-Các tư thế ngồi đều phải tự nhiên, thoải mái, đàn đặt gần sát người, mặt đáy đàn tì lên đùi phải, đầu đàn được lên đôn hoặc giá đàn có chiều cao bằng ghế ngồi đàn.. 2 Cấốu t o ạ Sáo trú
Trang 1FPT UNIVERSITY- CAMPUS CAN THO
TIỂU LUẬN ĐÀN TRANH
Student Name:Nguyễễn Trâm Anh Code: CS170640
Class: ĐTR102.B1.9 Phone: 0899496626 Email: AnhNTCS170640@fpt.edu.vn
Trang 3Nguyễn Trâm Anh
MSSV: CS170640
TIỂU LUẬN MÔN ĐÀN TRANH
Họ và tên: Nguyễn Trâm Anh
- Mặt đàn, đáy đàn được làm bằng gỗ nhẹ, xốp như: ngô đồng, gỗ tung, gỗ thông,
- Dây đàn ngày xưa được dùng bằng dây tơ, dây đồng, dây thép Sau này thường được sử dụng bằng dây inox
2 Cách sử dụng nhạc cụ:
Có 4 tư thế đánh đàn:
1 Ngồi thấp, xếp chân trên chiếu
2 Ngồi thẳng hoặc vắt chéo chân trên ghế, một đầu đàn đặt trên đùi, một đầu đàn gác trên giá hoặc đôn
Trang 43 Đàn được đặt trên giá cao ngang tầm tay
Người chơi đàn ngồi trên ghế
4 Đứng đánh: đàn được đặt trên giá cao
-Các tư thế ngồi đều phải tự nhiên, thoải mái,
đàn đặt gần sát người, mặt đáy đàn tì lên đùi
phải, đầu đàn được lên đôn hoặc giá đàn (có
chiều cao bằng ghế ngồi đàn) Hai cánh tay
nâng mềm mại trên mặt đàn - Để đánh đàn,
người ta phải đeo dụng cụ gọi là móng đàn,
hình dáng như một cái khoen để đeo vào đầu
ngón tay Hiện nay người chơi đàn thường
đeo 3 móng đàn vào 3 ngón cái, trỏ và giữa
của bàn tay phải Móng đàn có thể được làm
bằng nhiều chất liệu khác nhau như: đồng,
inox, nhựa, sừng, đồi mồi - Trục chỉnh dây
dùng để tra vào trục đàn nhằm điều chỉnh
căng chùn dây đàn theo cao độ mong muốn
Trục chỉnh dây thường được làm bằng gỗ
Sử dụng 3 đầu ngón taytrái nhấn xuống nhẹ 1/2cung, nặng hơn nếu là 1cung Cách nhấn nặng haynhẹ phụ thuộc vào yêu cầu của bài Người nghệ nhân
phải dùng tai nghe để cảm âm rồi điều chỉnh tay
nhấn
Ngón nhấn luyến: Dùng những ngón nhấn để luyến 2
– 3 âm có độ cao khác nhau Âm thanh khi sử dụng
kỹ thuật này nghe mềm mại, mượt mà và uyển
chuyển gần với thanh điệu của tiếng nói Ngón nhấn
luyến có hai loại, gồm:
Trang 5 Nhấn luyến lên: Gảy vào 1 dây để vang lên Tay trái nhấn dần lên dây đó để âm thanh được cao hơn hoặc tiếp tục nhấn để cao hơn nữa.
Nhấn luyến xuống: Kỹ thuật này cần phải mượn nốt Chẳng hạn như nếu bạn muốn có âm Fa luyến xuống âm Rê thì cần phải mượn dây Rê nhấn mạnh trước rồi mới gảy Âm Fa ngân lên, ngón tay trái nới dần để âm Rê của dây đó vang theo luyến tiếng cùng với âm Fa
Đẩ đánh âm nhấn luyến xuống hay lên thì chỉ cần gảy một lần Độ ngân của các âm nhấn luyến được ghi như những nốt nhạc bình thường
khấu biểu diễn ca nhạc nghệ thuật khác nhau và
cũng được xem là hình ảnh biểu tượng cho sự
giản dị, mộc mạc mang đậm chất hồn quê
Người ta kể: Cách đây hàng nghìn năm, một sơn
nhân ở trong rừng trúc chơi thấy một con ong
đục thủng một lỗ trên giông trúc Gió thổi qua lỗ
đó phát ra những âm thanh vi vu nghe rất êm tai
Sơn nhân bèn nảy ra ý định chế tạo cây sáo Vì
thế mà tiêu sáo làm say đắm lòng người
2 Cấốu t o ạ
Sáo trúc là nhạc cụ dân tộc được làm bằng ống trúc, ống nứa, trên thân sáo được khoét lỗ
để khi thổi tạo ra âm thanh, bấm nốt và có cấu tạo khá đơn giản, gồm: 1 lỗ thổi hơi tạo âmthanh nằm ở trên đầu sáo, 6 lỗ phát ra âm thanh nằm gần nhau, dùng tay để bấm Các lỗ này tạo thành một hàng thẳng Ở cuối ống, bên dưới có lỗ định âm, nó giúp sáo phát ra được thanh chuẩn Sáo được làm bằng một đoạn ống trúc, hoặc nứa có chiều dài 40 – 55cm, đường kính 1,5 – 2cm Ở phía đầu ống có một lỗ hình bầu dục đó là lỗ thổi Trong
Trang 6lòng ngay gần lỗ thổi được chặn bằng một mẩu nút bấc hoặc gỗ mềm để điều chỉnh độ cao thấp khi cần thết Thẳng hàng với lỗ thổi có khoét 6 lỗ bấm, lỗ bấm thứ nhất cách lỗ thổi 12cm, các lỗ bấm còn lại cách đều nhau (1cm) Mở dần các ngón ở 6 lỗ bấm ta sẽ có các âm Do1, Rê1, Mi1, Fa1, Sol1, La1, Si1, Do2 Phía sau cuối ống sáo có một lỗ không bấm là lỗ định âm.
c.
Cách chơi
- Khi thổi sáo, thân sáo đặt ngang sang bên phải, miệng đặt
lên lỗ thổi Người thổi sáo có thể điều chỉnh luồng hơi (rót
hơi yếu đường hơi đi từ từ và yếu, rót hơi mạnh đường hơi đi
nhanh và mạnh) Sáo thường được sử dụng để độc tấu, hòa
tấu trong các dàn nhạc chèo, hát văn, tiểu nhạc
- Sáo được gọi là ống hơi, thổi đầu này và bịt hoặc mở ở đầu
kia sẽ phát ra âm thanh theo nguyên tắc: Bịt đầu về phía tay
mặt thì tiếng kêu thấp xuống Mở về phía tay trái thì tiếng kêu
cao hơn
- Thứ tự ngón được tính bắt đầu từ lỗ thổi (hiểu ngầm 0)
+ Sáu ngón tay bịt kín sáu lỗ, thổi nhẹ ra nốt Đô
+ Mở ngón thứ sáu, thổi nhẹ ra nốt Rê
+ Mở ngón thứ năm, thổi nhẹ ra nốt Mi
+ Mở ngón thứ tư, thổi nhẹ ra nốt Fa
+ Mở ngón thứ ba, thổi nhẹ ra nốt Sol
+ Mở ngón thứ hai, thổi nhẹ ra nốt La
+ Mở ngón cuối cùng, thổi nhẹ ra nốt Si
+ Mở ngón ở nốt Si và che các lỗ còn lại thổi ra nốt Do (2)
+ Che 4 lỗ bấm ở giữa mở 2 lỗ đầu vào cuối thổi sẽ ra Si giáng
+ Các nốt từ Do (2) thổi giống từ Do (1) đến Si (1) chỉ có luồng hơi mạnh hơ
Trang 7b Cấốu t o ạ
Trang 8Đàn Bầu thường có cấu tạo một ống tròn được làm từ tre, bương, luồng Nó có hình hộp dài, đầu đàn hơi cao và thuôn hẹp dần về cuối đàn Đàn bầu gồm các bộ phận chính: Thành đàn, mặt đàn, đáy đàn, cần đàn (vòi đàn), bầu đàn, trục lên dây, dây đàn và cầu âm (cầu dây)
- Thân đàn: Phần mặt đàn thường được thiết kế hơi cong Đáy kín nhưng có khoét lỗ ở cuối đàn để thoát âm và cũng là chỗ để mắc dây đàn Thành đàn cũng được thiết kế bằng
gỗ cứng như cấm lai hoặc gỗ mun
- Trên mặt to của đàn thường có 1 miếng xương kim loại nhỏ gọi là ngựa gảy Dây đàn sẽ được luồn từ đây và cột vào trục lên dây xuyên qua phần thành đàn (Với những cây đàn bầu hiện đại, người ta đã sử dụng khóa dây bằng kim loại để phần dây được chắc chắn và không bị tuột)
- Cuối cùng là que gảy đàn, chúng được vót bằng tre, giang, thân dừa hoặc gỗ mềm Que gảy thời xưa thường dài khoảng 10cm, nhưng ngày nay với những kỹ thuật diễn tấu nhanhnên que gảy chỉ dài khoảng 4 – 4,5cm
c Cách chơi
Định âm chuẩn
Mô tả xác định điểm chia nốt trên dây đàn bầu
- Người ta thường định âm cho đàn bầu theo dây buông có âm tự nhiên, nhưng có khi chỉnh theo từng bài bản Nếu bài nhạc cung đô (do) là chủ âm thì định âm dây buông tự nhiên là đô Ngoài ra còn vài cách định âm khác Vì dây buông chỉ cho một nối nên phải chia dây từ cần đàn đến ngựa đàn để xác định các nốt khác:
+ 1/2 dây có nốt Do (1) cao hơn dây buông một quãng 8
- Ngoài 6 điểm định âm thông dụng là Do 1, Sol 1, Do
2, Mi 2, Sol 2 và Do 3 còn có thể tạo âm thực bằng cách
gảy dây buông và thường gảy gần ngựa đàn chứ không
gảy vào các điểm định âm bồi
- Trên 7 âm thanh này, với kỹ thuật tay trái như căng dây
hoặc chùng dây thích hợp, người chơi đàn có thể tạo được rất nhiều âm thanh khác nữa
d Sử dụng que gảy đàn
Trang 9- Cách gảy đàn đòi hỏi kỹ thuật đặc biệt Người diễn cầm que bằng tay phải, đặt que trong lòng bàn tay phải, sao cho que hơi chếch so với chiều ngang dây đàn
- Que đàn được đặt trên 2 đốt ngón tay trỏ và giữa của bàn tay phải, còn đốt thứ nhất của ngón cái thì giữ que đàn, đầu nhỏ của que thường nhô ra khoảng 1,5 cm
- Hai ngón còn lại thì hơi cong theo ngón trỏ và giữa Khi gảy dây ta đặt cạnh bàn tay vào điểm phát ra bội âm, hất nhẹ que đàn cùng lúc nhấc bàn tay lên, ta sẽ có được âm bội
- Những điểm cạnh bàn tay chạm vào gọi là điểm nút, những điểm trên dây đàn được que gảy vào gọi là điểm gảy Do Đàn Bầu không có phím nên những điểm nút được coi là cung phím của đàn bầu
Câu 2 Trình bày về các loại đàn có cùng họ hàng với đàn Tranh Việt Nam
Đàn Guzheng:
1 Nguồồn gồốc:
- Đàn tranh Trung Quốc Guzheng được
ra đời ở thành phố Dương Châu, một
thành phố văn hóa lớn coi trọng văn hóa
có truyền thống “thiên gia hữu nữ tiên
giáo khúc” giải thích có nghĩa là nhà nào
có con gái đều sẽ cho học đàn nhạc đầu
tiên Đàn Cổ Tranh còn được biết đến là
một nhạc cụ dân tộc cổ đại, có nguồn
gốc từ nền văn hóa lâu đời Trung Hoa và
có lịch sử từ hơn 2.500 năm
Trang 102 Cấốu t o: ạ
- Guzheng hiện đại có chiều dài là 1m63 với 21 dây đàn được sắp xếp từ cao dần “ dây 1” lên thấp dần “ dây 21” Dây đàn là dây sắt, nhưng phù
hợp cho các dòng nhạc sau này, đàn tranh Trung Quốc đã
được cải biên, bọc nylon các sợi dây đàn cốt để âm thanh
trầm ấm và đanh hơn
- Đàn Guzheng tiêu chuẩn dài 1,63m, có 21 dây Mặt đàn
tranh thường được chế tác từ gỗ cây ngô đồng Giá đàn
làm bằng gỗ tùng trắng, thành đàn, đáy đàn và thùng đàn
làm bằng gỗ lim đỏ, gỗ lim già, gỗ lim vàng hoặc gỗ tử
đàn Mặt đàn và dây đàn ảnh 10 hưởng rất nhiều đến âm
thanh của đàn tranh, ngoài ra nếu chọn được gỗ lim đỏ
già, gỗ tử đàn hoặc gỗ lim vàng tốt làm thành đàn, cầu đàn
và đáy đàn cũng khiến cho âm thanh của đàn hay hơn
- Người đàn dùng ngón tay trỏ, ngón giữa và ngón áp út
của bàn tay mặt để khảy và ba ngón trỏ, giữa và áp út của
bàn tay trái để nhấn Họ chỉ dùng móng tay để khảy và rất ít khi dùng móng sắt, hay đồi mồi như người Việt Cây đàn thường để trên bàn trước mặt người đàn hoặc để trên đùi
Trang 11 Đàn Koto
1 Nguồần gồắc
Cây đàn tranh Koto nguyên lai vốn có từ
thời cổ ở Nhật gọi là Wagon (和琴- Hòa
cầm) hoặc Yamato-goto (Đại Hòa cầm) là
loại đàn tranh gồm có 6 dây (hiếm khi là 5
dây) và được tìm thấy trong những di tích
khai quật từ thời Yayoi đến thời Nara, hiện
tại được sử dụng trong biểu diễn Nhã nhạc,
cách chơi khác với koto là một tay cầm
miếng gảy dẹt chữ nhật đầu góc thuôn tròn
để chơi lướt dây, tay còn lại nhấn và giật nhẹ
dây Đến thời Heian thì nó được dùng như
một nhạc khí biểu diễn phụ trợ trong một
loại nhạc khúc Nhã nhạc gọi là Saibara (催
馬楽) (loại ca khúc biểu diễn có kèm nhạc
cụ thổi và nhạc cụ dây, kết hợp giữa điệu
dân ca truyền thống ở địa phương với Nhã
nhạc, thứ âm nhạc du nhập từ Trung Hoa đại
lục sang) Tuy nhiên, trong thời hiện tại thì
Wagon không được sử dụng trong Saibara.
Chiều cao 24,1 cm (9,5 in Bao gồm cả cầu đàn)
Gỗ được chuẩn bị để sản xuất đàn koto thường là những khối lớn và cần được
xẻ ra thành các tấm gỗ có kích thước khác nhau dựa theo yêu cầu thiết kế và uốn cong tấm gỗ thành mặt đàn Người thợ tiến hành bước này phải có sự tính toán tỉ mỉ để lượng gỗ đã được chuẩn bị từ trước được xẻ ra không bị thiếu haythừa, đảm bảo sản phẩm được hoàn thiện tốt Sau khi xẻ gỗ xong, thành phẩm
sẽ được ngâm qua các hóa chất chống mối mọt và mặt sau của ván gỗ uốn cong thành mặt đàn người thợ khắc hình zigzag đều nhau thẳng hàng; kế tiếp, người thợ nung nóng một thanh sắt để đốt cháy mặt đàn (hoặc dùng đèn khò) Biện pháp này giúp cho đàn làm ra bền hơn, khó bị các loại côn trùng mối mọt tấn công
Sau đó, lấy một tấm gỗ nhẵn khác ốp lên mặt sau của mặt đàn Tiếp theo, lấy nẹp gỗ và dây thừng để cố định đàn và dùng giấy ráp để làm nhẵn mặt đàn và
Trang 12phết nước sơn làm bóng mặt đàn Cuối cùng, đàn sẽ được đục lỗ xỏ dây, gắn cầu đàn, làm nhạn đàn,
Người Nhật ngày trước quỳ gối và đặt koto nằm ngang trên đùi khi chơi Ngàynay có thể đặt đàn trên giá đỡ và nghệ sĩ có thể ngồi trên ghế Thùng đàn dài hẹp, bên trong rỗng Dây đàn gồm khoảng 13 sợi có thể điều chỉnh độ căng để chỉnh âm Koto 80 dây, được gọi là hachijugen (kanji: 八十絃; hiragana: はちじゅげん) trong tiếng Nhật, là một phát minh của nhà soạn nhạc Nhật
Bản Michio Miyagi, xuất hiện vào năm 1923 Ông đã thêm 67 dây vào thiết kế
13 dây truyền thống, âm sắc koto 80 dây trong trẻo giống như đàn hạc phương tây Cùng với koto thông thường, 80 dây cung cấp một phạm vi cao hơn nhiều
so với koto tiêu chuẩn Nó được xem rộng rãi như một công cụ thử nghiệm ngắn
Kích thước của đàn tranh koto tiêu chuẩn (13 dây) gồm: chiều dài 180 cm (71inch), đầu nhỏ rộng 15 cm và đầu lớn rộng 40 cm Chiều dài của loại đàn cao cấp được gọi là "Hongen" của phái Yamada-ryū là 6 xích 3 thốn (chừng
190 cm), còn của phái Ikuta-ryū là 6 xích (chừng 182 cm) Ngoài ra thì còn có nhiều loại khác có chiều dài lớn, nhỏ hơn hai cỡ này, nhưng ngoại trừ loại đàn Koto dùng để dạy ở trường thì phần lớn là kiểu đàn của phái Yamada-ryū Trong Shōsō-in (Chánh Thương viện), bảo khố chứa các món đồ báu ở Nara
Trang 13khác với loại đàn hiện nay, gồm 4 miếng ván khá mỏng ráp thành hình hộp Cây đàn Koto hiện đại được chế tạo bằng cách khoét từ một loại gỗ để làm thành mặt trên của đàn và hai mặt bên, riêng mặt dưới được làm từ loại gỗ khác, sau đó ráp vào Cách làm này được cho là xuất hiện từ thời Heian, sau đóđược Yamada Kengyō cải tiến thành loại đàn Yamada-goto chủ lưu hiện nay Phần thân đàn làm từ gỗ cây Kiri (một giống cây vông), cách chế tạo thì có hailoại là "Beta" và "Kiri-kō", loại sau cao cấp hơn Ngày xưa thân đàn được trang trí nhiều tranh khảm như một thứ thể hiện địa vị của tầng lớp giàu có, nhưng đến thời Yamada Kengyō thì việc trang sức được hạn chế đến mức tối thiểu, tập trung vào âm sắc và dần dà càng có nhiều cây đàn đơn giản ra đời Tuy nhiên chất lượng âm sắc của cây đàn có quan hệ mật thiết đến vẻ đẹp của vân gỗ làm đàn.
Câu 3 Thể loại âm nhạc truyền thống:
Dân ca quan họ Bắc Ninh
Du lịch Bắc Ninh nổi tiếng không chỉ bởi những danh lam thắng cảnh đẹp nổi tiếng, đặc
sản nổi tiếng dân dã mà còn ở những điệu quan họ Bắc Ninh có sức mạnh “đi xa là nhớ”
của những liền anh, liền chị.
a.Nguồn gốc quan họ Bắc Ninh
Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về và khi mùa thu tới, người dân 49 làng Quan họ gốc thuộc
xứ Kinh Bắc (bao gồm cả Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay), dù ở bất cứ nơi đâu cũng trở
về quê hương để trẩy hội đình, hội chùa, những lễ hội hết sức độc đáo bởi đã gắn liền với trình diễn Quan họ tự bao đời nay
Vì ra đời từ rất lâu về trước nên Quan họ Bắc Ninh có rất nhiều câu chuyện kể về thời điểm ra đời, có ý kiến cho là Quan họ có từ thế kỷ 11, số khác cho là từ thế kỷ 17, nhưng
tất cả, các công trình khảo sát, nghiên cứu từ trước tới nay tuy có khác nhau nhưng đều đãkhẳng định giá trị to lớn của di sản văn hóa phi vật thể Quan họ, đặc biệt là dân ca Quan
họ, loại hình nghệ thuật được coi là cốt lõi của văn hóa xứ Kinh Bắc ngàn năm văn hiến
Trang 14Theo điều tra của Sở văn hóa Hà Bắc (thuộc hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay) thì trước cách mạng tháng Tám năm 1945 có 49 làng quan họ rải rác ở các huyện Tiên Sơn, Yên Phong, Quế Võ, Việt Yên và thị xã Bắc Ninh Mỗi làng quan họ ở Bắc Ninh lại
có nét độc đáo riêng
b.Cách hát
Nhìn chung trong Quan họ người ta bao giờ cũng hát đôi Khi một đôi trong Quan họ bạn hát thì bên kia cũng chuẩn bị một đôi để hát đối lại Chính vì vậy hát Quan họ là loại hát đối đáp, hát giao duyên Những người hát Quan họ thường được gọi là liền anh, liền chị.
Kết cấu của mỗi điệu hát lại được hình thành từ những lễ kết nghĩa Lễ kết nghĩa được bắt đầu bằng những lời thăm hỏi tận tình hoặc những lời thề thốt Sau đó, họ lại có buổi gặp nhau ở bên nam Tại đây họ có thể hát thâu đêm suốt sáng để thổ lộ với nhau về tình cảm.
Căn cứ vào sự đồng nhất về cữ giọng, âm sắc, họ xếp thành từng cặp: anh Cả – chị Cả, anh Hai – chị Hai, anh Ba – chị Ba, anh Tư – chị Tư… Lời ca trong quan họ chủ yếu nói về tình yêu nam
nữ, sự gắn bó thủy chung Nhưng trên thực tế họ không hề nghĩ đến chuyện yêu nhau mà chỉ quan hệ trên cơ sở bình đẳng tôn trọng lẫn nhau Họ gọi nhau bằng anh, chị và xưng em hoặc tôi Thời gian kết nghĩa của người Quan họ có thể từ đời này sang đời khác hay có khi chỉ một vài
Trang 15c.Môi trường diễn tấu
Địa điểm ca hát thường là ở sân nhà, trước cửa đình, cửa chùa, dưới gốc đa, bên sườn đồi, trên thuyền, bến nước…
d.Các nhạc cụ được dùng trong dân ca quan họ Bắc Ninh
Quan họ mà bạn vẫn thường được nghe trên băng đĩa thì đều được nghệ thuật hóa theo lốibiểu diễn và sẽ hát trên nền của các nhac cụ bao gồm bộ hơi là sáo và bộ gõ là trống Ngoài ra còn có đàn bầu, nhị, đàn tam thập lục, đàn nguyệt ngoai ra cung có thể sử dụng đàn organ nhưng khi sử dụng đàn organ nó sẽ làm mất đi yếu tố dân gian nghệ thuật của quan họ…
e Tên các bài bản
Tổng hợp một số bài hát quan họ hay như: Các làn điệu quan họ cổ bao gồm: La rằng, Đường bạn Kim Loan, Cây gạo, Giã bạn, Hừ la, Ca bời, Tình tang, Cái ả, Lên núi, Xuống sông, Cái hờn, Gió mát trăng thanh, Tứ quý…
Cải lương:
a.Nguồn gốc