1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch diễn án hồ sơ 15 môn hành chính

15 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 730,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người khởi kiện: Ông Bùi Quang Hải, sinh năm 1971 và bà Đặng Thị Kim, sinh năm 1981; Cùng địa chỉ: Số 17981, Trần Phú, Phường 5, thành phố A. Ủy ban nhân dân thành phố A; Địa chỉ: Số 89, đường Lý Thường Kiệt, Phường 1, thành phố A, tỉnh H. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố A.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHÓA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ



BẢN THU HOẠCH DIỄN ÁN

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ:

LUẬT SƯ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI KHỞI KIỆN

Môn: Hành chính

Hồ sơ số: 15

Diễn lần: 01

Ngày diễn: 25/9/2021

Họ và tên: Lê Thị Ánh Nguyệt Ngày sinh: 24/6/1996

Số báo danh: 489 Lớp: LS23.2G_HCM (T7 – CN)

Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 9 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ 1

1.1 Tóm tắt nội dung vụ án 1

1.2 Các vấn đề về tố tụng 2

1.2.1 Đối tượng khởi kiện 2

1.2.2 Tư cách đương sự 3

1.2.3 Điều kiện khởi kiện vụ án hành chính 3

1.3 Cấc vấn đề về nội dung 5

1.3.1 Yêu cầu khởi kiện 5

1.3.2 Các vấn đề cần chứng minh 5

1.3.3 Văn bản pháp luật áp dụng 5

2 KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA 6

2.1 Hỏi người bị kiện 6

2.2 Hỏi người khởi kiện 7

3 LUẬN CỨ BẢO VỆ 7

4 NHẬN XÉT DIỄN ÁN 12

Trang 3

1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ

1.1 Tóm tắt nội dung vụ án

Ngày 14/06/2016, vợ chồng ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Ủy ban nhân dân thành phố A (Sau đây gọi là UBND Tp A) cho mảnh đất 156.7 m2, thửa đất số 164 + 351 (Cũ: 35 và một phần đất biển), tờ bản đồ số

9 (Cũ: 02), tọa lạc tại số 179/8/1 Trần Phú, phường 5, Thành phố A Diện tích của thửa đất này bao gồm 02 phần:

- Phần thứ nhất: Diện tích 102m2 thuộc thửa đất 351, tờ bản đố số 09 (Cũ 2) do ông Hải

và bà Kim đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sau đây gọi tắt là GCN QSDĐ)

đã được UBND Tp A cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số

BM 625400 ngày 11/01/2013

- Phần thứ hai: Diện tích 54.7m2, thuộc một phần thửa đất số 164, tờ bản đồ số 09 (Cũ 2), trên đất có dãy nhà trọ cấp 4 do ông Bùi Xuân Mĩ (Cha của ông Hải) xây dựng từ năm

2000

Ngày 07/0/2016, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố A (Sau đây gọi tắt là CNVPĐKĐĐ Tp A) ra Thông báo số 2728/TB-CNVPĐK trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Hải và bà Kim với lý do phần đất 54.7m2 nằm ngoài ranh quy hoạch được xây dựng, thuộc đất biển và mục đích sử dụng đất là không phù hợp Do không đồng ý với nội dung của thông báo này nên ông Hải và bà Kim đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố A (Sau đây gọi tắt là TAND Tp A) Ngày 09/12/2017, TAND Tp A ra bản án sơ thẩm Ngày 05/04/2018, Tòa án nhân dân tỉnh H (Sau đây gọi tắt là TAND tỉnh H) ra Bản án phúc thẩm số 04/2018/HC-PT tuyên xử: Chấp nhận đơn kiện của ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim Buộc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tiếp nhận lại hồ sơ cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Hỉa, bà Kim và giải quyết các thủ tục tiếp theo quy định của pháp luật Ngày 20/04/2018, ông Hải và bà Kim đến bộ phận tiếp nhận và giao trả hồ sơ thuộc UBND Tp A để nộp lại hồ sơ cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Đồng thời được hẹn ngày trả kết quả là ngày 06/06/2018

Ngày 14/08/2018, CNVPĐKĐĐ Tp A ra Văn bản số 4171/CNVPĐK-ĐKCG thông báo với ông Hải và bà Kim với nội dung: Ngày 02/07/2018, CNVPĐKĐĐ Tp A đã có phiếu chuyển số 3187/PC-CNVPĐK chuyển hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

Trang 4

quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất của ông Hải, bà Kim đến Phòng Tài nguyên

và Môi trường để báo cáo UBND Tp A xem xét, cho ý kiến giải quyết hồ sơ Tuy nhiên đến nay Phòng Tài nguyên và Môi trường cũng như UBND Tp A chưa chuyển lại hồ sơ nên CNVPĐKĐĐ Tp A chưa có căn cứ giải quyết các thủ tục tiếp theo

Đến ngày 24/08/2018, ông Hải, bà Kim làm đơn khiếu nại về việc chậm giải quyết hồ sơ cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của vợ chồng ông bà Sau đó ngày 07/01/2019, ông bà tiếp tục làm đơn khiếu nại UBND Tp A do chậm giải quyết cấp GCN QSDĐ của gia đình ông bà theo Bản án số 04/2018/HC-PT

Ngày 30/01/2019, UBND Tp A ban hành Công văn số 504/UBND-TNMT về việc tạm trả hồ sơ đăng ký, cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại phường 5, thành phố A với lý do: Do Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật không quy định về trường hợp này nên UBND Tp.A đã có Văn bản số 1133/UBND-TNMT ngày 09/3/2018 để xin ý kiến hướng giải quyết của Sở TN và MT Ngày 06/06/2018,

Sở Tài nguyên và Môi trường có Văn bản số 2847/STNMT-CCQLĐĐ đề nghị Tổng cục Quản

lý Đất đai xem xét, hướng dẫn giải quyết nhưng đến nay chưa nhận được ý kiến hướng dẫn Sau đó UBND Tp A ban hành Công văn số 1126/UBND-TNMT ngày 18/03/2019 về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Bùi Quang Hải ngày 07/01/2019 như sau: Do còn vướng mắc trong việc áp dụng quy định pháp luật nên cần xin ý kiến hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Sau khi có văn bản hướng dẫn, trả lời của Tổng cục Quản lý Đất đai nếu

đủ điều kiện thì sẽ cấp GCN QSDĐ

Không đồng ý với nội dung của Công văn số 504/UBND-TNMT và Công văn số 1126/UBND-TNMT của UBND Tp A nên ngày 04/04/2019, ông hải và bà Kim làm đơn khởi kiện tới Tòa án nhân dân tỉnh H yêu cầu hủy hai công văn này và buộc UBND Tp A phải tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ theo quy định của pháp luật

1.2 Các vấn đề về tố tụng

1.2.1 Đối tượng khởi kiện

Công văn số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố A về việc tạm trả hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại phường 5, thành phố A (Sau đây gọi tắt là Công văn số 504/UBND-TNMT) (Bút lục số 08 và 09)

Công văn số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố A về việc giải quyết đơn của ông Bùi Quang Hải, phường 5 đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử

Trang 5

dụng đất có nguồn gốc lấn chiếm “Biển” (Sau đây gọi tắt là Công văn số 1126/UBND-TNMT) (Bút lục số 10 và 11)

1.2.2 Tư cách đương sự

 Người khởi kiện

Người khởi kiện: Ông Bùi Quang Hải, sinh năm 1971 và bà Đặng Thị Kim, sinh năm 1981; Cùng địa chỉ: Số 179/8/1, Trần Phú, Phường 5, thành phố A

Căn cứ theo khoản 8 Điều 3 Luật Tố tụng Hành chính 2015 (Sau đây gọi là Luật TTHC 2015) thì người khởi kiện là cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính Ông Hải và bà Kim là người khởi kiện yêu cầu hủy Công văn số 504/UBND-TNMT và Công văn số 1126/UBND-TNMT, cho nên xác định tư cách tố tụng của ông bà trong vụ án này là người khởi kiện

 Người bị kiện

Người bị kiện:

- Ủy ban nhân dân thành phố A; Địa chỉ: Số 89, đường Lý Thường Kiệt, Phường 1, thành phố A, tỉnh H

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố A

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND Tp A và Chủ tịch UBND Tp A: Ông Nguyễn Thế Khang – Chức vụ: Chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường

Căn cứ theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật TTHC 2015 thì người bị kiện là cá nhân

có quyết định hành chính bị kiện Công văn số 1126/UBND-TNMT là do Phó chủ tịch ký thay Chủ tịch UBND Tp A, cho nên xác định tư cách người bị kiện trong vụ án này là Chủ tịch UBND Tp A Mặt khác, việc xác định UBND Tp A cũng là người khởi kiện bởi vì Công văn

số 504/UBND-TNMT thuộc thẩm quyền ban hành của UBND Tp A theo quy định tại khoản

3 Điều 3 Luật Đất đai 2013 “UBND các cấp có trách nhiệm quản lý về đất đai tại địa phương

theo thẩm quyền quy định của Luật này”

1.2.3 Điều kiện khởi kiện vụ án hành chính

 Chủ thể khởi kiện và quyền khởi kiện

Chủ thể khởi kiện là ông Bùi Quang Hải, sinh năm 1971 và bà Đặng Thị Kim, sinh năm 1981có đầy đủ năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi hành chính

Quyền khởi kiện: Thứ nhất, ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim là người có quyền

và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp khi Công văn số 504/UBND-TNMT và Công văn

Trang 6

số 1126/UBND-TNMT được ban hành Thứ hai, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 115

Luật TTHC 2015 quy định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành

vi đó”, Điều 5 – Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và Điều 8 – Quyền

quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 Thứ

ba, ông Hải và bà Kim không đồng ý với nội dung của Công văn số 504/UBND-TNMT và

Công văn số 1126/UBND-TNMT Từ các lập luận trên, ông Hải và bà Kim có quyền khởi kiện ra Tòa yêu cầu hủy Công văn số 504/UBND-TNMT và Công văn số 1126/UBND-TNMT của UBND Tp A

 Thẩm quyền của Tòa án

Căn cứ khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định “Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện)”, do đó UBND Tp A là cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện Công văn số 504/UBND-TNMT và Công văn số 1126/UBND-TNMT do Chủ tịch UBND Tp A ban hành Theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật TTHC 2015 về thẩm quyền

của Tòa án cấp tỉnh: “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân

dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án”

Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh H thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật

 Thời hiệu khởi kiện

Công văn số 504/UBND-TNMT ban hành ngày 30/01/2019 và Công văn số 1126/UBND-TNMT ban hành ngày 18/3/2019 Do không đồng ý với nội dung của hai Công văn này, nên vào ngày 04/4/2019, ông Hải và bà Kim đã làm đơn khởi kiện ra Tòa yêu cầu hủy Công văn số 504/UBND-TNMT và Công văn số 1126/UBND-TNMT Tuy nhiên trong

hồ sơ không có bút lục nào thể hiện việc TAND tỉnh H đã nhận đơn khởi kiện của ông Hỉa vfa

bà Kim vào thời gian nào, nhưng tại Thông báo thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm số 47/2019/TLST-HC của TAND tỉnh H được ban hành vào ngày 18/4/2019 Từ đây, ta có thể thấy rằng thời gian ông Hải và bà Kim nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa là nằm trong khoảng thời gian từ ngày 04/4/2019 đến 18/4/2019, do không có ngày chính xác cho nên lấy mốc thời gian ngày 04/4/2019 là ngày ông Hải và bà Kim nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa để tính thời hiệu khởi

Trang 7

kiện Đồng thời, căn cứ khoản 2 Điều 116 Luật TTHC 2015 quy định thời hiệu khởi kiện là

01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính Do không hồ sơ không thể hiện cụ thể thời gian vợ chồng ông Hải, bà Kim nhận được hai văn bản này, nhưng từ ngày

ra Công văn số 504/UBND-TNMT đến khi TAND H thụ lý vụ án là chưa được 04 tháng, mà Luật quy định thời hiệu khởi kiện là 01 năm Cho nên, đối với vụ án này thì thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính vẫn còn

1.3 Cấc vấn đề về nội dung

1.3.1 Yêu cầu khởi kiện

Những vấn đề cụ thể ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim yêu cầu Toà án giải quyết bao gồm:

Hủy Công văn số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 của UBND Tp A về việc tạm trả

hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại phường 5, thành phố A, tỉnh H và Công văn số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND Tp A về việc giải quyết đơn của ông Bùi Quang Hải, phường 5 đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc lấn chiếm “Biển”

Buộc UBND Tp A tiếp nhận và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất cho chúng tôi diện tích 54.7m2, thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ 09 (Bản đồ năm 2000), tọa lạc tại Phường 5, thành phố A, tỉnh H theo quy định của pháp luật

1.3.2 Các vấn đề cần chứng minh

Chứng minh Công văn số 504/UBND-TNMT và Công văn số 1126/UBND-TNMT là trái pháp luật

Chứng minh diện tích đất 54.7m2, thuộc một phần thửa đất số 164, tờ bản đồ số 9 (Cũ 02), tọa lạc tại số 179/8/1, đường Trần Phú, Phường 5, thành phố A, tỉnh H đủ điều kiện cấp GCN QSDĐ

1.3.3 Văn bản pháp luật áp dụng

Luật Khiếu nại 2011

Luật Đất đai 2013

Luật xử lý vi phạm hành chính 2012

Luật tố tụng hành chính 2015

Trang 8

Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai (Sau đây gọi là Nghị định 43/2014/NĐ-CP)

Nghị định 102/2014 ngày 10/11/2014 của Chính phủ về về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (Sau đây gọi là Nghị định 102/2014/NĐ-CP)

Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai (Sau đây gọi là Nghị định 01/2017/NĐ-CP) Văn bản hợp nhất 01/VBHN-BNV ngày 25/02/2014 của Chính phủ về công tác văn thư

2 KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA

Dự kiến kế hoạch hỏi tại phiên tòa nhằm mục đích làm sáng tỏ các sự việc, đồng thời chứng minh yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim là có căn cứ và hợp pháp

2.1 Hỏi người bị kiện

- Trong quy định của pháp luật có quy định về việc “Tạm trả hồ sơ” hay không?

- Chủ tịch UBND Tp A có thẩm quyền ký Công văn 504/UBND-TNMT không? Vì sao?

- UBND Tp A dựa vào căn cứ nào để không cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần đất có diện tích 54.7m2 cho ông Hải và bà Kim?

- Phần đất có diện tích 54.7m2 có phù hợp với quy hoạch không? Tại sao?

- Tại sao UBND Tp A lại chậm giải quyết cấp GCN QSDĐ cho ông Hải và bà Kim theo Bản án 04/2018/HC-PT ngày 05/4/2018?

- Tại sao Công văn 504/UBND-TNMT lại ban hành trể so với thời hạn luật định?

- Trong quá trình xin ý kiến hướng dẫn, UBND Tp A có thông báo cho ông Hải biết về việc phải xin ý kiến từ các cơ quan khác hay không? Nếu không thì tại sao lại không có?

- Đến thời điểm hiện tại, UBND Tp A đã có văn bản chỉ đạo hướng dẫn đới với trường hợp xin cấp GCN QSDĐ của ông Hải hay chưa?

- Phần đất có diện tích 54.7m2 được đưa vào bản đồ địa chính khi nào?

- Vì sao trước năm 2000, phần đất có diện tích 54.7m2 lại chưa được đưa vào bản đồ địa chính?

- Trước năm 2002, UBND Tp A có biết phần đất có diện tích 54.7m2 được ông Mĩ đưa vào sử dụng hay không?

- Từ khi phần đất có diện tích 54.7m2 được đưa vào bản đồ địa chính năm 2002 thì UBND xếp phần đất này vào loại đất này?

Trang 9

- UBND Tp A có biết việc ông Mĩ xây nhà trọ trên phần đất có diện tích 54.7m2 để kinh doanh không?

2.2 Hỏi người khởi kiện

- Ông/Bà cho biết đã nộp đơn khiếu nại mấy lần? Vào thời gian nào?

- UBND Tp A xác định phần đất có diện tích 54.7m2 là phần đất lấn biển, ông/bà có đồng ý không? Vì sao?

- Việc chậm giải quyết hồ sơ cấp GCN QSDĐ có làm ảnh hưởng gì đến ông/bà không?

- Từ trước đến thời điểm hiện tại, chính quyền địa có đến gặp ông/bà để làm việc hay xử

lý đối với phần đất mà UBND Tp A cho rằng là đất lấn biển không?

- Phần đất có diện tích 54.7m2 có từng xảy ra tranh chấp hay không?

- Khi ông/bà sử dụng phần đất có diện tích 54.7m2, có phải đóng thuế không?

- Gia đình ông Hải và bà Kim sử dụng phần đất có diện tích 54.7m2 từ khi nào?

- Căn cứ để ông Hải và bà Kim sử dụng phần đất có diện tích 54.7m2?

3 LUẬN CỨ BẢO VỆ

Bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện – ông Bùi Quang

Hải và bà Đặng Thị Kim

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Tỉnh H, ngày 25 tháng 9 năm 2021

BẢN LUẬN CỨ

Tôi là luật sư Lê Thị Ánh Nguyệt – Thuộc Văn phòng Luật sư Ánh Sáng thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh Nhận được lời mời của người khởi kiện và sự chấp thuận của Quý Tòa, tôi tham gia phiên tòa ngày hôm nay với tư cách là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện – ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim

Trước hết, tôi xin thay mặt ông Hải, bà Kim và nhân danh cá nhân xin được gửi lời chào đến Hội đồng xét xử, vị đại diện Viện kiểm sát cùng toàn thể quý vị lời chào trân trọng và bày

tỏ sự tin tưởng về việc xét xử công minh của Hội đồng xét xử Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án,

Trang 10

phần trình bày của các đương sự và theo dõi diễn biến phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin đưa ra quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp cho người khởi kiện là ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim đối với yêu cầu “Hủy Công văn số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 của UBND Tp A về việc tạm trả hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại phường 5, thành phố A và Công văn số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND Tp A về việc giải quyết đơn của ông Bùi Quang Hải, phường 5 đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc lấn chiếm “Biển” Đồng thời, buộc UBND Tp A tiếp nhận và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất cho chúng tôi diện tích 54.7m2, thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ 09 (Bản đồ năm 2000), tọa lạc tại Phường

5, thành phố A, tỉnh H theo quy định của pháp luật” Tôi cho rằng yêu cầu như trên của người khởi kiện là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận bởi Công văn của UBND Tp A là không đúng với quy định của pháp luật, bởi 04lý do sau đây:

Thứ nhất, phần diện tích đất 54.7m 2 đủ điều kiện cấp GCN QSDĐ:

Một là, theo xác nhận của UBND Phường 5, thành phố A, tỉnh H ngày 13/7/2016 (Bút lục số 63) thì lô đất thuộc tờ bản đồ 09 (Cũ: 02), thửa đất số 164 (Cũ: 35), diện tích theo sơ đồ

vị trí thửa đất do VPĐK QSDĐ TPVT lập ngày 09/6/2016 là 156.7m2 Trong tổng số diện tích 156.7m2 hiện nay ông Hải và bà Kim đề nghị xin cấp giấy có hai phần: Phần diện tích 102m2

đã được UBND Tp A cấp GCN QSDĐ số BM625400 ngày 11/01/2013 với diện tích 102m2, thuộc tờ bản đồ 09, thửa đất số 351 do ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim đứng tên trên giấy (Bút lục số 25 và 26) Phần diện tích 54.7m2 còn lại có nguồn gốc là sân phơi cá do ông Bùi Xuân Mĩ cất sàn từ trước năm 1993 Năm 1998, ông Mĩ xây kè đổ đất và tiếp tục làm sân phơi cá, đến năm 2000 ông Mĩ xây phòng trọ trên đất để cho thuê Năm 2002, ông Mĩ bán toàn bộ phần nhà đất này cho con trai là ông hải và con dâu là bà Kim sử dụng cho đến nay không có đơn tranh chấp Mặt khác, khi ông Hải và bà Kim mua lại thửa đất này có lập hợp đồng mua bán (cho) nhà ở được Phòng Công chứng số 1 tỉnh H xác nhận (Bút lục số 16) Căn

cứ khoản 2 Điều 9 Luật Đất đai 2013 khuyến khích đầu tư vào đất đai có quy định trường hợp

lấn biển; khoản 1 Điều 3 Nghị định 102/2014 ngày 10/11/2014 quy định “Lấn đất là việc

người đang sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất” và khoản 1 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2, khoản 5 Điều 3

Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định trường hợp đang sử dụng đất do lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép thì căn cứ vào nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất để xác định loại đất… Cơ quan xác định loại đất là UBND cấp huyện đối với hộ gia đình cá nhân Như vậy theo các quy định này, phần đất có diện tích 54.7m2 sẽ được UBND Tp A xác định

Ngày đăng: 02/07/2022, 21:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w