A MỞ ĐẦU Trong xã hội hiện đại đang dần phát triển như hiện nay, có thể thấy sự phân công lao động cũng ngày càng tăng lên theo đó rõ rệt Tuy nhiên, một vấn đề xảy ra, đó là mỗi người chỉ có thể phu trách đảm nhiệm một mảng công việc nhỏ cho xã hội Năng lực của từng người không thể cùng lúc đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau Trong khi đó, nhu cầu của con người về tinh thần cũng như vật chất ngày càng tăng lên rõ rệt, để đảm bảo đáp ứng đầy đủ những nhu cầu để sống, con người bắt buôc phải tham.
Trang 1A.MỞ ĐẦU
Trong xã hội hiện đại đang dần phát triển như hiện nay, có thể thấy sự phân công lao động cũng ngày càng tăng lên theo đó rõ rệt Tuy nhiên, một vấn đề xảy ra, đó
là mỗi người chỉ có thể phu trách đảm nhiệm một mảng công việc nhỏ cho xã hội Năng lực của từng người không thể cùng lúc đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau Trong khi đó, nhu cầu của con người về tinh thần cũng như vật chất ngày càng tăng lên rõ rệt, để đảm bảo đáp ứng đầy đủ những nhu cầu để sống, con người bắt buôc phải tham gia nhiều giao dịch khác nhau, trong đó không thể không nhắc tới giao dịch dân sự Thực tế xã hội loài người cho thấy, nếu chỉ có sư trao đổi trong một phạm vi hạn hẹp, một xã hội không thể phá triển mạnh Ngày nay, trong thời kì kinh tế xã hội phát triển nhanh chóng, các giao dich nói chung và giao dịch dân sự nói riêng đã trở thành phương tiện hữu hiệu và cần thiết để thỏa mãn quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.Để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của chủ thể phát sinh từ giao dịch, bên cạnh những giao dịch hợp pháp, pháp luật còn có những quy định cụ thể đối với các giao dịch dân sự vô hiệu Với tầm quan trọng đó, tôi quyết định chọn đề tài: “Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu theo Bộ luật dân sự 2015”
B.NỘI DUNG
I Khái quát chung về giao dịch dân sự
1 Khái niệm
Điều 116 Bộ luật dân sự 2015 ghi rõ : “ Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành
vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự ”.
Giao dịch dân sự đó là mối quan hệ giữa người với người là mối liên hệ phổ biến trong xã hội loài người cũng là một trong chế định pháp lý cổ điển, và nó xuất hiện
từ lâu đời Ngoài ra giao dịch dân sự còn là phương tiện pháp lý quan trọng để cho các công dân thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần trong sản xuất kinh doanh và tiêu dùng
2 Đặc điểm giao dịch dân sự
- Thứ nhất: Trong giao dịch dân sự có ý chí và thể hiện ý chí của chủ thể tham gia giao dịch Ý chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong của con người
mà nội dung của nó được xác định bởi các nhu cầu về sản xuất, tiêu dùng của bản
Trang 2thân họ Ý chí phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định để các chủ thể khác có thể có thể biết được ý chí của chủ thể muốn tham gia đã tham gia vào một giao dịch dân sự cụ thể Bởi vậy, giao dịch dân sự phải là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí
- Thứ hai: “Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó” Mục đích mang tính pháp lí hay là mục đích pháp
lí Mục đích pháp lí sẽ trở thành hiện thực, nếu như các bên trong giao dịch thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán thì mục đích pháp lí của bên mua là sẽ trở thành chủ sở hữu tài sản mua bán, bên bán sẽ nhận tiền và chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua Mục đích pháp lí đó sẽ trở thành hiện thực khi hợp đồng mua bán tuân thủ mọi quy định của pháp luật và bên bán thực hiện xong nghĩa vụ bàn giao tài sản mua bán, khi đó, hậu quả pháp lí phát sinh từ giao dịch trùng với mong muốn ban đầu của các bên tức là với mục đích pháp lí
- Thứ ba: Thứ ba, giao dịch dân sự hướng tới một quan hệ dân sự với chủ thể khác Chỉ được coi là giao dịch dân sự khi người xác lập giao dịch dân sự phải hướng tới việc hình thành một quan hệ dân sự với chủ thể khác Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán: quan hệ hợp đồng là quan hệ dân sự: quan hệ giữa người bán và người mua Theo đó trong hợp đồng các bên sẽ có các quyền và nghĩa vụ tương ứng
- Thứ tư: Giao dịch dân sự làm phát sinh một hậu quả pháp lý nhất định Hậu quả pháp lý này có thể làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
3 Phân loại giao dịch dân sự
- Căn cứ vào ý chí của các bên trong giao dịch, giao dịch dân sự được chia thành hai loại đó là hợp đồng, ví dụ như là hợp đồng kinh tế, hợp đồng quảng cáo và hành vi pháp lý đơn phương, ví dụ đó là việc tặng cho tài sản, lập di chúc
cá nhân
Trang 3- Căn cứ vào hình thức thể hiện ý chí, giao dịch dân sự được chia làm hai loại là giao dịch dân sự có hình thức bắt buộc: hợp đồng tặng cho bất động sản theo Điều 459 Bộ luật dân sự năm 2015 và giao dịch dân sự không có hình thức bắt buộc, ví dụ: hợp đông mua tài sản thông thường
- Căn cứ vào điều kiện của giao dịch, ta có hai loại: giao dịch dân sự có điều kiện và giao địch dân sự không có điều kiện(hay giao dịch dân sự thông thường )
- Căn cứ vào động cơ kinh tế của người bày tỏ ý chí, ta có giao dịch có đền bù (mua bán, trao đổi ), ví dụ như việc mua bán hàng hóa hoặc không có đền
bù (tặng cho, di chúc ), ví dụ: việc cha mẹ để lại tài sản thừa kế cho con cái
- Căn cứ vào thời điểm có hiệu lực của giao dịch dân sự, ta có thể chia giao dịch dân sự thành hai loại là giao dịch dân sự ưng thuận và giao dịch dân sự thực tế
Tuy nhiên, trong số đó chúng ta phải chú tâm vào hai loại giao dịch dân
sự sau:
* Hợp đồng dân sự
Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự” (Điều 388 BLDS 2005) Trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như trong cuộc sống hàng ngày một yếu tố không thể thiếu được là phải có sự giao dịch dân sự, đó là sự chuyển dịch tài sản, quyền tài sản hoặc thực hiện một dịch vụ nào đó giữa người này với người khác, giữa tổ chức này với tổ chức khác, giữa pháp nhân này với pháp nhân khác Sự giao lưu dân sự được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa các bên, trên cơ sở đó pháp luật buộc các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đó Sự thỏa thuận giữa các bên được gọi là hợp đồng
Trang 4Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận ý chí giữa các bên cùng nhằm phát sinh quyền
và nghĩa vụ của các bên, thể hiện quan hệ tài sản và được ký kết căn cứ trên những nguyên tắc cơ bản Khi nói đến khái niệm hợp đồng, điều cơ bản đầu tiên phải đề cập đến đó là sự thỏa thuận ý chí của các bên Hợp đồng được hình thành khi các bên đã đạt được một sự nhất trí trên cơ sở sự thỏa thuận của hai hay nhiều bên Sự thỏa thuận ấy phải được biểu hiện ra bên ngoài dưới những hình thức nhất định Hợp đồng có thể ký kết bằng hành vi, bằng miệng, bằng văn bản, bằng đối thoại, bằng Internet Các bên trong hợp đồng có quyền biểu lộ ý chí của họ, nhưng hợp đồng chỉ được thiết lập khi có sự thỏa thuận của các bên, tức là khi ký kết hợp đồng các đương sự phải có chung một ý chí Chính sự gặp gỡ giữa hai hay nhiều ý chí đã tạo nên hợp đồng
*Hành vi pháp lí đơn phương
Là giao dịch dân sự trong đó thể hiện ý chí của một bên nhằm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự
Trong trường hợp thông thường, hành vi pháp lý đơn phương thường được xác lập dựa trên ý chí của môt bên chủ thể duy nhất, điển hình như lập di chúc hay từ chối thừa kế tài sản Tuy nhiên, cũng có trường hợp xác lâp giao dịch dân sự do nhiều chủ thể cùng thể hiện ý chí trong giao dịch đó Hành vi pháp lý đơn phương là một giao dịch dân sựu, vì thế cho nên nội dung và hình thức phải phù hơp với điều kiện
có hiệu lực của giao dịch dân sự
4 Điều kiện có hiệu lực của giao dich dân sự
Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập
- Chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện
- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
Trang 5- Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định Có ba hình thức giao dịch dân sự, đó là hình thức truyền miệng, hình thức văn bản và hình thức giao dịch bằng hành vi
II.Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự
vô hiệu
1.Giao dịch dân sự vô hiệu
1.1.Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu
Theo điều 122 BLDS 2015 quy định “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định khác.”
Từ đó, ta có thể đưa ra khái niệm như sau: Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch không thỏa mã một trong các điều kiên có hiệu lực của một giao dịch dân sự
do pháp luật quy định
Bằng việc quy định các điều kiện và một số trường hợp cụ thể dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu, Nhà nước có thể kiểm soát các giao dịch dân sự nhất định để đảm bảo tính ônt định trong giao lưu dân sự Nhìn chung các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu có một số ý nghĩa sau đây: Định hướng, tạo khuôn mẫu cho các chủ thể pháp luật dân sự khi tiến hành xác lập giao dịch dân sự phải tuân theo các quy định của pháp luật, không được thảo thuận hoặc thi hành trái pháp luật, trái đạo đức xã hội nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tự do, tự nguyện cho các chủ thể Ngăn chặn các loại giao dịch dân sự mà pháp luật cấm hoặc trái đạo đức xã hội, bảo đảm cho các giao lưu dân sự hợp pháp được ổn định, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân Ngoài việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia giao dịch còn bảo đảm quyền lợi cho người thứ 3 ngay tình, bảo đảm tính công bằng khi giải quyết hậu que của giao dịch dân sự vô hiệu Là cơ sở pháp lý mang
Trang 6tính nguyên tắc cho các bên tự hòa giải với nhau khi xảy ra tranh chấp hoặc được tòa án áp dụng khi giải quyết các tranh chấp giao dịch dân sự vô hiệu
1.2 Đặc điểm chung của giao dịch dân sự vô hiệu:
Pháp luật luôn tạo điều kiện và giúp đỡ các chủ thể hành động theo ý chí của mình nếu họ không vi phạm vào 1 trong 4 điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói trên Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp không tuân thủ các điều kiện
đó dẫn đến giao dịch dân sự bị vô hiệu và các chủ thể phải gánh chịu hậu quả pháp
lý phát sinh từ việc tuyên bố giao dịch vô hiệu Đây cũng là 2 đặc điểm đặc trưng của giao dịch dân sự vô hiệu: Vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự do pháp luật quy định: đặc điểm này tuân theo đúng tinh thần của quy định về giao dịch dân sự tại Điều 127 BLDS 2005
Một đặc điểm mang tính quyết định một giao dịch trở nên vô hiệu đó là việc giao dịch đó không tuân thủ đầy đủ 4 điều kiện mà pháp luật đã quy định đối với giao dịch dân sự có hiệu lực tại Điều 122 BLDS: điều kiện về năng lực hành vi dân
sự của chủ thể tham gia giao dịch, điều kiện về mục đích và nội dung của giao dịch, điều kiện về sự tự nguyện của chủ thể và điều kiện về hình thức trong một số trường hợp pháp luật quy định Các bên tham gia giao dịch phải gánh chịu hậu quả pháp lý phát sinh từ việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu: bất kỳ một sự vi phạm nào cũng chịu sự điều chỉnh của pháp luật bằng những chế tài nhất định Trong giao dịch dân sự cũng vậy, một khi các chủ thể không tuân theo quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì cũng phải chịu hậu quả
do việc tuyên bố giao dịch đó đem lại Cụ thể, khi giao dịch bị tuyên bố là vô hiệu
sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch đó Tính
vô hiệu được xác định từ thời điểm các bên xác lập giao dịch( tức là từ khi giao kết hoặc tuyên bố ý chí) Đồng thời, khi giao dịch vô hiệu, các bên quay lại tình trạng ban đầu, hoàn trả những gì đã nhận của nhau
Trang 7Về mặt lý thuyết thì đây là sự tổn thất của các bên vì không đạt được mục đích ban đầu khi tham gia giao dịch, ngoài ra nếu bên nào có lỗi làm thiệt hại phải bồi thường thiệt hại Như vậy hậu quả pháp lý có thể và hầu như thường gây bất lợi cho các bên tham gia giao dịch dân sự
2 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu:
- Thứ nhất, theo khoa học pháp luật dân sự thì giao dịch dân sự vô hiệu
có thể được phân thành hai nhóm chính: vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối Khái niệm vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối là hai khái niệm của ngành khoa học luật dân sự, mang tính lý thuyết và chưa được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật1
- Thứ hai, căn cứ vào nội dung hiệu lực của giao dịch dân sự để phân loại thành giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ và giao dịch dân sự từng phần
- Thứ ba, theo pháp luật dân sự hiện hành, các nhà làm luật chỉ ra các trương hợp vô hiệu do vi phạm từng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
2.1 Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối
* Giao dịch dân sự tuyệt đối: Một giao dịch bị coi là vô hiệu tuyệt đối khi
rơi vào các trường hợp sau: Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều 123 Bộ luật dân sự năm 2015); khi các bên xác lập giao dịch nhằm che giấu một giao dịch khác (Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2015; khi giao dịch dân sự vi phạm về hình thức (Điều 129 Bộ luật dân
sự năm 2015
* Giao dịch dân sự tương đối:Một giao dịch dân sự vô hiệu tương đối khi rơi vào các trường hợp sau: Khi giao dịch được xác lập bởi người chưa thành niên,
Trang 8người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 125 Bộ luật dân sự năm 2015); khi giao dịch dân sự được xác lập do nhầm lẫn (Điều 126 Bộ luật dân sự năm 2015); khi một bên chủ thể tham gia xác lập giao dịch do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015); khi người xác lập giao dịch dân sự đủ năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch tại thời điểm không nhận thức được hành vi của mình (Điều 128 Bộ luật dân
sự năm 2015)
Mặc dù đều là giao dịch dân sự nhưng chúng ta vẫn cần phân biệt giữa hai loại giao dịch này:
- Trên tiêu chí trình tự vô hiệu giao dịch: Giao dịch dân sự vô hiệu
tuyệt đối mặc nhiên bị coi là vô hiệu Còn giao dịch vô hiệu tương đối thì không mặc nhiên vô hiệu mà chỉ trở nên vô hiệu khi có đủ những điều kiện nhất định, đó
là đơn yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan và là quyết định của Toà án
- Trên tiêu chí thời hạn yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu: Đối
với giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối thì thời hạn yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu không bị hạn chế Còn đối với các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu tương đối thì thời hạn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự là
vô hiệu là một năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập
- Trên tiêu chí hiệu lực pháp lý của giao dịch: Giao dịch dân sự vô hiệu
tuyệt đối không có hiệu lực pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên, ngay cả khi các bên đã thực hiện hành vi theo nội dung đã cam kết Còn giao dịch dân sự vô hiệu tương đối được coi là có hiệu lực pháp lý đến khi Tòa án tuyên bố giao dịch đó là vô hiệu
- Trên tiêu chí về mục đích: Các trường hợp pháp luật quy định giao
dịch vô hiệu tuyệt đối nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công (lợi ích của Nhà nước,
Trang 9lợi ích của xã hội) Còn các trường hợp pháp luật quy định vô hiệu tương đối nhằm lợi ích bảo vệ lợi ích cho chính các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự
- Trên tiêu chí hậu quả pháp lý: Mặc dù cả hai trường hợp Tòa án đều
đưa ra quyết định tuyên bố giao dịch dân sự là vô hiệu nhưng bản chất hai quyết định này thì lại hoàn toàn khác nhau Giao dịch dân sự thuộc trường hợp vô hiệu tuyệt đối bị coi là vô hiệu không phụ thuộc vào quyết định của Tòa án Hay có thể nói cách khác nó bị vô hiệu ngay cả khi không có quyết định của Tòa án Như vậy
có thể hiểu, quyết định của Tòa án trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối chỉ là một trong những hình thức công nhận sự vô hiệu của giao dịch dựa trên các quy định của pháp luật Đối với trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu tương đối thì quyết định của tóa án là căn cứ duy nhất để có thể làm cho giao dịch dân sự trở nên vô hiệu Quyết định của Tòa án mang tính phán xử
2.2 Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ và giao dịch dân sự vô hiệu từng phần
*Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ là giao dịch có toàn bộ nội dung vi phạm điều
cấm của luật, xâm phạm lợi ích công cộng và trái với đạo đức xã hội hoặc một trong các bên tham gia vào giao dịch đó không có quyền xác lập giao dịch dân sự Các trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu toàn bộ như: Giao dịch dân sự vô hiệu
do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện ; do giả tạo; do bị lừa dối, đe dọa; do người xác lập không nhận thức
và làm chủ được hành vi của mình
* Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần: là giao dịch dân sự chỉ có một số nội dung
vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, còn các nội dung khác
Trang 10không vi phạm hoặc có 1 phần của giao dịch vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại trong giao dịch
2.3 Giao dịch dân sự không bị hạn chế về thời hiệu và giao dịch dân sự bị hạn chế về thời hiệu
*Giao dịch dân sự không bị hạn chế về thời hiệu: Đây là giao dịch vi phạm vào
một hay một số điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự một cách nghiêm trọng Các giao dịch dân sự vô hiệu này sẽ không bị hạn chế thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu nên các chủ thể có thể yêu cầu bất kỳ lúc nào, thậm chí nếu không yêu cầu, các giao dịch đó cũng bị xác định là vô hiệu
*Giao dịch dân sự bị hạn chế về thời hiệu: đây là những giao dịch mà mức độ vi
phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự không nghiêm trọng Sự vi phạm các điều kiện đó chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của các bên tham gia giao dịch cho nên các bên có thể yêu cầu hoặc không yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân
sự vô hiệu
2.4.Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội:
Đó là các giao dịch có mục đích và nội dung trái pháp luật và đạo đức xã hội (căn
cứ vào Điều 122 BLDS) Điều 128 BLDS quy định rõ “giao dịch dân sự có mục đích và nội dung trái vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu”
*Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo: đây là một trong các trường hợp giao dịch
dân sự vi phạm nguyên tắc tự nguyện của chủ thể tham gia giao dịch bởi khi đó ý chí đích thực của chủ thể không hề đồng nhất với sự bày tỏ ý chí
*Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện: (Điều 130
BLDS 2005) Như đã trình bày ở trên, những đối tượng này có thể tham gia giao dịch dân sự chỉ khi có người đại diện thay họ xác lập, thực hiện giao dịch Khi xuất