Một tác phẩm trọn vẹn luôn xuất hiện như một thế giới nghệ thuật mang tính chỉnh thể được thể hiện ở ở nhiều bình diện: cái tôi, ngôn từ, giọng điệu, hình ảnh, không gian, thời gian nghệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
LÊ VĂN TUẤN
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào
Tác giả luận văn
Lê Văn Tuấn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Cấu trúc luận văn 8
Chương 1 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ TRỮ TÌNH, HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT THƠ CỦA ĐỖ TRỌNG KHƠI 10
1.1 Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình 10
1.1.1 Thế giới nghệ thuật 10
1.1.2 Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình 12
1.2 Hành trình sáng tạo thơ của Đỗ Trọng Khơi 16
1.2.1 Con người và sự nghiệp 16
1.2.2 Những chặng đường sáng tạo thơ 18
1.3 Quan niệm nghệ thuật thơ Đỗ Trọng Khơi 22
1.3.1 Quan niệm về thơ 22
1.3.2 Quan niệm về nhà thơ 25
Tiểu kết chương 1 28
Chương 2 THẾ GIỚI HÌNH ẢNH TRONG THƠ ĐỖ TRỌNG KHƠI 29
2.1 Hình ảnh cái tôi trữ tình 29
2.1.1 Cái tôi trữ tình đắm say và cô đơn 30
2.1.2 Cái tôi trữ tình đời tư và triết lý 37
2.2 Hình ảnh người tình 43
Trang 42.2.1 Người tình hạnh phúc và yêu thương 44
2.2.2 Người tình hy sinh và chia sẻ 49
2.3 Hình ảnh thế giới 54
2.3.1 Thế giới của tương giao, tương ứng 55
2.3.2 Thế giới của nghiệm suy và lắng đọng 61
Tiểu kết chương 2 70
Chương 3 PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ ĐỖ TRỌNG KHƠI 71
3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật 71
3.1.1 Ngôn ngữ giàu biểu tượng 72
3.1.2 Ngôn ngữ đậm chất thiền 78
3.2 Không gian và thời gian nghệ thuật 85
3.2.1 Không gian nghệ thuật 85
3.2.2 Thời gian nghệ thuật 91
3.3 Giọng điệu nghệ thuật 97
3.3.1 Giọng điệu buồn thương, chiêm nghiệm 98
3.3.2 Giọng điệu đằm thắm, dịu dàng 105
Tiểu kết chương 3 112
KẾT LUẬN 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thơ ca như một chiếc chìa khóa thần kì để con người mở cánh cửa tâm hồn của chính mình với những rung động nhạy cảm chân thành Để tạo nên một tác phẩm thơ hoàn chỉnh, không chỉ bộc lộ ở cảm xúc, nội dung, tư tưởng mà còn thể hiện nghệ thuật độc đáo mang phong cách riêng của nhà thơ Một tác phẩm trọn vẹn luôn xuất hiện như một thế giới nghệ thuật mang tính chỉnh thể được thể hiện ở ở nhiều bình diện: cái tôi, ngôn từ, giọng điệu, hình ảnh, không gian, thời gian nghệ thuật,… Sáng tác thơ, vì vậy, là quá trình sáng tạo nghệ thuật mà ở đó mỗi nhà thơ mang một phong cách, một dấu vân tay riêng; nói cách khác là một thế giới nghệ thuật riêng của mình Nghiên cứu thế giới nghệ thuật của một nhà thơ là cơ sở để đánh giá và cảm thơ của mỗi tác giả
1.2 Đến với thế giới nghệ thuật thơ Đỗ Trọng Khơi là đến với cái tôi rất đỗi bình dị, đời thường nhưng lại có sức gợi sâu lắng về cuộc sống, nhân gian Mỗi một hình ảnh thơ trong sáng tác của ông đều đi vào lòng người với khả năng gợi đục khơi trong Chúng tôi yêu thơ Đỗ Trọng Khơi và càng yêu hơn về con người nghị lực, không khuất phục hoàn cảnh trớ trêu của ông Trước sự bộn bề đầy phức tạp của cuộc sống mưu sinh, thơ Đỗ Trọng Khơi vẫn giữ được sự tỉnh táo, sáng suốt giữa được và mất, giữa hư và thực,… Tất cả đều được chiêm nghiệm từ chính cuộc đời, số phận của nhà thơ Thơ Đỗ Trọng Khơi đi từ lòng mình đến với lòng người và kết tụ ở điểm nhìn về cuộc sống về nhân gian cho nên càng thâm nhập vào thế giới thơ ông người đọc như càng bừng tỉnh với những chiêm nghệm sâu sắc về bản thân, về cuộc đời
Từ việc khảo sát và nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ Đỗ Trọng Khơi, chúng ta sẽ thấy được những nét lớn độc đáo và đặc sắc nhất của thơ ông, nhất là
về cảm hứng chủ đạo, cái tôi trữ tình và phong cách nghệ thuật của nhà thơ
Chính từ những lí do trên, chúng tôi chọn Thế giới nghệ thuật thơ Đỗ
Trọng Khơi làm đề tài nghiên cứu Đề tài của chúng tôi là công trình chuyên biệt
Trang 6đầu tiên; là một đóng góp trên cơ sở tiếp thu các ý kiến nhận xét, đánh giá của những người nghiên cứu đi trước nhằm tìm hiểu, phân tích và lý giải thơ Đỗ Trọng Khơi trên bình diện thế giới nghệ thuật, nhấn mạnh mối liên hệ giữa cuộc sống, thời đại với quá trình sáng tạo của thi sĩ Qua đó, khẳng định những đóng góp của ông cho nền thơ Việt Nam đương đại
2 Lịch sử vấn đề
Đỗ Trọng Khơi được thi đàn biết đến từ cuộc thi thơ 1990 - 1991 của Tuần báo Văn nghệ Ông được trao giải nhì với một giọng thơ thật mới, thật riêng Kể từ đó đến nay, “nhà thơ viết nằm” này luôn viết có trách nhiệm, đều đặn và có chất lượng Thơ của Đỗ Trọng Khơi đã được các nhà nghiên cứu văn học, các nhà văn, nhà thơ và nhiều bạn đọc bình luận, như: Mai Văn Phấn, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Khánh Phương, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Bùi Vợi, nhà phê bình Chu Văn Sơn, Lê Quốc Hán, Đặng Văn Toàn… Nhìn chung, các tác giả đều đánh giá cao thơ ông và đều nhất trí thơ Đỗ Trọng Khơi thuộc dạng u buồn, tĩnh lặng thiên về chiêm nghiệm
Trong nền thơ ca Việt Nam đương đại, Đỗ Trọng Khơi nổi lên là một gương mặt mới nhưng vô cùng tiêu biểu Với tài năng thiên phú và khát vọng sáng tạo nghệ thuật không ngừng nghỉ, Đỗ Trọng Khơi đã cho ra mắt bạn đọc nhiều tác phẩm thơ hay, giá trị ở nhiều thể tài khác nhau, góp phần vào sự phát triển chung của nền văn học đương đại của dân tộc và góp phần phổ biến tinh hoá thơ văn Việt Nam với thế giới (nhà thơ Đỗ Trọng Khơi từng vinh dự được đài truyền hình Nhật Bản giới thiệu cho công chúng Nhật) Với tài năng và tầm vóc thơ ca đã được chú ý nghiên cứu, nhưng đến nay vẫn chưa có công trình chuyên luận nào khảo sát một cách toàn diện và tập trung về thơ ông Theo tôi tìm hiểu của chúng tôi, đến nay mới chỉ dừng chủ yếu ở một số bài viết bình luận trên các báo, tạp chí của một số tác giả và chủ yếu chỉ tập trung về một mảng thơ lục bát
Ngô Văn Giá nhận định: “Đỗ Trọng Khơi thì viết nhiều thứ, như thể thơ
tự do, thơ cách luật thế nhưng thơ lục bát lại chính là phần nổi trội, và tinh hoa
Trang 7nhất của nhà thơ Đỗ Trọng Khơi Và tôi có nói rằng là định danh Đỗ Trọng Khơi
có “căn” thơ lục bát Thì ở đây chúng ta thấy có mấy cái đặc sắc Đây là thơ lục bát tâm linh chứ không phải thơ lục bát thế sự Là lục bát tâm linh tức là những người viết thơ lục bát tâm linh cũng đã có nhưng thưa thớt, rất ít Tính từ thời anh Trúc Thông chẳng hạn cũng đã có một hai bài Nhưng mà phải tính đến Đỗ Trọng Khơi thì cái dòng lục bát tâm linh mới hoàn tất và có thể coi là một dòng đầy đặn và có diện mạo Và đấy là cái đóng góp lớn nhất của Đỗ Trọng Khơi Cái thứ hai là bởi vì là dòng lục bát tâm tinh cho nên nó là cái lấp lánh của đời sống thẳm sâu của con người, trong cái cõi ẩn ức, cái cõi tâm linh của con người
Đỗ Trọng Khơi đã biểu đạt rất tinh tế và rất giỏi Trong đó có những bài thơ có thể nói là điêu luyện và như vậy xét riêng dòng lục bát thì cái công của Đỗ Trọng Khơi là tạo ra vỉa lục bát riêng và cũng truyền năng lượng cho dòng lục bát để tiếp tục tìm kiếm và biểu đạt” [36]
Sự thành công trong sự nghiệp sáng tác thơ của Đỗ Trọng Khơi không chỉ
ở thể thơ lục bát mà còn trải rộng ra ở nhiều thể thơ khác Mỗi tác phẩm hiện lên dưới cây bút của người nghệ sĩ tài hoa này đều chứa đựng giá trị nghệ thuật đặc sắc Đúng như nhận xét của nhà thơ Mai Văn Phấn: “Thơ ông có lúc bảng lảng,
mơ hồ mà tinh tế như một bức tranh lụa, nét bút thanh thoát, tài hoa Thường khi ông giữ cho mình một tâm thế hướng nội lặng lẽ, tuy cô đơn nhưng luôn tự tin đến được đích Thơ Đỗ Trọng Khơi nhói sáng nét đẹp của nỗi đau thân phận với cách thể hiện ung dung, tự tại, nhiều câu thơ ma mị đến u huyền ngỡ như mang nhịp sinh học, hơi thở của ông” [29]
Để tâm hồn thi sĩ được thăng hoa trong những vần thơ thì nhà thơ phải sẳn sàng đánh đổi bằng cả mồ hôi, nước mắt thậm chí cả máu của mình Tâm hồn
thơ luôn gắn liền với cuộc đời như nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết “Chẳng có
thơ đâu giữa lòng đóng khép/ Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia” (Tiếng hát con
tàu) Trong sự nghiệp cầm bút của mình, Đỗ Trọng Khơi luôn mở cõi lòng mình
ra để đón nhận cả niềm vui và nỗi buồn của cuộc đời bằng nguồn cảm hứng bất tận để rồi khái quát thành cả một kiếp người Nguyễn Quang Thiều đánh giá:
Trang 8“Trong thế gian đầy bóng tối đã sinh ra thi ca… Ở Đỗ Trọng Khơi là một cảm hứng sống bất tận, không hề trách móc cuộc đời mà chứa đựng trong thơ một tư tưởng sâu sắc Và chính tinh thần trong những tác phẩm của Đỗ Trọng Khơi đã khiến cho nhiều người yêu mến thơ anh” [28]
Cảm hứng chủ đạo trong thơ Đỗ Trọng Khơi chủ yếu được lấy từ chất liệu đời sống chân thực về cuộc đời, số phận đầy u trầm và bó hẹp trong không gian chật chội, u buồn của căn phòng tạo nên chất men làm say đắm tâm hồn người đọc trong không gian tĩnh lặng ấy Khao khát về vũ trụ bao la rộng lớn bên ngoài bằng cả da thịt và cảm nhận bằng cả tiềm thức, nhà thơ đã thả tâm hồn trong trẻo, đẹp đẽ và đầy tính nghiệm suy vào thơ để tạo ra một phong cách rất riêng Đúng như nhà thơ Đàm Khánh Phương nhận xét: “Sự đan quyện giữa những suy tưởng, chứng nghiệm về cuộc đời và thân phận, về vẻ đẹp và tâm hồn, với những biểu tượng quen thuộc của thiên nhiên nguyên khởi… Đỗ Trọng Khơi mang dáng vẻ duy mỹ, vừa có độ rộng lớn, kỳ vĩ của không gian hồi tưởng, vừa có sự kín đáo, uyển chuyển, tinh tế của tâm thức riêng tư” [29]
Cảm hứng thơ của Đỗ Trọng Khơi không chỉ ở sự chắt lọc trước cuộc đời,
số phận mà còn được chắp cánh bởi tình yêu đặc biệt của nhà thơ dành cho mảnh đất quê hương Thái Bình của ông Dương Hà phát hiện: “Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi - cây bút của quê lúa Thái Bình khiến người đọc xúc động không phải vì nhân thân thiệt thòi của tác giả mà chính vì những câu thơ luôn phảng phất nỗi
buồn mà vẫn tha thiết niềm yêu sống của ông” [20]
Tính chiêm nghiệm cũng là đặc trưng khá rõ nét trong thơ Đỗ Trọng Khơi Đến với thế giới thơ của ông con người như tìm thấy chính mình trong cõi sâu thẳm của tâm hồn với những rung động thực sự của chốn bình yên, của miền tâm linh sâu thẳm Là một độc giả yêu mến thơ Đỗ Trọng Khơi, Chu Văn Sơn đã
có lời giới thiệu tinh tế cho tập thơ Ở thế gian: “Thơ là trải nghiệm từ những lăn
lộn, và xiết trong trường đời Thơ còn là những chiêm nghiệm về thế sự nhân sinh Thơ trải nghiệm thường giàu chất sống với những cảm giác, cảm xúc tươi nguyên nhựa đời Thơ chiêm nghiệm lại nặng đồng cân bởi những suy tư thâm
Trang 9trầm nhằm kết lắng bao nỗi đời thành những lẽ đời Thơ Khơi thuộc về chiêm nghiệm hơn là trải nghiệm Đó là lựa chọn của một sở thích cũng là lựa chọn của một số phận Chiêm nghiệm bằng thơ chính là cách thế sống của Khơi Bằng cách ấy, Khơi đã xuôi ngược một đời trong cõi chữ” [8, tr.4]
Có nhiều lí do để người đọc tìm đến và yêu thơ Đỗ Trọng Khơi Một trong những yếu tố quan trọng để làm nên phong cách, giá trị của thơ ông chính là sự truyền lửa Dường như năng lượng sống tích cực lạc quan như một ngọn núi lửa
âm thầm mà vô cùng mãnh liệt đang bùng cháy trong lòng nhà thơ đã tạo sức lan tỏa lớn cho người đọc, khơi dậy khát vọng và nghị lực sống dồi dào trong từng vần thơ của ông Ngô Văn Giá cho rằng: “Nhà thơ sinh ra là để xác quyết sự sống, tôn vinh sự sống Ngay cả việc làm thơ cũng đồng nghĩa với việc làm nên
sự sống, trao truyền sự sống bằng thơ và qua thơ Qua thơ Đỗ Trọng Khơi, thấy những quầng sống tuy nhỏ nhoi nhưng vô cùng đẹp đẽ thuộc về khung cảnh lẫn con người Đắm vào sự sống là có thơ hay Tôi dám quyết đoán rằng đây là những câu thơ hay nhất của Đỗ Trọng Khơi” [29]
Nghệ thuật thơ của Đỗ Trọng Khơi thiên về cái tĩnh lặng, chiêm nghiệm
và mang đậm sự sáng tạo riêng về phong cách Đọc thơ ông, cả một miền tâm tưởng được gợi lên trong cách biểu hiện nhân sinh quan và những tình cảm thiêng liêng cao đẹp của một con người thấu hiểu sự đời Vì vậy đón nhận thơ ông không chỉ bằng mắt mà còn trộn lẫn cảm xúc và cả sự chiêm nghiệm về thế giới quan Lời tâm sự, giãi bày của của chính nhà thơ đã nói lên điều đó: “Những
ai hiểu một chút thôi về giáo lý nhà Phật đều biết đến hai chữ “sắc- không” ta gọi
là “sắc sắc không không” Thế thì cái chữ “không” nó quán xuyến toàn bộ cái tinh thần thơ ca của tôi Cái chữ “không“ở đây không phải hiểu theo nghĩa thông thường nghĩa là nó không phải là cái gì cả, một cái không hư vô triệt để Mà cái không ở đây có thể tính đếm được Nó giống như cái căn phòng này, cái khoảng không ở đây là cái khoảng không ta sử dụng được Cái khoảng không này càng rộng bao nhiêu thì khả năng sử dụng càng lớn bấy nhiêu Và cái quán xuyến cho thơ của tôi là đều trong chữ “không” ấy Một cái không rất có thể tính Vì vậy
Trang 10mà chất liệu đời sống vẫn cứ có được ở trong ấy Chẳng hạn như câu thơ:
Sớm nghe một giọng chim lành nguôi ngoai bao nỗi mong manh phận người
Gặp làn mây trắng rong chơi như ai ru lại ta thời ấu thơ Ngợ hư vinh cãi phù du trong binh boong tiếng chuông chùa thu không” [36]
Mảnh đất quê hương Thái Bình đã sinh ra hai nhà thơ lớn là Đỗ Trọng Khơi và Trần Văn Thước Họ đều là biểu tượng cho ý chí, nghị lực và sức sống mãnh liệt vượt qua hoàn cảnh, số phận tật nguyền, bất hạnh để khẳng định mình
và xứng đáng trở thành niềm tự hào của quê hương Như bài thơ sau đây của Phạm Xuân Trường là một minh chứng thuyết phục nhất:
Gửi Đỗ Trọng Khơi và Trần Văn Thước
Thứ ba ngày 18 tháng 6 năm 2013 5:26 AM Một người đứng - Một người nằm
Một đôi lam lũ như tằm nhả tơ Giời còn bắt tội làm thơ
Hay vì đau hộ giấc mơ luân hồi
Chợ đời người xuất khẩu người Chợ thơ nhan nhản những lời giả yêu Thơ khôn lựa gió biết chiều
Thì mình lấy dại để yêu thật lòng
Xin gom ngọn gió ngoài đồng Cánh cò cõng cả dòng sông mang về Người quê tìm đến người quê
Mặc ai đánh tráo lời thề cỏ non
Mặc ai tính cuộc vuông tròn Cái mất là được cái còn là không Cánh cò dại với dòng sông
Trang 11Chim kêu dại với cánh đồng mưa tuôn
Người ta có ngọn có nguồn Nỗi đau đau đứng - Nỗi buồn buồn nghiêng
Trên đây là những ý kiến tham khảo hết sức quý báu đối với chúng tôi
trong việc tìm hiểu Thế giới nghệ thuật thơ Đỗ Trọng Khơi Qua tìm hiểu chúng
tôi nhận thấy hầu như các yếu tố nội dung, các cấp độ nghệ thuật của thơ Đỗ Trọng Khơi đã ít nhiều được đề cập tới Nhưng các phương diện đó chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống và còn một số yếu tố, cấp độ chưa thật sâu, chưa thật cụ thể Tuy nhiên, nhưng điểm dừng của người đi trước cũng sẽ là những gợi mở để người viết đi tiếp ở luận văn này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những sáng tác thơ của Đỗ Trọng
Khơi, gồm các tập: Con chim thiêng vẫn bay, Ở thế gian, Tuyển tập thơ, Gặp
người ở ngõ thế gian Bên cạnh đó, các tập truyện ngắn, các bài tiểu luận, tạp
văn của ông cũng được xem là tài liệu tham khảo quan trọng, soi sáng nhiều vấn
đề trong quá trình nghiên cứu đề tài này
- Phạm vi nghiên cứu:
Qua việc nghiên cứu Thế giới nghệ thuật thơ Đỗ Trọng Khơi một cách có
hệ thống, phạm vi của luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu những điểm đặc sắc về nội dung và hình thức biểu hiện của các tập thơ ở những giá trị nổi bật về ngôn từ nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật, hình ảnh nghệ thuật, không gian và thời gian nghệ thuật, các biện pháp tạo nghĩa…
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp vận dụng lý thuyết thi pháp học: Luận văn sẽ khảo sát tần
số xuất hiện hệ thống hình ảnh trở đi trở lại như ám ảnh nghệ thuật trong thơ Đỗ Trọng Khơi, và hệ thống các phương thức, phương tiện cấu thành chỉnh thể nghệ thuật đó
Trang 12- Phương pháp vận dụng lý thuyết văn học sử: Nghiên cứu một tác giả cụ
thể, chúng tôi không tách rời, biệt lập mà đặt trong mối quan hệ với trào lưu cùng thời Vì văn học là một quá trình lịch sử - hiện thực, một quá trình lịch sử - sáng tạo, cho nên mỗi hiện tượng văn học thường có định hướng của cả phong
trào Tìm hiểu Thế giới nghệ thuật thơ Đỗ Trọng Khơi, chúng tôi đặt trong mối
quan hệ giữa tác giả và trào lưu, tác phẩm và thời đại…
phương pháp nghiên cứu văn học khác như: văn học sử, phê bình văn học, ngôn ngữ văn học… từ đó phân tích, tổng hợp, so sánh để thấy được thế giới nghệ thuật thơ Đỗ Trọng Khơi
Tuy vậy, chúng tôi quan niệm, mỗi phương pháp nghiên cứu nói trên không thể rạch ròi, tách biệt mà có thể tiếp cận được chân lý Vì thế, trong quá trình thực hiện, chúng tôi cố gắng cùng lúc kết hợp nhiều phương pháp và các thao tác khoa học để giải quyết vấn đề một cách tối ưu và hiệu quả nhất
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện và có hệ thống, chi tiết về thế giới nghệ thuật thơ Đỗ Trọng Khơi Từ đó, luận văn góp phần phát hiện những điểm mới sau:
- Những đặc điểm cụ thể, mới mẻ về nội dung và nghệ thuật thơ của Đỗ Trọng Khơi qua các tập thơ của ông
- Khẳng định giá trị về thơ của Đỗ Trọng Khơi trong tiến trình vận động, phát triển của thơ Việt Nam đương đại
- Khám phá khả năng biểu đạt cuộc sống phong phú của Đỗ Trọng Khơi qua các phương diện: Đề tài, hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu thơ ca
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung luận văn được triển khai thành ba chương:
Chương 1 Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình, hành trình sáng tạo và quan
niệm nghệ thuật thơ của Đỗ Trọng Khơi
Trang 13Chương 2 Thế giới hình ảnh trong thơ Đỗ Trọng Khơi
Chương 3 Phương thức biểu hiện thế giới nghệ thuật trong thơ Đỗ Trọng
Khơi
Trang 14Nghiên cứu một nhà văn, xét đến cùng là nghiên cứu về thế giới nghệ thuật của nhà văn ấy Khái niệm thế giới nghệ thuật không phải đơn giản chỉ rút
ra từ một tác phẩm riêng lẻ của nhà văn Thế giới nghệ thuật của nhà văn là linh hồn, là hạt nhân của tác phẩm, là kết tinh của những cảm nhận, suy nghĩ của nhà văn về cuộc đời Tư tưởng nghệ thuật thấm nhuần trong tác phẩm như máu chảy trong huyết quản thấm đến từng tế bào cơ thể Qua tác phẩm, những vấn đề cấu
thành thế giới nghệ thuật của nhà văn “náu mình” trong những hình ảnh sinh
động, những cảm hứng sâu lắng Thế giới nghệ thuật chịu sự qui định của thế giới quan, vốn sống và tài năng của nhà văn Tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng là nơi khẳng định những tư tưởng sâu sắc, mới mẻ về cuộc sống qua sức mạnh truyền cảm của nghệ thuật Vậy, vấn đề thế giới nghệ thuật có tính tổng hợp cao rút ra từ toàn bộ tác phẩm của nhà văn Đó là một thế giới bao trùm
Trang 15cả sự nghiệp sáng tác của nhà văn, chi phối và tạo ra tính chỉnh thể cho thế giới nghệ thuật của nhà văn
Dưới đây là một số khái niệm về thế giới nghệ thuật mà tôi xin được đề xuất làm cơ sở lí luận:
Theo Nguyễn Đăng Mạnh, “Thế giới nghệ thuật của nhà văn hiểu đúng nghĩa của nó là một chỉnh thể, đã là chỉnh thể ắt phải có cấu trúc nội tại theo những nguyên tắc thống nhất, cũng có nghĩa là quan hệ nội tại giữa các yếu tố
phải có quy luật” [22, tr.87]
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ
chỉnh thể các sáng tác nghệ thuật Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng: Sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo theo các quy tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay tâm lý của con người, mặc dù nó phản ánh thế giới ấy… Như vậy, khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đáo
về tư duy nghệ thuật của sáng tạo nghệ thuật có cội nguồn trong thế giới quan,
văn hóa chung, văn hóa nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ” [13, tr.73]
Theo sách Lí luận văn học (tập 2) do Trần Đình Sử Chủ biên: “Gọi bằng
thế giới nghệ thuật bởi vì đó là cấu tạo đặc biệt có sự thống nhất không tách rời, vừa có sự phản ánh thực tại, vừa có sự tưởng tượng sáng tạo của tác giả, có sự khúc xạ thế giới bên trong của nhà văn Thế giới này chỉ có bên trong tác phẩm
và trong tưởng tượng nghệ thuật… Nghiên cứu cấu trúc của thế giới nghệ thuật vừa cho ta hiểu hình ảnh nghệ thuật trong tác phẩm, quan niệm của tác giả về thế giới, vừa có thể khám phá thế giới bên trong ẩn kín của nhà văn, cái thế giới chi
phối hình thành phong cách nghệ thuật ” [35, tr.54]
Từ các định nghĩa về thế giới nghệ thuật trên, có thể hiểu thế giới nghệ thuật là sự sáng tạo riêng độc đáo của nhà văn dựa trên những quy tắc chung nhằm tạo nên những hình ảnh nghệ thuật thể hiện tư tưởng của nhà văn trong cách phản ánh, đánh giá về thế giới khách quan cũng như tâm hồn của con người Vì vậy, thế giới nghệ thuật luôn có sự vận động vô cùng đa dạng, phức tạp và có chiều sâu nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ
Trang 16Hiểu rõ thế giới nghệ thuật của người nghệ sĩ như nắm được chìa khóa hé
mở những giá trị về nội dung tư tưởng trong sáng tác của nhà văn Trong phạm
vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sẽ vận dụng cơ sở lý luận của định nghĩa về thế giới nghệ thuật để tìm hiểu những nét đặc sắc về thế giới nghệ thuật trong thơ
Đỗ Trọng Khơi
1.1.2 Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình
Nói đến chất trữ tình trong tác phẩm văn học là đang đề cập đến vấn đề mang tính chủ quan với cái nhìn rất riêng thuộc thế giới quan của nhà văn về các vấn đề trong cuộc sống cũng như bộc lộ cảm xúc cá nhân trong một khoảng thời gian, không gian nhất định Thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình thường được biểu hiện rất đa dạng và mang tính sáng tạo, trong đó hạt nhân là cái tôi trữ tình và hình ảnh thế giới mang phong cách thẩm mỹ riêng, không lặp lại của nhà văn Lê
Quang Hưng trong Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kì trước năm 1945
cho rằng: “Thế giới nghệ thuật trong thi ca là thế giới được người nghệ sĩ sáng tạo
ra bằng phương tiện ngôn từ Nó chưa từng tồn tại trong thế giới vật chất và mãi mãi không bao giờ có thể biến thành thực tại vật chất Nhưng nó lại mang sự sống
và tâm hồn chân thực của một người, một thế hệ, một thời… Nói theo ngôn ngữ của lý luận quen thuộc thì nó vừa phản ánh“hiện thực”, vừa phản ánh “ý thức chủ
quan” của người nghệ sĩ ” [16, tr.47] Và, “Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình là một
chỉnh thể thống nhất bao hàm các thành tố cấu trúc và các quy luật cấu trúc chung thể hiện quá trình cái tôi nhà thơ nội cảm hóa thế giới khách quan bằng tưởng tượng của mình Một mặt thế giới nghệ thuật ấy gắn liền với kinh nghiệm cá nhân, với phong cách sáng tác của bản thân nhà thơ, mặt khác nó phản ánh trình độ sáng
tác của một giai đoạn lịch sử, một thời đại” [16, tr.30]
Theo Từ điển Thuật ngữ văn học: “Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và
tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ các cung bậc của thế giới tình cảm cho tới những chính kiến, những
tư tưởng triết học” [13, tr.73]
Trang 17Biêlinxki cho rằng: “Những cảm xúc, suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước hiện thực đời sống được thể hiện một cách trực tiếp Tính chất cá thể hoá của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Là tiếng hát tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm từ những cung bậc của tình
cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng phức tạp” [13, tr.317]
Nhà nghiên cứu, phê bình văn học Trần Đình Sử cho rằng: “Văn bản thơ không chỉ gồm câu chữ, vần điệu, ngắt nhịp… mà bao gồm cả thế giới hình ảnh bên trong như một thế giới sống đặc thù Phải miêu tả cả thế giới ấy, cho dù nó khác với thực tế như thế nào, có vẻ vô lí như thế nào Đó chính là thế giới chủ
quan nội cảm của tác phẩm” [ 33, tr.6]
Nhận định về cái tôi trữ tình trong thơ, Lê Lưu Oanh viết: “Cái tôi trữ tình
là một giá trị cụ thể của cái tôi nghệ thuật Trữ tình là sự trình bày trực tiếp cái tôi nghệ thuật ấy Cái tôi trữ tình là thế giới chủ quan, thế giới tinh thần của con người được thể hiện trong tác phẩm trữ tình bằng các phương tiện của thơ trữ
tình” [27, tr.97]
Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình được biểu hiện ở một số phương diện cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Văn học nhận thức thế giới bằng hình ảnh, do đó thế giới nghệ
thuật của một nhà văn chính là một thế giới hình ảnh hiện ra như một chỉnh thể
sống động, chứa đựng một quan niệm nhân sinh và thẩm mĩ của nhà văn Hình ảnh nghệ thuật chính là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện lại một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật Giá trị trực quan độc lập là đặc điểm quan trọng của hình ảnh nghệ thuật Bằng chất liệu cụ thể, nó làm cho người ta
có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng Đó có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện xã hội được cảm nhận Hình ảnh nghệ thuật có thể tồn tại qua chất liệu vật chất nhưng giá trị của nó bao giờ cũng ở
phương diện tinh thần Người đọc không chỉ thưởng thức “cuộc đời thực” trong
tác phẩm mà còn cảm nhận được sự suy tư, lòng trắc ẩn và cả nụ cười ẩn trong
Trang 18cuộc đời thực ấy Hình ảnh nghệ thuật thể hiện tập trung các giá trị nhân học và thẩm mỹ của nghệ thuật Hình ảnh nghệ thuật trong văn học là hình ảnh ngôn từ Thông qua hình ảnh ngôn từ, tác phẩm đem đến cho người đọc “không phải là bức tranh đời sống đứng yên mà luôn luôn sống động, lung linh, huyền ảo, vừa
vô hình vừa hữu hình, cụ thể đấy mà mơ hồ đấy như mặt trăng đáy nước, bóng người trong gương, như không gian vốn ba chiều nay thu lại trong không gian hai chiều của hội hoạ, như một mái chèo trên hai thước chiếu sân khấu mà tác giả đã vẫy vùng trước đại dương” (Lê Lưu Oanh) Hình ảnh chính là dạng thức sống toàn vẹn của thế giới nghệ thuật, nên thế giới nghệ thuật được thể hiện qua
trục xuyên suốt thế giới hình ảnh, sống trong hình ảnh và sống bằng hình ảnh
Đó không phải là một thế giới tĩnh mà là một thế giới động, vừa vận động vừa phụ thuộc vừa phản ánh những biến chuyển trong tư tưởng của người nghệ sĩ Thế giới hình ảnh của một tác giả văn học hiện đại thông thường là một cấu trúc
tam diện nhất thể: Cái tôi trữ tình - Người tình - Thế giới Sáng tác văn học, nhất
là sáng tác thơ trước hết là nhu cầu bộc lộ cảm xúc cá nhân để chia sẻ Một trong những cách để bộc lộ cảm xúc cá nhân là thông qua tiếng nói trữ tình Đặc biệt, nói đến thơ trữ tình là nói đến cảm xúc của chủ thể, của cái tôi cá nhân Hình ảnh trụ cột của thơ trữ tình là cái tôi trữ tình Vì thế, hình ảnh cái tôi là biểu hiện đầu tiên của tư tưởng nghệ thuật Bên cạnh cái tôi, hình ảnh người tình cũng là một trong những hình ảnh lớn của thế giới hình ảnh trong thơ Người ta gọi đó là nàng thơ, người tình lí tưởng của thi sĩ Thế giới hình ảnh của thi ca được xem là sản phẩm sinh ra từ cuộc hôn phối âm thầm của người thi sĩ và nàng thơ huyền diệu đó Hình ảnh người tình trong thơ vừa cụ thể, vừa khái quát, vừa vô hình, vừa hữu hình Do đó, sự hoàn thiện nhân cách không đơn độc mà là đối thoại với tha nhân, tha nhân trực tiếp là người tình lí tưởng Và hình ảnh bao trùm cuối cùng là hình ảnh thế giới Hình ảnh thế giới được hiểu như môi trường bao quanh nhân vật tôi và người tình Thế giới bao gồm: thiên nhiên và đời sống (cuộc sống, các nhân vật) Hình ảnh thế giới không phải là phép cộng các yếu tố
mà là sự tổng hợp dựa trên một sự tổng quát nào đó Đây là một lĩnh vực rất tinh
Trang 19vi và sáng tạo của nghệ thuật Từng bài thơ có hình ảnh thế giới khác nhau Tuy nhiên, với cái nhìn nhất thể, tất cả mọi cảnh sắc thiên nhiên và đời sống đều nằm chung trong hình ảnh tổng quát của thế giới Thông thường mỗi kiểu thi sĩ (cổ điển, lãng mạn, cách mạng) có cách tổng hợp hình ảnh thế giới theo kiểu riêng Mỗi một phong cách nghệ sĩ cũng có một cách tổng hợp hình ảnh thế giới riêng Hình ảnh thế giới trong từng bài thơ như một mảnh vỡ của bức tranh tổng quát
Thứ hai: Thế gới nghệ thuật thơ trữ tình được biểu hiện ở nghệ thuật biểu
hiện của tác giả trong quá trình xây dựng tác phẩm Trong khuôn khổ công trình
này, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu Thế giới nghệ thuật thơ Đỗ Trọng Khơi qua
một số phương diện nghệ thuật chủ yếu: Ngôn ngữ nghệ thuật, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật và giọng điệu nghệ thuật Ngôn ngữ là biểu hiện trực tiếp của từ duy, là chất liệu làm nên tác phẩm văn học nên nó được xem là yếu tố quan trọng nhất để hình thành thế giới nghệ thuật của một nhà thơ Bên cạnh ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật cũng có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật là một phạm trù quan trọng của thi pháp học, là phương tiện chiếm lĩnh đời sống, là mô hình nghệ thuật về cuộc sống Không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật góp phần thể hiện quan điểm nghệ thuật của mỗi nhà văn… Một phương diện nghệ thuật khác không kém phần quan trọng là giọng điệu Giọng điệu bao gồm hệ thống sắc điệu và hệ thống những điểm nhấn ngữ điệu Giọng điệu là phạm trù thẩm mĩ của các tác phẩm thơ và cũng là dấu hiệu riêng ở sự sáng tạo của mỗi cá nhân nhà thơ Nó là một yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong cấu thành thế giới nghệ thuật cũng như phong cách nhà thơ Giọng điệu có khả năng chứa đựng, diễn tả được những cung bậc cảm xúc, những tâm trạng và những ý tưởng mà người nghệ sĩ kí thác Bởi thế, sẽ không nhận diện được thế giới nghệ thuật của nhà thơ, nếu không nhận diện được giọng điệu trong sáng tác của nhà thơ đó
Như vậy, thế giới nghệ thuật thơ trữ tình được biểu hiện qua hình ảnh cái tôi cá nhân và hình ảnh thế giới vô cùng phong phú đa dạng Thế giới nghệ thuật
Trang 20thơ trữ tình có xu hướng thay đổi theo trào lưu, theo thời đại Để nắm bắt thế giới nghệ thuật thơ trữ tình của một nhà thơ cần phải đặt trong hoàn cảnh lịch sử
xã hội cụ thể và xu hướng văn học mang tính đặc trưng Đối với mỗi tác giả đều
có một giọng điệu trữ tình hay mẫu hình ảnh lí tưởng… mang lại cảm xúc và phong cách riêng
1.2 Hành trình sáng tạo thơ của Đỗ Trọng Khơi
1.2.1 Con người và sự nghiệp
Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi tên thật là Đỗ Xuân Khơi, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, sinh ngày 17-7-1960 tại Trần Xá, Văn Cẩm, Hưng Hà, Thái Bình Hiện tại, ông cư trú ở phường Phú Khánh, thành phố Thái Bình
Đỗ Trọng Khơi bị bệnh viêm đa khớp từ năm lên 8, dẫn đến teo cơ và ông phải bỏ học từ năm lên 10 (khi ấy mới học xong lớp 3) Bệnh tật không chỉ khước từ con đường đến trường của Đỗ Trọng Khơi mà còn gắn chặt cuộc đời ông với bệnh viện và chiếc xe lăn nhỏ hẹp, tù túng, bế tắc Từ khi mắc bệnh hiểm nghèo, cuộc sống của ông là một hành trình chạy đua với số phận để giành lại sự sống Cùng với nỗi đau về bệnh tật là nỗi đau mất cha ngay từ nhỏ (năm
1966 người cha đã hi sinh trong chiến tranh), khiến Đỗ Trọng Khơi như sụp đổ
và rơi vào bế tắc đến cùng cực Là con trai duy nhất trong gia đình ông cảm nhận được trách nhiệm và thấm thía tình thương yêu, hi vọng của bà, mẹ, chị gái, em gái… đã tiếp thêm sức mạnh, nghị lực phi thường để nhà thơ vượt qua hoàn cảnh
và số phận của mình
Bằng con đường tự học cùng sự khổ luyện, Đỗ Trọng Khơi đọc được rất nhiều đầu sách, từ sách cổ của Trung Hoa, cho đến sách thời hiện đại của các nước khối xã hội chủ nghĩa, như Liên Xô, Đức, Hung-ga-ri, Tiệp Khắc… Ông đọc sách để tìm đến với chân lý sống, tìm đến những niềm tin, niềm lạc quan và tìm thấy chính mình Như một kết quả tất yếu, Đỗ Trọng Khơi đã có một sự nghiệp văn học đáng trân trọng để trở thành cây bút tiêu biểu, xuất sắc đối với thơ đương đại Việt Nam và chiếm được cảm tình lớn trong lòng bạn đọc Mỗi một hình ảnh nghệ thuật trong thơ Đỗ Trọng Khơi đều gắn liền với một tâm hồn
Trang 21trong sáng, đầy ý chí, nghị lực vượt lên hoàn cảnh, số phận, đầy chất suy tư chiêm nghiệm của cái tôi trữ tình
Với những nỗ lực không mệt mỏi, Đỗ Trọng khơi đã tìm thấy niềm vui, ý nghĩa trong cuộc sống và tự khẳng định mình trong những tác phẩm thơ Nhưng niềm hạnh phúc chỉ thực sự đến với nhà thơ đầy nghị lực này khi ông bước lên
xe hoa ở tuổi 50 Vợ ông là chị là Đỗ Thị Thu Oanh, vốn quê gốc Nam Định nhưng vào Nam sinh sống và là người yêu văn chương Năm 2005, khi đang làm
ở thư viện tỉnh Bạc Liêu, chị vô tình đọc được cuốn Đa tài đa tình của nhà thơ
Đặng Vương Hưng Trong sách này có bài viết về nhà thơ Đỗ Trọng Khơi và sau khi đọc xong, sự khâm phục xen lẫn tình thương, sự cảm mến đã thôi thúc chị cầm bút viết thư cho anh, chỉ với mong muốn được sẻ chia và đồng cảm với nhà thơ kém may mắn ấy trong cõi đời này Để rồi từ đó thư từ, điện thoại qua lại giữa hai miền Nam Bắc tạo thành mới lương duyên tiền định của nhà thơ và người con gái yêu thơ, yêu người làm thơ
Chị Oanh là người phụ nữ đảm đang, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh và sẳn sàng chia sẻ mọi niềm vui, nỗi buồn với nhà thơ trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp sáng tác của ông Chị còn mang đến niềm hạnh phúc
vỡ òa khi sinh cho nhà thơ hai đứa con trai kháu khỉnh Hạnh phúc viên mãn, hồn thơ như được chắp cánh bay cao, tài năng tỏa sáng
Bên cạnh những người phụ nữ sống gần gũi và giàu tình thương dành cho nhà thơ thì hình ảnh người cha đáng kính trong tiềm thức luôn là niềm động viên
ản ủi và tiếp thêm sức mạnh để Đỗ Trọng Khơi vượt lên mọi khó khăn thử thách trong cuộc sống Ông luôn trân trọng mọi giá trị mà cuộc đời đã ban tặng, đề cao những giá trị quý báu của con người, sống gắn bó với tình yêu quê hương đất nước (đặc biệt là quê hương Thái Bình)
Đỗ Trọng Khơi không có điều kiện đi, lại bị bó hẹp trong không gian tù túng của chiếc xe lăn nên ông cảm nhận cuộc sống bằng sự tĩnh lặng của tâm hồn, bằng sự khao khát hướng tới vẻ đẹp thuộc về giá trị của chân – thiện – mĩ Chất thiền đã ăn sâu vào thơ mang đến như nghiệm suy về nhân sinh sâu sắc
Trang 22Chất thiền không chỉ được thể hiện ở chiều sâu tư tưởng của nhà thơ mà còn được kết tinh ở hình thức nghệ thuật đầy sáng tạo, mới mẻ trong thơ
Nói đến thành tựu của Đỗ Trọng khơi không gì rõ hơn là những giải thưởng về văn học mà ông đã đạt được như: Giải nhì cuộc thi thơ trên Báo Văn Nghệ (1990); Giải B truyện ngắn của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam (2002); Giải A - Giải thưởng Lê Quý Đôn của Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Bình (1996); Giải nhì truyện ngắn của Báo Tài Hoa Trẻ (1998); Giải C Giải thưởng Lê Quý Đôn của Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Bình (2001); Giải 3 cuộc thi thơ của Báo Tài Hoa Trẻ (2002), giải tư cuộc thi thơ Đây biển Việt Nam (2011)
do Vietnamnet tổ chức
Số phận bất hạnh không thể làm gục ngã nhà thơ Trái lại, khó khăn càng tôn thêm ý chí và khát vọng để Đỗ Trọng Khơi đến với thơ ca Cách mà nhà thơ đến với thơ và đến với hạnh phúc tình yêu thật bất ngờ, như một mối lương duyên và câu chuyện cổ tích Nếu thơ là cầu nối cho tình yêu thì tình yêu lại nâng đỡ cho hồn thơ đến với vẻ đẹp muôn sắc màu của sự thành công Người đọc yêu thơ Đỗ Trọng Khơi rồi yêu luôn con người chân chất, mộc mạc của ông
và càng trân quý hơn trước hạnh phúc của nhà thơ
Đỗ Trọng Khơi xuất hiện như một bông hoa lạ đầy quyến rũ giữa một vườn hoa muôn sắc màu của thơ đương đại Việt Nam Với quan niệm mới mẻ và nghiêm túc về nghệ thuật thơ, Đỗ Trọng Khai đã tạo được một phong cách nghệ thuật rất riêng và độc đáo để khẳng định tài tài năng nghệ thuật thơ ca của mình Mỗi một bài thơ của ông là một hành trình đầy sáng tạo, có sự trộn lẫn giữa mồ hôi, nước mắt và tài năng của một người nghệ sĩ thực thụ
1.2.2 Những chặng đường sáng tạo thơ
Đỗ Trọng Khơi bắt đầu sự nghiệp sáng tác thơ từ những năm 70 Qua quá trình nỗ lực và không ngừng sáng tạo, đến nay ông đã gặt hái được nhiều thành công và được bạn đọc yêu quý Lúc đầu cầm bút, nhà thơ coi sáng tác thơ như một người bầu bạn cho khuây khỏa, càng về sau ông lại lại càng dành cho thơ một tình yêu và khát vọng mãnh liệt Khi bắt đầu cầm bút nhà thơ bén duyên với
Trang 23dòng thơ trữ tình nghiêng về tự sự sau này ông chủ yếu sáng tác thơ nghiệm suy thấm đẫm chất thiền Đến nay ông đã cho xuất bản: 13 tập thơ, 3 tập truyện và 1 tiểu luận phê bình văn học
Tập thơ Con chim thiêng vẫn bay in lần đầu năm 1992 với 36 bài Tái bản
lần 2 giữ 36 bài cũ, thêm vào 10 bài mới (được sáng tác từ năm 1992 trở về trước) Trước số phận bất hạnh, nhà thơ đã cố gắng tìm kiếm điểm tựa tinh thần trong cuộc sống và ông đã tìm đến thơ và chốn tâm linh của đạo Phật để nương náu tâm hồn Bao nhiêu mơ ước, lí tưởng, khát vọng cao đẹp bất thành trong hiện thực, ông mang cả vào trong thơ và chỉ có thơ mới giúp Đỗ Trọng Khơi tìm được chính mình
Những bài thơ đầu tiên của ông được đăng trên Báo Thái Bình, Tạp chí
Văn nghệ Thái Bình (năm 1989 – 1990) Trong đó, 2 bài thơ Hi vọng và Ánh
trăng của Đỗ Trọng Khơi đạt giải Nhì trong cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ đã
tạo chiếc cầu nối diệu kì của hồn thơ với cuộc đời, tạo nên sợi dây liên kết với bè bạn Thơ Đỗ Trọng Khơi đã bước ra cuộc đời, được bạn đọc cả nước đón nhận Các nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Bùi Vợi, Nguyễn Đức Mậu, Lê Quang Trung, Trần Bảo Hưng về tận quê gặp Khơi Họ ngạc nhiên, khâm phục khi biết cuộc sống của nhà thơ, họ đã viết giới thiệu thơ ông đến công chúng Nghị lực bền bỉ vượt lên số phận của mình như câu thơ ông viết:
…Sinh ra Trời đã nhủ rằng Tôi, một cái chết - sống trong lòng đời
Và rằng: Trời trọ vào tôi
Đi tìm ý nghĩa con người thế gian
(Hi vọng - Con chim thiêng vẫn bay) Đến với tập thơ Con chim thiêng vẫn bay là đến với một tâm hồn trong
sáng, ước mơ cháy bỏng và nghị lực phi thường, tràn đầy năng lượng tích cực, như nhà thơ đã từng tâm sự “Con chim mượn âm thanh của trời để ca hát, tôi mượn thơ ca để tập nói tiếng người Nếu thơ là một ngôi mộ thì tấm thân tầm thường của tôi không đáng được trú ngụ Mừng thay, thơ là một linh hồn Nhờ
Trang 24vậy tôi còn được lưu lại trên thế gian này để tìm kiếm !” [40] Tập thơ được
đánh giá cao, như một hiện tượng của thơ ca ngày ấy Năm ấy Đỗ Trọng Khơi 31 tuổi Ông đã đến với cuộc sống bằng sức mạnh nội lực bền bỉ, kiên trì cùng đức tin vững chắc
Tiếp nối sự thành công của tập thơ đầu tay, Đỗ Trọng Khơi đã ra mắt công
chúng những tập thơ, thể hiện tài năng của ông, như: Tháng mười thương
mến (1994), Bến thời gian (1995), Trước ngôi mộ thời gian (1995), 90 lần
thương (2003)
Tập thơ Với tay ngắt bóng (Sau này được nhà thơ tái bản, in thêm một số bài và đổi thành Ở thế gian) được in và ra mắt công chúng năm (2009), là tập
thơ được đánh giá cao Tập thơ ra đời gắn với tâm tư tình cảm và hoà nhịp cùng
bước tiến xã hội Đỗ Trọng Khơi tạo tiếng vang khi tập thơ cùng với Hai bầu
trời (Khánh Phương - Hà Nội) đã lọt vào vòng chung khảo của Giải thưởng thơ
Bách Việt 2009 Tập thơ là một hành trình dài, nhà thơ nỗ lực hóa giải, tìm kiếm
cái tôi nhỏ bé trong cõi nhân sinh Ông suy ngẫm về phận người, phận mình trong cõi thế gian và thường xuyên đặt ra câu hỏi: Ta là ai? Ta từ đâu và tới đâu?
Ta có nghĩa lý gì không trong cõi nhân gian này? Những câu hỏi nhân sinh đã theo nhà thơ cho đến tận ngày nay
Trong dòng đời bon chen, nhà thơ luôn giữ được sự điềm tĩnh, đầy suy ngẫm Để rồi, nhà thơ ngộ ra nhiều điều trân quý, mang tính nghiệm suy sâu sắc
về phận người, về những cái có - cái không, cái còn - cái mất, những thực - hư, thật - giả, được - thua, thành - bại, may - rủi, sướng - khổ, nghĩa lý - vô nghĩa lý… trong cuộc thế phù du này Cách nhìn nghiệm suy về cõi nhân gian chủ yếu được bắt nguồn từ chính cuộc đời, số phận bất hạnh cùng những mơ ước cao đẹp nhưng bất thành của nhà thơ nên tạo thành mạch cảm xúc, suy tư đời thực, gần gũi, dễ đi
vào lòng người, như quan niệm của nhà thơ về cái Tôi trong cõi nhân sinh:
Ta về ở ẩn trong ta tấm thân cát bụi như là… thế thôi,
Trang 25Men dòng nhật nguyệt ta đi bao nhiêu sắc sắc đã về không không…
(Men dòng nhật nguyệt - Với tay ngắt bóng)
Hay trong bài thơ Ngợ hư vinh cãi phù du, Nhà thơ lại đặt ra vấn đề về
sống – chết, được – mất ở đời:
Ngợ hư vinh cãi phù du trong binh boong tiếng chuông chùa thu không, Mai kia bóng rụng hình rơi
sống vào cõi chết nhẹ rời bước đi, Một mai cát bụi về trời
nước - non ai gặp bóng tôi cất giùm
(Ngợ hư vinh cãi phù du - Với tay ngắt bóng)
Tài năng của Đỗ Trọng Khơi thực sự nở rộ khi ông liên tiếp cho ra mắt
bạn đọc những tác phẩm thơ mang tính nghệ thuật cao như: ABC (2012), Quê (2014), Tĩnh thì sáng (2014), Ở thế gian - Thơ lục bát chọn lọc (2015), Tuyển tập thơ (2018) và Gặp người ở ngõ thế gian (2019) Tập thơ Gặp
người ở ngõ thế gian có 54 bài, chia đều cho 2 phần Phần I, thơ lục bát, phần II,
thơ tự do Trong tập, 90% là những sáng tác mới, viết mấy năm gần đây, có một
số bài được viết từ những năm 1990 và một số bài đã in trong Tuyển tập nhưng
chưa in trong tập riêng lẻ Tập thơ mang chất giọng u trầm, suy nghiệm về lẽ thế gian, đượm chút màu sắc ngôn từ Phật giáo, thơ thiền - ở thơ lục bát, là âm hưởng chủ đạo; phần II, với chùm thơ thế sự, dấn bước cùng thời cuộc, một hướng cảm xúc mới
Cuộc đời Đỗ Trọng Khơi đầy những thăng trầm, bất hạnh: tật nguyền, mồ côi và thất học Bố ông là liệt sỹ chống Mỹ Năm đầu lớp 4 ông bị bệnh bại liệt phải nằm một chỗ, và phải bỏ học Những tưởng niềm vui sống, ý nghĩa cuộc đời
đã vĩnh viễn phải khép lại trước mắt ông Từ đó ông sống “nhỏ nhoi trên chiếc
xe lăn, tù túng ở chốn quê, quẩn quanh góc đời hẹp” Thế nhưng, Đỗ Trọng Khơi
đã không ngã lòng, ông đấu tranh quyết liệt với số phận Bằng sự nỗ lực không
Trang 26ngừng ông đã đến với thơ ca Có thể nói thơ ca là ánh sáng cuộc đời ông, là sự cứu rỗi tâm hồn ông Đỗ Trọng Khơi nhận ra rằng thơ là một ký thác, một bộc bạch, trước hết với chính mình Ông làm thơ khi nội tâm cần lên tiếng và làm thơ
là nhu cầu giải tỏa tâm trạng Trong lời phát biểu của tập thơ ABC nhà thơ đã bộc bạch: “Chỉ khi tâm hồn đòi được xác định bằng một giá trị và vì thế tôi gặp thơ ca” Ông cũng thổ lộ: “Nếu không có những niềm vui khó nhọc ấy chắc là tôi không sống nổi” Lời phát biểu trên không chỉ cho thấy sự ý thức cao nhất về bản thân mà còn cho thấy thơ là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc đời ông Thế mới biết sức mạnh của nghệ thuật to lớn biết chừng nào Chu Văn Sơn khẳng định ý nghĩa của thơ ca đối với ông: “Thơ là chiếc phao cứu sinh của Đỗ Trọng Khơi”, “thắt chặt cõi đời anh bơi vào cõi chữ Cõi chữ hư huyền vô bờ bến lại là niềm sống thực của Khơi…Số mệnh khắc nghiệt với anh tới đâu, thơ lại bù trì cho anh tới đấy Thơ không phải là chốn dung chân duy nhất, nhưng là cuộc gửi thân cuối cùng”, “thơ và Khơi đã nương náu vào nhau” [19, tr.3]
1.3 Quan niệm nghệ thuật thơ Đỗ Trọng Khơi
1.3.1 Quan niệm về thơ
Dường như, thơ đối với Đỗ Trọng Khơi là một thứ nghiệp chướng không thể dứt bỏ được: “Không người làm thơ nào không phải trải qua những cơn tuyệt vọng muốn quẳng đi làm nghề khác cho nó khoẻ Nhưng thơ là một nghiệp, một tình yêu đắm đuối” [ 9] Thơ là chiếc phao cứu sinh của ông Thơ gặt trong cõi đời, ông bơi vào cõi chữ Cõi chữ hư huyền vô bờ bến lại là niềm sống thực trong thơ ông Chiếc phao ấy đã cùng ông lênh đênh suốt phận người trong thăm thẳm cõi chữ Số phận khắc nghiệt với ông tới đâu thì thơ lại bù trừ cho ông tới đấy Thơ không là chốn dung thân duy nhất nhưng là cuộc gửi thân cuối cùng Bấy nhiêu năm thầm lặng sống với thơ miệt mài làm thơ, hồn ông trọ vào trong cõi chữ, thường trú nơi chữ hay đã đồng thể với chữ, giữa thơ và ông đã có sự đồng điệu và nương náu vào nhau tự lúc nào mất rồi Thơ ca mang trong mình sức mạnh quyền năng cứu thế Thơ ca là cứu cánh cho cuộc đời đầy bất hạnh, là ánh mắt để nhà thơ nhìn ra thế giới với những chiêm nghiệm và khát vọng của
Trang 27bản thân, là vị thuốc chữa lành những vết thương tâm hồn, đánh thức sự lạc quan
và niềm tin yêu cuộc sống Thơ ca là tri kỉ, là nơi nhà thơ hướng đến để thể hiện
và yêu đời Thơ ca được ví như là điểm dựa của tâm hồn, là vị thánh cứu rỗi, là
vị thuốc màu nhiệm để làm lành mọi vết thương số phận và mở ra hành trình
sáng tạo nghệ thuật đầy gian khổ của Đỗ Trọng Khơi Như Đề từ trong tập Thơ
tuyển, Đỗ Trọng Khơi viết:
Bao giờ người chất được
hư, tĩnh thành non cao thơ sẽ về ươm hạt
trồng xanh vùng chiêm bao
(Đề từ - Thơ Tuyển)
Thơ là tiếng nói của tâm hồn, cảm xúc và ngôn từ nghệ thuật: “Nói đến thơ, trước hết là nói đến nghệ thuật sử dụng chữ Tác giả thơ muốn tạo một hệ chữ riêng, nghĩa là phép lập hình vận nhịp của chữ trong kết cấu, trình bày thì cần rất nhiều khổ luyện, sáng tạo mới mong có được Dĩ nhiên chữ không rời
nghĩa Chữ thơ là loài chữ có trọng lực, nội lực nhất” [3, tr.7]
Như vậy, ngoài cảm xúc thì nhà thơ cũng cần tạo cho mình một hệ chữ rất riêng Trong quá trính sáng tác, Đỗ Trọng Khơi thống nhất về quan điểm sáng tác, mỗi tác phẩm thơ của ông đều có khả năng tạo nên điểm nhấn độc đáo, sáng tạo nghệ thuật từ sự rung động của cảm xúc và chiều sâu triết lý sâu sắc của nhà
thơ: “Thân nhẹ - làm bóng - Tình nặng - làm núi - Rỗng không - như Lời” (Thơ -
Thơ tuyển)
Đỗ Trọng Khơi quan niệm thơ là đời, là cuộc sống tinh thần để thả hồn và chiêm nghiệm Nhà thơ tâm sự: “Mình đi trong đời cũng như đi trong thơ: đi để
mà đi chứ không nghĩ nhiều về đích tới Thực ra, mình viết văn, làm thơ chẳng
vì một mục đích nào cả Sáng tác chỉ giản dị do nhu cầu tinh thần, tình cảm cần bày tỏ và tìm hiểu thế giới này “Sinh ra trời đã nhủ rằng: Tôi - một cái chết sống trong lòng đời/ và rằng trời trọ vào tôi/ đi tìm ý nghĩa con người thế gian… Đấy,
thơ mình đấy” [17] Khát vọng bày tỏ, tìm hiểu thế giới được Đỗ Trọng
Trang 28Khơi thể hiện rõ ở bài Tựa trong tập thơ Ở thế gian:
Có người họ Đỗ tên Khơi thân như mây nổi tự thời mới ra mặt trần gian chửa thấy già nghe sương gió vẫn oa oa khóc cười Xót ngày hoang hoại con người thời gian mấy mảnh ghép chơi vô cùng
(Tựa – Ở thế gian)
Đỗ Trọng Khơi luôn thống nhất trong quan điểm sáng tác Với ông, văn chương là “ hành trạng tinh thần, sản phẩm nghệ thuật thì rất cần được nuôi dưỡng từ trong máu, trong từng mầm hạt hướng tới sự cao quý Văn là đời, là người Bản chất của sác tác văn chương nhằm hướng tới cảm xúc đẹp, siêu thoát
trong đời sống tâm hồn con người, trên cõi thế gian này” [9] Tác phẩm văn học
không đơn thuần là sự ra công thật bóng bẩy về hình thức thể hiện bên ngoài mà giá trị thực sự của nó phải nằm ở nội dung tư tưởng mà tác phẩm văn học muốn truyền tải tới người đọc Để có được một tác phẩm hay, có giá trị, đòi hỏi nhà văn phải sáng tác nó bằng cả tâm hồn đầy cốt cách, cao quý và mang mục đích tối thượng vì con người, vì những giá trị cao đẹp trong cuộc sống, thậm chí người nghệ sĩ phải rỉ máu mà thành thơ
Đỗ Trọng Khơi luôn đề cao vai trò, trách nhiệm lớn lao của người cầm bút:
“Với nhà văn coi văn chương như sinh mạng, thì mỗi khi sáng tác với họ là một nghi lễ bày tỏ tình yêu thương, nhằm kiêu mang, nâng lấy kiếp phận con người, cho sự cao quý của sự tồn tại con người Bởi vậy nhà văn đó có khi tác phẩm của
họ chỉ là những tiếng thở dài, cũng nặng mang bao nỗi niềm nhân thế Và nhà văn hẳn biết quên… để cống hiến cho đời tác phẩm văn chương hữu ích” [9] Ngoài nhu cầu khẳng định bản thân, thơ còn là phương tiện để con người thể hiện chí hướng, quan điểm, cách nhìn nhận về cuộc sống dựa trên hệ tư tưởng và lập trường quan điểm thẩm mỹ riêng Thơ Đỗ Trọng Khơi hiện lên thường đa sắc, đa thanh, gợi nhiều hơn tả Thơ ông không hề đơn giản, tĩnh lặng,
Trang 29một chiều mà luôn tiềm ẩn sự vận động rất phức tạp, ẩn chứa chiều sâu nhận thức về cuộc đời, số phận và đề cao những giá trị mang ý nghĩa tốt đẹp của cuộc sống thông qua lớp từ ngữ biểu tượng và giọng điệu linh hoạt, trữ tình
1.3.2 Quan niệm về nhà thơ
Quan niệm về nhà thơ thường gắn liền với hình ảnh của tác giả trong những sáng tác của họ Như nhà thơ Đức I.W Gớt nhận xét: “Mỗi nhà văn bất
kể muốn hay không đều miêu tả chính mình trong tác phẩm một cách đặc biệt
Có nghĩa là nhà văn biểu hiện cảm nhận của mình về thế giới, cách suy nghĩ của mình về ngôn ngữ, cách diễn đạt của mình, cảm nhận đó trở thành trung tâm tổ chức của tác phẩm, tạo thành sự thống nhất nội tại của tác phẩm” [6, tr.55]
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Hình ảnh tác giả là phạm trù thể hiện
cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trong tác phẩm… Cơ sở tâm lý của hình ảnh tác giả là hình ảnh cái tôi trong nhân cách mỗi người thể hiện trong giao tiếp Cơ sở nghệ thuật của hình ảnh tác giả trong văn học là tính chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật Văn bản của tác phẩm bao giờ cũng là lời của người trần thuật, người kể chuyện hoặc nhân vật trữ tình Nhà văn xây dựng một văn bản đồng thời với việc xây dựng ra hình ảnh người phát ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định” [13, tr.124]
Ngay sau khi ra mắt tập thơ đầu tay Con chim thiêng vẫn bay (1991), Đỗ
Trọng Khơi đã khẳng định tài năng và phong cách nghệ thuật độc đáo riêng Cho đến nay, ông đã cho in 16 tác phẩm trong đó có 12 tập thơ cùng nhiều giải thưởng văn học như một gia tài quý giá mang tầm vóc của một nghệ sĩ lớn Với những thành tựu to lớn đã đạt được như một mốc son đánh dấu cả một chặng đường dài đầy gian nan thử thách mà nhà thơ đã dâng hiến thơ cho cõi thiêng, thơ như mang lấy nghiệp vào thân để nở rộ những tác phẩm Có lẽ chính vì thế nên khi xuất hiện, những “đứa con tinh thần” của ông luôn có sự tác động mạnh
mẽ đến cảm quan người đọc về cuộc sống, con người Mỗi nhà văn có một quan điểm sáng tác riêng và điều đó làm nên phong cách văn chương của họ Còn với
Đỗ Trọng Khơi, ông luôn quan niệm: “Nghệ thuật thơ là nghệ thuật của vẻ đẹp
Trang 30ngôn từ Vì vậy, giá trị thẩm mỹ cần được đặt lên hàng đầu Tuy vậy, vấn đề, sự kiện, tinh thần của cộng đồng, thời đại cũng là yêu cầu thể hiện, cần một sức tải lớn, dung chứa lớn của thơ Kiệt tác "Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu" - Truyện Kiều - là một minh chứng cho lý lẽ đó Tôi nghĩ, thể hiện được sâu sắc cảm xúc và tinh thần thời đại mình đang sống mà sức bút mình có thể dung nạp được vào tác phẩm, và lấy cơ sở nền tảng từ bản sắc văn hóa dân tộc, văn hóa Đông phương, hoặc một cơ sở triết học nào đó để mở mang ý tưởng, xây dựng hình ảnh cũng như qua đó tạo lập lấy phong cách, thi pháp cho nghệ thuật văn chương của mình, luôn là khát vọng cần đạt tới được của mỗi cây bút "Đã mang lấy nghiệp vào thân", tôi cũng thầm mang khát vọng vậy khi sáng tác Đạt tới phần nào giá trị đó chưa, điều này quả tôi chưa nhiều tự tin” [36]
Nhận xét về con người, số phận và phong cách thơ Đỗ Trọng Khơi, nhà thơ Trần Đăng Khoa cho rằng: “Đỗ Trọng Khơi là một nhà thơ đặc biệt, thất học, mồ côi và bị tật nguyền từ bé nhưng bằng nghị lực, anh vượt lên số phận để sống, để cống hiến và đóng góp cho nền văn học nước nhà Những vần thơ của anh luôn chứa đầy tính nhân sinh quan, là sự chiêm nghiệm về những gì thân thuộc, gần gũi quanh ta, là nét chấm phá rất riêng về phong cách nghệ thuật…” [17]
Nói đến phong cách nhà thơ là nói đến một loại “thước đo nghệ thuật”
(Kharapchenkô), bởi “người nghệ sĩ đích thực, người nghệ sĩ có tài năng bao giờ cũng mang đến cho đời một cái gì mới, một cái gì riêng biệt chưa từng có Chính cái mới, cái riêng biệt đó làm cho cuộc sống luôn phong phú, lạ lùng và hấp dẫn” [11, tr.24] “Nếu cá tính nhà văn mờ nhạt, không tạo ra được tiếng nói riêng, thì
đó là một sự tự sát trong văn học, một lĩnh vực tối kị sự nhại lại ngay cả đối với những chân lý quan trọng” [11, tr.236] Có thể nói, đứng ở góc độ lý luận văn học, vấn đề cá tính sáng tạo và phong cách nhà văn có vai trò và ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp của mỗi nhà văn Theo Chế Lan Viên, nhà thơ là một người có
tư duy lý luận sắc sảo phải có ý thức rất lớn về vấn đề này Chế Lan Viên cho rằng nhà thơ phải là người “không nhại lại”, phải có “cái tạng riêng”, có “cách
sút bóng riêng” trong “Cái sân cỏ Trang Thơ nghìn thuở giống nhau” (Đá bóng)
Trang 31Trong “Nỗi buồn, như một tiêu chí thẩm mỹ trong thơ Đỗ Trọng Khơi”, Khánh Phương viết: “Thơ Đỗ Trọng Khơi thiên về giãi bày, bộc bạch để sẻ chia hơn là chất vấn, tìm tòi, nổi loạn…Nhà thơ dễ dàng để cảm xúc tuôn chảy, lấn át
và trở thành năng lượng chủ đạo của bài thơ, phương thức này có phần chiếm ưu thế hơn là tưởng tượng, hay xây dựng những cấu trúc ngôn ngữ mới tương ứng với những chiều sâu khác nhau của tâm thức” [18, tr.91]
Thơ như một cái duyên tìm đến với người nghệ sĩ và đơn giản thơ là tiếng nói tâm hồn đầy khao khát hướng tới thế giới, hướng tới đời sống tâm hồn qua hình thức thể hiện và sáng tạo của nghệ thuật Sáng tạo luôn đồng hành với việc không ngừng nghỉ trong sáng tác Mỗi đứa con tinh thần ra đời tồn tại độc lập với những sản phẩm sau đó Xã hội ngày càng thay đổi, phát triển kéo theo quan niệm, thị hiếu thẩm mỹ của con người cũng thay đổi, điều đó đòi hỏi nhà thơ luôn có ý thức tìm tòi và đổi mới Trách nhiệm của mỗi nhà thơ phải khám phá cho được không gian nghệ thuật của chính mình, nếu thực sự muốn tồn tại trong không gian mới của thời đại
Xuất phát từ những quan niệm nói trên, Đỗ trọng khơi đã có những cách tân về nghệ thuật để tạo nên một phong cách rất riêng của mình Chính cách tân
và khát vọng nghệ thuật của người cầm bút khiến những tác phẩm của Đỗ Trọng Khơi vẫn mang một hương sắc khác biệt, không hòa lẫn trong một vườn thơ rực
rỡ sắc màu đương đại Tuy nhiên, với Đỗ Trọng Khơi, sáng tạo, cách tân không đồng nghĩa với việc cắt đứt với thơ ca truyền thống Cách tân là tiếp thu cái truyền thống đồng thời làm mới để tạo nên nét hiện đại cho truyền thống Ông quan niệm học hỏi và sáng tạo chứ không phải bắt chước máy móc Sáng tạo luôn đòi hỏi tài năng và bản lĩnh Là một nhà thơ nghiêm túc, trách nhiệm với nghề ông đã chứng tỏ cho người đọc thấy sức sáng tạo dồi dào và năng lực của ngòi bút mình Bằng những trải nghiệm trong sáng tác ông đã cho thấy tâm hồn nghệ sĩ ngấm vào da thịt mình
Trang 32Tiểu kết chương 1
Tóm lại, thế giới nghệ thuật là một khái niệm rộng bao gồm các yếu tố tạo nên một tác phẩm nghệ thuật Thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình là thế giới ngôn từ được nhà thơ sử dụng đầy sáng tạo nhằm phản ánh hiện thực cuộc sống
và tâm hồn mang tính chủ quan của người nghệ sĩ Với hơn 30 năm cầm bút, Đỗ Trọng Khơi đã để lại một khối lượng tác phẩm lớn có giá trị về nội dung và hình thức nghệ thuật Thơ ông thể hiện khát vọng khám phá thế giới qua cảm xúc và khát vọng sống mãnh liệt cùng với chiều sâu chiêm nghiệm mang tính triết lí nhân sinh sâu sắc Dù mang trong mình nỗi đau đớn bệnh tật, sự giới hạn về cuộc sống, nhưng những trang thơ của Đỗ Trọng Khơi vẫn say lòng người đọc, tạo sức lan truyền cảm xúc mạnh mẽ…, làm nên tên tuổi và chỗ đứng vững chắc của nhà thơ trong thơ Việt Nam đương đại
Trang 33Chương 2
THẾ GIỚI HÌNH ẢNH TRONG THƠ ĐỖ TRỌNG KHƠI
Trong các bộ môn nghệ thuật, tính hình ảnh là đặc trưng cơ bản, được tạo nên từ những chất liệu mang đặc thù riêng, là yếu tố trung tâm của chỉnh thể Trong thơ trữ tình, tính hình ảnh trong thơ là chi tiết nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc
mà nhà văn lựa chọn, tinh luyện từ lớp ngôn từ đời thường để đạt đến trình độ thẩm mỹ, nghệ thuật cao, có sức chứa lớn về giá trị nội dung tư tưởng sâu sắc, thể hiện quan điểm sáng tác và cách đánh giá nhìn nhận thế giới riêng của nhà thơ Tính hình ảnh không trực tiếp hiện lên trong câu chữ mà nó chỉ có thể được rút ra qua ngôn từ gợi tả của lời thơ, qua trí tưởng tượng của người đọc để hình dung các bức tranh thế giới với hình khối, đường nét, với màu sắc và âm thanh sống động ẩn sau lớp nghĩa của ngôn từ Trong luận văn này, chúng tôi khám phá thế giới hình ảnh trong thơ Đỗ Trọng Khơi qua hình ảnh cái tôi trữ tình, hình ảnh người tình, hình ảnh thế giới
2.1 Hình ảnh cái tôi trữ tình
Cái tôi tồn tại như một cá thể độc lập với các cá thể khác và thế giới tự nhiên Cái tôi là yếu tố để hình thành nên chủ thể, là cơ sở tạo dựng các mối quan hệ tích cực với thế giới và khẳng định cái riêng biệt với thế giới Nhấn mạnh cái tôi cá nhân trong mối quan hệ phức tạp mà thống nhất với thế giới Theo Lê Lưu Oanh: “Cái tôi trữ tình là một giá trị cụ thể của cái tôi nghệ thuật Trữ tính là sự trình bày trực tiếp cái tôi nghệ thuật ấy Cái tôi trữ tình là thế giới chủ quan, thế giới tinh thần của con người được thể hiện trong tác phẩm trữ tình
bằng các phương tiện của thơ trữ tình” [27] Cái tôi trữ tình chia theo nội dung
có nhiều dạng thức: “Cái tôi – sử thi; Cái tôi – thế sự; Cái tôi – đời tư…” [27,
tr.93] Cái tôi trữ tình mang bản chất chủ quan, cá nhân; bản chất xã hội, nhân
loại; bản chất nghệ thuật, thẩm mỹ… Xét về nội dung, cái tôi trữ tình không chỉ
là tiếng nói của cá nhân mà còn mang bản sắc, dấu ấn của thời đại, xã hội, văn hóa hướng tới vẻ đẹp toàn diện của Chân - Thiện - Mĩ Xét về hình thức, cái tôi
Trang 34trữ tình luôn tồn tại trong một hình thức cụ thể, nhằm thể hiện thế giới chủ quan của nhà thơ thông qua phương tiện ngôn ngữ mang tính nghệ thuật, khiến nhà thơ đồng nhất với cái tôi trữ tình
Đỗ Trọng Khơi có cuộc đời bất hạnh, số phận trớ trêu, bệnh tật cợt nhả đã làm cho một tâm hồn đầy cảm xúc và khát vọng có sự đan xen hài hòa những nét tâm trạng tưởng chừng như đối lập nhau nhưng cũng thống nhất giữa các khoảng sáng – tối, được - mất, hư - thực, đắm say - cô độc… tạo nên một phong cách rất riêng của một cái tôi trữ tình lắng đọng Đến với thơ Đỗ Trọng Khơi, người đọc như đi đến tận cùng của cảm xúc hân hoan say đắm cũng như sự cô đơn Mỗi một vần thơ của ông dường như đều ẩn chứa khát vọng sống mãnh liệt để gắng gượng vượt lên sự cô đơn sâu thẳm trong tim Phải chăng thơ Đỗ Trọng khơi là
sự chắt lọc, thăng hoa từ nỗi đày đọa của số phận, cuộc đời hay sự thăng hoa từ khát vọng sống mãnh liệt? Có lẽ với ông thơ là sự dung hòa của hai bờ cảm xúc nhân gian: Hiện thực phũ phàng và khát vọng sống mãnh liệt là chất liệu để làm nên hồn thơ
2.1.1 Cái tôi trữ tình đắm say và cô đơn
Chất liệu chính để làm nên thơ Đỗ Trọng Khơi chính là hiện thực cuộc sống và khát vọng của cái tôi nỗ lực hóa giải thân phận cô đơn, nghiệt ngã Vì vậy, nhà thơ luôn tìm cách vượt lên số phận cô độc để hi vọng vào điều diệu kì
sẽ đến trong cuộc sống Một niềm tin được soi rọi bởi ý thức sâu sắc trước hoàn cảnh nghiệt ngã của bản thân và được hun đúc bằng ý chí quyết tâm trong sáng, mãnh liệt, không gì có thể làm gục ngã Tuy nhiên, chất liệu để tạo nên niềm tin cuộc sống trong thơ Đỗ Trọng Khơi không phải được tạo nên từ những ngôn từ gân guốc, gồng mình mà thông qua lớp ngôn từ hết sức bình dị, đời thường như một lời tự sự, phân thân của nhà thơ về hai bờ cảm xúc trái ngược nhau tạo nên sức sống từ trong nội tại nhân vật cứ thế bộc phát tự nhiên mà mạnh mẽ, theo đúng ý niệm tâm hồn của nhà thơ:
Bởi tôi tin vào bản thân nỗi khổ đau
có bước đi riêng - trong bóng tối
Trang 35Lý do mà tôi chờ đợi,
là sự kiếm tìm, một thứ ánh sáng riêng!
(Hy vọng – Thơ Tuyển)
Khát vọng sống mãnh liệt của hồn thơ còn được thể hiện trong một tâm hồn tinh nhạy đầy cảm xúc trước sự vật trong cuộc sống dù nó chỉ là sự “run rẩy” nhẹ nhàng khi đứng trước khung cảnh chiều tà hoang vắng hay trứơc dòng nước tĩnh lặng trôi vẫn tồn tại sức sống âm thầm mãnh liệt Cũng như thiên nhiên vạn vật con người nhà thơ dù trong tận cùng cô đơn vẫn luôn khao khát một chút yêu thương của cõi đời, vẫn khát khao giao cảm với cuộc sống Ở đây, chúng ta thấy có sự đồng điệu giữa hồn thơ Đỗ Trọng Khơi và “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu: “Trong hơi thở chót dâng trời đất - Cũng vẫn si tình đến ngất
ngư” (Chấp nhận) Tuy nhiên, nếu Xuân Diệu bộc lộ khát vọng sống mạnh mẽ,
táo bạo bao nhiêu thì Đỗ Trong Khơi là bộc lộ sự sâu lắng, tinh tế bấy nhiêu Cho dù trong “huyễn tưởng”, vẫn giao cảm với đời; dù là viên “đá cuội”, vẫn không ngừng yêu thương:
Chỉ là huyễn tưởng huyễn tưởng thôi vẫn mỏi mong người đến cùng tôi thở cho đá cuội bên bờ thẳm một chút yêu thương của cõi đời
(Run rẩy – Thơ Tuyển)
Với những người yêu thơ thì thơ không chỉ là thưởng thức, là nơi giãi bày
tâm sự…, mà thơ còn là đôi cánh thần tiên để nâng đỡ tâm hồn con người trước cuộc sống Với Đỗ Trọng Khơi, thơ thực sự là tri kỉ, là khát vọng sống mãnh liệt của tâm hồn thi nhân Có những lúc nhà thơ tự đắm mình vào khoảng lặng của không gian vũ trụ bao la, thả trôi theo số phận bất hạnh để tạo bệ phóng cho tâm hồn, cho những ước vọng sống cao đẹp được tung cánh với những giá trị thiêng liêng bất diệt của cuộc đời Khát vọng sống của nhà thơ đã vượt ra ngoài sự chật hẹp, nhỏ bé, tù túng và cô đơn của một một thân xác tật nguyền và quy luật
Trang 36nghiệt ngã của cái hữu hạn trong đời sống để hướng tới ý nghĩa thực sự trong cuộc đời của một con người:
Tôi đang sống không chỉ là thân thể
dù dáng hình đây, bạn nhủ, giữ gìn tôi đã sống, bạn ơi, vì tiếng
con người – ôi điều thật thiêng liêng
Và vì vậy, tôi không sợ chết nước, sương kia có mất được bao giờ lòng tôi e, vũ trụ thăm thẳm
mà tôi mệt rồi đôi cánh thơ
(Tôi đã sống bạn ơi – Thơ Tuyển)
Xen lẫn với cái tôi trữ tình đắm say trước cuộc sống là khoảng lặng đầy tâm trạng của nỗi buồn cô đơn sâu lắng trong thơ Đỗ Trọng Khơi Đối diện với với sự trống trải trong cõi lòng cũng là phương tiện để nhà thơ nhìn lại mình, chiêm nghiệm bản thân cùng với khát vọng vượt lên nỗi cô đơn Sự cô đơn đầy khát vọng ấy còn được ông gửi vào trong hồn rượu:
Cúi soi gương rượu gặp con mắt mình chao ôi, đáy chén chứa niềm lặng thinh
(Hồn rượu – Thơ Tuyển)
Đỗ Trọng Khơi đã mượn cách uống rượu của người xưa trong sự đối lập với hoàn cảnh thực tại của bản thân để diễn đạt sự cô đơn trống vắng của chính mình Với người xưa, uống rượu là để trao lời tâm giao, tận hưởng thú vui của cuộc sống; còn với Đỗ Trọng Khơi, đối ẩm để thấy rõ hơn về khoảng lặng trống trải trong tâm hồn Cái tôi cô độc còn được đẩy lên đến mức rợn người trước bức tranh thiên nhiên đầy ma quái:
Văng vẳng ngoài trăng có tiếng cười Lặng thầm ngóng đợi, thấy sương rơi
Trang 37Thấy cơn gió lạnh khua tầu chuối
Ôi cảnh đơn côi gió doạ người
(Huyễn tưởng – Thơ Tuyển)
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã từng viết: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo
sầu - Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Quy luật này đúng với hồn thơ của
Đỗ Trọng Khơi Cũng là bức tranh thiên nhiên vốn dĩ thơ mộng trữ tình trong một đêm trăng vắng lạnh có sương rơi và trăng cười, nhưng lại được tác giả thổi
vào sự cảm nhận về sự Huyễn tưởng của tâm trạng cô đơn rợn người khiến cho
ánh trăng trở nên ma quái điên loạn trong âm thanh tiếng cười “văng vẳng” tạo
ra sức ngân vang trong lòng người trĩu nặng cô độc Nói về miêu tả bức tranh thiên nhiên, nhưng bài thơ chủ yếu khắc họa âm thanh trong nghệ thuật lấy động
tả tĩnh để rồi kết đọng ở bài thơ là sự thú nhận cô đơn sâu thẳm
Cái tôi cô độc của nhà thơ có khi lại được bộc lộ ở thái độ băn khoăn, trăn trở trước cuộc đời Mượn hình ảnh bông hoa trong vườn nhà để đi tìm căn nguyên cội nguồn của cuộc sống cuối cùng đọng lại trong tâm hồn người đọc về
sự cô đơn sâu thẳm: “tôi, người cô đơn mặt buồn” Câu thơ cuối như một lời thú nhận của nhà thơ:
Tin vào hoa, hay tin vào người trồng hoa?
-Tin vào hoa!
Tin vào hoa hay tin vào đất nuôi hoa?
-Tin vào đất!
Một thì tin vào kết quả một thì tin ở cội nguồn soi trước tấm gương đời vậy tôi, người cô đơn mặt buồn
(Ở vườn nhà – Thơ Tuyển)
Đọc thơ ông ta thấy hình ảnh những cánh đồng, tuổi thơ và một vùng quê trù phú gợi cảm giác tươi vui Trong tâm trạng cực kỳ xúc động nhà thơ chân thành giãi bày tình yêu cuộc sống: “Tôi yêu cuộc sống này, yêu những người
Trang 38thân quanh năm chăm sóc tận tình cho tôi Tôi yêu mẹ tôi, cách đây bao nhiêu năm dù cuộc sống bộn bề lo toan, vất vả đói kém nhưng vì tôi không thể ra ngoài nên bà, mẹ tôi đã chắt bóp mua cho tôi chiếc đài bán dẫn để cho tâm hồn tôi thoát ra khỏi cánh cửa nhà Tôi yêu chị Khanh dẫu chỉ nhặt nắp chai bia bán, cuộc sống chật vật, phải nuôi ba con ăn học nhưng vẫn lo cho tôi cuộc sống chu toàn Tôi yêu các cháu tôi, vì chúng lúc nào cũng yêu quý cậu, đi đâu về cũng chạy vào phòng cậu… Đó là hạnh phúc từ những người thân yêu trong gia đình,
từ những cánh đồng quê… để rồi tất cả đi vào thơ tôi, ngọt ngào như hương vị cuộc sống mà tôi được nếm trải” [ 9]
Cái tôi đắm say là cảm thức rất rõ ràng trong thơ Đỗ Trọng Khơi Ông đắm say trước tình yêu, vì tình yêu luôn là đề tài muôn thủa có sức cuốn hút lạ kì đối với bao thế hệ nhà văn nhà thơ Là người nghệ sỹ có tâm hồn mẫn cảm trước cuộc sống Đỗ Trọng Khơi thể hiện tình yêu bằng cách riêng của mình: Vừa cồn cào mãnh liệt lại vừa ẩn chứa niềm trắc ẩn sâu thẳm trong tâm hồn, tạo sức lay động lớn về cảm xúc nhẹ nhàng mà sâu lắng, kìm nén mà mãnh liệt Khát vọng tình yêu thầm kín, mãnh liệt càng được thể hiện rõ khi nhà thơ đứng trước bức tranh mùa xuân nhẹ nhàng và đa sắc:
ngày xuân hoa thắm nắng vàng chan chan men rượu, mang mang cuộc tình đâu hương đâu sắc đời mình?
tháng năm xa, chợt lặng thinh không lời!
(Với hương hoa mùa xuân – Con chim thiêng vẫn bay)
Trong quan niệm tình yêu của Đỗ Trọng Khơi dường như không có kiểu tình yêu nửa vời Yêu là yêu đến tận cùng của cảm xúc cho dù đó là niềm đau hay sự vỡ òa về hạnh phúc Nhà thơ luôn khao khát được sống hết mình, dâng hiến hết mình cho tình yêu, cho những khát vọng vô biên của cảm xúc tâm hồn
Để rồi tình yêu tự nó mở lời nồng nhiệt và say đắm:
Tình say cũng bởi tình thôi Giấu làm chi để thiệt lời cho nhau
Trang 39Đã trao trao tận niềm đau
Đã cầm dù có nhạt màu cũng cam
(Trao tận niềm đau – Gặp người ở ngõ thế gian)
Khát vọng tình yêu hạnh phúc đắm say mãnh liệt đã đánh thức cái tôi trữ tinh trỗi dậy không chỉ trong ý thức mà ngay trong cả tiềm thức Tình yêu luôn chứa đựng chiều sâu trong tâm hồn, lắng đọng trong cảm xúc và hướng con người tới cái đẹp, tới hạnh phúc đầy khoái cảm và lạc thú Tác giả đã mượn hình ảnh cây thông để hoá kiếp của mình tìm về với giấc ngủ hư không bỏ quên tất cả những gì diễn ra xung quanh mình Thế gian giờ đây vắng lặng như cảnh chùa, hạt gieo – những hạt chuông đưa yên bình Không gian quá lặng thinh – nhà thơ sử dụng câu
từ thật sáng tạo: “chim vàng ém cái lặng thinh” Tác giả chớp hình ảnh thật đắt và
có sức bật lớn, sự lặng thinh đó chạm sâu vào đáy bể làm cho sóng tình xanh xao
Từ cái tĩnh tại tâm hồn dẫn đến tĩnh tại không gian và lan vào tầng sâu của cuộc sống để thấy được ái tình khát khao đến độ lạnh người:
Có người ước một bóng thông
Mà về ngủ giấc hư không – quên mùa Thế gian như một cảnh chùa
Hạt gieo – những hạt chuông đưa yên bình Chim vàng ém cái lặng thinh
Vào sâu đáy bể, sóng tình xanh xao
(Mộng - Ở thế gian)
Cuộc sống thường tồn tại ở thân phận và tình yêu Thân phận thì hữu hạn mà tình yêu thì vô cùng, vì thế chúng ta sống và yêu như thế nào để cho tình yêu đủ sức mạnh cứu lấy thân phận trên cây thập giá đời Đỗ Trọng Khơi bắt nhịp và cảm được triết lý mà hiền nhân đem lại để gột tả trong thơ mình tình yêu nhân thế Nhà thơ tật nguyền, số phận bất hạnh dường như ý thức được tấm thân bé nhỏ của mình, tấm thân cát bụi trú ẩn ở chốn dương gian Chữ tình nó xa vời, chữ tình lắm nỗi lênh đênh và lắm nỗi phù vân như tác giả đề cập, gặp nhau đây chỉ biết nâng chén thể hiện sự tận tâm của mình Màu trắng của cõi không, của cát bụi,
Trang 40của sương mây, tóc thể hiện một cái gì đó tinh khiết của tâm hồn, sự thanh lọc của thiên nhiên và có phần nào đó sợ sự tàn phai tuổi xuân khi tình yêu chưa đến Lời thơ bộc bạch, thủ thỉ một nỗi buồn, day dứt băn khoăn về tình đời của mình Tuy nhiên ẩn sâu trong sự băn khoăn lo lắng, trăn trở là cả một khát vọng sục sôi trong tâm trí của nhà thơ về tình yêu, hạnh phúc lứa đôi:
Là người khó nữa là tiên
Ta - thân cát bụi cư miền dương gian Tiên Đồng, Ngọc Nữ là nàng
Ai xui nhan sắc quá giang xuống trần Chữ tình vốn lắm phù vân
Gặp đây nâng chén ân cần tạ nhau Rằng phận ta, xá gì đâu
E cho đường kẻ, sở cầu so đo
(Chữ tình – Ở thế gian)
Đọc thơ Đỗ Trọng Khơi, ngay cả khi nỗi buồn trào dâng thì người đọc vẫn bắt gặp trong sâu thẳm tâm hồn ông sự khát vọng vượt lên số phận, khát vọng sống say đắm mãnh liệt Có lúc, nhà thơ ý thức được cuộc đời ngắn ngủi mà hạnh phúc vẫn chưa trọn vẹn, đã gieo vào lòng ông nỗi buồn thương luyến tiếc nhưng vẫn mang nhựa sống tinh yêu thể hiện qua không gian chiều tàn mang màu sắc bình dị, tươi tắn Đỗ Trọng Khơi chụp lại khoảnh khắc tuyệt vời đó để miên man thể hiện sự thay đổi tâm trạng của mình Dữ dội và cô lập đến nghẹt thở trong không gian chiều vàng để rồi khẳng định tình yêu mộng mị, thuỷ chung sắt son và rồi cũng bình yên như màu xanh hoà bình đó cũng là màu xanh hi vọng Trước tình yêu, dường như mọi ngôn ngữ đều trở thành vô nghĩa Bởi lẽ, trong tình yêu nhiều khi chính những điều không nói lại tạo nên những ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn con người, mà dẫu có ngàn năm “hồ dễ mấy ai quên” Tình yêu vốn dệt bằng những kỉ niệm, những chiêm bao, mộng mị Tình yêu càng mãnh liệt thì mộng mị càng lắng sâu Nhiều khi những giấc chiêm bao ấy đã trở thành những nỗi ám ảnh vô thường trong cả đời người, có lúc bùng dậy mãnh liệt vò nát tâm