MỤC LỤC A MỞ ĐẦU 2 B NỘI DUNG 3 I Khái quát chung về giao dịch dân sự 3 1 Khái niệm, đặc điểm của giao dịch dân sự 3 2 Phân loại giao dịch dân sự 4 3 Điều kiện có hiệu lực giao dịch dân sự 7 II Giao dịch dân sự vô hiệu 10 1 Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu 10 2 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu 10 3 Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối 11 3 1 Sự khác biệt cơ bản của giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và giao dịch dân sự vô hiệu tương đối 11 3 2 Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệ.
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 2
B NỘI DUNG 3
I Khái quát chung về giao dịch dân sự 3
1 Khái niệm, đặc điểm của giao dịch dân sự 3
2 Phân loại giao dịch dân sự 4
3 Điều kiện có hiệu lực giao dịch dân sự 7
II Giao dịch dân sự vô hiệu 10
1 Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu 10
2 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu 10
3 Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối 11
3.1 Sự khác biệt cơ bản của giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và giao dịch dân sự vô hiệu tương đối 11
3.2 Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối 12
3.3 Giao dịch dân sự tương đối 15
4 Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ và vô hiệu từng phần 17
III Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu 18
C KẾT LUẬN 20
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 2A MỞ ĐẦU.
I Tính cấp thiết của đề tài
Giao dịch dân sự đó là mối quan hệ giữa người với người là mối liên hệ phổbiến trong xã hội loài người cũng là một trong chế định pháp lý cổ điển, và nóxuất hiện từ lâu đời Ngoài ra giao dịch dân sự còn là phương tiện pháp lý quantrọng để cho các công dân thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần trong sản xuấtkinh doanh và tiêu dùng Con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội vàgiao dịch dân sự là một trong những mối quan hệ đó Trong thời kì hội nhậpquốc tế và trong việc xây dựng một nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa nó
có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho việc xây dựng nước ta hiện nay để bảo đảmnhững giao dịch đúng theo pháp luật trong nước cũng như hội nhập được vớipháp luật quốc tế Việc giải quyết các vụ án về giao dịch dân sự vô hiệu đang làthách thức lớn lao cho những nhà làm luật bởi tình tiết vụ án cũng như tính chất
vụ án ngày càng diễn ra phức tạp, tinh vi hơn Quá trình giải quyết hậu quả pháp
lý cũng là một mối đau đầu bởi giao dịch dân sự vô hiệu đang diễn ra hàng ngày
và việc giải quyết hậu quả pháp lý vừa đúng với pháp luật vừa đúng với thựctiễn để phù hợp với thỏa thuận của các bên tham gia giao dịch là không dễ dàng.Trên thực tế mỗi ngày chúng ta thường xuyên thực hiện giao dịch dân sựthường xuyên và không tránh khỏi đó là giao dịch dân sự vô hiệu bởi lĩnh vựcgiao dịch dân sự nó bao trùm lên tất cả mọi mặt của cuộc sống đời thường
Chính vì sự thiết yếu của giao dịch dân sự đó tôi xin chọn vấn đề: “Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu” làm đề tài
Trang 3hiểu sâu rộng hơn về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu trong bộ luậtdân sự 2015 đồng thời đưa ra đánh giá và so sánh với bộ luật dân sự 2005.
2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Việc nghiên cứu đề tài và hoàn thành tiểu luận phải thực thực hiện cácnhiệm vụ:
- Phân tích được khái niệm, đặc điểm, phân loại giao dịch dân sự, đồngthời đưa ra các ví dụ cụ thể
- Khái niệm, phân loại giao dịch dân sự vô hiệu, sự khác biệt giữa các loạigiao dịch dân sự vô hiệu, đưa ra ví dụ cụ thể
- Các loại giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối, giao dịch dân sự vô hiệutương đối, giao dịch dân sự từng phần, giao dịch dân sự toàn bộ, ví dụ cụ thể
- Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, ví dụ cụ thể
III Lịch sử nghiên cứu.
Vấn đề giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vôhiệu theo bộ luật Dân sự 2015 là một trong những vấn đề nóng và được nhiềubài viết cũng như là nghiên cứu có thể kể ra như: Luận án của TS Nguyễn Văn
Cường với luận án: “Giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu” năm 2005; Bình luân khoa học Bộ luật dân sự
2005, 2015 – Bộ tư pháp, viện khoa học pháp lý - PGS.TS Hoàng Thế Liên
IV Phạm vi nghiên cứu.
Nghiên cứu ở các giáo trình Luật dân sự 1 của trường Đại học Kiểm sát HàNội, Đại học Luật Hà Nội; các luận án tiến sỹ, thạc sỹ; Các bình luận khoa họccủa Bộ Tư pháp; các bài viết về giao dịch dân sự; đặc biệt là Bộ Luật Dân sự2015
V Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp đối chiếu so sánh, phươngpháp trích dẫn, phương pháp liệt kê
B NỘI DUNG.
I Khái quát chung về giao dịch dân sự
Trang 41 Khái niệm, đặc điểm của giao dịch dân sự.
a Khái niệm:
- Giao dịch dân sự lần đầu tiên được định nghĩa lần đầu tiên tại bộ luật dân
sự 1995 sau đó được chỉnh sửa và bổ sung tại bộ luật dân sự 2005 và đến nayđịnh nghĩa về giao dịch dân sự được định nghĩa rõ ràng ở Điều 116 Bộ luật dân
sự 2015: “ Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự ”.
b Đặc điểm:
Đặc điểm của giao dịch dân sự được thể hiện rõ nét nhất qua ba đặc điểm:
- Thứ nhất, giao dịch dân sự làm phát sinh một hậu quả pháp lí nhất định
hay là mục đích mà các bên mong muốn khi xác lập giao dịch đó Thì theo Điều
118 Bộ luật dân sự 2015 nêu rõ : “Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó” Mục đích mang tính
pháp lí hay là mục đích pháp lí Mục đích pháp lí sẽ trở thành hiện thực, nếunhư các bên trong giao dịch thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy địnhcủa pháp luật Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán thì mục đích pháp lí của bênmua là sẽ trở thành chủ sở hữu tài sản mua bán, bên bán sẽ nhận tiền và chuyểnquyền sở hữu tài sản cho bên mua Mục đích pháp lí đó sẽ trở thành hiện thựckhi hợp đồng mua bán tuân thủ mọi quy định của pháp luật và bên bán thực hiệnxong nghĩa vụ bàn giao tài sản mua bán, khi đó, hậu quả pháp lí phát sinh từgiao dịch trùng với mong muốn ban đầu của các bên tức là với mục đích pháp lí
- Thứ hai, giao dịch dân sự thể hiện ý chí của người xác lập giao dịch Ý
chí là mặt năng động của ý thức, biểu hiện ở năng lực thực hiện những hànhđộng có mục đích, đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó khăn, trở ngại đểthực hiện đến cùng mục đích đã được xác định [1] Ý chí phải được thể hiện rabên ngoài dưới một hình thức nhất định để các chủ thể khác có thể biết được ýchí của chủ thể muốn tham gia đã tham gia vào một giao dịch dân sự cụ thể Bởivậy, giao dịch dân sự phải là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí Thiếu sựthống nhất này, giao dịch dân sự có thể bị tuyên bố là vô hiệu hoặc sẽ vô hiệu
Trang 5- Thứ ba, giao dịch dân sự hướng tới một quan hệ dân sự với chủ thể khác.
Chỉ được coi là giao dịch dân sự khi người xác lập giao dịch dân sự phải hướngtới việc hình thành một quan hệ dân sự với chủ thể khác Ví dụ: Trong hợp đồngmua bán: quan hệ hợp đồng là quan hệ dân sự: quan hệ giữa người bán vàngười mua Theo đó trong hợp đồng các bên sẽ có các quyền và nghĩa vụ tươngứng
2 Phân loại giao dịch dân sự.
Trong khoa học luật dân sự, có rất nhiều cách để phân loại giao dịch dân
sự Tùy thuộc vào tiêu chí, căn cứ phân loại có thể tìm hiểu một số cách sauđây:
- Căn cứ vào hình thức thể hiện ý chí, giao dịch dân sự được chia thành hai
loại: Giao dịch dân sự có hình thức bắt buộc và giao dịch dân sự không có hìnhthức bắt buộc
- Căn cứ vào động cơ kinh tế của người bày tỏ ý chí, ta có giao dịch có đền
bù (mua bán, trao đổi)
- Căn cứ vào thời điểm có hiệu lực của giao dịch dân sự, có thể chia giao
dịch dân sự thành hai loại: Giao dịch dân sự ưng thuận và giao dịch dân sự thựctế
- Căn cứ vào sự kiện pháp lý làm phát huy hay hủy bỏ hiệu lực của giao
dịch dân sự, ta có giao dịch dân sự có điều kiện và giao dịch dân sự thôngthường
- Căn cứ vào sự thể hiện ý chí của các bên tham gia giao dịch, có thể phân
biệt giao dịch dân sự thành hai loại là hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương
Bộ luật dân sự 2015 chú trọng vào việc phân loại giao dịch dân sự theo căn cứnày (Điều 116 Bộ luật dân sự 2015)
a Hợp đồng:
Điều 385 Bộ luật dân sự năm 2015 ghi nhận: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”
Trang 6- Hợp đồng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể, ví dụ: mua
bán
- Hợp đồng làm thay đổi quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể, ví dụ: A và B
là hai người yêu nhau trong thời gian yêu nhau thì A cho B thuê nhà nhưng vìquý mếm và tin tưởng hoàn toàn vào B nên A đã quyết định tặng cho B căn nhà
đó Như vậy hợp đồng này làm thay đổi việc thuê nhà thành chủ sở hữu của cănnhà đó
- Hợp đồng làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể, ví dụ:
Seohyun là một ca sĩ nổi tiếng và cô làm việc cho công ty giải trí SM với thờihạn hơp đồng là 10 năm Sau 10 năm hạn hết hợp đồng đã đến cô đã quyết địnhkhông kí kết tiếp hợp đồng với công ty mà muốn chấm dứt với công ty bởinhững đối xử bất công với cô ở trong công ty như vậy khi hợp đồng chấm dứt
và Seohyun không kí tiếp hợp đồng thì giữa Seohyun và công ty SM đã chấmdứt nghĩa vụ giữa các chủ thể
Có thể nhận thấy, hợp đồng là loại giao dịch dân sự phổ biến nhất trongđời sống hàng ngày, trong hợp đồng, ý chí của một bên đòi hỏi sự đáp lại củabên kia, tạo thành sự thống nhất ý chí của các bên từ đó mới hình thành đượchợp đồng Sự “thỏa thuận” trong hợp đồng vừa là nguyên tắc cũng vừa là đặctrưng của hợp đồng và được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của quan hệ hợpđồng
b Hành vi pháp lý đơn phương (giao dịch đơn phương).
Theo điều 684 (BLDS 2015), hành vi pháp lý đơn phương là ý chí củamột cá nhân, pháp nhân được thể hiện nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứtquyền và nghĩa vụ dân sự Chủ thể này chưa xác định hoặc xác định nhưng chưathể hiện ý chí sẽ tham gia quan hệ dân sự đó Nguyên tắc áp dụng pháp luật đốivới hành vi pháp lý đơn phương là pháp luật mà của nước nơi chủ thể thực hiện
Trang 7hành vi đó cư trú hoặc pháp nhân thành lập[1] Ví dụ: Một người chết có để lại dichúc thừa kế định đoạt tài sản cho những người thừa kế…
Điều kiện để trở thành giao dịch đơn phương: Thứ nhất phải được xác lậptheo ý chí của một bên chủ thể duy nhất.Ví dụ: Lập di chúc, từ chối thừa hưởngthừa kế… Thứ hai, số lượng chủ thể có thể có một hoặc nhiều chủ thể cùngtham gia xác lập hành vi pháp lý đơn phương Ví dụ: việc lập di chúc chung của
vợ và chồng, một tổ chức tuyên bố thừa hưởng… Nhiều trường hợp hành vipháp lý đơn phương chỉ phát sinh hậu quả pháp lý khi có những người khác đápứng được những điều kiện nhất định do con người bằng xác lập đưa ra Ví dụ:Người chạy nhanh nhất trong cuộc thi chạy được ban tổ chức thưởng tiền…
Khác nhau giữa hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương:
+ Thứ nhất, về chủ thể: Hợp đồng thì phải bắt buộc hai bên chủ thể đượcxác định ngay từ đầu Hành vi pháp lý đơn phương thì chỉ có một bên chủ thểđược xác định trước
+ Thứ hai, về ý chí của chủ thể: Hợp đồng có sự thỏa thận thống nhất,còn ở hành vi pháp lý đơn phương thì tự định đoạt hay các điều kiện do một bênnêu ra
+ Thứ ba, về thời gian phát sinh giao kết và nghĩa vụ: Hợp đồng nó giaokết nêu các bên không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không quy định khác
Ở hành vi pháp lý đơn phương thì nghĩa vụ của bên tuyên bố ý chí chỉ phát sinhkhi có chủ thể phía tham gia và đã đáp ứng đầu đủ các điều kiện đã nêu
c Giao dịch dân sự có điều kiện.
Giao dịch dân sự có điều kiện là giao dịch mà hiệu lực của nó phát sinhhoặc huỷ bỏ phụ thuộc vào sự kiện nhất định Khi sự kiện đó xảy ra thì giaodịch phát sinh hoặc huỷ bỏ Sự kiện được coi là điều kiện của giao dịch dochính người xác lập giao dịch định ra Nó phải là sự kiện thuộc về tương lai Sựkiện đó xảy ra hay không xảy ra không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các
1 TS Nguyễn Minh Tuấn (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 (sách tham khảo), Nxb Tư pháp, tr.281
Trang 8chủ thể trong giao dịch Sự kiện làm phát sinh hoặc huỷ bỏ giao dịch phải hợppháp Quy định giao dịch dân sự có điều kiện[2] cho phép chủ thể thực hiện tốthơn các quyền dân sự của họ.
Giao dịch có thể xác lập với điều kiện phát sinh hoặc điều kiện huỷ bỏ
- Giao dịch dân sự làm phát sinh hiệu lực: Giao dịch dân sự đã giao kếtnhưng chưa phát sinh hiệu lực mà phải chờ cho đến khi điều kiện do các bênthỏa thuận xảy ra thì giao dịch dân sự mới có hiệu lực Ví dụ: A hứa thưởng cho
B một chiếc điện thoại iphone X nếu B dành được học bổng loại giỏi học kỳ I.Trong trường hợp B dành được học bổng loại giỏi học kỳ I thì phát sinh hậu quảpháp lý là B sẽ được A thưởng cho một chiếc iphone X
- Giao dịch dân sự làm hủy bỏ hiệu lực: Điều kiện làm chấm dứt hiệu lựcgiao dịch dân sự đã giao kết, đã phát sinh hiệu lực đang trong quá trình thựchiện chưa đến thời gian chấm dứt nhưng nếu điều kiện do các bên thỏa thuận đãxảy ra giao dịch được chấm dứt trước thời hạn Ví dụ: Cùng ví dụ trên thì nếu Bkhông dành được học bổng loại giỏi học kỳ I thì hậu quả pháp lý này không xảy
ra Tức là khi ấy giao dịch sẽ bị hủy bỏ
Đặc điểm của sự kiện được coi là điều kiện:
- Sự kiện do người xác lập giao dịch định ra (hợp đồng thì điều kiện đó dochính các bên thỏa thuận) Sự kiện đó thuộc về tương lai Sự kiện đó phải cótính khách quan, tức là việc nó xảy ra hay không xảy ra không phụ thuộc vào ýchí chủ quan của các chủ thể trong giao dịch Sự kiện giao dịch dân sự này phảihoàn toàn hợp pháp
Giao dịch dân sự có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện tại Điều
117 BLDS 2015: Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Nếu BLDS 2005 sử dụng thuật ngữ “người” khi quy định điều kiện vềnăng lực chủ thể và quy định điều kiện về tính tự nguyện khi tham gia giao dịch
2 Điều 120 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự có điều kiện”
Trang 9dân sự thì BLDS 2015 dùng thuật ngữ “chủ thể” Điều này cho thấy cách dùng
“chủ thể” phù hợp hơn, bao quát, thể hiện điều kiện có hiệu lực được áp dụngvới tất cả các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự bao gồm cá nhân, pháp nhân
và các tổ chức không phải pháp nhân, Nhà nước… trong khi trước đây thuậtngữ “người” thường bị hiểu chỉ là cá nhân[3]
“Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập” Việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự đòi
hỏi chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải có năng lực hành vi dân sự[4], tức làphải có khả năng bằng hành vi của mình xác lập thực hiện quyền, nghĩa vụ dân
sự Quy định này hoàn toàn mới, nhằm khắc phục tình trạng chủ thể có năng lựchành vi dân sự nhưng không có năng lực pháp luật dân sự, hoặc năng lực phápluật dân sự của chủ thể bị hạn chế[5] mà vẫn suy đoán là được xác lập giao dịchdân sự Ví dụ: A (18 tuổi) có năng lực hành vi dân sự, do đó A được xác lậpmọi giao dịch hành vi dân sự trong phạm vi tài sản mà A có, trừ những giaodịch dân sự mà pháp luật cấm Tuy nhiên, bên cạnh đó, có rất nhiều giao dịchdân sự mà A chỉ có năng lực hành vi dân sự mà chưa đủ, mà theo quy định củapháp luật A cần có đủ điều kiện khác để được tham gia, như không được xáclập các giao dịch cho vay ngoại tệ, các hợp đồng cung ứng dịch vụ pháp lý, dịch
vụ chăm sóc sức khỏe…
“Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện” Một điều
kiện quan trọng để bảo đảm hiệu lực của giao dịch dân sự là các bên tham giagiao dịch phải hoàn toàn tự nguyện, không bên nào và không ai được ép buộc,lừa dối bên nào phải tham gia giao địch Tự nguyện là sự kết hợp của hai yếu tố
tự do ý chí và bày tỏ ý chí Sự tự nguyện có thể là của hai bên nếu giao dịchđược xác lập là hợp đồng hoặc của một bên nếu giao dịch được xác lập là hành
vi pháp lí đơn phương
3 TS Nguyễn Minh Tuấn (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 (sách tham khảo), Nxb Tư pháp, tr 164.
4 Điều 19 BLDS 2015: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân”.
5 Điều 18 BLDS 2015: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này quy định khác”.
Trang 10 “Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật , không trái đạo đức xã hội” Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích
hơp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi họ xác lập giao dịch đó Cácgiao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật như buôn bán những ngành nghề cấmđầu tư, kinh doanh[6]…hoặc các giao dịch trái với đạo đức xã hội đều bị vô hiệu,nếu các chủ thể tham gia các giao dịch nói trên đều phải chịu trách nhiệm trướcpháp luật về hành vi của mình
“Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định” Hình thức của giao dịch dân sự phù
hợp với quy định của pháp luật Hình thức của giao dịch dân sự là phương tiệnthể hiện nội dung của giao dịch Thông qua phương tiện này bên đối tác cũngnhư người thứ ba có thể biết được nội dung của giao dịch đã xác lập Hình thứccủa giao dịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng dân sự Nó là chứng
cứ xác nhận các quan hệ đã, đang tồn tại giữa các bên, qua đó xác định tráchnhiệm dân sự khi có hành vi vi phạm xảy ra Giao dịch dân sự có thể được thểhiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Người xác lập giaodịch có quyền lựa chọn hình thức của giao dịch đó Chỉ trong một số trường hợpđặc biệt thì pháp luật mới có yêu cầu về hình thức buộc các chủ thể phải tuânthủ theo (yêu cầu phải lập thành văn bản, phải có chứng nhận, chứng thực, đăng
kí, xin phép) Trong trường hợp pháp luật có quy định giao dịch dân sự phảiđược thể hiện bằng văn bản, phải được công chứng nhà nước chứng nhận, đượcchứng thực, đăng kí hoặc phải xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.(Điều 119 Bộ luật dân sự 2015)
Có ba hình thức giao dịch dân sự đó là: Hình thức truyền miệng,hình thức văn bản và hình thức hành vi
- Hình thức truyền miệng (bằng lời nói): Hình thức miệng được coi là hìnhthức phổ biến nhất trong xã hội hiện nay mặc dù hình thức này có độ xác thựcthấp nhất Hình thức miệng thường được áp dụng đối với các giao dịch được
6 Điều 6 Luật đầu tư 2014: “Ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh”.
Trang 11thực hiện ngay và chấm dứt ngay sau đó (mua bán trao tay) hoặc giữa các chủthể có quan hệ mật thiết, tin cậy, giúp đỡ lẫn nhau (người thân cho vay, mượntài sản ) Nhưng cũng có trường hợp giao dịch dân sự nếu được thể hiện bằnghình thức miệng phải bảo đảm tuân thủ những điều kiện luật định mới có giá trị(di chúc miệng-Điều 629 BLDS 2015)
- Hình thức văn bản gồm: văn bản thường và văn bản có công chứng nhận.Văn bản thường: Được áp dụng trong trường hợp các bên tham gia giao dịchdân sự thoả thuận hoặc pháp luật quy định giao dịch phải thể hiện bằng hìnhthức văn bản Nội dung giao dịch được thể hiện trên văn bản có chữ kí xác nhậncủa các chủ thể cho nên hình thức này là chứng cứ xác định chủ thể đã tham giavào một giao dịch dân sự rõ ràng hơn so với trường hợp giao dịch được thể hiệnbằng lời nói Văn bản có công chứng chứng nhận, uỷ ban nhân dân cấp có thẩmquyền chứng thực: Được áp dụng trong những trường hợp pháp luật quy địnhgiao dịch dân sự bắt buộc phải được lập thành văn bản hoặc các bên có thoảthuận phải có chứng nhận, chứng thực, đăng kí hoặc xin phép thì khi xác lậpgiao dịch các bên phải tuân thủ hình thức, thủ tục đó (mua bán nhà, chuyểnquyền sử dụng đất )
- Hình thức giao dịch bằng hành vi: Giao dịch dân sự có thể được xác lậpthông qua những hành vi nhất định theo quy ước định trước Ví dụ: Mua nướcngọt bằng máy tự động, chụp ảnh bằng máy tự động, gọi điện thoại tự động…Đây là hình thức giản tiện nhất của giao dịch Giao dịch có thể được xác lậpthông qua hình thức này mà không nhất thiết phải có sự hiện diện đồng thời củatất cả các bên tại nơi giao kết
II Giao dịch dân sự vô hiệu
1 Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu.
Theo quy định tại điều 122 Bộ luật dân sự 2015 thì: “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy dịnh tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.”.
Trang 12 Như vậy, chỉ những giao dịch hợp pháp mới làm phát sinh quyền,nghĩa vụ của các bên và được Nhà nước bảo đảm thực hiện Vì vậy, về nguyêntắc giao dịch không tuân thủ một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịchthì sẽ bị vô hiệu Những quy định về sự vô hiệu của giao dịch dân sự có ý nghĩaquan trọng trong việc thiết lập trật tự kỉ cương xã hội; bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của cá nhân, pháp nhân và Nhà nước; bảo đảm an toàn pháp lí cho cácchủ thể trong giao dịch.
2 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu.
Cách phân loại thứ nhất là theo khoa học pháp luật dân sự thì giaodịch bị vô hiệu có thể được phân thành hai hai loại loại đó là: Giao dịch dân sựtuyệt đối (vô hiệu đương nhiên) và giao dịch dân sự tương đối (vô hiệu bịtuyên) Khái niệm vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối là hai khái niệm củangành khoa học luật dân sự, mang tính lý thuyết và chưa được sử dụng trongcác văn bản quy phạm pháp luật[7]
Cách phân loại thứ hai đó là căn cứ vào nội dung hiệu lực của giaodịch dân sự để phân loại thành giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ và giao dịchdân sự vô hiệu từng phần
3.1 Sự khác biệt cơ bản của giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và giao
dịch dân sự vô hiệu tương đối.
Một số đặc điểm khác biệt chung thể hiện bản chất của hai khái niệm giaodịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối là:
sự vô hiệu tuyệt đối thì mặc nhiên bị coi là vô hiệu Còn đối với các giao dịch
vô hiệu tương đối thì không mặc nhiên vô hiệu mà chỉ trở nên vô hiệu khi cóđơn yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan và bị toà án tuyên bố vô hiệu
7 TS Bùi Đặng Hiếu (2008), Bài viết: “Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối và vô hiệu tuyệt đối.”, Đại học Luật
Hà Nội.