1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận Dân sự về giao dịch dân sự

23 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 127 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giao dịch dân sự đó là mối quan hệ giữa người với người là mối liên hệ phổ biến trong xã hội loài người cũng là một trong chế định pháp lý cổ điển, và nó xuất hiện từ lâu đời. Ngoài ra giao dịch dân sự còn là phương tiện pháp lý quan trọng để cho các công dân thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần trong sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội và giao dịch dân sự là một trong những mối quan hệ đó. Trong thời kì hội nhập quốc tế và trong việc xây dựng một nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho việc xây dựng nước ta hiện nay để bảo đảm những giao dịch đúng theo pháp luật trong nước cũng như hội nhập được với pháp luật quốc tế. Việc giải quyết các vụ án về giao dịch dân sự vô hiệu đang là thách thức lớn lao cho những nhà làm luật bởi tình tiết vụ án cũng như tính chất vụ án ngày càng diễn ra phức tạp, tinh vi hơn. Quá trình giải quyết hậu quả pháp lý cũng là một mối đau đầu bởi giao dịch dân sự vô hiệu đang diễn ra hàng ngày và việc giải quyết hậu quả pháp lý vừa đúng với pháp luật vừa đúng với thực tiễn để phù hợp với thỏa thuận của các bên tham gia giao dịch là không dễ dàng.

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Con người không phải là một cá nhân đơn lẻ, sống độc lập trong xã hội

mà muốn tồn tại được, mỗi người đều phải tham gia các quan hệ xã hội khác nhau, phải “tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Một trong những biểu hiện rõ nét nhất của vấn đề này là việc con người tham gia vào các giao dịch khác nhau, trong đó có giao dịch dân sự Thực tiễn cuộc sống hằng ngày, chúng ta luôn phải xác lập rất nhiều giao dịch dân sự nhằm phục vụ cho cuộc sống nhưdùng tiền mua sách vở, thức ăn, thực hiện công việc để được trả lương Trong quá trình phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ, giao dịch dân sự có vai trò quan trọng đặc biệt Để đảm bảo quyền và nghĩa vụ củachủ thể phát sinh từ giao dịch, bên cạnh những giao dịch hợp pháp, pháp luật còn có những quy định cụ thể đối với các giao dịch dân sự vô hiệu Với tầm quan trọng đó, tôi quyết định chọn đề tài: “Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu theo Bộ luật dân sự 2015” Hy vọng tiểu luận này của tôi có thể đóng góp một góc nhìn nào đó để làm rõ hơn về vấn đề này

Trang 2

B NỘI DUNG

I Khái quát chung

1 Khái niệm giao dịch dân sự

Giao dịch là việc bày tỏ ý chí của một hoặc nhiều người nhằm làm phát

sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một quyền và người bày tỏ ý chí gọi là bên giao dịch

Điều 116 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp

đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.

Từ khái niệm trên ta có thể rút ra được: Giao dịch dân sự là sự thể hiện

ý chí một cách tự nguyện của các chủ thể thông qua hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự

2 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Trong giao dịch dân sự, nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận của các bên chủ thể tham gia giao dịch không có nghĩa là pháp luật thừa nhận tất

cả các chủ thể, mục đích, nội dung, hình thức của giao dịch mà đặt ra một số yêu cầu cơ bản nhằm tạo nên cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật thì các chủ thể tham gia giao dịch phải đáp ứng, tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Điều này được quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015:

“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân

sự trong trường hợp luật có quy định.”

Trang 3

Như vậy, không phải giao dịch dân sự nào cũng làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các chủ thể tham gia Chỉ những giao dịch dân sự hợp pháp mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên chủ thể

và được Nhà nước bảo đảm thực hiện

3 Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu

Theo Từ điển tiếng Việt, “vô hiệu” tức là không có hiệu lực, vậy có thể hiểu giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự không có hiệu lực.

Theo quy định tại Điều 122 Bộ luật dân sự 2015 về giao dịch dân sự vô

hiệu: “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại

Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”.

Như vậy, những giao dịch dân sự không có đủ điều kiện có hiệu lực củamột giao dịch dân sự thì được coi là giao dịch dân sự vô hiệu Nếu một giao dịch dân sự vi phạm một trong bốn điều kiện mà pháp luật quy định đối với giao dịch dân sự có hiệu lực tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015: điều kiện về chủ thể tham gia giao dịch; điều kiện về mục đích và nội dung của giao dịch; điều kiện về tính tự nguyện của chủ thể tham gia; điều kiện về hình thức của giao dịch thì giao dịch dân sự đó vô hiệu

II Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu

Căn cứ vào những tiêu chí khác nhau thì giao dịch dân sự vô hiệu có thểchia thành nhiều loại khác nhau:

Căn cứ vào qui trình tuyên bố một giao dịch vô hiệu:

Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối

Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối là giao dịch dân sự mà Tòa án được quyền tuyên vô hiệu ngay cả khi không có yêu cầu của các bên chủ thể Ví dụ như giao dịch mua bán và vận chuyển vũ khí trái phép Một giao dịch bị coi là

vô hiệu tuyệt đối khi rơi vào các trường hợp sau:

+ Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều 123 Bộ luật dân sự năm 2015)

Trang 4

+ Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác (Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2015)

+ Khi giao dịch dân sự vi phạm về hình thức (Điều 129 Bộ luật dân sựnăm 2015)

Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối

Giao dịch dân sự tương đối là giao dịch dân sự mà Tòa án chỉ có thể tuyên

bố vô hiệu khi có yêu cầu của một chủ thể nhất định (Chẳng hạn như yêu cầu của một bên trong giao dịch dân sự, yêu cầu của người đại diện hợp pháp của người không có năng lực hành vi dân sự đã tham gia giao dịch dân sự) Ví dụ như giao dịch dân sự được giao kết do bị lừa dối Một giao dịch dân sự vô hiệu tương đối khi rơi vào các trường hợp:

+ Khi giao dịch được xác lập bởi người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực dân sự (Điều 125 Bộ luật sân sự năm 2015)

+ Khi giao dịch dân sự được xác lập do bị nhầm lẫn (Điều 126 Bộ luật dân sự năm 2015)

+ Khi một bên chủ thể tham gia xác lập giao dịch do bị lừa dối, đe dọa,cưỡng ép (Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015)

+ Khi người xác lập giao dịch đủ năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch tại thời điểm không nhận thức được hành vi của mình (Điều

128 Bộ luật Dân sự 2015)

Một số điểm khác biệt giữa giao dịch dân sự tương đối và giao dịch dân sự tuyệt đối:

GIAO DỊCH DÂN SỰ TƯƠNG ĐỐI

GIAO DỊCH DÂN SỰ TUYỆT ĐỐI

Trình tự vô hiệu giao

dịch

Không mặc nhiên bị coi là vô hiệu mà chỉ trở nên vô hiệu khi:

Mặc nhiên bị coi là vô hiệu

Trang 5

- Có đơn yêu cầucủa người có quyền và lợi ích liên quan

- Theo quyết địnhcủa Tòa ánThời hạn yêu cầu

tuyên bố giao dịch vô

hiệu

Một năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập

Không bị hạn chế về thời hạn

Hiệu lực pháp lý của

giao dịch

Được coi là có hiệu lực pháp lý đến khi Tòa án tuyên bố giao dịch đó là vô hiệu

Quyết định của Toàn

án chỉ là một trong những hình thức côngnhận sự vô hiệu của giao dịch dựa trên cácquy định của Pháp luật Các giao dịch dân sự thuộc các trường hợp vô hiệu tuyệt đối có thể bị vô hiệu ngay cả khi không có quyết định của Tòa án

Căn cứ vào mức độ vô hiệu của giao dịch dân sự:

 Giao dịch vô hiệu từng phần:Là giao dịch dân sự có một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng phần vô hiệu đó không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch Ví dụ như trong hợp đồng mua bán tài sản có hai loại đối tượng khác nhau mà trong đó chỉ có một đối tượng

là tài sản được phép lưu thông, đối tượng còn lại là tang vật của một vụ trộm

Trang 6

cắp, thì giao dịch liên quan đến tài sản này là vô hiệu, phần giao dịch đối vớitài sản còn lại vẫn có hiệu lực

 Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ: Là giao dịch dân sự có toàn bộ nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, xâm phạm lợi ích công cộng và trái với đạo đức xã hội hoặc một trong các bên tham gia vào giao dịch đó không

có quyền xác lập giao dịch dân sự Ví dụ như giao dịch mua bán ma túy hay giao dịch bị tuyên vô hiệu do bị đe dọa, lừa dối, nhầm lẫn; giao dịch bị tuyên

là vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình

Căn cứ vào nguyên nhân vô hiệu:

Các giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về chủ thể:

Để giao dịch dân sự có hiệu lực, các chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải bảo đảm có năng lực chủ thể, nghĩa là phải tuân thủ quy định tại điểm a khoản

1 Điều 117 Bộ luật dân sự 2015: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng

lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập Các trường

hợp giao dịch dân sự vô hiệu do người tham gia giao dịch không đủ nhận thức, làm chủ hành vi giao kết bao gồm:

- Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện:

Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khókhăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự là những chủ thể không có hoặc có nhưng không đầy đủ nhận thức khi thựchiện các hành vi Do đó, việc họ tự xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự

mà không có sự quản lý, đồng ý, giám sát của người đại diện có thể dẫn đến những ảnh hưởng, thiệt hại cho chính bản thân họ, người đại diện và những người xung quanh Như đã phân tích ở trên, có thể thấy việc các chủ thể này xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự mà không có sự đồng ý của người đại diện là vi phạm điều kiện về năng lực hành vi dân sự được quy định tại điểm a

Trang 7

khoản 1 Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 Tuy nhiên, giao dịch đó không mặc nhiên vô hiệu mà nó chỉ vô hiệu khi có các điều kiện sau:

 Phải có yêu cầu của người đại diện của những người này đề nghị Tòa

án tuyên bố vô hiệu

 Yêu cầu tuyên bố vô hiệu phải được thực hiện trong thời hiệu 2 năm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015

Song, ngay cả khi có các điều kiện trên để tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch do những chủ thể này xác lập, thực hiện vẫn không bị vô hiệu nếu thuộc một trong các trường hợp tại khoản 2 Điều 125 Bộ luật dân sự

2015, bao gồm các trường hợp:

 Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành

vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó Ví

dụ em bé 5 tuổi mua quà vặt

 Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người

có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ Ví

dụ như ông A 75 tuổi, bị Tòa án tuyên bố là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, được một người trao tặng cho một món tài sản thì giao dịch này chỉ xác lập quyền và miễn trừ nghĩa vụ cho chính ông A với người tặng ông nên ông A vẫn có quyền được trực tiếpnhận

 Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự

- Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm

chủ được hành vi của mình:

Quan hệ pháp luật dân sự cũng như quan hệ giao dịch dân sự đều dựa trênnguyên tắc tự nguyện, tự do định đoạt ý chí của chủ thể tham gia vào giao dịch Do đó, vào thời điểm xác lập giao dịch, chủ thể của những giao dịch dân

Trang 8

sự mà pháp luật quy định tham gia vào giao dịch này phải có đủ năng lực hành vi dân sự (hợp đồng mua ban nhà ở, hợp động bán bất động sản…) thì giao dịch mới có hiệu lực Trường hợp cá nhân đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhưng tại thời điểm giao kết mà người đó bị rơi vào tình trạng không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Ví dụ say rượu; dothuốc mê khiến thần kinh không ổn định,…) thì sau đó chính người đó có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu Việc phân định trách nhiệmbồi thường thiệt hại phụ thuộc vào lỗi của các bên tham gia giao dịch Điều

128 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Người có năng lực hành vi dân sự nhưng

đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó

là vô hiệu”.

+ Các giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm về nội dung, mục đích: Theo điều 118 Bộ luật Dân sự 2015: “Mục đích của giao dịch dân sự là

lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó.”

Nội dung của giao dịch dân sự là tổng hợp các điều khoản mà các bên đã cam kết, thỏa thuận trong giao dịch Những điều khoản này xác định quyền, nghĩa vụ của các bên phát sinh từ giao dịch

Giữa mục đích và nội dung của giao dịch dân sự có mối quan hệ biện chứng, bổ sung cho nhau Giao dịch dân sự vi phạm về nội dung, mục đích bao gồm:

 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạođức xã hội:

Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Trang 9

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.”

Quy định này được xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân

sự: “Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm luật, không trái đạo

đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng” (Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015).

Một giao dịch dân sự với mục đích xấu, vi phạm pháp luật và đạo đức xãhội như giao dịch gây thiệt hại đến các quyền tài sản và nhân thân, xâm phạm sức khỏe, tính mạng của người khác; gây ô nhiễm môi trường; xâm phạm an ninh quốc gia, gây rối trật tự công cộng,… thì bị vô hiệu Mặc dù giao dịch dân sự được xác lập nhằm thỏa mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của chủ thể nhưng những giao dịch vi phạm điều cấm pháp luật và đạo đức xã hội thì đương nhiên bị coi là vô hiệu không phụ thuộc vào ý chí các bên tham gia giao dịch Ví dụ như giao dịch được xác lập nhằm mua bán vũ khí, các chất heroin, nội tạng…

Đạo đức xã hội là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội

gồm những chuẩn mực xã hôi điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệvới người khác và với cộng đồng xã hội Khác với pháp luật, chuẩn mực đạo đức không ghi thành văn bản pháp quy mang tính cưỡng chế, mệnh lệnh, tuy nhiên, lại được mọi người thực hiện theo ý thức xã hội, dư luận xã hội và lương tâm Vì vậy, nếu xác lập được một giao dịch vi phạm chuẩn mực đạo đức thì giao dịch đó vô hiệu Ví dụ như hợp động đâm thuê chém mướn vừa

vi phạm pháp luật và vi phạm đạo đức xã hội

Tài sản giao dịch và lợi tức thu được có thể bị tịch thu, sung quỹ nhà nước, ví dụ như trường hợp mua bán thuốc phiện, động vật quý hiếm thuộc danh mục cấm… Trong trường hợp có thiệt hại mà các bên đều có lỗi, thì họ phải chịu phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình Nếu chỉ một bên

có lỗi thì phải đền bù thiệt hại cho bên kia

+ Các giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí:

Trang 10

Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí giữa các bên tham gia Việc quy định điều kiện về ý chí cũng là hoàn toàn phùhợp với nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong pháp luật dân

sự Theo khoản 2 Điều 3 Bộ luật dân sự 2015, chủ thể được tự do ý chí và bày

tỏ ý chí của mình.Giao dịch dân sự thiếu sự tự nguyện không làm phát sinh hậu quả pháp lý trong giao dịch Vì vậy, nguyên tắc tự nguyện giữa các bên chủ thể là nguyên tắc chủ chốt và quan trọng trong giao dịch dân sự Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí bao gồm:

 Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo:

Hành vi giả tạo là hành vi cố ý, muốn đạt được mục đích nào đó nhưng mục đích đó bị che giấu có chủ đích, khiến người ngoài cuộc không thể nhận biết ngay được Giao dịch dân sự giả tạo là giao dịch mà trong đó việc thể hiện ý chí ra bên ngoài khác với ý chí nội tâm và kết quả thực hiện của các bên tham gia giao dịch Giao dịch dân sự giả tạo được xác lập theo ý chí các bên Do đó, hành vi xác lập giao dịch giả tạo là hành vi cố ý của các bên chủ thể tham gia giao dịch

Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo có điểm đặc biệt là các bên trong giao dịch hoàn toàn tự nguyện xác lập giao dịch nhưng lại cố ý bày

tỏ ý chí không đúng với ý chí đích thực của họ

Căn cứ vào quy định tại điều 124 Bộ luật Dân sự 2015, có 2 trường hợp giả tạo:

Một là, giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác Khi đó giao dịch dân

sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn còn hiệu lực nếu nhưgiao dịch dân sự bị che giấu đó đáp ứng được đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Ví dụ như trường hợp mua bán nhà dưới hình thức

ủy quyền Trên thực tế, các bên vì muốn trốn tránh nghĩa vụ thuế nên đã ký hợp đồng ủy quyền định đoạt tài sản là nhà ở chứ không ký hợp đồng mua bán

Trang 11

Hai là, giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba, ví dụ: A vay nợ của B số tiền là 100 triệu đồng, A kí giấy vay nợ đồng ý bán ô

tô cho B để trả nợ Việc mua bán này chưa được thực hiện thì A lại bán ô tô trên cho C (hợp đồng mua bán đã qua công chứng) Trong tình huống A sau khi bán ô tô xong, A không chịu trả tiền nợ cho B thì hợp đồng mua bán giữa A và C sẽ bị coi là vô hiệu do giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba

Theo Khoản 3 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự này có thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố GDDS vô hiệu không bị hạn chế

 Giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn

Nhầm lẫn là việc các bên hình dung sai về nội dung của giao dịch mà

tham gia vào giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên kia Sự nhầm lẫn

có thể xuất phát từ hai phía hoặc cũng có thể từ một phía Sự nhầm lẫn có thể liên quan đến nhiều yếu tố như: Nhầm lẫn về chủ thể xác lập giao dịch và thực hiện giao dịch; về đối tượng, giá cả của giao dịch; về thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện giao dịch; về bản chất giao dịch

Nếu như giao dịch giả tạo là hành vi cố ý của các bên chủ thể tham gia giao dịch, họ biết là không đúng nhưng vẫn cố tình thực hiện, thì giao dịch dân sự xác lập do nhầm lẫn là hành vi có thể do lỗi vô ý của chủ thể, người tham gia giao dịch hoàn toàn không ý thức được điều đó

Theo quy định tại khoản 2 Điều 126 Bộ luật dân sự 2015, giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu Ví dụ A bán lại cho B chiếc điện thoại cũ của mình nhưng quên báo với B rằng camera điện thoại đã bị hỏng Byêu cầu A giảm giá hoặc thay mới camera điện thoại nhưng A không chịu Khi đó, B có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn đều bị tuyên bố vô hiệu Khoản 2 Điều 126 Bộ luật dân sự 2015 quy

Ngày đăng: 07/07/2022, 10:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w