Giải thích tại sao hàng hóa lại có hai thuộc tính Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị là vì lao động sản xuất hàng hóa có tính hai mặt lao động cụ thể và lao động trừu tượng Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng còn lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa Không phải có hai thứ lao động khác nhau, mà chỉ có một loại lao động sản xuất hàng hóa, nhưng loại lao động đó được xem xét ở hai mặt Nếu với mục đích tìm hiểu xem người lao động đã lao động như thế nào, bằng c.
Trang 1⇨ Giải thích tại sao hàng hóa lại có hai thuộc tính:
Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị là vì lao động sản xuất hàng hóa có tính hai mặt:lao động cụ thể và lao động trừu tượng
Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng còn lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa
Không phải có hai thứ lao động khác nhau, mà chỉ có một loại lao động sản xuất hàng hóa, nhưng loại laođộng đó được xem xét ở hai mặt Nếu với mục đích tìm hiểu xem người lao động đã lao động như thế nào,bằng cách nào để tạo ra sản phẩm hàng hóa thì đó là lao động cụ thể Cũng lao động sản xuất hàng hóa đó,nhưng lại xem xét để biết nó tốn bao nhiêu sức lực, hết bao nhiêu thời gian thì đó là lao động trừu tượng
Trang 2⇨ Việc nắm vững lý luận về hàng hóa có ý nghĩa gì đối với nhận thức và thực tiễn sản xuất kinh doanh hiện nay?
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Nhận thức
- Vận dụng những vấn đề đó vào hoạt động kinh doanh: Vì GTSD là vật mang giá trị, nên những người SXHHphải quan tâm đến chất lượng, mẫu mã và giá thành sản phẩm sao cho phù hợp với nhu cầu của người tiêudùng, thì mới bán được hàng hóa Còn người tiêu dùng phải “thông thái” khi mua hàng thì mới lựa chọnđược những hàng hóa có GTSD và giá cả phù hợp
Trang 3⇨ Nghiên cứu mối quan hệ giữa lượng lao động tiêu hao (lượng giá trị) với sức sản xuất của lao động (năng suất lao động), C Mác viết: “Như vậy là đại lượng giá trị của một hàng hóa thay đổi theo tỷ lệ thuận với lượng lao động thể hiện trong hàng hóa đó và theo tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động đó”.
Hãy phân tích luận điểm trên và nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này đối với quá trình sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Lượng giá trị của một hàng hóa tỷ lệ thuận với lượng lao động hao phí và tỷ lệ nghịch với năng suất laođộng
- Lượng giá trị của một hàng hóa tỷ lệ thuận với lượng lao động hao phí
+ Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa; nó phản ánhquan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa
+ Lượng giá trị của hàng hóa là số lượng lao động của người sản xuất hàng hóa
kết tinh trong hàng hóa và được đo bằng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa Đó là thờigian cần để sản xuất hàng hóa trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội Tức là với trình độ kỹ thuậttrung bình, trình độ tay nghề trung bình và cường độ lao động trung bình Điều kiện sản xuất bình thườngcủa xã hội thông thường được quyết định bởi điều kiện sản xuất của khối lượng chủ yếu của loại hàng hóa
đó Thông thường, thời gian lao động xã hội cần thiết được xác định theo thời gian lao động cá biệt củanhững người sản xuất và cung ứng tuyệt đại bộ phận loại hàng hóa đó trên thị trường
+ Trong quá trình sản xuất hàng hóa, mỗi người có một lượng lao động hao phí khác nhau, đó là hao phí laođộng cá biệt Hao phí này là cơ sở để xác định giá trị cá biệt của hàng hóa Trên thị trường, không thể dựavào giá trị cá biệt của hàng hóa để trao đổi mà phải dựa vào giá trị xã hội của hàng hóa Giá trị xã hội củahàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó Yêu cầu của việcxác định lượng giá trị của hàng hóa: Quy đổi lao động phức tạp thành lao động giản đơn để tính
Theo đó, lượng giá trị hàng hóa bằng thời gian lao động giản đơn trung bình cần thiết
- Lượng giá trị của một hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động
+ Năng suất lao động được đo bằng hai cách Một là, Q/t (số lượng sản phẩm được tạo ra trong một đơn vịthời gian) Hai là, t/1 sản phẩm (thời gian lao động chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm) Năng suấtlao động được quyết định bởi
* Trình độ tay nghề của người lao động;
* Trình độ phát triển khoa học, kỹ thuật - công nghệ và mức độ ứng dụng vào sản xuất;
* Việc phương pháp tổ chức sản xuất của xã hội;
* Quy mô và hiệu quả của tư liệu sản xuất;
* Những điều kiện tự nhiên
+ Khi năng suất lao động tăng lên, thời gian lao động để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống, do
đó, lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa ít đi, nên giá trị của một đơn vị hàng hóa giảm Ngượclại, khi năng suất lao động giảm xuống, thời gian lao động để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa tăng lên, do
đó, lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa nhiều lên, nên giá trị của một đơn vị hàng hóa tăng lên.+ Quy luật về sự biến đổi lượng giá trị hàng hóa yêu cầu người sản xuất hàng hóa phải lấy thời gian laođộng xã hội cần thiết để so sánh với thời gian lao động cá biệt của mình Tỷ lệ giữa thời gian lao động cábiệt đã hao phí để sản xuất hàng hóa với thời gian lao động xã hội sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành bạicủa việc thực hiện giá trị và kinh doanh
+ Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, năng suất lao động sẽ không ngừng tăng lên, số lượng hànghóa được sản xuất ra trong cùng một đơn vị thời gian sẽ tăng, lượng giá trị trong từng đơn vị hàng hóa
Trang 4ngày càng giảm nhưng tính phức tạp của lao động ngày càng gia tăng lại sẽ làm cho tổng giá trị xã hội giatăng.
Ý 2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này đối với quá trình sản xuất, kinh doanh trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Bất kể nền kinh tế thị trường thuộc loại hình và tính chất xã hội như thế nào, thì hạ thấp chi phí sản xuấtbao giờ cũng là biện pháp quan trọng để doanh nghiệp đạt hiệu quả
Các biện pháp đó là:
- Nâng cao năng suất lao động, giảm bớt chi phí lao động Đây là nhân tố có tính quyết định nhằm hạ thấpgiá trị cá biệt của doanh nghiệp Bởi vì nâng cao năng suất lao động tức là hạ thấp mức tiêu hao lao độngsống và cả lao động vật hóa trong giá thành sản phẩm
- Nâng cao năng suất lao động sẽ làm cho tốc độ tăng trưởng tiền công thấp hơn tốc độ tăng của năng suấtlao động, từ đó giảm bớt hàm lượng tiền công trong giá thành của từng sản phẩm
- Tích cực áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, giảm bớt hao phí nguyên, nhiên vật liệu trên từng đơn vị sảnphẩm Sử dụng hợp lý thiết bị máy móc, nâng cao hiệu suất sử dụng thiết bị
- Nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm thiểu thứ phẩm và phế phẩm nhằm giảm bớt lãng phí lao động sống
và lao động vật hóa
- Tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp và giảm bớt các loại chi phí không mang tính sản xuất
Trang 5⇨ Trình bày nội dung, yêu cầu và tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá Việc nhận thức và vận dụng quy luật giá trị trong thực tiễn sản xuất kinh doanh ở nước ta như thế nào?
Y1 Nội dung, yêu cầu của quy luật giá trị
- Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và lưu thông hàng hoá, ở đâu có sản xuất và traođổi hàng hoá thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị Quy luật giá trị phối hợp hoạt động của nhữngngười sản xuất và trao đổi hàng hoá
- Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cầnthiết Điều đó có nghĩa là những người sản xuất hàng hoá phải luôn tìm cách làm cho hao phí lao động cábiệt của mình phù hợp với lao động xã hội tất yếu để sản xuất ra hàng hoá, trong trao đổi phải theo nguyêntắc ngang giá
- Chỉ có thông qua sự vận động lên xuống của giá cả thị trường mới thấy được sự hoạt động của quy luậtgiá trị Giá cả hàng hoá vận động lên xuống xoay xung quanh giá trị, nhưng tổng số giá cả bằng tổng số giátrị của hàng hoá
Ý 2 Tác dụng của quy luật giá trị
Trong nền kinh tế hàng hoá quy luật giá trị có các tác dụng sau:
- Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá
+ Điều tiết sản xuất thông qua cơ chế cung cầu và giá cả trên thị trường:
• Cung nhỏ hơn cầu, thì giá cả lớn hơn giá trị, nghĩa là hàng hoá sản xuất có lãi Giá cả cao hơn giá trị kíchthích mở rộng và đẩy mạnh sản xuất để tăng cung; ngược lại, cầu giảm vì giá tăng
• Cung lớn hơn cầu, sản phẩm sản xuất ra quá nhiều so với nhu cầu, giá cả thấp hơn giá trị, sản xuất không
có lãi Thực tế đó, tự người sản xuất ra quyết định ngừng hoặc giảm sản xuất; ngược lại, giá giảm kích thíchtăng cầu, tự nó là nhân tố làm cho cung tăng
• Cung cầu tạm thời cân bằng, giá cả bằng giá trị thì người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất mặt hàng này Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia TLSX và sức lao động vào các ngành sản xuấtkhác nhau, đáp ứng nhu cầu xã hội khác nhau
+ Điều tiết lưu thông: Quy luật giá trị điều tiết lưu thông hàng hoá từ nơi giá thấp đến nơi giá cao Nó cótác dụng phân phối điều hoà một cách hợp lý hơn nguồn hàng, giá cả hàng hoá giữa các vùng của đất nước,giữa nước này với nước khác - Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất laođộng, hạ giá thành sản phẩm
Các hàng hoá sản xuất trong những điều kiện khác nhau, do đó mức hao phí lao động cá biệt khác nhaunhưng trên thị trường, các hàng hoá được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết Vậy ngườisản xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết thì
sẽ thu được nhiều lãi Điều đó kích thích người sản xuất hàng hoá cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất…nhằm tăng năng suất lao động, hạ chi phí sản xuất
- Thứ ba, phân hoá người sản xuất hàng hoá thành giàu, nghèo:
Những người sản xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hộicần thiết, khi bán hàng theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên, có thểmua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm chí thuê lao động trở thành ông chủ.Ngược lại, những người sản xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động cá biệt cao hơn mức hao phí laođộng xã hội cần thiết, khi bán hàng sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí phá sản, trở thành laođộng làm thuê
Trang 6Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất TBCN, cơ sở ra đời củaCNTB.
Trang 7⇨ Trình bày mâu thuẫn trong công thức thức chung của tư bản và giải thích tại sao trao đổi ngang giá mà nhà tư bản vẫn thu được giá trị thặng dư?
+ Tiền tệ là hình thức biểu hiện ban đầu của tư bản Trước CNTB, tư bản thương nhân và tư bản cho vaynặng lãi đã sử dụng tiền tệ, nhưng bản thân tiền tệ đó không phải là tư bản Vì tiền tệ đó chỉ đóng vai tròmôi giới trong trao đổi hàng hóa (H - T - H) Hình thức lưu thông này là đặc trưng của sản xuất hàng hóanhỏ của những người thợ thủ công và nông dân
+ Sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển, làm xuất hiện một hình thức lưu thông mới, cũng gồm hai hành
vi mua và bán, cũng có hai nhân tố Tiền và Hàng, cũng thể hiện quan hệ giữa người mua và người bánnhưng tiền tệ lại vận động theo công thức: T - H - T’ Đó là đặc trưng của lưu thông hàng hóa TBCN Mụcđích của lưu thông tư bản là thu về một số tiền lớn hơn số tiền ứng ra ban đầu - giá trị thặng dư Khi GTmang lại m thì tiền trở thành tư bản
+ Nhìn vào công thức chung của tư bản, dường như giá trị sinh ra giá trị thặng dư Các nhà kinh tế học tưsản đã cố tình chứng minh rằng quá trình lưu thông đẻ ra giá trị thặng dư, hòng che giấu nguồn gốc làmgiàu của các nhà tư bản C.Mác chứng minh rằng, lưu thông không sinh ra một giá trị mới nào, dù người tatrao đổi theo giá trị hay không theo giá trị
Trang 8⇨ Trao đổi hàng hóa theo nguyên tắc ngang giá, những người tham gia trao đổi đạt được mục đích làthỏa mãn nhu cầu.
Trang 9⇨ Trao đổi hàng hóa không theo nguyên tắc ngang giá, có 3 trường hợ xảy ra:
Trang 10+ Thứ nhất: bán hàng hóa cao hơn giá trị
Trang 11+ Thứ hai, mua hàng hóa thấp hơn giá trị.
Trang 12=>Cả 2 trường hợp này số giá trị trong nèn kinh tế hàng hóa hóa không ai chỉ bán mà không muahoặc chỉ mua mà không bán Do đó tổng giá trị hàng hóa của xã hội không hề tăng lên hoặc giảm đi.
Trang 13+ Thứ ba, mua thấp hơn giá trị và bán cao hơn giá trị
Trang 14=>Đây là trường hợp có người chuyên mua rẻ bán đắt Số giá trị mà những người này kiếm đượcđúng bằng số giá trị của những người bị lừa đảo, ăn cắp Do đó, tổng giá trị của xã hội cũng không
hề tăng lên
C.Mác kết luận: “Lưu thông hay trao đổi hàng hóa không sáng tạo ra giá trị nào cả”
Trang 15⇨ Lưu thông không sinh ra GTTD, phải chăng GTTD có thể được tạo ra ở bên ngoài lưu thông? Có
hai trường hợp:
1 Người trao đổi vẫn giữ hàng hóa của mình, và giá trị của những HH ấy không hề tăng lên
2 Người sản xuất sáng tạo ra giá trị mới bằng lao động của mình bằng cách chuyển giá trị của TLSX và giátrị SLĐ vào sản phẩm “Vậy là giá trị thặng dư không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện
ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông”
Trang 16⇨ Giải thích tại sao trao đổi ngang giá mà nhà tư bản vẫn thu được m(GTTD)?
+ Nêu đúng khái niệm: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinhthần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khisản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”
+ Phân tích được hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động Trong đó, chỉ rõ được
việc nhà tư bản mua hàng hóa sức lao động theo NTNG, nhưng do thuộc tính giá trị sử dụng của hàng hóaSLĐ là công dụng của SLĐ thoả mãn nhu cầu của người lao động và chủ sử dụng lao động Nó được thể hiện
ra trong quá trình LĐ Khác với các hàng hóa thông thường, giá trị sử dụng của SLĐ có đặc tính là làm tănggiá trị Đồng thời, chính đặc tính này là điều kiện để tiền tệ chuyển hoá thành tư bản Trao đổi ngang giá⎝
mà nhà tư bản vẫn thu được giá trị thặng dư
Trang 17⇨ Hãy thông qua một ví dụ để trình bày cách làm tăng giá trị của nhà tư bản; từ đó rút ra định nghĩa về thời gian lao động tất yếu, thời gian lao động thặng dư, ngày lao động và định nghĩa đầy
đủ về tư bản.
Ý 1 Để hiểu bản chất quá trình sản xuất giá trị thặng dư diễn ra như thế nào ta tìm hiểu qua ví dụ sau đây:
Để sản xuất ra 10 kg sợi, một nhà tư bản chi phí các yếu tố sản xuất như sau:
- Mua 10 kg bông hết 20.000 đơn vị tiền tệ
- Mua sức lao động của công nhân trong 1 ngày (10 giờ) hết 5.000 đơn vị tiền tệ
- Hao mòn máy móc để chuyển 1kg bông thành sợi hết 3.000 đơn vị tiền tệ
Giả sử trong 5 giờ đầu của ngày lao động, bằng lao động cụ thể, công nhân sử dụng máy móc cán và xe 10
kg bông thành sợi, theo đó giá trị của bông (20.000) và phần hao mòn máy móc (3.000) được chuyển vàosợi; bằng lao động trừu tượng, người công nhân đã tạo ra một lượng giá trị mới bằng giá trị sức lao động(5.000) Như vậy, giá trị của 10 kg sợi là 28.000 đơn vị tiền tệ
Nếu nhà tư bản chỉ yêu cầu người công nhân làm việc trong 5giờ thì nhà tư bản không có lợi lộc gì, khôngđạt được mục đích là kiếm giá trị thặng dư Nhưng nhà tư bản mua sức lao động trong một ngày (10 giờ)thì phải sử dụng số hàng đã mua đó trong cả ngày
Trong 5 giờ lao động tiếp theo của ngày lao động, nhà tư bản chỉ phải chi phí các yếu tố sản xuất như sau:
- Mua thêm 10 kg bông hết 20.000 đơn vị tiền tệ
- Hao mòn máy móc để chuyển 10 kg bông thành sợi hết 3.000 đơn vị tiền tệ Quá trình lao động lại tiếptục diễn ra và kết thúc quá trình này, người công nhân lại tạo ra 10 kg sợi có giá trị là 28.000 đơn vị tiền tệ.Như vậy, sau một ngày nhà tư bản đã có 20 kg sợi với giá trị là 56.000 nhưng chỉ phải bỏ ra 51.000 So với
số tư bản ứng trước (51.000) sản phẩm sợi thu được có giá trị lớn hơn là 5.000 Đó là giá trị thặng dư mànhà tư bản thu được
Vậy, giá trị thặng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bịnhà tư bản chiếm không
Mục đích của nhà tư bản đã đạt được, mặc dù vẫn theo đúng quy luật trao đổi: mua bán ngang giá Đếnđây chúng ta có thể giải thích rõ hơn mâu thuẫn của công thức chung của tư bản: trong quá trình lưuthông, nhà tư bản trả đúng giá trị của hàng hoá sức lao động; trong quá trình sản xuất, công nhân tạo ramột giá trị mới bằng giá trị sức lao động của mình cộng thêm giá trị thặng dư; nhà tư bản đem bán hànghoá có chứa đựng giá trị thặng dư, nên thu được nhiều tiền hơn so với số tiền bỏ ra ban đầu
Ý 2 Định nghĩa về thời gian lao động tất yếu, thời gian lao động thặng dư, ngày lao động và định nghĩa đầy đủ về tư bản.
- Thời gian lao động tất yếu: bộ phận thời gian để tái sản xuất giá trị sức lao động được gọi là thời gian laođộng cần thiết
- Thời gian lao động thặng dư: bộ phận thời gian sản xuất ra giá trị thặng dư
- Ngày lao động: trong quá trình làm tăng thêm giá trị, ngày lao động được chia làm hai bộ phận: thời gianlao động cần thiết hay tất yếu và thời gian lao động thặng dư
- Tư bản: giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột sức lao động của công nhân làm thuê