơ kỳ chủ yếu trên phương diện nhận thức luận
Trang 112.5 PHÁP GIA
Người sáng lập phái Pháp gia là Hàn Phi Tử (khoảng 280 - 233 tr.CN)
Phái Pháp gia chú trọng vào những tư tưởng chính trị - xã hội và đề cao phép trị quốcbằng luật pháp Pháp trị của Hàn Phi Tử dựa trên những luận cứ triết học cơ bản sau đây:
- Thừa nhận tính khách quan và uy lực của những lực lượng khách quan mà ônggọi là “lý” Đó là cái chi phối quyết định mọi sự vận động của tự nhiên và xã hội
- Thừa nhận sự biến đổi của đời sống xã hội, cho rằng không thể có chế độ nào làkhông thay đổi Do đó không thể có khuôn mẫu chung cho xã hội Ông đã phân tích sựtiến triển của xã hội làm ba giai đoạn chính: Thời thượng cổ, thời trung cổ, và thời cận
cổ Động lực căn bản của sự thay đổi xã hội được ông quy về sự thay đổi của dân số vàcủa cải xã hôi
- Chủ thuyết về tính người: Ông cho rằng bản tính con người vốn là “ác”, tức làtính cá nhân vụ lợi, luôn có xu hướng lợi mình hại người, tránh hại cầu lợi…
Trên cơ sở những luận điểm triết học cơ bản ấy Hàn Phi Tử đã đề ra học thuyếtPháp trị, nhấn mạnh sự cần thiết phải cai trị xã hội bằng luật pháp Ông phản đối phépnhân trị, đức trị của Nho gia và phép “vô vi trị”của Đạo gia Phép trị quốc của Hàn Phi
Tử bao gồm ba yếu tố tổnghợp: Pháp, Thế và Thuật
*Nhận định về triết học Trung Hoa cổ, trung đại
- Triết học Trung Hoa cổ đại có truyền thống lâu đời, chứa đựng cuộc đấu tranh tưtưởng sâu sắc giữa thế giới quan duy tâm, tôn giáo với thế giới quan duy vật tiến bộ.Cuộc đấu tranh này phản ánh cuộc đấu tranh giữa các giai tầng xã hội có địa vị đối lậpnhau
- Triết học Trung Hoa cổ đại có nhiều trường phái, học thuyết khác nhau, bàn vềhầu hết các vấn đề quan trọng như bản thể luận, nhận thức luận, triết lí nhân sinh đạođức, tư tưởng chính trị nên có những đóng góp quan trọng cho kho tang tri thức củanhân loại
- Triết học Trung Quốc cổ đại ra đời và phát triển trong bối cảnh có nhiều biếnđộng chính trị cho nên nó quan tâm chủ yếu đến các vấn đề nhân sinh chính trị
- Triết học Trung Quốc không được trình bày một cách chặt chẽ lôgíc mà chủ yếu
sử dụng các châm ngôn, ẩn dụ, ngụ ngôn triết học với ý tứ thâm trầm, sâu sắc
Trang 12VẤN ĐỀ 3 LỊCH SỬ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ TRUNG ĐẠI
3.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI CỦA SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
*Điều kiện tự nhiên
Ấn Độ Cổ đại là một vùng đất rộng lớn nằm ở phía nam châu Á với địa hình phứctạp Phía Bắc bị án ngữ bởi dãy Hymalaya hùng vĩ với trên bốn chục ngọn núi cao trênmột nghìn mét so với mặt nước biển, quanh năm tuyết phủ Phía Đông, Nam và Tâynam được bao bọc bởi Ấn Độ dương
Lãnh thổ được chia cắt thành nhiều vùng: vùng đồng bằng đất đai màu mỡ, nằmdọc theo lưu vực hai con sông lớn - sông Ấn và sông Hằng; vùng sa mạc khô cằn; vùngnúi non hiểm trở và vùng cao nguyên với hệ thống sông ngòi chằng chịt
*Điều kiện kinh tế - xã hội
Nền văn minh đầu tiên xuất hiện ở Ấn Độ cổ đại cách đây khoảng bốn nghìn nămtrăm năm, đó là nền văn minh Sông Ấn Nền văn minh này tồn tại đến khoảng thế kỷXVII tr.CN thì bị diệt vong mà không rõ nguyên nhân Từ khoảng thế kỷ XV tr.CNngười Arya từ Tây bắc tràn xuống chinh phục Ấn Độ cổ đại, sau đó bị đồng hoá vào nềnvăn minh của người Dravida bản sứ và trở thành chủ nhân của Ấn Độ cổ đại Từ thế kỷVII tr.CN đất nước Ấn Độ trải qua nhiều biến cố với các cuộc chiến tranh giữa cácvương triều và chiến tranh chống sự xâm lăng từ bên ngoài Thời cổ đại của Ấn Độ kéodài đến thế kỷ thứ 10 sau Công nguyên
Những đặc điểm nổi bật về kinh tế - xã hội thời kỳ cổ đại ở Ấn Độ là:
+ Sự tồn tại bền vững, dai dẳng của chế độ công xã nông thôn với sở hữu nhà nước vềđất đai
+ Xã hội được phân hoá thành những đẳng cấp chính: tăng lữ (Brahman), quý tộc(Ksatriya), bình dân (Vaisya) và tiện nô (Ksudra)
+ Sự thống trị của tôn giáo trên tất cấcc lĩnh vực của đời sống xã hội
*Điều kiện về văn hoá
Ấn Độ cổ đại có nền văn hoá, khoa học phát triển tương đối rực rỡ, với nhiều giátrị để lại cho đời sau như: toán học, y học, kiến trúc, tâm lý học, triết học
Văn hoá Ấn Độ cổ, trung được chia thành ba thời kỳ: Văn minh Sông Ấn (thế kỷXXV tr.CN - thế kỷ XV tr.CN), văn minh Vêda (thế kỷ XV tr.CN - thế kỷ VII tr.CN),văn minh Hậu Vêda (từ thế kỷ VII tr.CN)
*Một số đặc điểm về tư tưởng triết học Ấn Độ cổ, trung đại
- Bước đầu giải quyết nhiều vấn đề của triết học Trong khi giải quyết những vấn
đề thuộc bản thể luận, nhận thức luận và nhân sinh quan , triết học Ấn Độ đã thể hiệntính biện chứng và tầm khái quát sâu sắc; đã đưa lại nhiều đóng góp quý báu vào khotàng di sản triết học của nhân loại
- Một xu hướng khá đậm nét trong triết học Ấn Độ cổ, trung đại là quan tâm giảiquyết những vấn đề thuộc đời sống tâm linh, không mãn nguyện với việc suy luận trithức mà gắn với đời thực, việc thực
- Triết học Ấn Độ cổ, trung đại suốt mấy ngàn năm phát triển không diễn ra cuộccách mạng tư tưởng Nó chỉ phát triển dưới hình thức chú thích, diễn giải; chỉ có sự kếthừa, phát triển, không có sự phủ định các học thuyết tiền bối
- Hầu hết các trường phái triết học Ấn Độ cổ, trung đại đều có sự biến đổi theo xuhướng từ vô thần đến hữu thần, từ ít nhiều duy vật đến duy tâm hay nhị nguyên Điều đóphản ánh sức ỳ của một xã hội dựa trên cơ sở của “Phương thức sản xuất Châu Á”
Trang 133.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO(BUDDHA)
Phật giáo là một trường phái triết học không chính thống, ra đời khoảng thế kỷ VItr.CN Người sáng lập là Buddha (Phật) có nghĩa là “giác ngộ” Buddaha vốn là một thái
tử, tên là Siddharta (Tất Đạt Đa), con vua Tịnh Phạn, vua một nước nhỏ ở Bắc Ấn Độ(nay thuộc đất Nêpan) Vì muốn tìm giải thoát cho nhân loại khỏi sự đau khổ trong vòngluân hồi, Ông đã bỏ gia đình đi tu Khi đã “giác ngộ”, có nghĩa là khi đã tìm ra đượcnguyên nhân của nỗi khổ đau của nhân thế và cách dứt bỏ nó, ông đã lấy hiệu làBuddha, người ta còn gọi ông là Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni) có nghĩa là nhà hiềntriết của xứ Sakya Người ta không biết rõ năm sinh của Buddha, nhưng theo truyềnthuyết ông sinh năm 623 tr.CN, sống khoảng 80 năm Sau khi ông chết các học trò tiếptục phát triển tư tưởng của ông và xây dựng thành hệ thống tôn giáo - triết học, có ảnhhưởng lớn ở Ấn Độ và thế giới
Kinh điển Phật giáo hiện nay rất đồ sộ, gồm ba bộ phận gọi là Tam Tạng, gồmKinh, Luật, Luận Kinh được coi là những lời Phật thuyết pháp, Luật là những giới điều
mà các giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo, Luận là những tác phẩm luận giải những vấn
đề Phật giáo của nhiều học giả, cao tăng về sau
Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo thể hiện trên những nội dung sau:
*Quan niệm về thế giới (bản thể luận)
Phật giáo không thừa nhận có ai sáng tạo ra vũ trụ, không thừa nhận vũ trụ có ngàyđược tạo ra và có ngày bị tiêu diệt Vạn vật sinh ra là do sự chuyển biến của bản thân
nó, trong nó, vũ trụ là tự tại Thế giới vạn vật là vô thuỷ, vô chung Mỗi sự vật, hiệntượng có thuỷ, có chung , có sinh, có diệt theo chu trình: sinh, trụ, dị, diệt đối với các sựvật hữu tình, và thành, trụ, hoại, không đối với các sự vật vô tình Sự vận động, biến đổicủa sự vật, hiện tượng diễn ra theo quy luật nhân duyên
*Về nhân sinh quan:Nội dung triết lý nhân sinh của đạo Phật tập trung ở 4 luận
đề: Tứ diệu đế - 4 chân lý vĩ đại
- Khổ đế, cho rằng đời là bể khổ, nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước của các đạidương cộng lại
- Nhân đế, giải thích sự khổcủa con người xuất phát từ “Thập nhị nhân duyên” tức 12nguyên nhân: 1.Vô minh; 2 Hành; 3 Thức; 4 Danh sắc; 5 Lục nhập; 6 Xúc; 7 Thụ; 8.Ái; 9 Thủ; 10 Hữu; 11 Sinh; 12 Lão, tử Ngoài” Thập nhị nhân duyên” Nhà Phật còncho rằng: nỗi khổ của con người còn do nghiệp báo, luân hồi, đó chính là luật báo ứng.Theo thuyết này, đã có sinh phải có chết, đã chết phải có tái sinh, vô cùng, vô tận
- Diệt đế, Phật giáo cho rằng có thể tiêu diệt được sự khổ đạt tới trạng thái niết bàn,bằng cách đi ngược lại 12 nguyên nhân, trước hết là phải xoá bỏ vô minh
- Đạo đế, chỉ ra con đường diệt khổ đạt tới giải thoát Đó là con đường”tu đạo”,hoàn thiện đạo đức cá nhân gồm tám nguyên tắc (Bát chính đạo) Tám nguyên tắc này
có thể thâu tóm vào ba điều học tập, rèn luyện là: tập trung tinh thần; nhìn rõ sự thật; ýchí ngay thẳng Làm được như vậy, con người sẽ thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử, trở vềtrạng thái hoàn toàn yên tĩnh, trong sạch (niếtbàn)
*Về nhận thức luận:Ở Ấn Độ, triết học gọi vấn đề nguồn gốc của nhận thức là “tri
lượng” Trước khi Phật giáo xuất hiện, có thuyết Thánh giáo lượng (nguồn gốc của nhậnthức do thần, thánh mách bảo) Phật giáo bác bỏ Thánh giáo lượng, mà cho rằng nguồngốc của nhận thức là do hiện lượng và tỷ lượng Từ cảm giác đi qua tri giác đến quanniệm, đó là hiện lượng Tỷ lượng gồm có phán đoán, suy lý Hiện lượng cho ta biết “Tựtướng” của sự vật, tỷ lượng cho ta biết “cộng tướng” của sự vật Biết sự vật là phải biết
cả Tự tướng và Cộng tướng của nó
Trang 14*Về lý luận đạo đức:Phật giáo chủ trương tiết dục (cấm dục) Theo quan điểm của
Phật giáo, sở dĩ có luân hồi là vì có dục vọng (tham, sân, si); có dục vọng là do lầm lạc,
vô minh mà tạo nghiệp chướng cho bản thân Muốn giải thoát tất phải diệt nghiệp bằng
sự sáng suốt, phá lầm lạc bằng cấm dục
Mặt khác, xuất phát từ quan điểm cho rằng Người và Ta đều là những pháp khácnhau của giới pháp; đều thuộc về chân như cả Vì vậy lý luận đạo đức Phật giáo chủtrương: đối với mình “ khắc kỷ”, đối với mọi người phải từ bi, bác ái, vị tha, coi ngườikhác như mình Vì vậy, không phải chỉ biết cứu mình mà còn cứu nhân độ thế
Như vậy, Phật giáo nguyên thuỷ có tư tưởng vô thần luận, phủ nhận đấngsáng tạotối cao (Brahma) và có tư tưởng biện chứng tự phát (thuyết duyên khởi) Đây là nhữngđóng góp to lớn của nó cho sự phát triển của tư tưởng triết học nhân loại nói chung và
Ấn Độ nói riêng
Phật giáo trên đất Ấn Độ suy tàn vào khoảng thế kỷ IX; nhưng trong thời gian tồntại của nó, Phật giáo đã từ Ấn Độ truyền bá ra các nước xung quanh, trở thành hệ thốngtôn giáo-triết học thế giới, có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần và lịch sử văn hoácủa nhiều nước phương Đông trong đó có Việt Nam
*Phật giáo ảnh hưởng đến xã hội và con người Việt Nam
Từ những quan niệm của Phật giáo về sự tồn tại của sự vật, hiện tượng trên thế giới(sắc sắc- không không), sự tan, hợp của các yếu tố động làm cho mọi vật đều vận độngqua các trạng thái sinh, trụ, dị, diệt; phát hiện đúng mối quan hệ cơ bản phổ biến củamọi sự vật, hiện tượng (quan hệ nhân quả), đó là cơ sở làm cho việc lý giải về vũ trụ,nhân sinh của Phật giáo có tính thuyết phục cao Các quan điểm này đã ảnh hưởng lớnđến thế giới quan và nhân sinh quan của đại đa số con người Việt Nam Đó là, đa sốngười Việt Nam quan niệm về sinh, tử như là lẽ tự nhiên của cuộc sống, họ rất yêu vàthiết tha với cuộc sống, song đứng trước cái chết họ không bao giờ khiếp sợ, bạc nhược;
Đó là, quan niệm của họ về nhân quả (nhân nào quả ấy), (gieo gió gặt bão), (đời cha ănmặn đời con khát nước); Đó là, quan niệm đề cao sức mạnh của nội tâm, giải quyết mọiquan hệ trong cuộc sống cái quan trọng nhất phải là tấm lòng, thành tâm, thiện tâm Phật giáo còn Ảnh hưởng của đến cả lối tư duy của con người Việt Nam Điều đóthể hiện trước hết trong hệ thống ngôn ngữ Việt Nam, các khái niệm của Phật giáochiếm vị trí không nhỏ, làm cho ngôn ngữ Việt Nam thêm phong phú Khi Phật giáo dunhập vào Việt Nam, tư duy Việt Nam có thêm một loạt khái niệm, phạm trù về bản thểluận, nhận thức luận, đạo đức luân lý, đó là những vấn đề của triết học Phật giáo đã làmtăng tinh thần triết học trong tư duy của người Việt Nam, khiến phương pháp tư duy của
họ mang tính khái quát hơn, trừu tượng hơn Quan niệm về sự phát triển của Phật giáo
có cơ sở, có lý luận vững chắc, có lôgic chặt chẽ, khiến người Việt Nam chấp nhận dễdàng và nhanh chóng
Ngoài ra, với tính cách là một lực lượng xã hội, Phật giáo đã góp phần to lớn vàoviệc điều chỉnh, tiết chế hoạt động của các thiết chế chính trị, với quan điểm “Từ bi hỷxả” của mình
Tuy nhiên là một tôn giáo, Phật giáo cũng có những tác động tiêu cực đến xã hội
và con người Việt Nam Phật giáo như một lý thuyết về sự giải thoát bể khổ nhân gianbằng cách đi vào tự ngã của cái tâm bên trong nhằm đạt tới sự sáng suốt tối cao ở NiếtBàn Học thuyết đó có sức mạnh đưa con người vào thế giới thanh bạch “Từ, bi, hỷ,xả”, nhưng nó thực hiện lý tưởng đó bằng khước từ những ham muốn quý báu vốn cócủa con người, thủ tiêu sức sống hành động của con người
Trang 15VẤN ĐỀ 4 TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
4.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI
- Xã hội Hy Lạp cổ đại tồn tại và phát triển vào thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ IIItr.CN Người Hy Lạp đóng được thuyền lớn có thể vượt biển Địa Trung Hải, mở rộnggiao lưu văn hoá, khoa học với nhiều vùng lãnh thổ
- Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất đã làm đảo lộn quan hệ sản xuấtcủa xã hội Cộng sản nguyên thủy Trong các bộ lạc, bộ tộc đã xuất hiện tư tưởng tư hữu
về của cải, mỗi cá nhân dần dần ý thức về sự tồn tại của họ trong cộng đồng cho phùhợp với hoàn cảnh mới Sự phát triển của lực lợng sản xuất là tiền đề chủ yếu làm xuấthiện xã hộichiếm hữu nô lệ và phân chia xã hội này thành các giai cấp, lao động trí óc
và chân tay, nhờ đó khoa học ngày càng phát triển và đưa lại nhiều thành tựu mới Thời
kì này chưa có sự phân biệt giữa triết học và các khoa học cụ thể, nhà triết học đồngthời là nhà khoa học tự nhiên nhưTalét, Pitago Khoa học thời kì này cùng với nhiềuthành tựu mới như định luật Ácsimét, hình học của Ơclít đã từng bước khám phá ranhững sai lầm duy tâm, giả dối của bức tranh vũ trụ và nhân sinh quan tôn giáo, thầnthoại Cuộc đấu tranh giữa giai cấp chủ nô và nô lệ trên lĩnh vực tư tưởng, triết học đãdiễn ra gay gắt
- Sựphân hoá giai cấp trong xã hội hết sức rõ rệt thành hai giai cấp chủ yếu là giaicấp chủ nô và giai cấp nô lệ Nô lệ có số lượng đông đảo trong xã hội và sống tập trung
- Nô lệ là lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội (trong sản xuất nông nghiệp, thủcông nghiệp, thương nghiệp và mậu dịch hàng hải)
- Mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ ngày càng gay gắt đã làm cho mức độ ác liệt củacuộc đấu tranh giữa nô lệ với chủ nô ngày càng tăng (tiêu biểu là cuộc nổi dậy củaXpáctacuxơ vào năm 70 tr.CN) Giai cấp chủ nô cũng phân hoá thành chủ nô quý tộc vàchủ nô dân chủ Chủ nô quý tộc gắn liền với sản xuất nông nghiệp, bảo thủ và chuyênchế Chủ nô dân chủ gắn liền với công thương nghiệp, tiến bộ hơn, thường đề xuấtnhững chủ trương dân chủ chống lại chủ nô quý tộc Cuộc đấu tranh giữa các trườngphái triết học duy vật và duy tâm thời cổ đại Hy Lạp - La Mã chủ yếu là cuộc đấu tranhgiữa chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc
- Tính chất chuyên chế của bộ máy nhà nước chủ nô thường xuất hiện dưới hìnhthức các thành bang (quốc gia thành thị) Nhà nước được tổ chức theo kiểu cộng hoàhay dân chủ; các kiểu nhà nước này đều là công cụ chuyên chính của giai cấp chủ nô
- Chế độ chiếm hữu nô lệHy Lạp ra đời từthế kỷ VI và suy tàn vào thế kỷ V tr.CN
Sự phát triển của nó đã mở rộng sự phân công xã hội, tách lao động trí óc khỏi lao độngchân tay, tạo điều kiện cho tầng lớp trí thức chủ nô nghiên cứu triết học, khoa học vàsáng tạo văn học nghệ thuật Hơn nữa, qua cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư, nền vănhoá Hy Lạp - La Mã đã kế thừa được nhiều thành tựu văn hoá của phương Đông
Tất cả những tiền đề kinh tế, xã hội, khoa học, văn học, nghệ thuật nói trên lànhững điều kiện cho sự phát triển rực rỡ của triết học cổ Hy Lạp Như Ăngghen nói, nếukhông có chế độ nô lệ, thì cũng không có nhà nước Hy Lạp, không có khoa học và nghệthuật Hy Lạp
*Đặc điểm triết học ở Hylạp cổ đại (THAM KHẢO)
- Triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại phát triển phong phú về trường phái, có sự phânchia và đối lập giữa các trường phái triết học duy vật và duy tâm, biện chứng và siêuhình, vô thần và hữu thần
- Các hệ thống triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại có hướng đi sâu giải quyết vấn đề
cơ bản như bản thể luận và nhận thức luận
Trang 16- Triết học Hylạp cổ đại còn ở trình độ trực quan, chủ nghĩa duy vật còn thô sơmộc mạc và phép biện chứng tự phát Triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại chứa đựngnhững mầm mống củathế giới quan duy vật sau này.
- Triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại luôn gắn với khoa học tự nhiên
- Triết học là thế giới quan phương pháp luận của chế độ chiếm hữu nô lệ ởphương Tây
4.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP - LA MÃ CỔ ĐẠI
Theo ông thế giới luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng giống như một dòngsông cho nên: “Chúng ta không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”
Các sự vật biến đổi không tuỳ tiện mà có quy luật, tuân thủ Logos của chúng Nhiệm
vụ của nhà triết học là tìm ra Logos của sự vật Hêraclit còn thừa nhận sự thống nhất củacác mặt đối lập nhưng là đối lập trong những quan hệ khác nhau: “Đối với loài cá - thìnước rất cần thiết cho sự sống, nhưng đối với con người thì đó lại là một độc tố có hại”,cũng như “một con khỉ dù đẹp đến đâu vẫn là xấu nếu đem nó so với con người”
- Nhận thức luận: Hêraclit cho rằng nhận thức cảm tính có vai trò rất quan trọng vì
nó đem lại cho ta sự hiểu biết xác thực và sinh động về các sự vật đơn lẻ, tuy nhiên cảmtính không giúp con người nhận thức được logos của sự vật Chỉ có lý tính mới đem lại
sự hiểu biết về logos, tuy nhiên không phải ai cũng có khả năng này mà chỉ các nhàthông thái mới hiểu được logos
4.2.2 Đêmôcrít (460 - 370 tr.CN)
Đêmôcrít là học trò giỏi và là người tiếp tục đường lối “nguyên tử luận” của Lơxíp.Ông là nhà triết học duy vật tiêu biểu thời cổ đại Hy Lạp Ông am hiểu toán học, vật lýhọc, sinh vật học cũng như mỹ học, ngôn ngữ học và âm nhạc… Ông có đến 70 tácphẩm nghiên cứu về các lĩnh vực khoa học nói trên Mác - Ăngghen đánh giá cao ông
và coi ông là bộ óc bách khoa đầu tiêncủa Hy Lạp cổ đại
4.2.3.Platôn (427 - 347 tr.CN)
Ông là nhà triết học duy tâm khách quan tiêu biểu của Hy Lạp cổ đại Platôn xuất thântrong một gia đình chủ nô quý tộc ở Aten Là học trò của Xôcrát (nhà triết học duy lý, duytâm chủ nghĩa) Khi Xôcrát bị kết án tử hình vì tội hoạt động chống lại chế độ dân chủ chủ
nô, Platôn rời Aten đến sống ở miền nam nước Italia Sau này ông trở lại Hy Lạp, lậptrường dạy học ở Aten, gọi là Viện hàn lâm Đây là trường Đại học tổng hợp đầu tiên ởchâu Âu, học trò rất đông, trong đó có nhà triết học nổi tiếng Arixtốt Ngót 40 năm giảngdạy và trước tác, ông đã để lại 34 thiên đối thoại và nhiều bức thư triết học
4.2.4.Arixtốt (384 - 322 tr.CN)
- Bản thể luận: Arixtốt là bộ óc bách khoa của nền triết học Hy Lạp cổ đại Vớiquan niệm Platôn là thầy nhưng chân lý còn quý hơn, ông đã tiến hành phê phán họcthuyết ý niệm Platôn V.I.Lênin coi đây là sự phê phán đối với chủ nghĩa duy tâm nóichung Theo Arixtốt thuyết ý niệm của Platôn là vô bổ đối với việc nhận thức thế giớicác sự vật vì thế giới ý niệm là thế giới phi thực thể, đóng kín, biệt lập
Trang 17Arixtốt đưa ra quan niệm duy vật về giới tự nhiên Tự nhiên là toàn bộ những sự vật
có bản thể vật chất luôn luôn vận động, phải thông qua vận động thì các sự vật mới có thểtồn tại và biểu hiện được Vận động phải gắn liền với các vật thể tự nhiên, các vật thể đềuđược tạo nên từ năm yếu tố vật chất đầu tiên là đất, nước, lửa, không khí và ête
Khi lý giải về nguyên nhân của thế giới Arixtốt đi theo lập trường nhị nguyên Ôngcho rằng thế giới có bốn nguyên nhân là: Hình dạng, vật chất, vận động và mục đích,trong đó vận động và mục đích thuộc về nguyên nhân hình dạng có tính tích cực, cònvật chất là nguyên nhân thụ động
- Nhận thức luận: Arixtốt coi thế giới khách quan là đối tượng nhận thức, là nguồngốc của cảm giác và kinh nghiệm, coi tự nhiên là thứ nhất còn tri thức là thứ hai Ôngchia nhận thức ra thành hai giai đoạn là cảm tính và lý tính, trong đó cảm tính là điểmbắt đầu của mọi tri thức (chủ nghĩa duy giác), còn lý tính là sản phẩm của linh hồn haythượng đế
Arixtốt là người đã sáng lập ra lô gíc học, coi nó là học thuyết về chứng minh,nghiên cứu về các hình thức tư duy, đưa ra ba quy luật của lôgíc học, nghiên cứu vềphép tam đoạn luận Ông còn nêu những ý tưởng biện chứng sâu sắc về sự vận động củathế giới, về tính mâu trong khả năng, về quan hệ giữa cái chung và cái riêng
- Tư tưởng chính trị: Arixtốt cho rằng nhà nước là hình thức giao tiếp cao nhất củacon người với con người ngoài những hình thức giao tiếp khác như giao tiếp gia đình,kinh tế, trao đổi của cải Về bản chất thì con người phải phụ thuộc về nhà nước, nếukhông đó không phải là con người phát triển về đạo đức mà là động vật hoặc là thượng đế
- Về đạo đức: Arixtốt cho rằng phẩm hạnh là cái tốt dẹp nhất của con người, là lợiích tối cao mà mọi công dân cần phải có Nội dung của nó là biết định hướng, biết làmviệc, biết tìm tòi
*Nhận định về nền triết học Hy Lạp cổ đại
- Lịch sử triết học cổđại Hy Lạp là lịch sử hình thành và phát triển thế giới quanduyvật và thế giới quan duy tâm Nét nổi bật của chủ nghĩa duy vật Hy Lạp cổđại là tínhchấtmộc mạc, thô sơ.Tuy vậy, quan niệm duy vật thô sơ này đã có tác dụng rất lớn trongcuộcđấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, chống tôn giáo, chống thần học cổđại
- Nhiều nhà triết học Hy Lạp cổđạiđã nhận thứcđược và phát hiện nhiều yếu tố củaphépbiện chứng mà C.Mác và Ph.Ăngghen gọiđó là phép biện chứng tự phát, ngây thơnhưng đó là hình thứcđầutiên, hình thức cổđại của phép biện chứng
- Chủ nghĩa duy tâm trong triết học cổđại đã có nhiều trào lưu khác nhau: chủnghĩa duy tâm chủ quan, chủ nghĩa duy tâm khách quan, chủ nghĩa hoài nghi - chủnghĩa bất khả tri cổ đại Chúng thường gắn với tín ngưỡng, tôn giáo và do đó thườngđược giai cấp thống trị sử dụng như một công cụ tinh thần của mình
4.3 CUỘC ĐẤU TRANH GIỮA 2 ĐƯỜNG LỐI TRIẾT HỌC CỦA ĐÊMÔCRÍT VÀ PLATÔN Ý NGHĨA
Trong các nhà triết học Hy Lạp cổ đại nổi lên 2 nhà triết học tiêu biểu với 2 đườnglối triết học cơ bản đối lập nhau, đấu tranh với nhau là Đêmôcrit và Platôn Sự đấu tranhgiữa 2 đường lối triết học Đêmôcrit và Platôn là cuộc đấu tranh điển hình trong lịch sửtriết học.Sự đối lập giữa 2 đường lối triết học này được thể hiện trên các mặt sau:
a Bản thể luận
- Đêmôcrit: Khởi nguyên của thế giới là nguyên tử và khoảng không Nguyên tử
là những phần tử vật chất nhỏ bé nhất không thể tiếp tục phân chia Mọi sự vật hiệntượng trong thế giới đều tạo ra từ nguyên tử và khoảng không
Trang 18+ Giải thích về vũ trụ: các hành tinh, kể cả trái đất là do các cơn lốc nguyên tử tạothành và cũng luôn biến đổi Nguyên nhân tạo ra cơn lốc nguyên tử là do mức độ phân
bố không đều của chúng trong khoảng không, vũ trụ là vô hạn -> có tính chất duy vật.+ Về vận động: Sự vận động của các SVHT trên thế giới đều do quy luật chi phối.+ Con người: Định nghĩa con người là động vật có khả năng học, con người và linhhồn con người đều cấu tạo từ nguyên tử và khoảng không, con người có khả năng bắtchước bất kỳ cái gì, có chân tay, có cảm giác và năng động về mặt trí tuệ Linh hồn conngười là tổng thể các ntử, là cơ sở của mọi hoạt động và sức sống của con người Linh hồnđược cấu tạo từ vật chất, nhưng có nhiều chất lửa hơn, linh hồn theo Đêmôcrit là duy vật
- Platôn: Thế giới ý niệm là có trước, tồn tại trước, nó quyết định các sự vật hiện
tượng, toàn bộ thế giới hiện thực chỉ là bản sao của thế giới ý niệm Chỉ có các ý niệm
là tồn tại thực và vĩnh viễn luôn đồng nhất với chính nó
+ Quan niệm về vũ trụ: hình cầu, hữu hạn, trung tâm vũ trụ là quả đất, xung quanh
là các hành tinh -> Có tính chất duy tâm
+ Vận động:Giải thích theo thuyết linh hồn, linh hồn làm cho vũ trụ vận động.+ Con người: Có thể xác và linh hồn, thể xác con người là chỗ trú ngụ tạm thời củalinh hồn Thể xác được cấu thành từ đất, nước, lửa, không khí
-> Không bất diệt, linh hồn của con người bao gồm trí tuệ, cảm xúc, cảm tính->dothượng đế tạo ra -> Bất diệt
b Nhận thức luận
- Đêmôcrit: Theo ôngđối tượng nhận thức là giới tự nhiên Có các dạng nhận
thức:Nhận thức cảm tính (Nhận thức kiến giải): tối tăm, chỉ cho phép biết được những
gì bề ngoài, riêng lẻ; Nhận thức trí tuệ: đem đến cho con người những tri thức đích thực
về sự vật-> Theo lập trường Duy vật
- Platôn: Theo ông đối tượng nhận thức là thế giới ý niệm Có các dạng nhận thức:
Ông cho rằng tương ứng với 4 dạng tồn tại có 4 dạng tri thức:Dạng tồn tại tối cao: Đây là ýniệm được nhận thức bởi trực giác trí tuệ; Dạng tồn tại trung gian: là đối tượng của tri thứctoán học, điểm, đường thẳng; Dạng tồn tại kiến giải: đối tượng của nhận thức cảm tính; Dạngtồn tại hình ảnh: do con người tạo ra thể hiện các sự vật cảm tính, sự vật do con người tạo ra.Phương pháp nhận thức chân lý: bằng phương pháp hồi tưởng, pp đoạn tuyệt vớinhận thức cảm tính để linh hồn bất tử để nhớ lại tất cả->duy tâm khách quan, duy lý
c.Chính trị - xã hội
- Đêmôcrit: Đứng trên lập trường dân chủ chủ nô Ô đấu tranh bảo vệ nền dân chủ
Aten Ôngca ngợi tinh thần nhân ái và quyền lợi chung của công dân tự do “thà nghèo còn hơn là giầu mà mất tự do” Tuy nhiên chỉ đề cập đến dân chủ của các ông chủ, còn
người nô lệ chỉ biết làm theo người chủ.Nền tảng xã hội là nhà nước, nhà nước duy trì trật
tự và điều hành xã hội, trừng phạt kẻ vi phạm luật lệ, chuẩn mực đạo đức
- Platôn: Đứng trên lập trường tầng lớp chủ nô quý tộc chống lại chủ nô dân chủ.
Ông cho sở hữu tư nhân là nguồn gốc của mọi điều ác, cần phải xóa bỏ
Xã hội cần duy trì các hạng người khác nhau và không thể có sự hoàn toàn bìnhđẳng giữa mọi người được
Quá sùng bái nhà nước đến mức biến con người hầu như trở thành nô lệ của nó.Platôn cho rằng: 1 nhà nước công lý và hoàn thiện là cái cao quý nhất, con người phảisống vì nhà nước chứ ko phải nhà nước vì con người->Trong quan niệm chính trị xã hội
có nhiều mâu thuẫn: Đòi hỏi xóa bỏ sở hữu tư nhân, thiết lập xã hội công cộng ><cầnphải duy trì sự khác nhau giữa các đẳng cấp và bất bình đẳng trong xã hội Ông đưa ra
mô hình nhà nước lý tưởng và công lý><bảo vệ lợi ích của tầng lớp quý tộc chủ nô,chống lại nền dân chủ Aten
Trang 19d Đạo đức
- Đêmôcrit:Theo lập trường duy vật: Đối tượng của đạo đức là cuộc sống và hành
vi của con người Theo ông, người có đạo đức là lương tâm trong sáng và tinh thần lànhmạnh cá nhân Người có đạo đức là người sống đúng mực không hại người khác->duyvật, có cơ sở khoa học
- Platôn:Trên cơ sở thuyết linh hồn: Linh hồn con người gồm 3 bộ phận: Lý tính
(trí tuệ), xúc cảm, cảm tính<->3 hạng người: nhà triết học, những người lính, nông dân
và thợ thủ công.Nhà triết học thông thái mới có đạo đức cao cả, nô lệ chỉ là công cụ biếtnói, không có đạo đức.-> Duy tâm, phi lý, thiếucơ sở khoa học
*Ý nghĩa:
- Cho ta thấy rõ tính chất duy vật và duy tâm của 2 nhà triết học Hy Lạp cổ đại
- Tạo cơ sở nhận thức tính đúng đắn, khoa học, cách mạng của triết học Đêmôcrit
và Platôn
- Biết kế thừa, phát triển những tư tưởng, triết học đúng đắn, khoa học của họ
- Đấu tranh chống các quan điểm sai trái
*Cuộc đấu tranh này có ý nghĩa to lớn đối với lịch sử phát triển loài người vì sựhình thành, phát triển của các tư tưởng triết học phụ thuộc vào cuộc đấu tranh giữa 2khuynh hướng triết học cơ bản -chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
- Là cuộc đấu tranh giữa 2 đường lối lớn nhất, cơ bản, hình thành ngay từ thời HyLạp cổ đại và kéo dài suốt trong chiều dài lịch sử đến tận ngày nay vẫn còn đấu tranhgiữa 2 đường lối triết học duy vật và duy tâm
- Sự phát triển của triết học trong lịch sửluôn phụ thuộc vào cuộc đấu tranh giữachủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm mà Đêmôcrit và Platôn là 2 đại biểu tiêu biểu(cuộc đấu tranh này xuyên suốt chiều dài lịch sử)
Trang 20VẤN ĐỀ 5 LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TÂY ÂU THẾ KỶ 15-16, 17-18
5.1 TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI KỲ PHỤC HƯNG (TK15-TK16)
5.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội và khoa học của sự hình thành và phát triển
Thế kỷ XV - XVI được gọi là “Thời kỳ Phục hưng” với ý nghĩa là Phục hưng nềnvăn hoá cổ đại Về mặt xã hội đây là thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến lên chế độ tưbản chủ nghĩa Tính chất quá độ đó biểu hiện trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế,chính trị - xã hội, văn hoá tư tưởng thời kì này
*Về kinh tế: Bắt đầu từ thế kỉ XV, ở Tây Âu, chế độ phong kiến với nền sản xuất
nhỏ và các đạo luật hà khắc Trung cổ đã bước vào thời kì tan rã Nhiều công trường thủcông xuất hiện, ban đầu ở Italia, sau đó lan sang Anh, Pháp và các nước khác, thay thếcho nền kinh tế tự nhiên kém phát triển
Sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa thúc đẩy sự phát triển của khoa học, kĩthuật Nhiều công cụ lao động được cải tiến và hoàn thiện Với việc sáng chế ra máykéo sợi và máy in đã làm cho công nghiệp dệt, công nghệ ấn loát đặc biệt phát triển,nhất là ở Anh Sự khám phá và chế tạo hàng loạt đồng hồ cơ học đã giúp cho con người
có thể sản xuất có kế hoạch, tiết kiệm thời gian và tăng năng suất lao động
Những phát kiến về đường biển, tìm ra những miền đất mới, phát hiện ra châuMỹ càng tạo điều kiện phát triển cho nền sản xuất theo hướng tư bản chủ nghĩa.Thương mại, thị trường trao đổi hàng hoá giữa các nước được mở rộng; giao lưu quốc tếđược tăng cường, nhờ đó mà các nước phát triển sớm như Anh, Pháp, Tây Ban Nha thinhau xâm chiếm thuộc địa để mở rộng việc khai thác thiên nhiên và thị trường tiêu thụhàng hoá
*Về xã hội: Đồng thời với sự phát triển của sản xuất và thương nghiệp, trong xã
hội Tây Âu thời kì này, sự phân hoá giai cấp ngày càng rõ rệt Tầng lớp tư sản xuất hiệngồm các chủ xưởng công trường thủ công, xưởng thợ, thuyền buôn Vai trò và vị trícủa họ trong kinh tế và xã hội ngày càng lớn Hàng loạt nông dân từ nông thôn di cư rathành thị, trở thành người làm thuê cho các công trường, xưởng thợ Họ tham gia vàolực lượng lao động xã hội mới, làm hình thành giai cấp công nhân Các tầng lớp xã hộitrên đại diện cho một nền sản xuất mới, cùng với nông dân đấu tranh chống chế độphong kiến đang suy tàn
*Về văn hoá, tư tưởng: Cùng với sự phát triển về kinh tế và xã hội, khoa học kĩ
thuật và tư tưởng thời kì Phục hưng cũng đạt được sự phát triển mạnh mẽ Các nhà tưtưởng thời Phục hưng đã phê phán mạnh mẽ các giáo lý Trung cổ Mở đầu là nhà triếthọc người phía Nam nước Đức, Nicôlai Kuzan (1401-1464) Tiếp đó là các nhà khoahọc - triết học như Nicôlai Côpecnich (1475-1543) người Ba Lan; Lêôna đơ Vanhxi(1452-1519) - nhà danh hoạ, nhà toán học, cơ học, kĩ sư người Italia; Gioocđanô Brunô(1548-1600) người Italia; Galilêô Galilê (1564-1642) người Italia Trong số nhữngthành tựu khoa học tự nhiên có ảnh hưởng to lớn đến nhận thức duy vật về thế giới, nổitrội hơn cả là thuyết nhật tâm của Nicôlai Côpecnich (1475-1543), nhà bác học vĩ đạingười Ba Lan Nicôlai Côpecnich đã đứng trên lập trường của triết học duy vật để bác
bỏ thuyết địa tâm do Ptôlêmê (người Hy Lạp) đề xuất từ thế kỷ thứ II, một giả thuyết sailầm coi quả đất là trung tâm của hệ mặt trời và vũ trụ Thuyết nhật tâm của NicôlaiCôpecnich đã giáng một đòn nặng nề vào thế giới quan tôn giáo, thần học Giả thuyếtcủa ông là một cuộc cách mạng trên trời, báo trước một cuộc cách mạng trong lĩnh vựccác quan hệ xã hội sắp xảy ra