Bài thu hoạch diễn án hồ sơ 12 môn hành chính Học viện Tư phápBà Nguyễn Thị Tuyết khởi kiện ông Trần Ngọc Minh – Chức vụ: Phó Giám đốc kiêm Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.LQuyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23QĐXP ngày 1032014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L về việc xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch (Sau đây gọi tắt là Quyết định số 23QĐXP).
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHÓA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BẢN THU HOẠCH DIỄN ÁN
VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ:
LUẬT SƯ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI KHỞI KIỆN
Môn: Hành chính
Hồ sơ số: 12
Diễn lần: 02
Ngày diễn: 25/9/2021
Họ và tên: Lê Thị Ánh Nguyệt Ngày sinh: 24/6/1996
Số báo danh: 489 Lớp: LS23.2G_HCM (T7 – CN)
Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 9 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ 1
1.1 Tóm tắt nội dung vụ án 1
1.2 Các vấn đề về tố tụng 2
1.2.1 Đối tượng khởi kiện 2
1.2.2 Tư cách đương sự 2
1.2.3 Điều kiện khởi kiện vụ án hành chính 3
1.3 Cấc vấn đề về nội dung 5
1.3.1 Yêu cầu khởi kiện 5
1.3.2 Các vấn đề cần chứng minh 5
1.3.3 Văn bản pháp luật áp dụng 5
2 KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA 5
2.1 Hỏi người bị kiện – Ông Trần Ngọc Minh (Ông Dương Văn Thành là người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Ngọc Minh) 6
2.2 Hỏi người khởi kiện - Bà Nguyễn Thị Tuyết (Ông Mai Anh Tuấn là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Tuyết) 6
2.3 Hỏi người làm chứng (Ông Nguyễn Văn Thường, ông Phan Văn, bà Nguyễn Thị Lành và bà Nguyễn Thị Thùy) 7
3 LUẬN CỨ BẢO VỆ 7
4 NHẬN XÉT DIỄN ÁN 12
Trang 31 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ
1.1 Tóm tắt nội dung vụ án
Ngày 23/12/2013, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Công an tỉnh G.L đến kiểm tra nhà trọ bình dân Hoàng Lan (Do bà Nguyễn Thị Tuyết làm chủ), địa chỉ: Tổ 9, phường Đông Lân, thành phố P, tỉnh G.L thì phát hiện cơ sở có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội Đoàn kiểm tra tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC (Bút lục số 07 và 08) với kết luận nhà trọ Hoàng Lan có hành vi vi phạm như sau: “Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan, phòng số 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chông (Quan hệ tình dục) Phòng số 09 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy đang ở trong phòng Tại thời điểm kiểm tra phòng số 11 chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ Nguyễn Thị Lành Kết luận: Chủ cơ sở nhà trọ Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm
để xảy ra hành vi vi phạm như trên”
Ngày 29/12/2013, ngày 12/02/2014 và ngày 09/3/2014, Thanh tra Sở mời bà Nguyễn Thị Tuyết đến làm việc và yêu cầu bổ sung các giấy tờ cần thiết để chứng minh không có hành
vi vi phạm nhưng bà Tuyết không cung cấp được Đồng thời tại các buổi làm việc, bà Tuyết
có viết bản tường trình và thừa nhận đã vi phạm một số vấn đề chưa biết, có vi phạm chưa vào
sổ đăng ký một phòng 11 và phòng 09 không có giấy đăng ký kết hôn, đồng thời xin nộp phạt
ở khung thấp nhất (Bút lục số 28, 29 và 30)
Ngày 16/01/2014, Tranh tra Sở làm tờ trình số 02/TT-TTr xin gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt và được Giám đốc Sở phê duyệt
Qua quá trình xác minh, làm rõ và trên cơ sở biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC, vào ngày 10/03/2014, Chánh tranh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L đã ra quyết định xử phạt số 23/QĐ-XPHC phạt tiền 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của
bà Nguyễn Thị Tuyết với lý do “Thiếu trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ
sở kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm”
Ngày 18/03/2014, do có sơ xuất trong quá trình đánh máy nên Chánh hanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L ra Công văn 02/2014/CV-TTr (Bút lục số 34 và 35) đính chính một số sai sót về hình thức và nội dung văn bản của Quyết định số 23/QĐ-XPHC
Do không đồng ý với quyết định xử phạt hành chính, bà Tuyết đã có đơn khiếu nại Quyết định số 23/QĐ-XP (Bút lục số 04 và 05) Ngày 20/04/2014, Chánh thanh tra sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra quyết định giải quyết khiếu nại số 01/QĐ-TTr (Bút lục số 14) với nội dung giữ nguyên quyết định số 23/QĐ-XP
Trang 4Bà Tuyết tiếp tục không đồng ý với giải quyết việc khiếu nại cho nên ngày 02/05/2014,
bà làm đơn khởi kiện quyết định xử phạt hành chính (Bút lục 02 và 03) gửi đến Tòa án nhân dân tỉnh G.L yêu cầu hủy Quyết định số 23/QĐ-XP
1.2 Các vấn đề về tố tụng
1.2.1 Đối tượng khởi kiện
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L về việc xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch (Sau đây gọi tắt là Quyết định số 23/QĐ-XP)
1.2.2 Tư cách đương sự
Người khởi kiện
Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số 241, đường Lê Lai,
Tổ 9, phường Đông Lân, Thành phố P, tỉnh G.L – Chủ cơ sở kinh doanh nhà trọ bình dân Hoàng Lan
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Tuyết: Ông Mai Anh Tuấn, sinh năm 1977; Địa chỉ: 33 (73) Minh Khai, phường Bùi Thị Xuân, Thành phố P, tỉnh G.L (Theo giấy
ủy quyền ngày 19/5/2014 tại Phòng Công chứng số 1 tỉnh G.L, số công chứng 932, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGĐ) (Bút lục số 22 và 23)
Căn cứ theo khoản 8 Điều 3 Luật Tố tụng Hành chính 2015 (Sau đây gọi là Luật TTHC 2015) thì người khởi kiện là cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính
Bà Tuyết khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP, cho nên xác định tư tố tụng sự của bà Tuyết trong vụ án này là người khởi kiện
Người bị kiện
Người bị kiện: Ông Trần Ngọc Minh – Chức vụ: Phó Giám đốc kiêm Chánh thanh tra
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
Địa chỉ cơ quan Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L: Số 6, đường Trần Hưng Đạo, Thành phố P, tỉnh G.L
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Ngọc Minh: Ông Dương Văn Thành – Chức vụ: Phó Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
Ông Trần Ngọc Minh là người ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP và quyết định này bị bà Tuyết khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa Căn cứ theo
Trang 5khoản 9 Điều 3 Luật TTHC 2015 quy định người bị kiện là cá nhân có quyết định hành chính
bị kiện, do đó tư cách tố tụng của ông Minh trong vụ án này là người bị kiện
Người làm chứng
Ông Nguyễn Văn Thường – Hiện công tác tại Trung đoàn X – G.L
Ông Phan Văn, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số 3, Trần Bình Trọng, Thị xã K
Bà Nguyễn Thị Thùy, sinh năm 1989; Địa chỉ: Xã Vinh Quang, tỉnh K
Bà Nguyễn Thị Lành; Địa chỉ: Thị trấn Đ.C, tỉnh G.L
Căn cứ theo Điều 62 Luật TTHC 2015 quy định “Người làm chứng là người biết các tình tiết liên quan đến nội dung vụ án được đương sự đề nghị và Tòa án triệu tập tham gia tố tụng Người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng” Khi đoàn kiểm tra
đến kiểm tra cơ sở kinh doanh nhà trọ bình dân Hoàng Lan thì phát hiện phòng số 11 có ông Thường và bà Lành; phòng số 09 có ông Văn và bà Thùy Đồng thời, những người này cũng
đã ký tên xác nhận chứng kiến sự việc tại Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB- VPHC ngày 23/12/2014, do đó căn cứ theo quy định trên xác định tư cách tố tụng của họ là người làm chứng nếu được đương sự đề nghị và Tòa án triệu tập tham gia tố tụng
1.2.3 Điều kiện khởi kiện vụ án hành chính
1.2.3.1 Chủ thể khởi kiện và quyền khởi kiện
Chủ thể khởi kiện là bà Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1982 có đầy đủ năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi hành chính
Quyền khởi kiện: Thứ nhất, bà Nguyễn Thị Tuyết là người bị xử phạt vi phạm hành
chính tại Điều 1 Quyết định số 23/QĐ-XP, qua Quyết định này, quyền và lợi ích hợp pháp của
bà Tuyết đã bị ảnh hưởng trực tiếp Thứ hai, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 115 Luật
TTHC 2015 quy định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành
vi đó”, Điều 5 – Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và Điều 8 – Quyền
quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 Thứ
ba, bà Tuyết không đồng ý với nội dung của Quyết định số 23/QĐ-XP, đồng thời bà đã khiếu
nại đến Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L và đã được giải quyết qua Quyết định số 01/QĐ-TTr nhưng bà không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại của Quyết
Trang 6định này Từ các lập luận trên, bà Tuyết có quyền khởi kiện ra Tòa yêu cầu hủy Quyết định
số 23/QĐ-XP
1.2.3.2 Thẩm quyền của Tòa án
Căn cứ Điều 3 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định “Sở là cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh”, do đó Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L là cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh
Quyết định xử phạt hành chính số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 do Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L ban hành Theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật tố
tụng hành chính 2015 về thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh: “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án và của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó”
Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh G.L thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật
1.2.3.3 Thời hiệu khởi kiện
Vào ngày 10/3/2014, Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 về việc xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch Đến ngày 17/3/2014, bà Tuyết nhận được Quyết định số 23/QĐ-XP (Theo Biên bản lấy lời khai ngày 10/7/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh G.L – Bút lục số 47) Do không đồng ý với nội dung của Quyết định số 23/QĐ-XP nên
bà Tuyết đã nộp đơn khiếu nại và ngày 20/4/2014, Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch tỉnh G.L ra Quyết định giải quyết khiếu nại số 01/QĐ-TTr Vẫn không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại cho nên ngày 02/5/2014, bà Tuyết làm đơn khởi kiện ra Tòa yêu cầu hủy Quyết định số 23/QĐ-XP nhưng trong hồ sơ không có bút lục nào thể hiện việc Tòa án nhân dân tỉnh G.L đã nhận đơn khởi kiện của bà Tuyết vào thời gian nào, tuy nhiên tại Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm số 03/2014/TB-TUAP của Tòa án nhân dân tỉnh G.L ra vào ngày 08/5/2014 Từ đây, ta có thể thấy rằng thời gian bà Tuyết nộp
hồ sơ khởi kiện tại Tòa là nằm trong khoảng thời gian từ ngày 02/5/2014 đến 08/5/2014, do không có ngày chính xác cho nên lấy mốc thời gian ngày 02/5/2014 là ngày bà Tuyết nộp hồ
sơ khởi kiện tại Tòa để tính thời hiệu khởi kiện Đồng thời, căn cứ khoản 2 Điều 116 Luật TTHC 2015 quy định thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính Cụ thể, bà Tuyết nhận được quyết định ngày 17/3/2014 và làm đơn khởi kiện ra Tòa vào ngày 02/5/2014, khoảng thời gian này là còn thời hiệu khởi kiện để bà Tuyết khởi kiện vụ án hành chính
Trang 71.3 Cấc vấn đề về nội dung
1.3.1 Yêu cầu khởi kiện
Bà Nguyễn Thị Tuyết khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định xử phạt hành chính số
23/QĐ-XP ngày 10/03/2014 về việc xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và
du lịch do Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L ban hành
1.3.2 Các vấn đề cần chứng minh
Chứng minh bà Tuyết không có hành vi tạo điều kiện mua bán mại dâm tại cở sở kinh doanh nhà trọ bình dân Hoàng Lan
Chứng minh trình tự thủ tục và nội dung của Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC là trái pháp luật
1.3.3 Văn bản pháp luật áp dụng
Luật tố tụng hành chính 2015
Luật xử lý vi phạm hành chính 2012
Pháp lệnh số 10/2003/PL-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về phòng, chống mại dâm
Nghị định 178/2004/NĐ-CP ngày 15/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh phòng, chống mại dâm
Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo
Nghị định số 163/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình
Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Thông tư số 33/2010/TT-BCA ngày 5/10/2010 của Bộ Công an quy định cụ thể điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện
2 KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA
Dự kiến kế hoạch hỏi tại phiên tòa nhằm mục đích làm sáng tỏ các sự việc, đồng thời chứng minh yêu cầu khởi kiện của bà Tuyết là có căn cứ và hợp pháp
Trang 82.1 Hỏi người bị kiện – Ông Trần Ngọc Minh (Ông Dương Văn Thành là người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Ngọc Minh)
Ông Thành hãy cho biết:
Ông hiểu thế nào là “Thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi
dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm”?
Trong biên bản vi phạm hành chính tại sao không ghi điều khoản xử phạt?
Ông cho biết từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính đến ngày ra quyết định xử phạt hành chính là bao nhiêu ngày?
Ông có biết Quyết định số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 đã ban hành quá thời hạn luật định hay không? Nếu biết thì ông hãy cho biết lý do nào mà quyết định này lại được ban hành quá hạn?
Cơ sở nào để đoàn kiểm tra kết luận những người trong nhà trọ Hoàng Lan đang mua bán dâm?
Ông cho biết những căn cứ pháp luật nào được dùng để áp dụng xử phạt hành chính đối với bà Tuyết?
Các văn bản được áp dụng trong biên bản vi phạm hành chính và Quyết định số
23/QĐ-XP có hiệu lực thi hành vào thời gian nào?
Khi lập biên bản vi phạm hành chính có những ai là người chứng kiến?
Thẩm quyền xử phạt hành vi vi phạm của bà Tuyết có thuộc thẩm quyền của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch không?
Khi Đoàn kiểm tra đến kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan có thu giữ tiền hay lợi ích vật chất khác của những người ở phòng 11, 09 và chủ cơ sở hay không?
2.2 Hỏi người khởi kiện - Bà Nguyễn Thị Tuyết (Ông Mai Anh Tuấn là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Tuyết)
Người khởi kiện hãy cho biết:
- Khi khách hàng đến thuê phòng, bà Tuyết có biết được mục đích thuê phòng của họ hay không?
- Bà Tuyết cho biết khi muốn thuê phòng trọ thì khách phải làm những thủ tục gì và xuất trình các loại giấy tờ nào?
- Bà Tuyết cho biết khi khách đến thuê phòng, chủ cơ sở kinh doanh nhà trọ có phải thông báo cho Công an địa phương hay không? Nếu có thì việc thông báo này diễn ra như thế nào?
- Thời gian nào bà Tuyết nhận được Quyết định số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014?
Trang 9- Bà Tuyết cho biết, bà có nhận được Công văn 02/2014/CV-TTr ngày 18/3/2014 và Quyết định số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 đã được sửa đổi, bổ sung không?
- Tại sao bà Tuyết cho rằng bà không có hành vi vi phạm mà đoàn kiểm tra đã ghi trong biên bản vi phạm hành chính nhưng lại ký tên vào?
- Đoàn kiểm tra sau khi kiểm tra phòng số 11 và số 9 có lập biên bản xử lý đối với những người mà họ cho là có hành vi mua bán dâm hay không?
- Bà Tuyết hãy cho biết, bà Tuyết chỉ thừ nhận hành vi không ghi tên bà Nguyễn Thị Lành vào sổ đúng không?
2.3 Hỏi người làm chứng (Ông Nguyễn Văn Thường, ông Phan Văn, bà Nguyễn Thị Lành và bà Nguyễn Thị Thùy)
- Bà Nguyễn Thị Lành và ông Nguyễn Văn Thường hãy cho biết mối quan hệ giữa ông
bà là gì?
- Bà Nguyễn Thị Lành và ông Nguyễn Văn Thường hãy cho biết ông bà có giấy chứng nhận kết hôn hay không?
- Ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy cho biết ông bà có mối quan hệ như thế nào?
- Ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy cho biết, khi đoàn kiểm tra đến kiểm tra phòng thì ông bà đang làm?
- Bà Nguyễn Thị Lành, ông Nguyễn Văn Thường, ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy cho biết, ông bà đang sinh sống ở đâu? Có nơi cư trú hay thường trú tại Thành phố P, tỉnh G.L hay không?
- Bà Nguyễn Thị Lành, ông Nguyễn Văn Thường, ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy cho biết mục đích thuê phòng?
3 LUẬN CỨ BẢO VỆ
Bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện - bà Nguyễn Thị Tuyết
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
Tỉnh G.L, ngày 25 tháng 9 năm 2021
BẢN LUẬN CỨ
Kính thưa: - Hội dồng xét xử
- Vị đại diện Viện kiểm sát
Trang 10- Các vị luật sư đồng nghiệp
- Toàn thể quý vị đang có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay
Tôi là luật sư Lê Thị Ánh Nguyệt – Thuộc Văn phòng Luật sư Ánh Sáng thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh Nhận được lời mời của người khởi kiện và sự chấp thuận của Quý Tòa, tôi tham gia phiên tòa ngày hôm nay với tư cách là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện – bà Nguyễn Thị Tuyết (Chủ cơ sở kinh doanh nhà trọ bình dân Hoàng Lan) trong vụ án hành chính yêu cầu hủy Quyết định xử phạt hành chính số
23/QĐ-XP ngày 10/03/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L về việc
xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch
Trước hết, tôi xin thay mặt bà Nguyễn Thị Tuyết và nhân danh cá nhân xin được gửi lời chào đến Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát cùng toàn thể quý vị lời chào trân trọng và bày tỏ sự tin tưởng về việc xét xử công minh của Hội đồng xét xử Qua nghiên cứu hồ sơ vụ
án, trao đổi với các đương sự và theo dõi diễn biến phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin đưa ra quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp cho người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Tuyết đối với Quyết định xử phạt hành chính số 23/QĐ-XP ngày 10/03/2014 do Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L ban hành là không có căn cứ và trái pháp luật, bởi 5 lý do sau:
Thứ nhất, không có hành vi vi phạm: Một là, Biên bản vi phạm hành chính số
11/BB-VPHC ngày 23/12/2014 kết luận chủ sơ sở nhà trọ Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm bởi tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan phòng 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (Quan hệ tình dục); phòng 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy kết hôn đang ở chung phòng xem ti vi Tại thời điểm kiểm tra tại phòng số 11 chủ cơ sở kinh doanh nhà trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành Căn cứ theo Điều 3 Pháp lệnh số 10/2003/PL-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về phòng, chống mại
dâm “… 1 Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác
2 Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu
3 Mại dâm là hành vi mua dâm, bán dâm…” Trong hồ sơ không có tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi của ông Thường và bà Lành quan hệ vợ chồng là dùng tiền, được trả tiền
hoặc vì lợi ích vật chất để được thực hiện hành vi Đồng thời, tại bản tường trình ngày 23/12/2013 của ông Nguyễn Văn Thường (Bút lục số 31), ông Thường đã nêu ông thuê phòng