HƯỚNG DẪN ÔN TẬP MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊ NIN PHẦN I 1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin 1 1 Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác Lênin Kế thừa nhữn.
Trang 1HƯỚNG DẪN ÔN TẬP MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊ NIN
PHẦN I:
1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin
1.1 Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin
- Kế thừa những thành tựu khoa học của kinh tế chính trị cổ điển Anh, dựa trên quan điểm duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa kinh tế chính trị trở thành một khoa học thực sự C.Mác và
Ph.Ăngghen xác định: đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là các mối quan hệ của sản xuất và trao
đổi trong phương thức sản xuất mà các quan hệ đó hình thành và phát triển.
- Về cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu, C.Mác và Ph.Ăng ghen cho rằng, kinh tế chính trị có thể
được hiểu theo nghĩa hẹp hoặc theo nghĩa rộng
+ Theo nghĩa hẹp, kinh tế chính trị nghiên cứu quan hệ sản xuất và trao đổi trong một phương thức
sản xuất nhất định Ví dụ, trong CNTB C.Mác cho rằng, đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là các quan hệ sản xuất và trao đổi của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và mục đích cuối cùng là tìm
ra quy luật vận động kinh tế của xã hội hiện đại (xã hội tư bản chủ nghĩa)
+ Theo nghĩa rộng, kinh tế chính trị là khoa học về những quy luật chi phối sự sản xuất vật chất và
sự trao đổi những tư liệu sinh hoạt vật chất trong xã hội loài người…kinh tế chính trị, về thực chất là một môn khoa học có tính lịch sử… nó nghiên cứu trước hết là những quy luật đặc thù của từng giai đoạn phát triển của sản xuất và của trao đổi, và chỉ sau khi nghiên cứu như thế xong xuôi rồi nó mới có thể xác
định ra một vài quy luật hoàn toàn có tính chất chung, thích dụng, nói chung cho sản xuất và trao đổi
- Như vậy: Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin là các quan hệ của sản xuất và trao đổi mà các quan hệ này được đặt trong sự liên hệ biện chứng với trình độ phát triển của lực lương sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của một phương thức sản xuất nhất định.
Lưu ý: Khi xem xét đối tượng nghiên cứu nêu trên, kinh tế chính trị Mác-Lênin không xem nhẹ các
quan hệ kinh tế trong một khâu và giữa các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội
- Mục đích nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin là nhằm phát hiện ra các phạm trù, quy
luật kinh tế chi phối các quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi Từ đó giúp các chủ thể trong xã hội vận dụng các quy luật ấy thúc đẩy phát triển KT- XH…
- Phạm trù kinh tế: là những khái niệm phản ánh bản chất của những hiện tượng kinh tế (như hàng –
tiền, giá trị, giá cả, lợi nhuận, lợi tức, địa tô…).
- Quy luật kinh tế: là những mối liên hệ phản ánh bản chất, khách quan, lặp đi lặp lại của các hiện
tượng và quá trình kinh tế (phân loại quy luật kinh tế: quy luật chung – hoạt động trong mọi PTSX; quy luật đặc biêt: hoạt động trong một số hình thái kinh tế - xã hội; quy luật đặc thù: chỉ tồn tại trong một PTSX).
+ Quy luật kinh tế có các tính khách quan; và sự tác động, phát huy vai trò của nó đối với sản xuất
và trao đổi phải thông qua hoạt động của con người.
+ Nghiên cứu và vận dụng quy luật kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng, nếu nhận thức và vận dung
đúng nó sẽ phát huy sự sáng tạo của con người, thúc đẩy sự giàu có và văn minh xã hội, ngược lại sẽ phải chịu những tổn thất khó lường.
+ Cần phân biệt đúng đắn giữa quy luật kinh tế và chính sách kinh tế Quy luật kinh tế tồn tại khách quan, là cơ sở của chính sách kinh tế Chính sách kinh tế là sản phẩm chủ quan của con người, nó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với quy luật kinh tế…
1.2 Phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin
Trang 2- Phương pháp biện chứng duy vật: đây là phương pháp cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin được sử
dụng đối với nhiều môn khoa học Trong kinh tế chính trị Mác - Lênin, phương pháp này đòi hỏi:
+ Khi xem xét các hiện tượng và quá trình kinh tế phải đặt trong các mối liên hệ tác động qua lại lẫn
nhau, thường xuyên vận động và phát triển không ngừng.
+ Quá trình phát triển là quá trình tích lũy những biến đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất + Nguồn gốc của sự phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Các hiện tượng
và quá trình phát triển kinh tế luôn gắn với điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: đây là phương pháp quan trọng được sử dụng phổ biến
trong kinh tế chính trị Mác - Lênin
+ Thực chất của phương pháp này là gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiên, những hiện tượng tạm thời
xảy ra trong các hiện tượng và quá trình nghiên cứu để tách ra những cái tất yếu, điển hình, ổn định, bền vững của đối tượng nghiên cứu
+ Trên cơ sở đó, nắm bắt được bản chất, xây dựng được các phạm trù và phát hiện được tính quy luật và quy luật chi phối sự vận động của đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp này, cần phải biết xác định giới hạn của sự trừu tượng hóa Giới hạn này phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp logic kết hợp với lịch sử:
+ Nghiên cứu, tiếp cận bản chất, các xu hướng và quy luật kinh tế gắn với tiến trình hình thành, phát triển các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi.
+ Việc áp dụng phương pháp này cho phép rút ra những kết quả nghiên cứu mang tính logic từ trong tiến trình lịch sử của quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi.
- Một số phương pháp khác: Kinh tế chính trị Mác - Lênin còn sử dụng các phương pháp khác như
phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, toán học, mô hình hóa…
2 Thế nào là hàng hóa ? Hai thuộc tính của hàng hóa
2.1 Khái niệm hàng hóa
- Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán
- Sản phẩm của lao động chỉ mang hình thái hàng hóa khi nhằm đưa ra trao đổi, mua bán trên thị trường Sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người nhưng không được đem ra trao đổi hoặc không nhằm mục đích sản xuất để trao đổi thì không phải hàng hóa.
- Hàng hóa có thể sử dụng cho nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu sản xuất.
- Hàng hóa có thể tồn tại ở dạng vật thể hoặc ở dạng phi vật thể.
2.2 Hai thuộc tính của hàng hóa
- Mỗi một hàng hóa dù khác nhau về hình thái tồn tại, đều có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị
- Giá trị sử dụng
+ Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của vật phẩm, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của
con người.Nhu cầu đó có thể là nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần; cũng có thể là nhu cầu cho tiêu dùng cá nhân, hoặc nhu cầu cho tiêu dùng cho sản xuất
+ Giá trị sử dụng của hàng hóa do thuộc tính tự nhiên của yếu tố tham gia cấu thành nên hàng hóa
đó quy định Nền sản xuất càng phát triển, khoa học, công nghệ càng tiên tiến, càng giúp con người phát hiện ra nhiều và phong phú các giá trị sử dụng của hàng hóa khác nhau.
Trang 3+ Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của người mua Nên người sản xuất tất yếu phải quan tâm giá trị sử dụng của hàng hóa do mình sản xuất ra đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người mua Gía trị sử dụng của hàng hóa do thuộc tính tự nhiên quy định nên là một phạm
trù vĩnh viễn
- Giá trị
+ Muốn hiểu giá trị phải đi từ giá trị trao đổi Gía trị trao đổi là mối quan hệ tỷ lệ về lượng những giá trị sử dụng khác nhau Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất ra hàng hóa kết tinh
trong hàng hóa ấy
+ Sở dĩ các hàng hóa trao đổi được với nhau, vì giữa chúng có một điểm chung: chúng đều là kết quả của sự hao phí sức lao động Tức là hàng hóa có giá trị Khi là hàng hóa, dù khác nhau về giá trị sử dụng, chúng đều là kết quả của sự hao phí sức lao động của người sản xuất ra hàng hóa ấy, nên hàng hóa
có giá trị
+ Lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa mang tính xã hội, phản ánh quan hệ giữa người bán
với người mua, hàm ý trong quan hệ xã hội
Như vậy: Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa đã hao phí để
sản xuất ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa ấy
+ Bản chất của giá trị là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa Gía trị hàng
hóa biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất, trao đổi hàng hóa và là phạm trù có tính lịch sử Khi nào có sản xuất và trao đổi hàng hóa, khi đó có phạm trù giá trị hàng hóa
+ Gía trị trao đổi là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị; giá trị là nội dung, là cơ sở của
giá trị trao đổi
- Hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị cùng tồn tại đồng thời trong một hàng hoá Nếu thiếu
một trong hai thuộc tính ấy thì vật phẩm không phải là hàng hóa
3 Lượng giá trị của hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa.
3.1 Lượng giá trị của hàng hóa
- Lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng lượng lao động hao phí để sản xuất hàng hóa đó
- Lượng lao động hao phí ấy được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết.
- Thời gian lao động xã hội cần thiết: Là thời gian đòi hỏi để sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó trong điều kiện bình thường của xã hội, với một trình độ trang thiết bị trung bình, trình độ thành thạo trung bình và cường độ lao động trung bình.
- Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa là lượng thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra đơn vị hàng hóa đó
- Thời gian lao động xã hội cần thiết là một đại lượng không cố định vì:
+ Nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của các quốc gia, của từng thời kỳ
+ Nên người SX thường phải tích cực đổi mới, sáng tạo nhằm giảm thời gian lao động cá
biệt xuống mức thấp hơn mức hao phí trung bình cần thiết để có ưu thế trong cạnh tranh.
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
- Năng suất lao động:
+ Khái niệm năng suất lao động: NSLĐ là sức sản xuất của lao động hay là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Trang 4+ Ví dụ: Bình thường: 8h/3000cl → 8sp → 1sp/1h/3000calo; NSLĐ tăng lên gấp 2: 8h/3000cl → 16sp → 2sp/1h/3000calo
+ NSLĐ ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa: khi NSLĐ tăng lên sẽ làm giảm lượng thời gian lao động hao phí cần thiết trong một đơn vị hàng hóa, do đó cũng làm giảm lượng giá trị trong đơn vị hàng hóa đó NSLĐ tỷ lệ nghịch với lượng giá trị trong một đơn vị hàng hóa
+ NSLĐ chịu ảnh hưởng của các yếu tố: Trình độ khéo léo (thành thạo) trung bình của người công nhân; mức độ phát triển KH - CN và ứng dụng nó; trình độ tổ chức quản lý; quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất và các điều kiện tự nhiên.
- Cường độ lao động:
+ Khái niệm cường độ lao động: CĐLĐ là mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động trong sản xuất.
+ Ví dụ: Bình thường: 8h/3000calo → 8sp → 1sp/1h/3000calo; CĐLĐ tăng lên gấp 2: 8h/6000calo → 16sp → 2sp/1h/6000calo
+ CĐLĐ ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa: Tăng CĐLĐ là tăng mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động Khi CĐLĐ tăng lên, thì lượng lao động hao phí trong cùng một đơn vị thời gian cũng tăng lên và lượng sản phẩm được tạo ra tăng lên tương ứng, còn lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm thì không đổi Tăng CĐLĐ, xét về thực chất cũng giống như kéo dài thời gian lao động
+ CĐLĐ chịu ảnh hưởng của các yếu tố: sức khỏe, thể chất, tâm lý, tinh thần… của người lao động.
- Tính chất phức tạp hay giản đơn của lao động:
+ Lao động giản đơn: là lao động không đòi hỏi phải trải qua quá trình đào tạo cũng có thể thực
hiện được
+ Lao động phức tạp: là lao động đòi hỏi phải trải qua quá trình đào tạo, huấn luyện mới có thể tiến hành được
+ Lao động phức tạp ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa: Trong cùng một đơn vị thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn C.Mác gọi lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân lên.
4 Nội dung và tác động của quy luật giá trị
4.1 Tại sao nói quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của SX và TĐ hàng hóa ?
- Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất hàng hóa Ở đâu có sản xuất
hàng hóa thì ở đó có quy luật giá trị hoạt động.
- Trong nền sản xuất hàng hóa, có sự tách biệt tương đối về kinh tế giữa những người sản
xuất, việc sản xuất ra cái gì, sản xuất như thế nào, phân phối cho ai là công việc cá nhân của các chủ sở hữu về tư liệu sản xuất định đoạt Mỗi cá nhân chỉ sản xuất hàng hóa sản phẩm mà mình
có khả năng nhưng nhu cầu bản thân cần có các sản phẩm khác để thỏa mãn nhu cầu buộc họ phải trao đổi sản phẩm cho nhau theo quy luật giá trị Quy luật giá trị chi phối tất cả mọi hoạt động của sản xuất và trao đổi hàng hóa
4.2 Nội dung yêu cầu của quy luật giá trị
- Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất hàng hóa Ở đâu có sản xuất hàng hóa thì ở đó có quy luật giá trị hoạt động
- Quy luật giá trị yêu cầu những người sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị hay dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết.
+ Trong sản xuất: Hao phí lao động cá biệt < Hao phí lao động xã hội cần thiết Giá trị cá biệt hàng hóa < Giá trị xã hội của hàng hóa
+ Trong trao đổi: Thực hiện theo nguyên tắc ngang giá, lấy giá trị xã hội làm cơ sở, không dựa trên giá giá trị cá biệt
Trang 5- Cơ chế vận động của quy luật giá trị: Quy luật giá trị hoạt động và phát huy tác dụng thông qua sự vận động của giá cả Trong khi đó, giá cả chịu sự ảnh hưởng của 3 nhân tố: Giá trị hàng hóa; Quan hệ cung – cầu; Sức mua của tiền, vì vậy làm cho giá cả lên xuống xoay quanh giá trị của hàng hóa
4.3 Tác động của quy luật giá trị
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa:
+ Điều tiết sản xuất: Nếu cung = cầu, giá cả hàng hóa = giá trị thì việc sản xuất phù hợp với yêu cầu
xã hội, hàng hóa vẫn được tiếp tục sản xuất Nếu cung < cầu, giá cả > giá trị thì việc sản xuất cần được
mở rộng Nếu cung > cầu, giá cả hàng hóa < giá trị thì phải thu hẹp sản xuất
+ Điều tiết lưu thông: Quy luật giá trị điều tiết hàng hóa từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, từ nơi cung lớn hơn cầu đến nơi cung nhỏ hơn cầu
- Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất của xã hội:
+ Trên thị trường, hàng hóa được trao đổi theo giá trị xã hội nên người sản xuất có giá trị cá biệt < giá trị xã hội thì sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn; người sản xuất có giá trị cá biệt > giá trị xã hội sẽ thua
lỗ Vì vậy, người sản xuất phải tìm mọi cách làm cho giá trị cá biệt nhỏ hơn giá trị xã hội.
+ Muốn giảm giá trị cá biệt phải cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, thực hành tiết kiệm…Lúc đầu một vài người, vài ngành làm dần dần nhiều người, nhiều ngành…Kết quả làm tăng NSLĐ và phát triển LLSX của xã hội
- Phân hóa những người sản xuất thành người giàu, người nghèo một cách tự nhiên:
+ Những người sản xuất nhạy bén với thị trường, trình độ, năng lực tốt sản xuất với hao phí lao động cá biệt < hao phí lao động chung của xã hội sẽ có lợi nhuận và trở nên giàu có.
+ Những người sản xuất do hạn chế về vốn, kinh nghiệm sản xuất thấp kém, trình độ lạc hậu… sản xuất với hao phí lao động cá biệt > hao phí lao động chung của xã hội sẽ không bù đắp được chi phí, phá sản và trở thành người nghèo.
+ Sự phân hóa này là hoàn toàn khách quan phụ thuộc vào khả năng của từng người.
4.4 Ý nghĩa tác động của quy luật giá trị
- Tích cực:
+ Đào thải cái lạc hậu, lỗi thời; kích thích sự tiến bộ, làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ + Lựa chọn, đánh giá người sản xuất, đảm bảo sự bình đẳng đối với người sản xuất
- Tiêu cực:
+ Phân hóa xã hội thành giàu nghèo, tạo sự bất bình đẳng trong xã hội.
+ Đòi hỏi sự cần thiết phải có sự điều tiết của nhà nước để hạn chế tiêu cực, thúc đẩy yếu tố tích cực
5 Sức lao động là gì ? Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động Tại sao nói hàng hóa sức lao động
là hàng hóa đặc biệt ?
5.1 Sức lao động
- Khái niệm sức lao động: Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất
và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó
- Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:
+ Điều kiện 1: Người lao động được tự do về thân thể
+ Điều kiện 2: Người lao động không có đủ các tư liệu sản xuất cần thiết để tự kết hợp với sức lao
động của mình tạo ra hàng hóa để bán, họ buộc phải bán sức lao động
5.2 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
- Giá trị
+ Giá trị của hàng hóa sức lao động cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định
Trang 6+ Giá trị của hàng hóa sức lao động được đo lường gián tiếp thông qua lượng giá trị của các tư liệu sinh hoạt để tái sản xuất ra sức lao động.
+ Cấu thành giá trị của hàng hóa sức lao động bao gồm: giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết (vật chất và tinh thần) để tái sản xuất ra sức lao động; phí tổn đào tạo người lao động; giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết (vật chất và tinh thần) để nuôi con của người lao động
- Giá trị sử dụng
+ Cũng giống như các hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có công dụng đó là thỏa mãn nhu cầu của người mua
+ Khác với các hàng hóa khác, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động chỉ được thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động của người công nhân
+ Hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt, nó mang yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính năng đặc biệt khác hàng hóa thông thường là khi sử dụng nó, không những giá trị của nó được bảo tồn mà còn tạo ra một lượng giá trị lớn hơn bản thân nó
+ Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động là chìa khóa chỉ rõ nguồn gốc của giá trị lớn hơn do đâu
mà có
5.3 Hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt
- Hàng hóa sức lao động mang yếu tố tinh thần và lịch sử
- Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính năng đặc biệt mà không hàng hóa thông thường nào có được, đó là trong khi sử dụng nó, không những giá trị của nó được bảo tồn mà còn
tạo ra được lượng giá trị lớn hơn
- Hàng hóa sức lao động là chìa khóa chỉ rõ nguồn gốc của giá trị lớn hơn (giá trị thặng dư)
do đâu mà có
- Sau khi bán, sức lao động không tách rời khỏi người bán
- Sức lao động chỉ bán trong một khoảng thời gian nhất định chứ không phải bán hẳn.
- Việc mua bán trên thị trường và việc sử dụng hoàn toàn tách rời nhau
- Hàng hóa sức lao động không tồn kho, cất trữ.
6 Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa
Để sản xuất được nhiều giá trị thặng dư cần có các phương pháp nhất định, C Mác đã chỉ ra nhà tư bản sử dụng hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư: sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
và sản xuất giá trị thặng dư tương đối.
6.1 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
- Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi
- Ví dụ: Ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ, tỷ suất giá trị thặng dư là 100% Nếu kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ nữa với mọi điều kiện không thay đổi thì thời gian lao động thặng dư tăng từ 4 giờ lên 6 giờ và tỷ suất giá trị thặng dư tăng từ 100% lên 150% Khi m’ tăng từ 100% lên 150% thì M sẽ tăng (V không đổi).
Trang 7- Trong nền kinh tế thị trường, để có nhiều giá trị thặng dư, người mua hàng hóa sức lao động luôn tìm mọi cách để kéo dài ngày lao động hoặc tăng cường độ lao động
- Ngày lao động bị giới hạn bởi ngày tự nhiên (24 giờ) và giới hạn về mặt sinh lý của người lao động (thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí…) nên không thể kéo dài bằng ngày tự nhiên và không thể tăng cường độ lao động vô hạn vượt quá sức chịu đựng của người lao động
- Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối thường được
áp dụng trong giai đoạn đầu khi CNTB mới phát triển
6.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
- Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được nhờ rút ngắn thời gian lao động tất yếu,
do đó kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi ngày lao động không thay đổi, thậm chí rút ngắn
- Ví dụ: Ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư là
4 giờ, tỷ suất giá trị thặng dư là 100% Nếu giá trị sức lao động giảm khiến thời gian lao động tất yếu rút xuống còn 2 giờ thì thời gian lao động thặng dư sẽ là 6 giờ và tỷ suất giá trị thặng dư sẽ tăng từ 100% lên 300% Khi m’ tăng từ 100% lên 300% thì M sẽ tăng (V không đổi).
- Để hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết để tái sản xuất sức lao động, do đó phải tăng NSLĐ trong các ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt và các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu sinh hoạt đó.
- Việc cải tiến kỹ thuật, tăng NSLĐ, giảm giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội sẽ thu được giá trị thặng dư vượt trội hơn so với những người sản xuất khác, đó là giá trị thặng dư siêu ngạch.
+ Giá trị thặng dư siêu gạch là phần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt, làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó.
+ Giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối, bởi vì giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối có điểm giống và khác nhau sau đây:
Điểm giống nhau: Đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động.
Điểm khác nhau: Giá trị thặng dư tương đối dựa vào tăng năng suất lao động lao động xã hội; còn giá trị thặng dư siêu ngạch dựa vào tăng năng suất lao động cá biệt Giá trị thặng dư tương đối có được là nhờ hạ thấp giá trị xã hội; còn giá trị thặng dư siêu ngạch có được là nhờ hạ thấp giá trị cá biệt so với giá trị xã hội Giá trị thặng dư tương đối do toàn bộ giai cấp các nhà tư bản thu được; còn giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ do một số các nhà tư bản có kỹ thuật tiên tiến thu được.
+ Xét trong từng xí nghiệp giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, nhưng xét trên
phạm vi toàn xã hội tư bản thì giá trị thặng dư siêu gạch thường xuyên tồn tại
+ Giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy các nhà tư bản ra sức cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, sản xuất giá trị thặng dư tương đối thường được áp dụng trong giai đoạn sau khi CNTB đã phát triển
7 Thế nào là tích lũy tư bản ? Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản.
7.1.Bản chất của tích lũy tư bản
- Khái niệm tích lũy tư bản: Tích lũy tư bản là tư bản hóa giá trị thặng dư
- Bản chất của tích lũy tư bản là quá trình tái sản xuất mở rộng TBCN thông qua việc biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh thông qua mua thêm hàng hóa sức lao động, mở mang nhà xưởng, mua thêm nguyên vật liệu, trang bị thêm máy móc thiết bị
- Nguồn gốc duy nhất của tư bản tích lũy là giá trị thặng dư
7.2 Những nhân tố góp phần làm tăng quy mô tích lũy
- Thứ nhất, nâng cao tỷ suất giá trị thặng dư
Trang 8+ Tỷ suất giá trị thặng dư (m‘) tăng sẽ tạo tiền đề để tăng quy mô giá trị thặng dư Từ đó mà tạo điều kiện để tăng quy mô tích lũy tư bản
+ Để nâng cao tỷ suất giá trị thặng dư, ngoài sử dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối, nhà tư bản còn có thể sử dụng các biện pháp cắt xén tiền công, tăng ca kíp…
- Thứ hai, nâng cao năng suất lao động
NSLĐ tăng lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng giảm Sự giảm này dẫn đến lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích lũy cũng có thể chuyển hóa thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm nhiều hơn trước
- Thứ ba, sử dụng hiệu quả máy móc
+ Sử dụng hiệu quả máy móc chính là sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu lao động mà toàn bộ quy mô hiện vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất sản phẩm Tư bản tiêu dùng là phần giá trị những tư liệu lao động ấy được chuyển vào sản phẩm theo từng chu kì sản xuất dưới dạng khấu hao.
+ Trong quá trình sản xuất, tư liệu lao động (máy móc, thiết bị) tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của giảm dần bị khấu hao từng phần Hệ quả, mặc dù đã mất dần giá trị nhưng tính năng hoạt động của máy móc vẫn nguyên như cũ và được xem như là sự phục vụ không công Máy móc càng hiện đại thì sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng càng lớn, do đó sự phục vụ không công càng lớn, tư bản lợi dụng được những thành tựu của lao động quá khứ càng nhiều, nhờ vậy quy mô tích lũy tư bản càng lớn
- Thứ tư, đại lượng tư bản ứng trước
+ Khối lượng tư bản đầu tư tăng làm cho khối lượng giá trị thặng dư tăng tạo tiền đề cho tăng quy
mô tích lũy (trong điều kiện trình độ bóc lột không thay đổi)
+ Đại lượng của tư bản ứng trước, nhất là bộ phận tư bản khả biến càng lớn thì khối lượng giá trị thặng dư thu được càng lớn, càng tạo điều kiện tăng thêm quy mô của tích lũy tư bản
8 Thế nào là tích tụ tư bản và tập trung tư bản ? Sự giống nhau và khác nhau giữa tích tụ
tư bản và tập trung tư bản Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này.
8.1 Khái niệm tích tụ tư bản và tập trung tư bản
- Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách tư bản hóa giá trị thặng
dư trong một xí nghiệp nào đó, nó là kết quả trực tiếp của tích lũy tư bản
Ví dụ: Tư bản A: Năm 1 quy mô 100.000$ Năm 2 quy mô 150.000$ Năm 3 quy mô 200.000$
- Tập trung tư bản là sự tăng quy mô của tư bản cá biệt bằng cách hợp nhất các tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội thành một tư bản cá biệt khác lớn hơn
Ví dụ: Tư bản A 100.000$ + Tư bản B 100.000$ + Tư bản C 100.000$ = Tư bản D 300.000$
8.2 Sự giống và khác nhau giữa tích tụ tư bản và tập trung tư bản
- Giống nhau
+ Đều làm tăng quy mô của tư bản cá biệt Từ đó làm cho sức mạnh của các nhà tư bản tăng thêm, tư bản có thể thu được giá trị thặng dư
Trang 9+ Đều tăng cường sự bóc lột của tư bản đối với lao động làm thuê, tăng cường sự thống trị của giai cấp tư sản đối với giai cấp vô sản
- Khác nhau
+ Về nguồn gốc: Tích tụ tư bản có nguồn gốc là giá trị thặng dư tư bản hóa; còn tập trung tư bản có nguồn gốc là các tư bản sẵn có trong xã hội
+ Về quy mô: Tích tụ tư bản không chỉ làm tăng quy mô tư bản cá biệt mà còn làm tăng quy
mô tư bản xã hội; còn tập trung tư bản chỉ làm cho quy mô tư bản cá biệt tăng.
+ Về giới hạn: Tích tụ tư bản có giới hạn hẹp, phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư thu được trong từng thời điểm; còn tập trung tư bản có giới hạn rộng hơn, là sự sáp nhập các tư bản nhỏ thành tư bản ngày càng lớn hơn.
+ Về mối quan hệ: Tích tụ tư bản phản ánh mối quan hệ trực tiếp giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản; còn tập trung tư bản phản ánh mối quan hệ giữa các nhà tư bản với nhau
8.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này
- Tích tụ và tập trung tư bản là các con đường làm cho quy mô vốn tăng lên
- Tập trung tư bản có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa, giúp xây dựng được các xí nghiệp lớn, tăng nhanh quy mô tư bản để cải tiến kỹ thuật, ứng dụng thành tựu KHKT-CN mới, tăng NSLĐ để giành lợi thế cạnh tranh.
- Đối với nước ta cần hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế có quy mô vốn lớn để hội nhập vào nền kinh tế thế giới và là điều kiện, tiền đề đẩy mạnh CNH, HĐH.
PHẦN II:
9 Thế nào là lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận ? Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận
9.1 Khái niệm lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận
- Lợi nhuận
+ Giữa giá trị hàng hóa và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn có một khoản chênh lệch, cho nên sau khi bán hàng hóa, nhà tư bản không những bù đắp đủ số chi phí ứng ra, mà còn thu về được một số tiền lời ngang bằng với giá trị thặng dư Số tiền này gọi là lợi nhuận, ký hiệu
là p.
+ Như vậy, p là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa
+ Bản chất của p là giá trị thặng dư do công nhân làm thuê tạo ra, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước
+ p được tính bằng công thức: p = G – k (G là giá trị hàng hóa, k là chi phí sản xuất)
- Tỉ suất lợi nhuận
+ Khái niệm: Tỷ suất lợi nhuận là tỉ số tính theo % giữa lợi nhuận với toàn bộ tư bản ứng trước
+ Tỉ suất lợi nhuận kí hiệu là p’ và được tính theo công thức:
p
p’ = - x 100%
Trang 10c + v
+ p’ phản ánh mức doanh lợi của việc đầu tư tư bản.
9.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỉ suất lợi nhuận
- Tỷ suất giá trị thặng dư (m’)
+ m’ càng cao thì p’ càng lớn và ngược lại (quan hệ tỷ lệ thuận)
+ Ví dụ: k = 100 USD; c/v = 4/1; n = 1
Nếu m’ = 100% thì 80c + 20v + 20m p’ = 20%
Nếu m’ = 200% thì 80c + 20v + 40m p’ = 40%
- Cấu tạo hữu cơ của tư bản (c/v)
+ Trong điều kiện m’ không thay đổi, nếu c/v tăng càng cao thì p’ càng giảm và ngược lại (quan hệ tỷ lệ nghịch)
+ Ví dụ: k = 100 USD; c/v = 4/1; n = 1
Nếu c/v = 7/3 thì 70c +30v + 30m p’ = 30%
Nếu c/v = 8/2 thì 80c + 20v + 20m p’ = 20%
Như vậy, c/v tăng từ 7/3 lên 8/2 thì p’ giảm tương ứng từ 30% xuống 20%.
- Tốc độ chu chuyển của tư bản (n)
+ n của tư bản càng lớn, thì tần suất sản sinh ra giá trị thặng dư trong năm của tư bản ứng trước càng nhiều lần, giá trị thặng dư theo đó mà tăng lên làm cho p’ cũng tăng (quan hệ tỷ lệ thuận)
+ Ví dụ: k = 100 USD, c/v = 4/1, m’ = 100%, n tăng từ 1 vòng lên 2 vòng thì p’ tăng tương ứng từ 20% lên 40%.
n =1 vòng/ năm thì 80c +20v + (20m x 1) p’ = 20%
n = 2 vòng/năm thì 80c + 20v + (20m x 2) p’ = 40%
- Tiết kiệm tư bản bất biến
+ Trong điều kiện m’ và tư bản khả biến không đổi nếu tư bản bất biến càng nhỏ thì p’ càng lớn (quan hệ tỷ lệ nghịch).
+ Ví dụ: k = 100 USD, c/v = 4/1, m’ = 100%
Trước khi tiết kiệm: 80c +20v + 20m p’ = 20%
Sau khi tiết kiệm: 70c + 30v + 30m p’ = 30%
10 Nêu tên các đặc điểm cơ bản của độc quyền trong chủ nghĩa tư bản Phân tích đặc điểm
“Xuất khẩu tư bản trở thành phổ biến”
CNTB độc quyền là một giai đoạn phát triển cao của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ thứ XX
10.1 Nêu tên các đặc điểm cơ bản của độc quyền trong CNTB
- Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền
- Tư bản tài chính và hệ thống tài phiệt chi phối sâu sắc nền kinh tế
- Xuất khẩu tư bản trở thành phổ biến
- Sự phân chia thế giới về kinh tế giữa các tập đoàn tư bản độc quyền
- Sự phân chia thế giới về địa lý giữa các cường quốc tư bản
10.2 Phân tích đặc điểm “Xuất khẩu tư bản trở nên phổ biến”
- Khái niệm xuất khẩu tư bản: Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, đặc trưng nhất là xuất khẩu hàng hóa Xuất khẩu hàng hóa là đưa hàng hóa ra nước ngoài nhằm mục đích thu về giá trị và giá trị thặng dư Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, đặc trưng nhất là
xuất khẩu tư bản Như vây: xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư và các nguồn lợi nhuận khác ở nước nhập khẩu tư bản.
- Nguyên nhân xuất khẩu tư bản: Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xuất khẩu tư bản trở thành phổ biến do: