BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH (Hồ sơ LS HC15 Khiếu kiện về cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất)Ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim cho rằng Ủy ban nhân dân Thành phố A ban hành Văn bản số 504UBND TNMT ngày 30012019 về việc tạm trả hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà ông bà đã nộp đối với 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ số 09 (bản đồ năm 2000) tại phường 5, thành phố A và Văn bản số 1126UBNDTNMT ngày 18032019 giải quyết đơn khiếu nại của ông là không đúng quy định pháp luật. Việc UBND TP A cho rằng pháp luật chưa có quy định là không chính xác bởi quy định cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất 54,7m2 của gia đình ông Hải và bà Kim đã được quy định tại Khoản 2, 3 điều 101 Luật đất đai 2013; K1,2 điều 21; Điều 22 Nghị Định 432014NĐCP, bên cạnh đó UBND còn vi phạm quy định về thời gian giải quyết hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ. Mặt khác, Văn bản số 1126 được ban hành là trái quy định tại Luật khiếu nại và vi phạm quy định về thời gian giải quyết khiếu nại. Những vi phạm trên đây của UBND TP A làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hải và bà Kim đối với việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của ông Hải, bà Kim đối với diện tích đất 54,7m2 này. Vì vậy, ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim khởi kiện yêu cầu Tòa án: Hủy Văn bản số 504UBNDTNMT ngày 30012019 và Văn bản số 1126UBNDTNMT ngày 1832019 của Uỷ ban nhân dân thành phố A; Buộc Ủy ban nhân dân thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất cho ông bà diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ số 09 (bản đồ năm 2000) tại địa chỉ phường 5, thành phố A theo quy định của pháp luật.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN HÀNH CHÍNH
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
(Hồ sơ LS.HC15/ Khiếu kiện về cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất)
Trang 2MỤC LỤC
I NỘI DUNG TRANH CHẤP 1
1 Tư cách đương sự 1
2 Tóm tắt nội dung tranh chấp 1
II PHẦN TRÌNH BÀY CỦA NGƯỜI KHỞI KIỆN 2
III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỚI TƯ CÁCH LÀ LUẬT SƯ CỦA NGƯỜI KHỞI KIỆN 3
1 Câu hỏi chuẩn bị để hỏi Người khởi kiện 3
2 Câu hỏi chuẩn bị hỏi Người bị kiện 4
IV LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGƯỜI KHỞI KIỆN 4
Trang 3I NỘI DUNG TRANH CHẤP
1 Tư cách đương sự
* Người khởi kiện: ông Bùi Quang Hải sinh năm 1971 và bà Đặng Thị Kim sinh năm
1981
Địa chỉ: 179/8/1 Trần Phú, phường 5, Thành phố A, tỉnh H
* Người bị kiện: Ủy ban Nhân dân Thành phố A.
Đại diện theo Ủy quyền của Người Bị kiện: Bà Vũ Cẩm Tú - Phó Chủ tịch UBND Thành phố A
* Quan hệ tranh chấp: Khiếu kiện về cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất.
2 Tóm tắt nội dung tranh chấp
Ngày 20/4/2018, Đại diện của Ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim có nộp
hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận Quyền SDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (Gọi tắt là GCN) tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Thành phố A (CNVPĐKĐĐ Thành phố A) đối với thửa đất số 164, tờ bản đồ số 09, phường 5, thành phố A, tỉnh H – là phần đất có diện tích 54,7m2 phía sau thửa đất số 351 tờ bản
đồ số 9 có diện tích 102m2 đã được cấp giấy chứng nhận GCN mang tên Ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim ngày 11/01/2013 thuộc tổng diện tích đất 156,7m2 mà gia đình Ông Hải đang sử dụng Phần diện tích đất 54,7m2 có nguồn gốc là sân phơi
cá do Ông Bùi Xuân Mỹ (là bố đẻ Ông Hải) cất sàn từ trước năm 1993 Đến năm
1998, Ông Mỹ xây kè, đổ đất và tiếp tục làm sân phơi cá Đến năm 2000, Ông Mỹ xây phòng trọ trên đất để cho thuê Đến năm 2003, Ông Mĩ cùng vợ có Hợp đồng mua bán (cho) vợ chồng con trai là Ông Hải, bà Kim toàn bộ phần diện tích kể trên
Ngày 14/8/2018 Chi nhánh VPĐKĐĐ Thành phố A có văn bản số 4171/CNVPĐK-ĐKCG trả lời nguyên nhân chậm giải quyết hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận cho phần diện tích 54,7m2 của Ông Hải, bà Kim với lý do chờ hướng dẫn giải quyết của Sở TNMT tỉnh H, Tổng cục Quản lý đất đai (Theo các công văn đề nghị hướng dẫn: CV số 1133/UBND-TNMT ngày 09/3/2018 của UBND thành phố A gửi Sở TNMT tỉnh H; CV số 2847/STNMT-CCQLĐĐ ngày 06/6/2018 của Sở TNMT tỉnh H gửi Tổng cục quản lý đất đai
Ngày 24/8/2018 Ông Hải có gửi đơn khiếu nại về việc chậm giải quyết cấp GCN QSDĐ đến CN VPĐKĐĐ thành phố A
Ngày 30/01/2019 UBND thành phố A ra văn bản số 504/UBND-TNMT Về việc tạm trả lại hồ sơ đăng ký cấp giấy CN QSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ phường 5, thành phố A (Người ký là Ông Vũ Hoàng Thu – PCT UBND thành phố A)
Trang 4Ngày 18/3/2019 UBND thành phố A ra văn bản số 1126/UBND-TNMT về việc giải quyết đơn Khiếu nại ngày 07/1/2019 của Ông Bùi Quang Hải về việc chậm giải quyết cấp GCN cho gia đình ông Hải theo bản án số 04/2018/HC-ST ngày 05/04/2018 của TAND tỉnh H Theo đó quyết định ra văn bản tạm trả lại hồ sơ với lý do đang chờ hướng dẫn của Tổng cục Quản lý đất đai; Sở TMNT tỉnh H (Người ký là Ông Vũ Hoàng Thu – PCT UBND thành phố A)
Ngày 04/04/2019 Ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim có đơn khởi kiện gửi TAND tỉnh A với đối tượng khởi kiện là hai văn bản 504/UBND-TNMT và văn bản 1126/UBND-TNMT kể trên Yêu cầu tòa án giải quyết:
+ Huỷ văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 và văn bản 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A
+ Buộc UBND thành phố tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất cho phần diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất 164, tờ bản đồ số 9 (Bản đồ năm 2000), phường 5, thành phố A, tỉnh H theo quy định của pháp luật
Ngày 18/4/2019 TAND tỉnh H ra thông báo thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm số 47/2019/TLST-HC “Khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”
Ngày 09/5/2019, tại trụ sở TAND tỉnh H; các bên đương sự và người đại diện,người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các bên đã tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại
Ngày 21/10/2019 TAND tỉnh H ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13x/2019/QĐXXST-HC về việc: “Khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”
Với các diễn biến của vụ án kể trên cùng với kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại; Các bên đương sự vẫn mâu thuẫn về căn cứ pháp lý và hướng dẫn trong thủ tục tiếp nhận hồ sơ và giải quyết việc cấp GCN cho phần diện tích đất 54,7m2 tại thửa đất số 164, tờ bản đồ số 09 tại địa chỉ phường 5, thành phố A, tỉnh H
II PHẦN TRÌNH BÀY CỦA NGƯỜI KHỞI KIỆN
1 Yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện
Ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim cho rằng Ủy ban nhân dân Thành phố
A ban hành Văn bản số 504/UBND -TNMT ngày 30/01/2019 về việc tạm trả hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà ông bà đã nộp đối với 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ số
09 (bản đồ năm 2000) tại phường 5, thành phố A và Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/03/2019 giải quyết đơn khiếu nại của ông là không đúng quy định pháp luật Việc UBND TP A cho rằng pháp luật chưa có quy định là không chính xác bởi quy
2
Trang 5định cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất 54,7m2 của gia đình ông Hải và bà Kim đã được quy định tại Khoản 2, 3 điều 101 Luật đất đai 2013; K1,2 điều 21; Điều 22 Nghị Định 43/2014/NĐ-CP, bên cạnh đó UBND còn vi phạm quy định về thời gian giải quyết hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ Mặt khác, Văn bản số 1126 được ban hành là trái quy định tại Luật khiếu nại và vi phạm quy định về thời gian giải quyết khiếu nại Những vi phạm trên đây của UBND TP A làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hải và bà Kim đối với việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của ông Hải, bà Kim đối với diện tích đất 54,7m2 này
Vì vậy, ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim khởi kiện yêu cầu Tòa án:
- Hủy Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 và Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của Uỷ ban nhân dân thành phố A;
- Buộc Ủy ban nhân dân thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất cho ông bà diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ số 09 (bản đồ năm 2000) tại địa chỉ phường 5, thành phố A theo quy định của pháp luật
2 Chứng cứ chứng minh yêu cầu của người khởi kiện
-Văn bản cho nhà ngày 21/03/1993;
- Đơn xin sang tên cho nhà ngày 21/03/1993;
- Hợp đồng mua bán (cho) nhà ở ngày 14/04/2003;
- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất số 616/CNSH ngày 07/04/1993;
- Phiếu lấy ý kiến cụm dân cư ngày 21/06/2016 có xác nhận của UBND phường;
- Đơn đăng ký cấp GCN Quyền sử dụng đất ngày 08/04/2016;
- GCN Quyền sử dụng đất ông Bùi Quang hải, bà Đặng Thị Kim ngày 11/01/2013;
- Các Sơ đồ, Bản đồ vị trí thửa đất
Trang 6III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỚI TƯ CÁCH LÀ LUẬT
SƯ CỦA NGƯỜI KHỞI KIỆN
1 Câu hỏi chuẩn bị để hỏi Người khởi kiện
1 Ông cho biết: Vợ chồng ông được bố mẹ chuyển giao cho nhà đất vào thời điểm nào? Và có giấy tờ gì chứng minh về việc chuyển nhượng một phần thửa đất số 164 tờ bản đồ số 09 có diện tích 54,7m2 mà ông đang đề nghị cấp GCNQSDĐ không?
2 Ông cho biết thời gian ông nộp hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ là khi nào?
Sau khi ông nộp hồ sơ xong thì bộ phận tiếp nhận và giao trả kết quả thuộc UBND TP.A hẹn ông trả kết quả vào ngày nào?
3 Ông có chấp nhận lý do tạm trả hồ sơ mà UBND thanh phố Ađã đưa ra trong văn bản 504/UBND ngày 30/1/2019 hay không? tại sao?
4 Việc chậm trễ giải quyết hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của ông như thế nào?
5 Xin ông cho biết, phần diện tích đất 54,7m2 được phê duyệt thuộc thửa đất số 164
tờ bản đồ số 09 vào năm nào?
6 Việc trả lại hồ sơ nhiều lần của UBND thành phố A có gây nhiều thiệt hại cho gia đình ông không?
2 Câu hỏi chuẩn bị hỏi Người bị kiện
1 Bà hãy cho biết Tại phần xác nhận của UBND phường 5 ngày 13 tháng 7 năm
2016 UBND phường 5 đã đồng ý xác nhận việc bố mẹ ông Hải khai phá, sử dụng 54,7m2 đất từ trước năm 1990 Bà có đồng ý với thông tin này không?
2 Theo Công văn số 2847/STNMT-CCQLĐĐ ngày 06/06/2018 Sở TNMT tỉnh H gửi Tổng cục QLDD có nêu Theo quy hoạch sử dụng đất thì khu đất này thuộc quy hoạch đất ở đô thị Vậy bà cho biết phần diện tích 54,7m2 là có nằm trong quy hoạch đất ở
đô thị đó không?
3 Theo bà Việc UBND thành phố A tiếp nhận giải quyết hồ sơ cấp GCNQSDD của ông Hải và bà Kim có phải là việc đang thực hiện hành vi hành chính không?
4 Bà cho biết theo quy định của pháp luật thì thời gian giải quyết khiếu nại là bao nhiêu ngày?
5 Bà cho HĐXX biết khi nào UBND TP.A nhận được đơn khiếu nại của ông Bùi Quang Hải và thời gian nào thì UBND TP.A trả lời đơn giải quyết khiếu nại cho ông Hải?
6 Bà cho HĐXX biết tại sao khi trả lời đơn khiếu nại của ông Bùi Quang Hải, Ủy ban nhân dân Thành phố A không ban hành dưới dạng Quyết Định theo mẫu Mẫu số
15-4
Trang 7KN - Quyết định giải quyết khiếu nại ban hành kèm theo Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 về quy trình giải quyết khiếu nại?
7 Bà vui lòng cho HĐXX biết Hồ sơ đề nghị cấp GCNQSD của ông Hải nộp cho Chi nhánh VPDKDĐ đã đầy đủ hồ sơ chưa? Vậy Căn cứ vào đâu mà UBND TP.A lại trả
hồ sơ của ông Hải?
8.Theo quy định của pháp luật về việc tiếp nhận giải quyết thủ tục cấp GCNQSDĐ lần đầu, kể từ khi tiếp nhận hồ sơ thì trong thời gian bao lâu công dân sẽ được nhận kết quả?
IV LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGƯỜI KHỞI KIỆN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BẢN LUẬN CỨ
Kính thưa: Hội đồng xét xử (HĐXX)
Thưa vị đại diện Viện kiểm sát (VKS) Thưa các vị Luật sư đồng nghiệp Thưa toàn thể quý vị có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay
Tôi là luật sư ………, hiện đang công tác tại Văn phòng luật
sư Cộng Đồng, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội Tôi có mặt tại phiên tòa hôm nay để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện là ông Bùi Quang Hải và
Bà Đặng Thị Kim trong vụ án hành chính khởi kiện: “Quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”
Xét thấy phần trình bày của các bên và phần xét hỏi công khai tại phiên tòa đã làm rõ được các nội dung chính của vụ án, do đó, tôi xin phép không tóm tắt lại các nội dung nói trên và xin được có ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ của tôi như sau:
Thứ nhất, thửa đất của gia đình ông Bùi Quang Hải, bà Đặng Thị Kim hoàn toàn đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ theo quy định pháp luật, bởi lẽ:
Một, căn cứ vào các tài liệu sau đây:
- Xác nhận của UBND phường 5 (BL62);
- Đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ theo mẫu 04a/ĐK ngày 06/07/2016 được cán bộ địa chính và UBND xã xác nhận (BL23);
- Phiếu lấy ý kiến cụm dân cư ngày 21/06/2016 có xác nhận của UBND phường 5
(BL21-22), nguồn gốc thửa đất 54,7m2 là sàn phơi cá của của bố ông Hải (ông Mỹ)
Trang 8xây sàn từ trước năm 1993, đến năm 1998 ông Mỹ xây kẻ đổ đất và tiếp tục làm nơi
phơi cá, đến năm 2000 ông Mỹ xây phòng trọ và cho thuê
Toàn bộ thửa đất này đã được ông Mỹ lập hợp đồng mua bán tay có công chứng ngày 14/4/2003 bán toàn bộ cho ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim sử dụng ổn định, liên tục, không tranh chấp cho đến nay
Như vậy nguồn gốc thửa đất 54,7m2 là đất sàn phơi cá của ông Bùi Xuân Mĩ bán cho ông Hải và Bà Kim, có hợp đồng mua bán tay được công chứng là đúng theo quy định của pháp luật
Hai, căn cứ vào bản đồ địa chính năm 2000 được phê duyệt 2002, phần thửa đất
54,7m2 là phần diện tích tăng thêm thuộc một phần thửa đất số 164 bản đồ số 09 trong
đó có 102m2 đã cấp giấy chứng nhận cho ông Mĩ sau đó chuyển nhượng và đăng ký biến động cho ông Hải và bà Kim theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liên với đất số BM 625400 ngày 11/1/2013, đang sử dụng đất trong tổng 156,7m2
Ba, căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 22 Nghị Định 43/2014/NĐ-CP;
- Khoản 2 Điều 9 và Khoản 2 Điều 101 Luật Đất Đai 2013: Việc Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 07 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Trường hợp đã có điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt mà nay diện tích đất lấn, chiếm không còn thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng; không thuộc chỉ giới xây dựng đường giao thông; không có mục đích sử dụng cho trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp và công trình công cộng khác thì người đang
sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật
- Khoản 18 Điều 2 Nghị định 01/2017 sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 5 Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, trường hợp thửa đất có nhà ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở tại địa phương nếu đã sử dụng đất ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở tại địa phương như đã sử dụng đất ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 Diện tích đất 54,7m2 mà gia đình ông Hải đề nghị cấp
6
Trang 9GCNQSDĐ là phù hợp với quy hoạch đất ở đô thị theo quy hoạch sử dụng đất của UBND Tỉnh H
Do đó, việc ông Hải, bà Kim xin cấp GCNQSDĐ đối với diện tích 54,7m2 thuộc một phần thửa 164, tờ bản đồ số 9, Phường 5, Thành phố A, tỉnh H là đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Việc UBND TP A lấy lý do chưa có quy định pháp luật
để tạm trả hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ của gia đình ông Hải là không có cơ sở
Thứ hai, về thành phần hồ sơ ông Bùi Văn Hải và bà Đặng Thị Kim đã nộp đầy đủ các giấy tờ liên quan để cấp GCNQSDĐ.
Ngày 20/4/2018 ông Bùi Quang Hải đã nộp đầy đủ hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được ghi nhận tại BL12 (tôi xin phép k nhắc lại thành phần hồ sơ) và cán bộ tiếp nhận hồ là bà Trần Thị Thúy Hà Trong phiếu tiếp nhận hồ sơ của CNVPDKDĐ TP.A đã ghi rất rõ thời gian tiếp nhận là ngày 20/04/2018 và Thời gian nhận kết quả là ngày 06/06/2018
Như vậy, ông Bùi Quang Hải đã nộp hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật
Còn về phía CNVPDKDĐ TP.A hẹn ông Hải 06/06/2018 nhận kết quả nhưng đến hẹn CN văn phòng DKDD TP.A không hề trả kết quả cho ông Hải Mà đến ngày 14/08/2018 Chi Nhánh VPDKDĐ thành phố A mới ra văn bản số 4171/CNVPDK-DKCG giải trình rằng họ đã trình hồ sơ tới phòng TNMT và UBND TP.A từ ngày 02/07/2018 Hành vi này của CNVPDKDD đã không tuân thủ theo quy định về thời hạn trả kết quả theo điểm a khoản 1 Điều 61 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định
về thời gian thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất: “là không quá
30 ngày” (tính từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ) Từ đó ảnh hưởng tới quyền và lợi ích
hợp pháp của ông Hải và bà Kim
Thứ ba, UBND TP.A ban hành Văn bản số 1126/UBND TNMT ngày 18/3/2019 là vi phạm về hình thức, nội dung và trình tự thủ tục ban hành
Căn cứ Khoản 3 Điều 6 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định Các hành vi bị
nghiêm cấm là “ Ra quyết định giải quyết khiếu nại không bằng hình thức quyết
định.” Trong trường hợp này UBND TP.A đã ban hành công văn 1126/UBND
TNMT ngày 18/3/2019 để trả lời giải quyết khiếu nại đối với ông Hải là vi phạm Luật Khiếu nại năm 2011.
Ngoài ra, Căn cứ điều 28 Luật khiếu nại năm 2011 về Thời hạn giải quyết khiếu
nại lần đầu là “Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý.” Đối chiếu với hồ sơ vụ án, Ngày 07/01/2019 ông Hải
làm đơn khiếu nại đến UBND Thành Phố A nhưng đến tận ngày 18/03/2019 Ủy ban
Trang 10nhân dân Thành phố A mới trả lời đơn khiếu nại của Ông Hải Như vậy, rõ ràng UBND Thành Phố A đã vi phạm về thời gian giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật
Thêm vào đó, theo điều 31 Luật khiếu nại năm 2011 về Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu là “Người giải quyết khiếu nại lần đầu phải ra quyết định giải quyết khiếu nại Và căn cứ điểm c khoản 1 điều 22 Thông tư 07/2013/TT-TTCP của Thanh
tra Chính phủ ngày 31/10/2013 quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính:
“Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu thực hiện theo Mẫu số 15-KN, … ban hành kèm theo Thông tư này.” Như vậy, trong trường hợp này UBND TP.A phải ban hành
quyết định để trả lời giải quyết khiếu nại đối với Ông Bùi Quang Hải chứ không phải ban hành văn bản dưới dạng công văn
Mặt khác, Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố A ban hành không đúng quy định pháp luật, không có căn cứ pháp lý giải quyết khiếu nại, nội dung khiếu nại, kết quả thẩm tra xác minh, kết luận
khiếu nại, thể thức không phù hợp với quy định của pháp luật Căn cứ theo điều 30
Luật khiếu nại năm 2011 thì trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu, nếu yêu cầu của người khiếu nại và kết quả xác minh nội dung khiếu nại còn khác nhau thì người giải quyết khiếu nại tổ chức đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại; việc đối
thoại phải tiến hành công khai, dân chủ Kết quả đối thoại là một trong các căn cứ để giải quyết khiếu nại.”
Thực tế cho thấy, trong suốt quá trình giải quyết đơn khiếu nại, mặc dù nội dung giải quyết khiếu nại có mâu thuẫn với nội dung khiếu nại nhưng UBND Thành phố A cũng không hề tổ chức đối thoại với ông Hải và bà Kim Đồng nghĩa rằng, Ủy ban nhân dân Thành phố A đã vi phạm các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại Thưa HĐXX,
Từ những lập luận và phân tích như trên có thể chứng minh việc Ủy ban nhân dân Thành phố A tạm trả hồ sơ, chậm trễ thực hiện thủ tục đăng ký cấp GCNQSDĐ của ông Hải - bà Kim là trái pháp luật, đồng thời Văn bản số 1126/UBND-TNMT trả lời đơn khiếu nại của gia đình ông Hải là vi phạm quy định pháp luật về hình thức ban hành văn bản giải quyết khiếu nại, vi phạm quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại
Có thể kết luận rằng, việc UBND Tp A ban hành Văn bản số 504 và Văn bản
1126 đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật về cả nội dung lẫn hình thức, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của phía NKK - ông Hải và bà Kim
Do đó, kính mong HĐXX áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành
chính 2015, Luật đất đai năm 2013, Luật Khiếu nại năm 2011, Nghị định
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; Nghị định 01/2017/NĐ-43/2014/NĐ-CP ngày 06/1/2017 và Thông tư số
8