Do đó, chè là môt trong những cây trồng được quan tâm phát triển mạnh đặc biệt là ở vùng trung du và miền núi.. Nguồn gốc Nguồn gốc cây chè trên thế giới Các công trình nghiên cứu và k
Trang 1LOGO Bài tiểu luận
Trang 3Mở đầu
Chè là một thức uống lý tưởng có nhiều giá
trị về dược liệu Ngày nay chè được phổ
biến rộng rãi hơn cả cà phê, rượu vang và
ca-cao
Ngoài ra, Chè là một cây công nghiệp lâu
năm, có đời sống kinh tế lâu dài, mau cho
sản phẩm, cho hiệu quả kinh tế cao
Do đó, chè là môt trong những cây trồng
được quan tâm phát triển mạnh đặc biệt là
ở vùng trung du và miền núi
Đây cũng chính là một biện pháp có hiệu lực
nhằm làm cho vùng trung du và miền núi
mau chóng đuổi kịp miền xuôi về kinh tế
và văn hóa
Trang 4Nguồn gốc
Nguồn gốc cây chè trên thế giới
Các công trình nghiên cứu và khảo sát trước
đây cho rằng nguồn gốc của cây chè là vùng cao nguyên Vân nam Trung quốc
Năm 1823, các học giả người Anh cho rằng quê
hương của cây chè là ở Ấn Độ chứ không phải ở Trung quốc
Từ sự biến đổi sinh hoá của các lá cây chè mọc
hoang dại và các cây chè được trồng trọt, chăm sóc, Dejmukhatze cho rằng, nguồn gốc của cây chè chính là ở Việt Nam
Hiện nay chè được phân bố khá rộng trong
những điều kiện tự nhiên rất khác nhau
Trang 5Nguồn gốc
Nguồn gốc cây chè ở Việt Nam
Theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có
từ xa xưa dưới 2 dạng :cây chè vườn hộ
gia đình vùng châu thổ Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi phía bắc.
Năm 1882, các nhà thám hiểm Pháp đã
khảo sát về sản xuất và buôn bán chè
giữa sông Đà và sông Mê Kông ở miền núi phía Bắc Việt Nam
Trang 6Nguồn gốc
Tóm lại, đến nay các nhà khoa học thế giới đã xác nhận : Đại thể cây chè phát nguyên từ một vùng sinh thái hình cái quạt, giữa các ngọn đồi Naga, Manipuri
và Lushai, dọc theo đường biên giới giữa Assam và Mianma ở phía Tây, ngang qua Trung Quốc ở phía Đông, và theo hướng Nam chạy qua các ngọn đồi của Mianma và Thái Lan vào Việt Nam, trục Tây Đông từ kinh độ 95o đến 120o Đông, trục Bắc Nam từ vĩ đ 29o đến
11o Bắc.
Trang 7Sơ đồ tiến hóa cây chè
" Camellia Chè Việt Nam Chè Vân → Chè Việt Nam → Chè Vân → Chè Việt Nam → Chè Vân Nam lá to Chè Trung Quốc Chè → Chè Việt Nam → Chè Vân → Chè Việt Nam → Chè Vân
Assam (ấn Độ)"
Trang 8Chi chè Camellia (Thea)
Loài Camellia (Thea) sinensis
Tên khoa học của cây chè được nhiều nhà khoa học
công nhận là: Camellia sinensis (L) O Kuntze và
có tên đồng nghĩa là: Thea sinensis L.
Trang 9Phân loại
Hơn một trăm năm, tên khoa học của cây chè
vẫn là một vấn đề tranh luận Có 20 cách đặt tên khoa học cho cây chè Diễn biến chủ yếu như
sau:
Năm 1807 f Sims Thea sinensis Sims.
1822 H.F Link Camellia sinensis Link.
1854 W Griffim Camellia theifera Griff.
1874 D Brandis Camellia thea Brandis.
1874 W T T Dyer Camellia theifera Dyer.
1908 G Watt Camellia thea (Link) Brandis.
1919 C P Cohen Stuart Camellia thiefera (Griff)
Dyer
1933 C R Harler Thea sinensis (L) Sims.
1956 C R Harler Camellia sinensis (L) O Kuntze.
Trang 10Phân loại
Hiện nay các nhà thực vật học gộp hai chi
Thea và Camellia làm một và gọi là chi
Camellia Vì vậy tên khoa học của cây chè
được nhiều người thường gọi là Camellia
sinensis (L) O Kuntze.
Trang 11Cơ sở của việc phân loại chè
- Cơ quan dinh dưỡng: loại thân bụi hoặc thân
gỗ, hình dạng của tán, hình dạng và kích thước
của các loại lá, số đôi gân lá
- Cơ quan sinh thực: độ lớn của cánh hoa, số
lượng đài hoa, vị trí phân nhánh của đầu nhị cái
- Đặc tính sinh hóa: chủ yếu dựa vào hàm lượng tanin Mỗi giống chè đều có hàm lượng tanin biến động trong phạm vi nhất định
phân loại của Cohen Stuart (1919) Cách phân loại này được nhiều người chấp nhận Tác giả chia
Camellia sinensis L làm 4 thứ (varietas):
Trang 12Phân loại
Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var Bohea):
Đặc điểm:
- Cây bụi thấp phân cành nhiều
- Lá nhỏ, dày nhiều gợn sóng, màu xanh đậm, lá dài 3,5 - 6,5 cm
- Có 6 - 7 đôi gân lá không rõ, răng cưa nhỏ, không đều
- Búp nhỏ, hoa nhiều, năng suất thấp, phẩm chất
bình thường
- Khả năng chịu rét ở độ nhiệt -12oC đến -15oC
Phân bố chủ yếu ở miền đông, đông nam Trung
Quốc, Nhật Bản và một số vùng khác
Trang 13- Lá to trung bình chiều dài 12 - 15 cm, chiều rộng
5 - 7 cm, màu xanh nhạt, bóng, răng cưa sâu
không đều, đầu lá nhọn
- Có trung bình 8 - 9 đôi, gân lá rõ
- Năng suất cao Phẩm chất tốt
Nguyên sản ở Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc)
Trang 14Phân loại
Chè Shan (Camellia sinensis var Shan):
- Thân gỗ, cao từ 6 đến 10 m
- Lá to và dài 15 - 18 cm màu xanh nhạt, đầu lá
dài, răng cưa nhỏ và dày
- Tôm chè có nhiều lông tơ, trắng và mịn trông như tuyết, nên còn gọi là chè tuyết
- Có khoảng 10 đôi gân lá
- Có khả năng thích ứng trong điều kiện ấm ẩm, ở địa hình cao, năng suất cao, phẩm chất thuộc loại tốt nhất
Nguyên sản ở Vân Nam - Trung Quốc, miền bắc của Miến Điện và Việt Nam
Trang 15Phân loại
Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var atxamica):
- Thân gỗ cao tới 17 m phân cành thưa
- Lá dài tới 20 - 30 cm, mỏng, mềm, thường
có màu xanh đậm, dạng lá hình bầu dục, phiến lá gợn sóng, đầu lá dài
- Có trung bình 12 - 15 đôi gân lá
Trang 16Phân loại
Bốn thứ (varietas) chè trình bày trên đều
có trồng ở Việt Nam, nhưng phổ biến
nhất là hai thứ C sinensis var
macrophylla và C sinensis var Shan.
- Camellia sinensis var macrophylla được
trồng nhiều nhất ở các tỉnh trung du với các tên gọi của địa phương (tùy theo màu sắc của lá) như: Trung du lá xanh, Trung du lá vàng, v.v
- Camellisa sinensis var Shan được trồng
ở miền núi các tỉnh miền bắc và ở miền nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) Ở mỗi địa phương có các giống khác nhau như: Shan Mộc Châu, Shan Tham Vè, Shan Trấn Ninh
Trang 17II.ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC CỦA CÂY
Trang 18- Cành chè do mầm dinh dưỡng phát triển thành.Trên
cành chia làm nhiều đốt.
- Từ thân chính cành chè được chia ra làm nhiều cấp: I,
II,III.
- Thân và cành chè đã tạo nên khung tán của cây chè.Số
lượng cành thích hợp và cân đối trên khung tán, chè
sẽ cho sản lượng cao
Trang 192.Mầm chè
- Mầm sinh dưỡng: phát triển thành cành lá.
- Mầm sinh thực: nằm ở nách lá.Bình thường ở mỗi nách lá có 2
mầm sinh thực hoặc nhiều hơn và khi đó ở nách lá sẽ có một chùm hoa
Trang 203.Búp chè
- Là một đoạn non của 1 cành chè.
- Búp được hình thành từ các mầm dinh dưỡng
gồm có tôm và hai hoặc ba lá non.
- Kích thước của búp thay đổi tùy thuộc vào
giống, loại và liều lượng phân bón,các khâu
kỹ thuật canh tác như đốn, hái và điều kiện địa lý nơi trồng trọt.
- Búp chè có hai loại: + búp bình thường
+búp mù
Trang 21Hình ảnh búp chè
a Búp bình thường b búp mù
Trang 224 Lá chè
- Lá chè mọc cách trên cành, mỗi đốt có một lá.
- Lá chè có gân rất rõ, những gân chính của lá chè
thường không phát triển ra tận rìa lá.
- Rìa lá chè thường có răng cưa, hình dạng răng cưa
trên lá chè khác nhau tùy thuộc vào giống,
- Người ta thường dựa vào số đôi gân lá để phân
biệt các giống chè.
Trang 23Các dạng lá chè:
*
Lá vẩy ốc: có vẩy rất nhỏ,màu nâu, cứng.
- Lá cá: là lá thật thứ nhất nhưng không phát triển bình
thường.
- Lá thật: mọc trên cành chè theo các thế khác nhau.
Trang 24Tôm chè
Là phần non tận cùng của cành chè chưa xoè và
bao bọc nhiều lá non khác
Quá trình hình thành búp xảy ra theo đợt (đợt sinh trưởng)
Mầm ngủ mầm được phát động lá vảy ốc mở
lá cá xuất hiện các lá thật xuất hiện cành chè ngừng hoạt động … mầm được phát động Trong một năm cây chè có 4-5 đợt sinh trưởng
Nếu hái búp đi thì số đợt sinh trưởng tăng thành 6-7 đợt trong năm
- Thời gian của mỗi đợt sinh trưởng dài ngắn khác nhau tuỳ theo vụ chè
Trang 255.Rễ chè
Hệ rễ chè gồm: rễ trụ, rễ bên và rễ hấp thu.
* Quá trình sinh trưởng và phát triển của bộ rễ có đặc điểm:
- Khi hạt mới nảy mầm rễ trụ phát triển rất nhanh
Khoảng 3-5 tháng sau rễ trụ phát triển chậm lại và
rễ bên phát triển.
- Sự phát triển của thân chè và rễ chè có hiện tượng
xen kẽ nhau Khi thân lá phát triển mạnh thì rễ phát triển chậm lại và ngược lại.
Trang 265.Rễ chè
nơi đất tơi xốp thì rễ thường ăn sâu từ 2-3m.
cây chè lớn rễ tập trung giữa hai hàng chè.
điều kiện đất đai và chế độ canh tác.
triển của bộ rễ nhất là lượng đạm.
Trang 275.Rễ chè
- Rễ chè kị vôi nên yêu cầu đất
có phản ứng chua
- Canxi cần cho cây chè vì thế nó
có mặt ở những nơi phân bào
và sinh trưởng như mút rễ,
Trang 286 Hoa , quả
Trang 29Trên cây chè có 100-200 hoa
Hoa chè là hoa lưỡng tính, có từ 5-7 cánh màu
trắng, có từ 200-400 nhị đực
Chè là cây giao phấn, hiện tượng tự thụ chiếm tỷ lệ thấp 2-3%
* Quả
- Quả thuộc loại quả nang Mỗi quả có 3 ngăn và
có từ 2-3-4 hạt Quả khi chín có màu nâu và có
thể nẻ làm bắn hạt ra ngoài
Trang 30H ạ t c h è
Hạt chè có vỏ dày và cứng, có khối lượng diệp tử lớn (chiếm ¾ khối lượng tử diệp), hàm lượng dầu và chất béo trong hạt khá cao (>30%) dễ bị
phân giải làm giảm sức nảy mầm
Hạt chè thường chín sinh lý trước chín hình thái vì vậy cần thu
hoạch sớm
Trang 31K ết l uận
Chè là một cây công nghiệp lâu năm,
có đời sống kinh tế lâu dài, mau cho sản phẩm, cho hiệu quả kinh tế cao bên cạnh đó đây còn là một cây
trồng có giá trị dược liệu và dinh
dưỡng rất lớn Do vậy cần được chú trọng nghiên cứu nhiều hơn nữa để
phục vụ cho các nghành nông
nghiệp, công nghiệp cũng như chế
biến…
Trang 32www.themegallery.com