Trong các chế định pháp luật của Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền sở hữu là một trong những chế định quan trọng nhất. Quyền sở hữu chính là vật quyền trung tâm, là cơ sở để xác lập đầy đủ các vật quyền khác đối với tài sản, như: quyền chiếm hữu, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt, quyền đối với bất động sản liền kề. TS. Nguyễn Hữu Huyên – Quyền Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ Tư Pháp cho rằng: “Quyền sở hữu là vấn đề xương sống của luật dân sự, là tiền để của các quan hệ pháp luật dân sự về tài sản.”
Trang 1A LỜI NÓI ĐẦU
Trong các chế định pháp luật của Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền sở hữu là một trong những chế định quan trọng nhất Quyền sở hữu chính là vật quyền trung tâm,
là cơ sở để xác lập đầy đủ các vật quyền khác đối với tài sản, như: quyền chiếm hữu, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt, quyền đối với bất động sản liền kề TS Nguyễn Hữu Huyên – Quyền Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ Tư Pháp cho
rằng: “Quyền sở hữu là vấn đề xương sống của luật dân sự, là tiền để của các quan hệ pháp luật dân sự về tài sản.”
Trên thực tế hiện nay phát sinh rất nhiều tranh chấp liên quan tới quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản Tình trạng xâm phạm tới quyền sở hữu hay các quyền khác đối với tài sản diễn ra ngày càng đa dạng, phức tạp, biến tướng dưới nhiều hình thức khác nhau, không chỉ khiến cho các cá nhân, tổ chức gặp nhiều khó khăn
mà ngay cả các cơ quan chức năng cũng phải “loay hoay” trong việc áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết các tranh chấp này
Đặt mình trong thực trạng đó, mỗi chúng ta cần phải trang bị cho bản thân những kiến thức pháp luật cần thiết nhằm bảo vệ quyền sở hữu tài sản bằng các phương pháp, cách thức phù hợp
Thực tế, mỗi ngành luật khác nhau đều quy định những biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản Biện pháp hành chính là biện pháp nhằm hướng tới việc quản lý và bảo vệ tài sản công, tài sản của nhà nước Trong khi đó, các biện hình sự bảo vệ quyền sở hữu của các chủ thể thông qua các mức xử phạt đượcquy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015
Trong các biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thì biện pháp dân sự khá thông dụng và đặc thù so với hai biện pháp trên Điều này xuất phát từ việc đối tượng điều chỉnh chủ yếu của luật dân sự là các nhóm quan hệ tài
Trang 2sản, về tính chất đây là các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác có liên quan tới tài sản Chính vì lý do đó mà biện pháp dân sự được coi là biện pháp bảo vệ quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản phổ biến nhất và trong một số trường hợp, nó được áp dụng cùng với biện pháp hình sự hoặc hành chính.
Xét riêng trong lĩnh vực dân sự, giữa phương thức tự bảo vệ và phương thức bảo
vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thông qua Tòa án, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền theo các phương thức kiện dân sự (sau đây xin được gọi tắt là phương thức kiện dân sự) thì phương thức kiện dân sự có tính pháp lý cũng như hiệu quả bảo vệ cao hơn Trên thực tế cũng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp xoay quanh các vụ kiện dân sự
Chính vì tính thực tiễn của vấn đề, tôi quyết định đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu đề
tài: “Phương thức kiện dân sự để bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản”.
Trang 32016 và một số các văn bản quy phạm pháp luật khác
2 Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn đời sống pháp luật dân sự những năm gần đây cho thấy, việc áp dụng phương thức kiện dân sự để bảo vệ quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản trênthực tế phát sinh rất nhiều vấn đề phức tạp vượt ra ngoài khuôn khổ những quy định của pháp luật Điều này khiến cho nhiều vụ việc dân sự hoặc bị bỏ ngỏ do chưa tìm được hướng giải quyết thỏa đáng hoặc nảy sinh nhiều quan điểm giải quyết khác nhau, gây nên tình trạng bất cập, chồng chéo
Tình trạng này kéo dài không những có nguy cơ cản trở người dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình còn khiến cho nhiều cơ quan chức năng loayhoay trong quá trình giải quyết các tranh chấp liên quan tới quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
3 Một số khái niệm liên quan
Trang 42 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”
Cũng theo Bộ luật này, “quyền tài sản” được hiểu là “quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất
và các quyền tài sản khác.” (Điều 115)
Quyền sở hữu
Trên thế giới tồn tại nhiều cách nhìn khác nhau về “quyền sở hữu”, phụ thuộc vào quan điểm, trường phái luật của từng quốc gia
Theo luật thực định Việt Nam, “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền
sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.”1
Quyền sở hữu được coi là vật quyền trung tâm, là cơ sở, tiền đề để hình thành nên các vật quyền khác
1
Xem điều 158 BLDS năm 2015
Quyền khác đối với tài sản
Quyền khác đối với tài sản cũng được coi là một dạng vật quyền được hình thành trên tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác
Luật thực định Việt Nam ghi nhận:
“1 Quyền khác đối với tài sản là quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác.
2 Quyền khác đối với tài sản bao gồm:
a) Quyền đối với bất động sản liền kề;
b) Quyền hưởng dụng;
Trang 5c) Quyền bề mặt.”2
2
Xem điều 159 BLDS năm 2015
Bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
Bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là những cách thức, biện pháp màchủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản để phòng ngừa những hành vi xâm phạm sẽ xảy ra hoặc yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền xử lý những xâm phạm đã xảy ra
Bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản có thể được tiến hành bằng các biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự Trong đó, các biện pháp dân sự để bảo
vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bao gồm: phương thức tự bảo vệ và phương thức kiện dân sự
Phương thức kiện dân sự để bảo vệ quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản
- Khái niệm: Đây là một biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu, theo đó chủ thể có quyền đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và bồi thường thiệt hại
Trang 6+ Về chủ thể thực hiện, nếu như phương thức tự bảo vệ được thực hiện bởi chính chủ thể có quyền đối với tài sản thì bảo vệ quyền sở hữu theo các phương thức kiệndân sự lại được thực hiện bởi Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
+ Về thời điểm thực hiện, việc bảo vệ quyền sở hữu theo các phương thức này bắt buộc phải sau khi có hành vi xâm phạm tới quyền sở hữu của chủ sở hữu, người cóquyền khác đối với tài sản
+ Về phân loại, phương thức kiện dân sự có thể chia thành ba phương thức kiện như sau: kiện đòi lại tài sản; kiện yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản; kiện yêu cầu bồi
thường
II Phương thức kiện đòi lại tài sản (kiện vật quyền)
1 Khái niệm, đặc điểm
Phương thức kiện đòi lại tài sản (hay còn được gọi là kiện vật quyền) là một biện
pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thông qua Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được áp dụng khi chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản bị mất quyền chiếm hữu trê thực tế tài sản của mình Khoản 1 điều 166
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.”
Kiện đòi lại tài sản là biện pháp bảo vệ quyền chiếm hữu của chủ sở hữu và chủ thể
có quyền khác đối với tài sản Nó chỉ được áp dụng trong trường hợp chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản bị mất quyền chiếm hữu tài sản của mình Điều đó có nghĩa là tài sản đang nằm trong sự chiếm hữu không có căn cứ pháp luật của người khác, khiến cho chủ sở hữu và người có quyền khác đối với tài sản không thể thực hiện được quyền chiếm hữu của mình
Trang 7Chủ thể bị khởi kiện trong vụ kiện đòi lại tài sản phải là người đang chiếm hữu không có căn cứ pháp luật đối với tài sản Khoản 2 điều 66 BLDS 2015 quy định chủ thể bị khởi kiện là người chiếm hữu; người sử dụng tài sản; người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật Đây có thể là người có hành vi chiếm đoạt tài sản một cách trái pháp luật như: trộm cắp hoặc nhặt được tài sản bị đánh rơi, bỏ quên mà không thông báo công khai, không giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền; hoặc cũng có thể là người thứ ba đã nhận chuyển giao tài sản qua một giao dịch vớingười không có quyền định đoạt tài sản.
2.2 Đối tượng
Đối tượng của phương thức kiện dân sự này là tài sản Theo quy định tại khoản 1 điều 105 BLDS năm 2015 thì “tài sản” là “vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” Tuy nhiên, do tính đặc thù của phương thức này nên không phải tất cả các loại tài sản được liệt kê ở trên đều là đối tượng của kiện đòi tài sản
Vật:
Để một vật trở thành đối tượng của kiện đòi lại tài sản thì trước hết nó phải đáp ứng đủ ba điều kiện để được coi là tài sản: là một bộ phận thuộc thế giới vật chất,
Trang 8con người phải chiếm hữu được và nó phải đáp ứng nhu cầu của con người Ngoài
ra, vật trong kiện đòi lại tài sản còn phải là vật có thực và đang tồn tại trên thực tế Vật có thể vẫn còn ở nguyên trạng thái hoặc về cơ bản vẫn còn nhưng đã bị giảm sút hoặc đã được làm tăng về giá trị
Tiền:
Trong trường hợp tiền bị chiếm hữu không có căn cứ pháp luật thì chủ sở hữu không thể kiện đòi lại như tài sản thông thường được mà phải kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, bởi vì khi con người chuyển giao tiền thực chất đã định đoạt tiền.Chủ sở hữu chỉ có thể kiện đòi lại tài sản là tiền trong trường hợp họ biết rõ số sêri của những tờ tiền bị người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật
Trường hợp tiền bị người khác chiếm hữu trái lập trong tình trạng đã được niêm phong trong bao, túi,… và hiện số tiền đó vẫn còn nguyên bao, túi,… thì thực chất kiện đòi lại tài sản là kiện đòi lại vật chứ không phải là kiện đòi lại tiền
Trường hợp tiền được sử dụng vào mục đích không đúng với chức năng của nó (ví
dụ như: là vật kỷ niệm,…) thì trong trường hợp này cũng là kiện đòi lại vật
Giấy tờ có giá:
Giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản trong giao lưu dân sự là giấy tờ minh chứng cho quyền tài sản cho quyền tài sản vô danh, giá trị của giấy tờ chính là giá trị của quyền tài sản mà nó minh chứng
Giấy tờ có giá có thể là đố tượng của kiện đòi lại tài sản Trong trường hợp, giấy tờ
có giá bị chiếm hữu trái pháp luật không ghi tên và người chiếm hữu trái pháp luật này tới tổ chức phát hành rút tiền thì chủ sở hữu phải kiện yêu cầu bồi thường chứ không phải kiện đòi lại tài sản Còn trong trường hợp giấy tờ có giá có ghi tên chủ
sở hữu thì nó mới là đối tượng kiện đòi lại tài sản
Trang 9Một là, tài sản rời khỏi chủ sở hữu không theo ý chí của họ hoặc rời khỏi theo ý chí
của chủ sở hữu song người thứ ba có được tài sản thông qua giao dịch với người không có quyền định đoạt tài sản bằng một hợp đồng dân sự không đền bụ, như: tặng, cho, thừa kế theo di chúc,
Hai là, người bị kiện phải là người đang thực tế chiếm hữu không có căn cứ pháp
luật đối với tài sản Đây là yếu tố rất quan trọng bởi lẽ chỉ có thể trả lại tài sản khi người chiếm hữu trên thực tế không có thực quyền đối với tài sản
Ba là, đối tượng kiện đòi lại tài sản phải là vật đang có thực, đang còn tồn tại trên
thực tế Không phải bất kỳ vật nào thuộc thế giới vật chất cũng tài sản, nó chỉ trở thành tài sản khi đáp ứng đủ ba điều kiện sau: là một bộ phận của thế giới vật chất; con người phải kiểm soát được và phải đáp ứng được yêu cầu của con người Vật phải là bất động sản hoặc động sản có đăng ký quyền sở hữu
Bốn là, không thuộc vào các trường hợp không được kiện đòi lại tài sản theo quy
định của pháp luật
3 Các trường hợp không được áp dụng
Trường hợp thứ nhất, tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu rời
khỏi chủ sở hữu theo ý chí của chủ sở hữu; người thứ ba chiếm hữu ngay tình thông qua hợp đồng có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản
Trang 10Đây là trường hợp chủ sở hữu chuyển giao tài sản cho người chiếm hữu hợp pháp thông qua một hợp đồng như: hợp đồng cho thuê, mượn, cầm cố, thế chấp, đặt cọc,
… Sau đó, người chiếm hữu hợp pháp đinh đoạt tài sản này cho người thứ ba ngay tình thông qua hợp đồng có đền bù như: hợp đồng mua bán,… mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu Người thứ ba chiếm hữu sẽ được coi là ngay tình khi khôngbiết và không thể biết việc mình chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật.Pháp luật quy định trong trường hợp này chủ sở hữu không có quyền khởi kiện đòi lại tài sản Đây là một cách thức để pháp luật yêu cầu các chủ thể phải thận trọng hơn khi tham gia các giao dịch Bởi khi chủ sở hữu chuyển giao tài sản cho người khác thì họ có nhiều khả năng sẽ thực hiện các hành vi có tính chất vượt quá thẩm quyền của mình Ngoài ra, việc chiếm hữu của người thứ ba là ngay tình và cũng thông qua một hợp đồng đền bù nên lợi ích của họ cần được pháp luật bảo vệ
Trường hợp thứ hai, tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc là bất
động sản mà người chiếm hữu ngay tình có được thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu nhưng sau đó người này không phải chủ sở hữu do bản án bị hủy, sửa
Trường hợp thứ ba, trong trường hợp này giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản
đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch
Trường hợp thứ tư, tài sản này là đối tượng của vụ kiện được xác lập quyền sở
hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình theo thời hiệu Trường hợp này
được quy định tại điều 236 BLDS 2015 như sau: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ
Trang 11sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”
III Phương thức kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản
1 Khái niệm
Theo quy định tài BLDS năm 2015, “Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo
ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.”3 Ngoài ra, người không phải chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản theo thỏa thuận với chủ
sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật Để thực hiện được các quyền năng đó, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có quyền chủ động yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó; nếu không có kết quả thì
có quyền khởi kiện đến Tòa án, yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm
3
Xem khoản 2, điều 160 BLDS năm 2015
Đây chính là phương thức kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và được quy định tại điều 169 BLDS năm 2015
2 Chủ thể
Tương tự như kiện đòi lại tài sản, chủ thể của phương thức kiện dân sự này cũng bao gồm: chủ thể khởi kiện (nguyên đơn) và chủ thể bị khởi kiện (bị đơn)
Trang 12- Chủ thể khởi kiện (nguyên đơn) là chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đang kiểm soát tài sản và đang bị người khác gây khó khăn, cản trở cho việc thực hiện các quyền năng cụ thể.
- Người bị khởi kiện (bị đơn) là người có hành vi trái pháp luật, xâm phạm đến các quyền năng của chủ sở hữu hay người có quyền khác đối với tài sản
3 Điều kiện áp dụng
Kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Một là, phải tồn tại trên thực tế hành vi cản trở chủ thể có quyền đối với tài sản
thực hiện các quyền năng cụ thể của mình
Hai là, hành vi đó vẫn đang tồn tại và chưa chấm dứt.
Ba là, hành vi đó phải là hành vi trái pháp luật.
Bốn là, yêu cầu khởi kiện phải là ngăn chặn, chấm dứt hành vi đó, nhằm giúp cho
các chủ thể có quyền thực hiện các quyền năng đối với tài sản
IV Phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (kiện trái quyền)
1 Khái niệm
Phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản là việc chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu Tòa án buộc người có hành vi xâm phạm tới quyền sở hữu phải bồi thường thiệt hại cho mình
Điều 170 BLDS năm 2015 quy định như sau: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại.”