Tính cấp thiết của đề tài Dẫn theo tác giả “Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến” ý kiến của Thẩm Thệ Hà về trường hợp nữ sĩ Ngân Giang : “Điều làm cho tôi rất ngạc nhiên là tại sao các nhà phê
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
BAN CHẤP THÀNH TP HỒ CHÍ MINH
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA”
VÕ QUỐC VIỆT (trưởng nhóm) NAM NĂM 4
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PHAN MẠNH HÙNG
(Thạc sĩ Văn học Việt Nam, Giảng viên khoa Văn học & Ngôn ngữ trường
Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn)
Trang 3MỤC LỤC
TÓM TẮT 1
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU NGÂN GIANG NỮ SĨ 5
1.1 Ngân Giang quen mà lạ (1916-2002) 5
1.2 Những chặng đường thơ và tác phẩm tiêu biểu 8
CHƯƠNG 2: CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ CẢM HỨNG SÁNG TẠO 13
2.1 Những nét nổi bật ở cái tôi lãng mạn 13
2.2 Thi hứng chủ đạo 22
CHƯƠNG 3: ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NGÂN GIANG 32 3.1 CHIẾT QUANG THƠ NGÂN GIANG 32
3.2 Thể loại 42
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC 61
Trang 4TÓM TẮT
Những nguời thực hiện công trình bắt đầu từ việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu Trong đó, tùy theo từng tác giả, chúng tôi đặt ra việc lựa chọn một phương pháp phù hợp Đó là lối phê bình hiện đại
Công trình bắt đầu từ yêu cầu trước nhất, hay là việc giới thiệu nhà thơ Ngân Giang trong dòng chảy thi ca hiện đại Việt Nam Hơn nữa, việc Ngân Giang bị lãng quên suốt một thời gian dài khiến cho công việc càng trở nên cấp thiết hơn Và bây giờ, chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi một nữ sĩ tài hoa của thời tiền chiến lại bị lãng quên, dẫu rằng đương thời Ngân Giang là cái tên thực
sự quen thuộc
Chương 1 đặt trọng tâm ở việc tìm lại Ngân Giang, tìm lại những giá trị văn học nổi danh một thời Song song, chúng tôi hệ thống và cố gắng đưa ra cái nhìn bao quát về thi nghiệp của bà Cụ thể, những chặng đường thơ sẽ được giới thiệu song song với thi phẩm tiêu biểu
Chương 2 chú trọng vào việc giới thiệu cái tôi với hai nét nổi bật chính
là màu sắc cổ điển và tình ý trầm buồn, sầu muộn của cái tôi lãng mạn Xuất phát từ đó, chúng tôi nói đến cảm hứng sáng tạo Đi sâu hơn vào từng khía cạnh Cụ thể sẽ được trình bày ở phần nội dung
Chương 3, có lẽ là phần mà chúng tôi tâm huyết nhất, nói về hình ảnh và biểu tượng thơ Ở đây, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp kết hợp để nói về
ba ám tượng chủ yếu làm nên tâm thức hệ chủ quản của thi nhân Tiếp theo, về một đóng góp đáng kể của nữ sĩ Ngân Giang vào phong trào thơ Mới, đó là vấn
đề thể loại Đặc biệt, phần này sẽ được khảo sát chuyên sâu và hệ thống hoá, cho thấy đóng góp của Ngân Giang trong cuộc cách tân thơ ca dân tộc
Để tóm lại vấn đề, những người thực hiện công trình giới thiệu kèm theo những thi phẩm nổi bật, làm nên phong cách thơ Ngân Giang Nhất thời, công trình này mang nhiều hướng gợi mở, và hy vọng góp phần tìm lại một nữ sĩ tài hoa của Việt Nam thời tiền chiến
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dẫn theo tác giả “Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến” ý kiến của Thẩm Thệ
Hà về trường hợp nữ sĩ Ngân Giang : “Điều làm cho tôi rất ngạc nhiên là tại sao các nhà phê bình văn học lại bỏ quên một nữ sĩ tài hoa như thế ? Thời tiền chiến Hoài Thanh và Hoài Chân đã không dành cho nữ sĩ một địa vị xứng đáng trong “Thi nhân Việt Nam” Ta có thể cho đó là một sự sơ sót đáng tiếc Nhưng gần đây, quyển “Thi nhân Việt Nam Hiện đại” của Phạm Thanh ra đời cũng không bổ khuyết được phần nào sự sơ sót ấy Ta có nên nghi ngờ sự nhận chân nghệ thuật của những nhà biên khảo ấy không ?”{45} Vấn đề Ngân Giang bị văn giới lãng quên buộc chúng ta lo ngại Không riêng gì Ngân Giang bị người đời thờ ơ, cũng đã có Bích Khê vì chuyển dịch văn phẩm của André Gide kể về nỗi thất vọng sau khi trở về từ bầu trời Xô Viết, khiến cho thi nhân ấy bị ái ngại suốt một thời gian dài Nhưng có lẽ trường hợp của nữ sĩ Ngân Giang lại cay đắng hơn, vì cho đến hiện nay tài thơ của nữ sĩ ấy vẫn không được đánh giá đúng mức
Gần đây ở Văn miếu Quốc Tử Giám đã tổ chức hội thảo về Ngân Giang
nữ sĩ Điều này cũng chứng tỏ hậu thế đã ngoái nhìn về quá khứ để tìm lại những giá trị thực sự Tuy nhiên, việc nghiên cứu toàn diện là chưa được quan tâm Các tham luận chỉ mới dừng lại ở mức giới thiệu Vậy nên sự trở lại của Ngân Giang chỉ mới diễn ra trên phương diện dư luận quần chúng mà chưa có dấu ấn khẳng định về mặt học thuật Theo đó, vấn đề đặt ra là tính cấp thiết của việc tìm lại Ngân Giang nữ sĩ một cách toàn diện, sâu sắc Thiết nghĩ, công trình mong muốn đóng góp một vài tìm hiểu về nữ sĩ tài hoa này
2 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
Đặt ra vấn đề “Thế giới nghệ thuật thơ Ngân Giang”, những người thực hiện công trình hướng tới tìm hiểu cõi thơ ấy một cách hệ thống Về hướng tiếp cận, có thể nói là không mới Tuy nhiên, những người thực hiện đề tài vẫn xác định hướng nghiên cứu sao cho phù hợp và triệt để nhất hơn là thử nghiệm những hướng nghiên cứu mới mẻ cho công trình Với tư thế xem xét cõi thơ
Trang 6Ngân Giang theo ngõ đường Thi Pháp học, chúng tôi hướng đến các vấn đề như:
- Trước tiên là việc tìm lại nữ sĩ Ngân Giang một cách bao quát nhất, hay có thể nói là định vị thi nhân về thi nghiệp, đời sống Thiết nghĩ, đây là mấu chốt tiên quyết để tìm lại Ngân Giang nữ sĩ
- Tiếp theo, chúng tôi đi sâu vào khảo sát hạt nhân thơ, nghiên cứu “tế bào gốc” của người thơ ấy; dựa vào đó có thể quan sát và phát biểu về những đối tượng tài liệu mà cái tôi ấy lựa chọn nhằm biến thành cảm hứng sáng tạo Ở đây, theo chúng tôi, nhiệm vụ quan trọng nhất là làm rõ sự hài hòa về sắc thái của cái tôi lãng mạn với màu sắc cổ điển Sau nữa nhấn mạnh sự hài hòa ấy qua việc biểu hiện thành cảm hứng nghệ thuật
- Sau nữa, chúng tôi nghiên cứu các vấn đề về biểu tượng và hình ảnh thi ca như là những siêu tượng, tiếp theo là vấn đề thể loại Trong đó, nhiệm vụ hơn
cả là xác định điểm nổi bật nhất ở các phương diện ấy giữa nhà thơ và các thi nhân cùng thời
Vì những hạn chế về điều kiện khách quan, chúng tôi cho rằng chỉ mới nghiên cứu nữ sĩ Ngân Giang một cách hệ thống, bao quát và tập trung Vậy nên công trình mang đến nhiều hướng gợi mở
3 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Với việc xác định phương hướng nghiên cứu, những người thực hiện công trình cũng đề rõ phương pháp tìm hiểu; nghĩa là các vấn đề được xem xét linh hoạt trong phạm vi nghiên cứu thi pháp học Cụ thể hơn có thể trình bày một cách vắn tắt:
- Phương pháp nghiên cứu thi pháp học về những phạm trù mang tính nội dung
và hình thức mà vai trò cho thấy tính trọng yếu đối với vấn đề Trong đó, tất nhiên rằng phạm trù nội dung và hình thức chỉ là những phẩm tính, bởi chúng không thể tách rời nhau, mà luôn gắn bó mật thiết với nhau
- Phương pháp so sánh đối chiếu về phương diện lịch đại và đồng đại kèm theo quan điểm liên văn bản để cho thấy sự tiếp nối của truyền thống thơ ca dân tộc nơi hồn thơ của nữ sĩ Ngân Giang
Trang 7- Phương pháp phân tích, tổng hợp, đối với công trình, đóng vai trò như việc xoay trở vấn đề qua từng khía cạnh, hòng tìm lấy cái nhìn bao quát nhất; bên cạnh việc đi sâu phân tích để tìm ra những điểm nổi bật của nhà thơ
- Nghiên cứu hình ảnh và biểu tượng thi ca, chúng tôi đi theo hướng phê bình chủ đề, dựa trên cơ sở lí luận của thuyết chuyển cảm với hai khía cạnh “ngoại xạ” và “hồi chiếu” mà Théodor Lipps từng đặt ra từ hồi tiền bán thể kỷ XX trong sự liên hệ với ý hướng tính của Edmund Husserl Đặc biệt soi chiếu vấn
đề bằng phương pháp hậu kì của chi phái S Freud, ở Gaston Bachelard
4 Đóng góp mới của đề tài
Trước hết, công trình mang đến cho giới yêu thơ, đặc biệt là thơ Đường,
có cái nhìn sâu sắc hơn về nữ sĩ Ngân Giang Cần nói tới những đóng góp mà chúng tôi đặt ra và cố gắng thực hiện trong suốt quá trình thực hiện đề tài:
- Xác định vai trò và địa vị của nữ sĩ Ngân Giang trong dòng chảy thơ ca hiện đại, sự thừa hưởng từ thơ ca cổ điển Việt Nam
- Đưa ra nhiều góc nhìn mới mẻ về nữ sĩ, đặc biệt là thể loại
5 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn
Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX đã ghi nhận một cuộc cách mạng trong thi ca, đó là phong trào thơ Mới Với những thi sĩ cùng thời, Ngân Giang
là một trong số ít còn nặng lòng với truyền thống, trước hết là thể loại Tuy nhiên, với ý thức cách tân thơ ca dân tộc trên nền tảng thơ ca truyền thống, việc tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Ngân Giang giúp cho việc nghiên cứu lí luận, phê bình về phong trào thơ Mới có thêm nhiều cứ liệu và khía cạnh khảo sát
Về mặt lí luận, công trình mang lại một góc nhìn khác về phong trào thơ Mới, hoặc ít nhất là bổ khuyết vào một góc hẹp còn chưa được nói đến nhiều trong việc nghiên cứu văn học lãng mạn giai đoạn 1932-1945 Nhưng trước hết, công trình chính là sự tìm lại một nữ sĩ tài hoa thời tiền chiến Đây cũng chính là ý nghĩa trước hết của công trình
Trang 8CHƯƠNG 1: BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU NGÂN GIANG NỮ SĨ
1.1 Ngân Giang quen mà lạ (1916-2002)
Trong số hiếm hoi các nữ sĩ của thời đại cách tân thi ca Việt Nam có Anh Thơ, Vân Đài, Mộng Tuyết, Thu Hồng, Hằng Phương, … và Ngân Giang
nữ sĩ, nhưng không có nhà thơ nào mang cuộc đời khổ ải, gian truân như Ngân Giang Từ thuở nhỏ, bà sống trong khuôn phép Nho Giáo Tuy nhiên, chính điều kiện đó lại hun đúc cho nữ sĩ một cá tính mạnh mẽ Thân phụ ép duyên vì
ắt biết mệnh số con mình sẽ lận đận nhưng Ngân Giang cương quyết cự tuyệt, cho đến khi trốn đi bị cha bắt về mới đành lòng vì chữ hiếu kết nghĩa xích thằng Ngay từ nhỏ, cá tính mạnh mẽ ấy đã bộc lộ rất rõ Hơn hết là một tâm hồn nhạy cảm rất mực Một lần theo người bác ra sân ga, cô bé Đỗ Thị Quế đã thốt lên hai câu thơ nẫu ruột Người bác nhắm lẽ huyền vi biết cơ số rồi sẽ khiến cháu gái trầm luân dâu bể
“Tàu về, rồi tàu lại đi
Khối đen đủi ấy nhớ gì sân ga” {26}
Ngân Giang tên thật là Đỗ Thị Quế, các bút danh khác như: Hạnh Liên,
Đỗ Quế Anh, Nguyệt Quyên Bà sinh ngày 20 tháng 3 năm 1916, trước Bích Khê bốn ngày, trong một gia đình Nho Học tại phố HàngTrống, Hà Nội; nhưng nguyên quán thì ở thôn Hướng Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay là
Hà Nội)
Dòng họ Đỗ sống thanh đạm bằng nghề thêu ren và bốc thuốc, nhưng là một dòng họ có truyền thống văn thơ “Ông ngoại của bà là hậu duệ của chúa Trịnh Sâm hay chữ, ông nội là một nho sĩ nổi tiếng ở đất Bắc Hà, bằng hữu của thi hào Nguyễn Du; còn cha bà, nhờ được ông nội dạy cho chữ Hán, đàn nguyệt nên cũng nổi danh không kém” {115} Lên 6 tuổi, Ngân Giang được cha dạy cho Hán tự, học “ké” chữ quốc ngữ với người thầy bên hàng xóm và được người bác gái làm nghề thuốc yêu thích thơ Đường, dạy cho cách làm thơ phú
và dịch Đường Thi Tám tuổi, Quế có bài thơ đầu tiên: “Vịnh Kiều”, đăng trên Đông Pháp Thời báo, với bút danh Nguyệt Quyên Nhưng sang năm, tâm hồn
Trang 9non trẻ ấy nhạy cảm đến mức tự vẫn vì học đến Kinh Phật rồi nhận thấy nhân sinh-thế cuộc quá nhiều tội lỗi Éo le thay, kiếp má hồng vẫn chưa hết nợ Năm1932, 16 tuổi, Ngân Giang in tập thơ đầu tiên “Giọt Lệ Xuân”, bằng cái tên Hạnh Liên, do nhà Tân Dân ấn hành Hiểu tính nết con, cụ Đỗ Hữu Tài bắt Hạnh Liên phải lấy chồng Chưa hết, một đêm mưa gió bão bùng, đang có mang, Hạnh Liên lại gieo mình xuống Hồ Tây "Dường như trời chưa cho tôi thoát kiếp trầm luân" - nữ sĩ nhớ lại Rồi bà bảo: "Kiếp trước tôi là võ tướng, vì giết nhầm một văn nhân nên kiếp này phải làm thi sĩ để trả nghiệp".{117} Vì là nghiệp chướng nên cái nợ văn chương cứ đeo đuổi mãi
Năm 20 tuổi, bà viết cho tờ Ngọ báo, Bắc Hà và học đàn tại Hàn Lâm
Âm Nhạc do Hội Khai Trí Tiến Đức chủ trì Năm 21 tuổi, bà có thơ in chung trong cuốn “Duyên văn” Năm 22 tuổi (1938), bà rời Hà Nội vào Sài Gòn, viết cho Điện Tín nhật báo, báo Mai Sau đó, bà trở ra Hà Nội viết cho Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Đàn bà Năm sau (1939), thi phẩm “Trưng
Nữ Vương” ra mắt, gây tiếng vang trên thi đàn Đầu năm 1944, bà tham gia mặt trận Việt Minh Và cũng trong năm này, bà cho in tập thơ “Tiếng Vọng Sông Ngân” Thực lẽ, Ngân Giang là cái tên quen thuộc đương thời
Năm 1945, bị hiến binh Nhật bắt ở nhà Dầu (Khâm Thiên), bị giam cầm khoảng một tháng, được tha, bà tham gia cướp chính quyền rồi được cử làm Trưởng đoàn phụ nữ Cứu quốc Thành phố Hà Nội, sau phụ trách Phòng Tuyên truyền đường lối chính sách của Mặt trận Việt Minh Năm 1946, Ngân Giang phụ trách Ban Lễ tân Bộ Nội Vụ, cho in cuốn “Những ngày trong hiến binh Nhật”, nhưng sách vừa in xong chưa kịp phát hành thì toàn quốc kháng chiến Ngay đó, bà ra chiến khu công tác tại Sở tuyên truyền liên khu I Sau cách mạng tháng Tám và sau khi kháng chiến thành công, không hiểu vì sao, một nhà thơ sớm giác ngộ lí tưởng cộng sản và có nhiều đóng góp cho phong trào thanh niên như Ngân Giang lại bị gạt tên Khi vấn đề Nhân Văn Giai Phẩm được xem xét ở hội Nhà Văn Việt Nam, Ngân Giang rất bất bình và lên tiếng bênh vực những nghệ sĩ của báo Nhân Văn Thêm nữa, Ngân Giang luôn là người dám lên tiếng tố cáo những tiêu cực của lãnh đạo văn nghệ Việt Nam Sau đó vài năm, bà tuyên bố “Với tư cách sáng lập viên và hội viên Hội Nhà
Trang 10Văn Việt Nam, tôi xin về” Cuộc đời Ngân Giang bắt đầu những ngày cùng khốn kể từ đây Có nhiều lúc đói khổ, nhà thơ phải nhờ đến Xuân Diệu xin hộ việc làm cho qua ngày khốn đốn Lần hồi, con đò văn chương bỏ lại Ngân Giang “Tiếng Vọng Sông Ngân” lùi vào hẻo lánh
Vài nét về tài thơ của nữ sĩ, Nguyễn Vỹ cho thấy một tấm lòng trân trọng, lại như nâng niu viên pha lê tinh khiết cao trọng, thanh nhã, và cũng phần nào, ông bày tỏ mối sầu mênh mông của phận số thi nhân
"Không giống như Mộng Sơn, Anh Thơ, Ngân Giang nữ sĩ sống rất nhiều về tình yêu, đau khổ rất nhiều về tình yêu Nhưng chẳng bao giờ nàng có hạnh phúc với tình yêu cả…” "Và không biết vì lý do gì, Ngân Giang không thích đăng thơ trên báo, nhưng thi thoảng được nghe thơ Ngân giang, chúng tôi cảm động, khoái trá, bởi phong vị sầu mơ da diết, ngào ngạt trong thơ" {103} Thêm nữa, Từ điển Tác gia Văn hóa Việt Nam cho biết:
"Tiếng thơ Ngân Giang một thời vang vọng, như có lần thi sĩ Đông Hồ (1906-1969) lúc giảng dạy tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn, khi giới thiệu bài
“Trưng Nữ Vương” của bà, ngâm xong bài thơ, ông đột quỵ Sinh viên đưa đi cấp cứu nhưng vừa đến bệnh viện thì ông ra người thiên cổ Âu cũng là một thi thoại văn chương đáng trân trọng”{66} Tới đây, Ngân Giang đã trở thành một giai thoại xa lạ Hình bóng Ngân Giang lần hồi phai nhạt, chỉ còn lại tấm lưng còng hiu hắt bên sông
Quy nhất, khi cả thế hệ tìm đến bộ cánh tân thời phương Tây, Ngân Giang lại thủy chung vô vàn với thơ Đường Nhưng hồn thơ mang phong khí Đường Thi của nữ sĩ lại mang đến bầu hương sắc khác hẳn với thơ Đường của Quách Tấn Nữ sĩ viết :“Ai về qua xứ trăng vàng cũ ? / Có thấy muôn hương dậy trái mùa”(Tiếng Vọng Sông Ngân) ; Nghe đôi câu những tưởng đang thụ hưởng một cái gì rất mới mẻ… nếu Thu Hồng là cô bé ngây thơ, Mộng Tuyết
là thiếu nữ mơ màng, và Anh Thơ thì rất đỗi trong sáng; Ngân giang lại ngất ngưởng, sầu mơ da diết, nhưng đâu đó lại hết sức giản dị, mộc mạc, mà cũng rất mực sang trọng và thanh nhã
“Mùa thu ơi, ai gợi sầu thứ lữ ?
Nẻo hoàng thành châu ngọc dựng biên cương” (Thu tửu )
Trang 11Tài thơ của nữ sĩ hẳn thực rành rõ Giữa làng Thơ Mới, Ngân Giang ngự riêng một góc trời, nhưng lại là khung trời ít người để ý Dẫu vậy, những đóa hoa của “Nàng” vẫn ngát hương, vẫn rất mực tài hoa và độc đáo Thế cuộc bể dâu, sự thái bỉ khiến chân mỹ càng rạng tỏ Ví như “Ngân Giang” dẫu thật quen
mà đến nay nghe xa lạ trong văn giới cũng bởi cái lí thăng trầm vốn có xưa nay
1.2 Những chặng đường thơ và tác phẩm tiêu biểu
a Từ ấu thời đến 1935
Lại kể về buổi chiều trên sân ga, cô bé Đỗ Thị Quế vì nao lòng mà cảm tác nên hai câu thơ :“Tàu đến rồi tàu lại đi/ Khối đen đuổi ấy nhớ gì sân ga” Câu thơ giản dị mà tinh tế, sâu nặng và đìu hiu, vẽ chốn cô phòng, gợi niềm lữ thứ Bà kể rằng khi ấy mới sáu tuổi và người bác đi cùng khi nghe được mấy câu thơ đã quay sang bảo rằng “sau này cháu tôi lại khổ thôi” Và từ đó Ngân Giang tập tành đi những bước đầu tiên trên đường thơ trải dài gần đến 80 năm Năm 1924, lần đầu tiên thơ của Quế được đăng báo, ấy là bài Vịnh Kiều, được dẫn trên Đông Pháp thời báo với bút danh Nguyệt Quyên, một tờ báo uy tín bấy giờ Rồi càng ngày, Quế dấn thân xa hơn vào đồng thơ Từ năm 1929 đến 1931, mới lên 13, nữ sĩ độ tuổi trăng tròn đã là cây bút thường xuyên của Trung Bắc Tân Văn, Đông Pháp với các bút danh Hạnh Liên, Đỗ Quế Anh Đến năm 1932, cô Hạnh Liên cho in tập thơ đầu tay với tên “GIỌT LỆ XUÂN” Từ đây Đỗ Thị Quế chính thức bước vào làng thơ Báo Phụ Nữ Thời Đàm dành hẳn một trang giới thiệu “GIỌT LỆ XUÂN” của Hạnh Liên đang tuổi trăng rằm Tiếng tăm của nàng thơ đầu mùa đưa tác giả trở thành thi nhân đầy triển vọng Tuy rằng không đủ sức tiên phong cho thời đại Thơ Mới, đi đôi với bài viết của Phan Khôi năm 1932 nhưng “GIỌT LỆ XUÂN” đã báo hiệu bằng những chồi non mới mẻ Đó là hồn thơ dồi dào sức sống, mang nhịp thở của thời đại trong ngôi nhà Đường luật đài các như các bài : Con ai, Gửi bạn, Rượu nào….Ta thấy những câu thơ đậm màu sắc lãng mạn: “Sương thả màn lam, cây mải ngủ, / Liễu buông rèm biếc, gió đua rờn / Khôn toan đánh thức thần hoa dậy, / Đành gối song trăng mộng chập chờn….” (Gửi bạn)
Trang 12b Giai đoạn 1935 - 1945
Trong giai đoạn văn học 1932 – 1945, có thể nói Tố Hữu là nhà thơ cách mạng tiên phong khi “mặt trời chân lí chói qua tim” và con chim ấy đã hát vang bài ca cách mạng cho đến khi trút dứt “Một Tiếng Đờn” Nữ sĩ Ngân Giang tham gia vào Tổ chức Thanh niên Cộng sản Cách Mạng khoảng những năm
1934, 1935 Từ đây thơ Ngân Giang bước sang một chặng đường khác Đã chìm lắng những dòng suối nhu mì lặng lẽ, kiêu sa, diễm lệ, mà góp vào đó là bao khúc ca vang giọng hào sảng, luôn cao ngất tinh thần dân tộc, tự hào dòng dõi Rồng Tiên, dạt dào lòng yêu nước, hoàn thiện hình ảnh người phụ nữ trong loạn li Thời kỳ này, cái tôi sầu muộn có phần chùng xuống để cho cái tôi hào hùng, bi tráng phất cao ngọn dân tộc Tiêu biểu cho hồn thơ Ngân Giang giai đoạn này phải nhắc đến tập “TIẾNG VỌNG SÔNG NGÂN” Từ đây cái tên Ngân Giang đi thêm những bước vững vàng trên đường thơ Việt Nam thế kỷ
XX Nếu so với “GIỌT LỆ XUÂN”, thì tập thơ in năm 1944 có cả độ chín về nghệ thuật và độ dày về đời sống Quả thật, khi bắt lấy luồng gió cách mạng, thơ Ngân Giang như có thêm sức sống, mở ra một giai đoạn sáng tác mạnh mẽ, nồng hậu và phát triển thêm một bước dài về mặt nghệ thuật Nếu “GIỌT LỆ XUÂN” còn nét e ấp của một thiếu nữ tuổi mới vào yêu thì “TIẾNG VỌNG SÔNG NGÂN” là nỗi lòng của người phụ nữ dạn dày sương gió với khí khái đáng bậc anh hùng Hãy đọc “Trưng Nữ Vương” để cảm thiết chí khí oai hùng của dòng dõi Lạc Hồng và cũng để hiểu thêm nỗi niềm cô lẻ của người phụ nữ
mà Ngân Giang đã cá thể hóa đến mức cao độ hay có thể gọi là sự hóa thân, hòa nhập giữa tâm hồn thi nhân và tâm hồn nhân vật “Chàng ơi điện ngọc bơ
vơ quá / Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi”
Cần nói thêm rằng, thơ Ngân Giang từ sau khi đón nhận luồng gió cách mạng cho đến trước Cách Mạng Tháng Tám đã thay đổi tâm tính so với giai đoạn “GIỌT LỆ XUÂN”, nhưng thơ của bà vẫn còn vương vất nét sầu bi, buồn não, nhiều khi buồn đến rợn người Tất nhiên, bên cạnh đó còn cả chất tráng dũng, lẫm liệt, khí tiết, hiên ngang Nhưng phải chờ đến khi tham gia cướp chính quyền thì vườn thơ của bà mới bắt đầu xuất hiện luồng ánh sáng tươi vui,
để cái tôi hòa vào cái ta Chung quy, giai đoạn từ khi đi theo Cách Mạng cho
Trang 13đến trước 1945 thì hồn thơ Ngân Giang vẫn mang tâm trạng chung của thời cuộc binh biến Giới thiệu những tác phẩm tiểu biểu của nữ sĩ Ngân Giang trong giai đoạn này, chúng tôi xin nói trước tiên đến bài thơ “Trưng Nữ Vương” đầy khí tiết oai hùng của “bà vua” góa bụa Bài thơ ra đời năm 1939,
và sau nữa là bài “Tiếng vọng sông ngân”, bài thơ cùng tên với tập thơ làm theo thể tự do cho thấy sự kế thừa thi pháp cổ điển bên cạnh những thủ pháp mới mẻ “….Gió lên chạm đường tơ, / Trăng lên hồn vào thơ / Những ai qua
xứ trăng vàng cũ, / Có thấy muôn hương dậy trái mùa ?”
Trong tập thơ “TIẾNG VỌNG SÔNG NGÂN”, bên cạnh những vần thơ tràn đầy khí tiết như Bạch Đằng Giang, Trưng nữ vương, cũng phải kể đến bao
“nốt nhạc” da diết, trầm lắng, sầu mơ, thắm đượm oan tình, duyên trái Thế càng rõ bên trong người phụ nữ kiên cường như lời kể lại của thứ nam nữ sĩ thì sâu thẳm trong tâm hồn Ngân Giang vẫn có cái yếu đuối, bịn rịn của người phụ
nữ đa tình, nhạy cảm
c Giai đoạn 1945 – 1975
Thơ Ngân Giang giai đoạn này có hai khuynh hướng rõ rệt Đó là dòng khí tưng từng chung vui của cả dân tộc, tưng bừng nô nức trong mùa xuân mới Nhưng đến khi bị cuộc đời phụ bạc, gây bao nỗi truân chuyên cho phận hoa tài tình, thơ bà lại chuốt thêm giọng trữ tình đời tư, và bao vần thơ giãy bày tâm sự đầy não nùng và da diết Vậy nên có thể thấy, thơ Ngân Giang giai đoạn 1945-
1975, song hiện cả hai khối tâm tình Một bên là trữ tình công dân, một đằng là trữ tình đời tư, thế sự
Hòa vào không khí chung của thần kinh đang mùa nổi dậy, Ngân Giang theo cách mạng đi cướp chính quyền Những ngày sôi sục nhuộm vào trang giấy, hằn trên đất thơ những “Xuân Chiến Địa”, những “Bài thơ trong tù” Nay khác rồi, hồn thơ Ngân Giang không ấp ủ tiết thu cô quạnh, u buồn, thảm não;
đã không còn cái “Chiều Thu” hiu hắt lá bàng trước cổng nhà ai Và ai đã dẹp hẳn “quán đường heo hút lạnh lùng” Người không còn khép kín phòng thơ một mình ngâm ngợi Nhà thơ ý thức được vai trò của thi sĩ và mỗi công dân trong hoàn cảnh chiến chinh Vậy nên Ngân Giang đã thốt lên niềm « Xuân Chiến
Trang 14Địa » Đó là bài tráng ca, cũng là lời tâm tình của người phụ nữ mơ ước những bậc anh hùng dựng xây công nghiệp lớn, đáng bậc Nguyễn Quang Trung
« Công chúa Ngọc Hân mơ Nguyễn Huệ
Bởi say sự nghiệp khách anh hùng
Em cũng mơ người trai đất Việt
Sẽ là những bậc Nguyễn Quang Trung »
Bên cạnh tính tráng ca có khuynh hướng sử thi, thì trong mảng thơ trữ tình công dân vẫn hiện lên nhiều khung cảnh như « Cuộc chia ly màu đỏ », vẫn
có chút xót xa, ngậm ngùi bởi tình cảm riêng tư phải hy sinh vì nghiệp lớn Đây
là những vần thơ bi tráng, mang hơi hướng lãng mạn cách mạng của Ngân Giang nữ sĩ « Người đi kẻ ở lại / Mảnh đất thật vô tình / Dựng gót chân nhân loại / Xuôi ngược lúc giao chinh » (Xóm Núi – 1949, Đây là bài thơ bà làm lúc
từ giã chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội)
Mảng thứ hai trong nghiệp thơ Ngân Giang giai đoạn 1945-1975 là tâm hồn của người phụ nữ đa truân, lận đận Chất trữ tình thế sự, đời tư hiện rõ trong những bài thơ mô tả cảnh khuya cô phòng, thiếu chăn thừa chiếu Bao nhiêu là nỗi niềm xa cách trong lòng người cô phụ Lại có lúc hồn nữ sĩ lạc loài giữa thần kinh nhộn nhịp
« Từ bước chân về, xiết đắng cay !
Kinh thành nắng dõi bóng hoa gầy,
Kinh thành bụi cát phong vầng trán
Sống giữa tưng bừng, ai tỉnh, say ? » (Lạc Loài)
Dường như cái hăm hở những ngày đầu cách mạng có vẻ chùng xuống
để thay cho nỗi niềm man mác trước vận nước và tình người trong những vần thơ khoảng thập niên 50 Thơ của bà chứa đầy nỗi bi ai, bất mãn với lòng người, với thế cuộc Gánh nặng miếng cơm manh áo với con cái oằn nặng đôi vai, những tưởng thơ đã chết ; Nhưng không ngờ, chính thơ lại là niềm an ủi Bên cạnh đó là những khách tri âm
Dường như từ khi bị cuộc đời phụ bạc, lại gặp quá nhiều gian truân khổ lụy, thơ Ngân Giang từ những năm 60 trở đi lại quay về với cái tôi mang màu sắc cổ điển Thơ của bà dường như thoát tục, vụt bạy khỏi chốn trần ai nhưng
Trang 15luôn ngoảnh lại chốn ấy mà xót xa, đau đớn « Chàng lẻ loi, mà thiếp lẻ loi / Phòng loan dặm liễu mảnh trăng soi, / Người về ngõ cũ đầy hoa rụng / Ai ở thềm xưa quạnh bóng người » (Cách mấy nắng mưa) Có thể coi đây là sự trở
về của Ngân Giang Đây mới thực sự là Nữ sĩ tài hoa rất mực của đất Hà Thành
Thêm nữa, cần phải nói rằng, với ý hướng sáng tác như trên, thơ Ngân Giang không được công bố nhiều Bằng chứng là trong giai đoạn này, thơ bà gần như không được xuất bản Thỉnh thoảng bà có đăng báo nhưng chỉ là mấy câu ca dao với bút danh Chị Mến Đáng chú ý là « Những ngày trong hiến binh Nhật », in năm 1946 nhưng chưa kịp công bố Mãi đến năm 1973, tác phẩm
« Những người sống mãi » được nhà xuất bản Sự Thật in và công bố Cho nên,
có thể nói, nghiệp thơ Ngân Giang trong giai đoạn này cũng bị vùi dập như chính cuộc đời bà
d Giai đoạn sau 1975 đến cuối đời
Trở lại vấn đề, thơ Ngân Giang Giang giai đoạn này tiếp nối khuynh hướng sáng tác mang màu sắc cổ điển, song song là ngòi bút đi sâu hơn vào đời sống riêng tư, tâm tình, lòng người, thế cuộc Nổi bật nhất là cái tôi trữ tình thế
sự hiện lên rõ nét qua nhiều suy tư và đắn đo về cuộc đời, về kiếp người, thân thế, về chuyện thơ…
« Ôi ! Thương nhớ xứ Đào Hoa vô hạn !
Chiếc nón thơ không rợp nẻo sông Ngân,
Áo tha phương toan rũ bụi phong trần
Những nỗi nước, tình nhà và nghĩa bạn… » (Hà xứ Đào Hoa)
Các thi phẩm đáng kể của bà trong giai đoạn này có thể nói tới: Dõi Quảng Hàn cung, Tiễn Biệt, Người ngoài nghìn dặm, Đưa chàng, …
Thay lời kết cho việc khái quát đời thơ Ngân Giang, có thể nhìn thấy : thơ của nữ sĩ Ngân Giang ổn định về thi pháp Mặc dù cái tôi trữ tình có thay đổi vào khoảng thập niên 40, nhưng nhìn chung không tạo nên cốt cách xuyên suốt của thế giới thơ
Trang 16CHƯƠNG 2: CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ CẢM HỨNG SÁNG TẠO
2.1 Những nét nổi bật ở cái tôi lãng mạn
Khái niệm cái tôi trước tiên là một khái niệm triết học xuất hiện và được chú ý đầu tiên bởi các triết gia duy tâm như Decartes, Hégel, Bergson, Freud…Bên cạnh đó triết học Marx-Lenin cũng chú ý đến cái tôi ở phương diện trung tâm của tinh thần con người, của cá tính con người, có quan hệ tích cực đối với thế giới và với chính bản thân mình Chỉ có con người mới độc lập kiểm soát những hành vi của mình và có khả năng thể nghiệm tính chủ động toàn diện Hay nói khác đi cái tôi là sự tự ý thức về thế giới tinh thần của chủ thể Nếu xem tác phẩm văn học là một sinh thể thì cái tôi là hạt nhân cốt lõi, nơi mà khối óc và con tim đạt được một thoả thuận nhất định Và như thế sinh thể nghệ thuật là sự thể hiện cái tôi thật sinh động, vậy nên có thể hiểu cái tôi là bản tính vốn có của ý thức Với tính chất cái tôi, quan niệm nghệ thuật có thể hiểu là tư thế của cái tôi mà từ đó cảm hứng khơi màu Vậy nên thế giới nghệ thuật là sự triển khai của cái tôi Một phương diện khác, cái tôi là ý thức tuyệt đối của thế giới nghệ thuật hay sự tồn tại của vật chất mang tính tinh thần mà trong đó cái tôi là nguyên uỷ thượng đế Có thể nói Người nghệ sỹ là chúa trời trong thế giới nghệ thuật
Ở phương Tây, bàn về cái tôi và trữ tình có thể nói tới Hégel, Bielinsky, sau này có các nhà nghiên cứu Liên Xô Ở phương Đông, trong tư tưởng của Tào Thực, Lưu Hiệp, Viên Mai, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm… cũng đề cập đến tình, tâm, chí, đạo,…và có sự liên hệ với khái niệm cái tôi trữ tình Đến thời hiện đại, cái tôi trữ tình lại được nói đến nhiều hơn, với Hoài Thanh, Vương Trí Nhàn, Hà Minh Đức, Trần Đình Sử…
Chung quy có thể hiểu cái tôi trữ tình như là một nội dung chủ đạo, là sự
tự ý thức của chủ thể trữ tình, là hạt nhân cấu trúc của hình tượng tác giả Nói theo Kant, cái tôi trữ tình là sự thể hiện bản chất vốn có của việc ý thức trong
tự thân tinh thần qua các phương diện của phán đoán thẩm mỹ Vậy nên nó có vai trò quan trọng trong sáng tạo nghệ thuật
Trang 172.1.1 Cái tôi lãng mạn mang màu sắc cổ điển – hoài vọng
Trước tiên cần bàn đến khái niệm cổ điển trong văn học và văn học cổ điển chủ nghĩa Thực rằng, khái niệm cổ điển có một quá trình hình thành lâu dài “Classiques” theo như sự xếp loại của Aristote và các loại thơ văn mẫu mực khác, không kể xưa nay, đều là những tác phẩm cổ điển Như vậy cần xác định cổ điển như là một tính chất, một phẩm cách của tác phẩm hay một chủ thể nghệ thuật nhất định Nói chung, có thể hiểu văn học cổ điển theo nghĩa giản đơn nhất là nền văn học mang tính chất điển phạm, chuẩn mực, tiêu biểu cho thời đại và được giáo dục thừa nhận là một bộ phận chương trình Ở lúc mới xuất hiện “cổ điển” mang một hàm nghĩa cổ đại, nhưng nói chung cũng có thể là đã qua, đã khép lại, và đáng được học tập bởi giá trị nghệ thuật được định hình và xã hội tôn vinh, nhưng quan trong hơn cả, nó mang trong mình nghĩa mẫu mực, ưu tú, tiêu biểu Và theo đó các nhà văn cổ điển được xác định như
là một người tiên phong cho sự tiến bộ nghệ thuật và linh hồn thời đại họ Cũng
có thể gọi họ là người lái đò thời đại giữa đôi bờ văn minh nhân loại Rồi nữa, cần phải xác định rằng ở bất cứ thời đại nào cũng có nền văn học cổ điển Ông
Lê Đình Kỵ có bàn về vấn đề này như sau "Có thể nói là nước nào cũng có một nền văn học cổ điển, nếu nền văn học ấy có những tác phẩm mẫu mực, được thử thách lâu dài trong thời gian”{41} Cần bàn thêm về ý kiến của Hégel về văn học cổ điển, vì theo ông nền văn học đó gồm “những tác phẩm với nội dung “ý niệm tuyệt đối” bên trong thống nhất hài hòa cao độ với cái vỏ vật chất
cụ thể cảm tính bên ngoài Và thêm đó ông cho rằng chỉ có nghệ thuật Hy Lạp mới đạt đến hình thái “cổ điển””{52} Ý kiến này tuy có hạn hẹp nhưng đã thể hiện sự quan trọng của phẩm tính chuẩn mực quả nhiên cố hữu cho văn học cổ điển
Tiếp theo cần hiểu chủ nghĩa cổ điển là một trào lưu sáng tác, một hệ thống quan điểm về thi pháp sáng tác, trong đó triết học Decartes như là ngọn nguồn ảnh hưởng và Boileau là người soạn thảo quy phạm và đưa chủ nghĩa cổ điển trở thành một trào lưu, một trường phái sáng tác riêng biệt trong tiến trình văn học Nói đến chủ nghĩa cổ điển, nghĩa là chủ nghĩa cổ điển phương Tây,
mà tiêu biểu nhất là Pháp, hình thành từ đầu thế kỷ XVII Và nói đến kiểu nhà
Trang 18thơ cổ điển cũng đồng thời nhắc đến cái tôi cổ điển với tính chất hướng tới sự giáo khoa, tính chất lí tưởng hóa bởi lí trí và tính chất quy phạm
Ở phương Đông, khuynh hướng cổ điển cũng thể hiện rõ nét Có thể thấy rằng tất cả chất phóng khoáng của hình thức thơ từ Kinh Thi, Sở Từ đến đời Đường đều được tinh gọn và sự vận động của hình thức thơ ca cũng cho thấy chiều hướng điển phạm qua thể loại thất ngôn từ cổ thể đến kim thể Với
sự ảnh hưởng đặc biệt lâu dài tới văn học Việt Nam, khuynh hướng cổ điển cũng thể hiện rõ nét trong thơ ca trung đại Việt Nam, mà trước tiên là sự thừa hưởng thể loại Đường Luật Phải nói thêm rằng không phải ngẫu nhiên mà khuynh hướng cổ điển lại đi liền với sự lớn mạnh của Nho giáo Theo Trần Đình Hượu thì “thật là chưa xa cái thời mà mọi người Việt Nam, nhà nho cũng như dân thường coi chữ Hán là chữ ta, coi tứ thư ngũ kinh là lời dạy thiêng liêng của thánh hiền, chỉ coi văn, thơ, phú, lục mới là văn chương Sáng tác văn học phải theo mẫu “thơ kiểu thịnh Đường, văn khuôn tiền Hán” Cầm lấy bút là
có ngay bên mình bóng dáng của những bậc thầy: Đào Tiềm, Lý Bạch, Đỗ Phủ,
Tô Đông Pha….”{33} Như vậy là cùng với sự thống trị của tư tưởng Nho học thì văn chương cũng noi theo quy cũ, nghĩa là tạo lập thói quen tập cổ và xem những thành tựu của tiên nhân là mẫu mực Đến đời Hán, họ Đổng mở ra một thời kỳ mới cho Nho học Theo đó, quan điểm thẩm mỹ của Nho giáo chi phối sâu sắc đến lề lối sáng tác của nho sĩ xưa nay Trong đó lại có thể thấy quan niệm coi trọng thơ ca hơn là các thể loại khác Khổng Tử từng dạy học trò “tiểu
tử ! hà mạc học phù Thi Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán Nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân Đa chí ư điểu thú thảo mộc chi danh” (Các trò sao không học Kinh Thi ! Kinh Thi có thể khiến người ta hưng khởi, có thể kiến người ta quan sát, có thể khiến người ta hợp quần, có thể khiến người ta oán ố Về nơi gần, người học kinh Thi biết đạo thờ cha, về nơi xa biết đạo thờ vua Lại ghi nhớ được nhiều tên các loài chim muông cây cỏ) {98} Dễ hiểu tại sao “vạn thế sư biểu” bảo rằng không học Thi biết lấy gì mà nói, không học Lễ biết làm sao mà đứng Bên cạnh đó, Khổng Tử cũng nhắc đến trong Lễ Ký rằng phép làm thơ phải “ôn, nhu, đôn hậu” mà sau này trở thành định chuẩn thẩm
mỹ cho cái tôi trữ tình trong thơ ca trung đại Đông Á
Trang 19Là mảnh hồn hiếm hoi giữa lòng thơ Mới còn chỗ đứng oai nghiêm cho thể loại Đường Luật, Ngân Giang nữ sĩ thể hiện rõ nét chuẩn mực thẩm mỹ của thơ ca trung đại Việt Nam mà nguồn suối Nho học từ Ức Trai đến Bạch Vân, từ Ngô gia đến Tố Như, Xuân Hương, Thị Điểm, bà huyện Thanh Quan…Bên cạnh đó, nữ sĩ cũng thừa hưởng cái tôi trữ tình cá nhân của thời đại “Chinh Phụ”, “Cung Oán” Ở nữ sĩ họ Đỗ vẫn có tư thế hoài vọng về Thăng Long thành Dấu ấn thơ ca cổ điển Việt Nam để lại cho cái tôi xu hướng điển nhã, khoan hòa Đấy là cái tôi mang màu sắc cổ điển thật nổi bật bên cạnh hơi gió thời đại, hay chính là trào lưu lãng mạn Đó cũng là màu sắc thơ Ngân Giang Qua đồng thơ Ngân Giang, hơn một lần Kinh Kha sang Dịch Thủy, còn Hạng Vũ ức hoài mối thù Cai Hạ Thường là nữ sĩ hay trình bày hoàn cảnh bi đát của nhân vật lịch sử đồng thời bày tỏ thái độ bi thiết Nhưng chung quy, vấn
đề mà nhà thơ giữ cho quán xuyến tác phẩm là xu hướng cảm hoài của ý thức sáng tác dành cho một đối tượng thi ca hay tài liệu của cảm hứng Đó cũng là đối tượng mang tầm vóc hùng vỹ, hay nói khác đi là tư thế hoài vọng trước cái cao cả theo mỹ học phong kiến Màu sắc cổ điển nơi Ngân Giang luôn hướng tìm những phong thái uy nghiêm để dựng xây tình cảm cao đẹp, thiêng liêng, hướng kẻ tiếp nhận khơi dậy mối bi ai Vì thế cảm xúc chủ đạo của những vần thơ ấy là tấm lòng xót xa, ai oán Phải nói thêm rằng, sắc thái cổ điển ở nữ sĩ Hướng Dương cũng cho thấy sự tiếp nối phong thái tỏ lòng của của thơ ca trung đại với cái tôi hay bày tỏ tình ý qua niềm cảm xúc thống thiết, thành kính,
và tấm lòng đẹp đẽ, trang nghiêm Tự cái tôi mang màu sắc cổ điển ấy vẫn hay tìm đến những chuẩn mực lý tưởng về con người như là bậc quân tử, liệt nữ, hiếu tử, trượng phu…“Ôi lưỡi gươm thần đang rực rỡ / Mà tà áo vải mấy truân chuyên ! / Ngậm ngùi giọt máu ba trang sách / Vườn Lệ Chi oan đến cửu tuyền
!” (Ức Trai)
Thêm nữa về sự thể hiện tình ý, cái tôi mang khuynh hướng cổ điển nói chung và cái tôi Ngân Giang nói riêng vẫn chịu sự ảnh hưởng của quan niệm thẩm mỹ phong kiến, nghĩa là đặc biệt chú trọng chọn lựa đề tài Chỉ những đề tài được xem là cao quý mới được dùng làm đối tượng thị hiếu Tất nhiên sự phân biệt đề tài này một phần là để dựng xây phong thái đỉnh đạc, tình ý cao
Trang 20cả, cái đẹp kỳ vỹ, to tác Với Ngân Giang, người vẫn hay nói đến cái gì tột bậc, phi phàm, đáng khâm phục; hay những gì cao trọng, quyền tước Nữ sĩ hay dùng từ “điện ngọc” Cái tôi ấy, có thể nói rằng luôn muốn chinh ngự giữa vườn trời cao quý
“Ngời sáng cung quỳnh muôn ánh ngọc
Vua cha chính ngự trước ngai vàng
……
Một cặp rồng thiên chầu chín bệ
Vang lừng điện ngọc khúc sinh ca” (Mấy nét mơ)
Như đã trình bày vừa rồi về thị hiếu và sự biểu hiện cái tôi mang màu sắc cổ điển nơi Ngân Giang, thì vấn đề tiếp theo, thiết nghĩ, là đi sâu hơn, hầu truy nguyên tìm hiểu những quan điểm thẩm mỹ của cái tôi cổ điển ấy Nói khác đi, chính là bàn tới cốt khí của cái tôi cổ điển nơi Ngân Giang
Có thể cô đọng cốt khí nơi nữ sĩ họ Đỗ bằng cụm từ “Cao - cổ - hùng - đạm -nhã - hậu”{107} Trong đó, cao : thanh tao, cao khoát; cổ : cổ kính; Hùng : hùng hồn, bi tráng, bi thiết, tột bậc; Đạm : bình đạm, giản dị, thanh tịnh; Nhã : Uyển chuyển, từ tốn lịch lãm, đường hoàng, không dung tục; Hậu : trung hậu,
ôn hòa, đôn hậu, trung dung Với CAO, thơ người thực đài các, hồn người lộng gió Với CỔ hồn người thanh u, trịnh trọng Nét HÙNG dậy những luồng khí hào sảng, khảng khái, hiên ngang Vẻ ĐẠM giữ cho tranh thơ chân xác không cầu kỳ mà quyến rũ toàn thịnh Điệu NHÃ nuôi nấng thần khí cao khoát và cổ trọng, phô vẻ thư thái mềm mại, linh hoạt cho hồn thơ HẬU giữ cương cho ngựa lòng khoan hòa Sắc thái ấy với Ngân Giang thực đã giữ được toàn vẹn cốt cách thần tình, khoan thai, lịch lãm
“Hương gây thương nhớ bừng hoa cỏ
Men lắng tâm tình rộn trúc tơ;
Phơi phới mưa trăng dồn ước hẹn
Mênh mang cồn cát mấy trông chờ” (Không đề II)
Người đọc lại bắt gặp con đường mòn rêu cỏ nối dài “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo / Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” Ngân Giang thực giữ được cốt khí ôn nhu, cổ kính, với ngoại vật nhuốm màu thời gian bằng “Phong Kiều hoa
Trang 21rụng trời như lạnh / Xích Bích đò nghiêng liễu chớm vàng, / Mặt nước chân cầu trăng tịch mịch / Mái chèo nhịp phú khách đa mang” (Thu hoài)
Với tình bạn, nữ sĩ càng biểu hiện cốt cách nho phong tài tử Người thơ hoài mong tri kỷ tương phùng, say sưa bên chung trà, chén rượu; ngã nghiêng cùng nhau bên thú vui cầm kỳ thi họa Cái tôi vì thế mang dáng dấp tài hoa rất mực Cốt cách ấy cũng là sự biểu hiện cho sắc thái cổ điển Há chẳng phải là chữ CAO trong thơ !“Rượu thơm vẫn ngát tình tri kỷ / Tranh đẹp còn say ý cổ nhân; / Nếu nghĩ văn chương không lận đận / Thì sao trời đất lại phong trần ?”
là thế
2.1.2 Cái tôi lãng mạn – sầu muộn
Chủ nghĩa tình cảm cùng với chủ nghĩa lãng mạn ra đời với tư cách đầu tiên là sự phản kháng lại cuộc phong tỏa của chủ nghĩa cổ điển trước đó Như ở Pháp, nếu văn học đã bị ràng buộc dưới ánh sáng lí trí quá lâu của những nhà
cổ điển thì văn học lãng mạn phát biểu bằng cảm xúc trữ tình, nên nó trở thành
sự báng bổ đối với tiền nhân nhưng ngược lại là nguồn nước tưới mát hồn trẻ vốn bị chay cứng do mối riềng cổ điển Văn học cổ điển hạ thấp cái tôi thì văn học lãng mạn suy tôn cái tôi, đề cao bản ngã Văn học cổ điển đề cao cổ đại, có tính sùng cổ, thì văn học lãng mạn hướng vào lịch sử dân tộc, lấy cảm hứng ở văn học dân gian cũng như thời đại nhà văn sống Văn học cổ điển đề ra đủ thứ quy tắc buộc phải tuân theo, còn chủ nghĩa lãng mạn không bị gò bó bởi bất cứ quy tắc nào, ngoài kỷ luật bên trong của bản thân nghệ thuật Chủ nghĩa lãng mạn ra đời thì sự tranh luận về nó cũng nổ ra theo, ở Nga Pushkin ghi nhận
“những tranh cãi nóng hổi về chủ nghĩa lãng mạn Tranh cãi thì nhiều mà làm sáng tỏ vấn đề thì chẳng được bao nhiêu”{74} Trong đó, giới nghiên cứu cũng phân biệt hai khuynh hướng lãng mạn: tích cực và tiêu cực Theo M.Gorky thì lãng mạn tích cực nhằm chấn khởi ý chí con người, thức tỉnh lòng phản kháng
Và theo LeNin lãng mạn tiêu cực hoặc đưa con người “thoả hiệp với thực tại, hoặc tô vẽ thực tại hoặc mang con người ra khỏi thực tại để đi sâu vào thế giới nội tâm với những ý tưởng về những bí ẩn thiên định về cuộc đời, về ái tình, về cái chết” {41} Tuy nhiên, dù là lãng mạn tích cực hay tiêu cực vẫn có những nét chung về tư duy nghệ thuật làm nên khuynh hướng lãng mạn Mặc dầu
Trang 22không có sự thống nhất về tư tưởng, và cái chung này không loại trừ sắc thái riêng của những yếu tố cấu thành nên chúng Nhìn chung đặc trưng của chủ nghĩa lạng mạn thể hiện ở chủ nghĩa cá nhân, ở nguyên tắc chủ quan của sự thể hiện, ở xu hướng thiên về mơ mộng, đặt ưu tiên vào tính lý tưởng, vào cảm xúc Nguyên lý chủ quan trong chủ nghĩa lãng mạn là nhằm lý tưởng hóa hiện thực tinh thần hầu đối lập với hiện thực, khác với lối lý tưởng hoá các nhân vật như trong văn học dân gian và văn học thượng kỳ Trung Đại Ở Ngân Giang, cái tôi lãng mạn hay mộng mơ hài hoà rất mực với màu sắc cổ điển Chính điều này cho thấy sự tiếp nối dòng chảy thơ ca dân tộc trong công cuộc hiện đại hoá văn học Ngân Giang là một minh chứng cho điều này
a Có thể thấy một hồn thơ mâu thuẫn gay gắt với thực tại, cái tôi lãng mạn là cái tôi chủ quan vượt ra khỏi những khuôn khổ cứng nhắc, không tuân theo những quy luật gò bó, giải phóng trí tưởng tượng cảm xúc, giải phóng cá tính sáng tạo, chúng ta đang nói về Ngân Giang Nhà phê bình Biêlinsky cho rằng tính cách trong chủ nghĩa lãng mạn tích cực không có logic với thực tại khách quan, mà chuyển biến theo ảo tưởng chủ quan của nhà văn, thể hiện đúng nguyên tắc tổng quan của chủ nghĩa lãng mạn là lấy “tâm hồn và trái tim làm cơ sở để nói lên những nguyện vọng không rõ rệt, muốn tiến tới một cái gì tốt đẹp hơn, cao cả hơn, tìm cách tự thoả mãn bằng những lý tưởng chỉ có trong trí tưởng tượng”{23} Chính vậy nên thời đại của cái tôi lãng mạn là “thời đại
mà mỗi con người tự cảm thấy mình là những cá nhân cô đơn, lạc lõng bơ vơ đang đi tìm vị trí của mình Đó là thời đại của buồn rầu, chán nản, mộng mơ, đợi chờ, mong mỏi, vô định” Điều này có thể tìm thấy rõ nét nơi cái tôi của nữ
sĩ Ngân Giang
“Chiều nay lặng lẽ ngắm trời xa
Một cánh chim bay dưới bóng tà
Mấy tiếng chuông chiều rơi lạnh lạnh
Đường trần chán nản chí bôn ba” (Chiều nay)
Sự đối lập giữa thực tại phũ phàng với những ước mơ cao đẹp đã trở thành một vấn đề lớn Nhà thơ như muốn thoát khỏi mảnh đất trần thế để tìm mộng tưởng ở chốn khác Cái tôi bị phân cực gay gắt giữa lý tưởng cao đẹp, tự
Trang 23do đầy mộng tưởng với thực tại tầm thường, bất công, tăm tối Kẻ thù của họ là
lý trí thực tại tầm thường, tâm hồn giá lạnh, vô cảm, là sự thoả mãn với thực trạng, an phận Nhiều bài thơ cho thấy sự uất hận với cuộc đời Nên “Đời lắm gian nan thôi oán hận / Kiếp nhiều ly biệt thấy bơ vơ” (Vọng tưởng)
Không gian khơi gợi nỗi buồn xa xôi ở thi nhân thường là những buổi hoàng hôn Ta bắt gặp rất nhiều trong thơ Ngân Giang khung cảnh buồn rầu héo hắt, tàn phai của những buổi chiều, những ngày mưa, những đêm trăng và
cả những khi một mình đối diện với chính lòng mình Hầu như toàn bộ những sáng tác của bà đều mang nỗi sầu xa xôi, cảm giác lạnh lẽo, cô đơn, tan vỡ.“Bên trời bầy én lưa thưa / Mây chiều bát ngát…mơ hồ…xa xôi” là thế ! (Chiều thu)
Nỗi buồn rầu triền miên này cũng là cảm hứng chủ đạo của các nhà thơ Mới giai đoạn 1932-1945 Nhà thơ luôn sống trong trạng thái bị đày ải, bị bỏ rơi, cô đơn, những kẻ lang thang, du tử, tạm bợ, dang dở, lỡ làng Nhưng đồng thời nhà thơ lại ngỡ chính lòng mình mà đón nhận tất cả, lắng nghe tất cả để tự làm khổ mình Không phải lạ lùng khi Xuân Diệu - một nhà thơ khát khao yêu, khát khao sống, yêu thiết tha cuộc đời cũng buông ra những lời chán nản, lẻ loi : “Tôi là con nai bị chiều đánh lưới / Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối” Xuyên suốt trong sáng tác của Ngân Giang là một nỗi “mang mang thiên
cổ sầu” Chính nỗi buồn ấy là cảm hứng cho thi sĩ sáng tạo nghệ thuật Cuộc đời thực vốn không như giấc mơ nên nhà thơ tự giải thoát cho tâm hồn mình được bay cao, bay xa đến cõi vọng tưởng
“Ước như bóng trăng lồng nước biếc
Ước như mây bay quện non lam”
(Chức cẩm hồi văn của nàng Tô Huệ)
Việc tìm về quá khứ vàng son khơi gợi lại thời xuân sắc cũng thể hiện ước mơ của nhà thơ Người không muốn chấp nhận thực tế phũ phàng trong hiện tại, chỉ muốn sống lại khoảng trời của quá khứ để giải thoát cho tâm hồn đang rỉ máu Chung quy, việc tìm về quá khứ là bất mãn với hiện tại, sự thất vọng sâu sắc, nỗi chán chường trước thế giới không lối thoát Lý tưởng không thực hiện được tạo thành vết nứt toác trong tim nhà thơ:
Trang 24“Sự nghiệp chưa thành thân lận đận
Tình nhà buộc mãi chí bôn ba
Nét thơ chưa ráo dòng ly hận
Đã vội sang mùa cúc nở hoa !” (Thôn lạ đêm trăng)
Để “Núi sông mãi phụ đời thư kiếm
Sầu khó tan mà hận khó vơi” (Bản đàn thân thế)
Từ những thực tế cho thấy việc các nhà thơ lãng mạn đề cao ước mộng cũng là dễ hiểu Chỉ có mộng tưởng mới có thể giải thoát được tâm hồn nhạy cảm, thiết tha, rạo rực với đời Bắt nguồn từ đó chuẩn thẩm mỹ của cái tôi lãng mạn thích những cái đẹp thoáng qua, hư ảo, không cố định và khó nắm bắt như:
“Trăng ngả màu tơ
Đêm lặng như tờ
Mái tây thao thức
Khói trầm uốn thơ” (Nhạc xưa)
Và thi sĩ thích tiếng nhạc, có lẽ vì âm nhạc là nghệ thuật của mơ hồ, khó nắm bắt nhất trong các nghệ thuật Nhà thơ tìm đến âm nhạc để trang trải tâm
sự lòng mình Với thơ, Ngân Giang luôn luôn bắt gặp trạng thái đối lập toàn diện giữa thực tại đắng cay và tâm hồn chất ngất Đó chính là bi kịch cuộc đời, đồng thời cũng là động lực trong sáng tạo nghệ thuật của bà
b Đó còn là một hồn thơ ý thức cao độ về tinh thần sáng tạo Có thể nói cái tôi lãng mạn đặc trưng nhất bởi sự thể hiện hay chú ý lắng nghe chính lòng mình và nó gần gũi với khuynh hướng tỏ chí trong thơ ca trung đại là vì vậy Được thể hiện rõ nhất ở Ngân Giang, thơ luôn đề cao cá tính sáng tạo và vai trò chủ đạo của nhà thơ Nhà thơ chú ý quan sát chính lòng mình như một đối tượng và đi sâu vào để tìm hiểu, khám phá chiều sâu nội tâm của mình Điều này khẳng định sự khác biệt giữa người này với người kia và khẳng định đặc sắc nghệ thuật của thi sĩ Có thể nói “thơ lãng mạn là thơ của tâm hồn, một tâm hồn đã giải phóng khỏi mọi quy phạm, giáo huấn, rất đỗi thành thực, tự bộc lộ mình mà không cần một ước lệ nào Đồng thời thơ lãng mạn là thơ lấy tâm hồn mình làm trung tâm, không chấp nhận cõi thực tầm thường, bằng phẳng, nhạt nhẽo, vô cảm Nó tự vượt lên bằng tưởng tượng khác thường, bằng mộng ảo,
Trang 25hoài niệm hoặc mỹ hoá phong tục, phong cảnh, …Chỉ để nhằm một mục đích
là tự khẳng định chất người của mình, sự tự do tâm hồn mình Ngân Giang khát
tự do Thơ bà vừa mạnh mẽ, kiêu hãnh, vừa yếu đuối, bơ vơ, buồn rầu, cô đơn
và hợp thành “dãy phố tình cảm cực kỳ phong phú”, tinh tế phức tạp
Nhà thơ luôn là người tự làm chủ, tự ý thức về tài năng, trách nhiệm của mình với nghệ thuật Việc đề cao cá tính sáng tạo chính là động lực thúc đẩy sáng tác của nữ sĩ Đồng thời là quá trình thi sĩ tự ý thức tài năng của chính mình Ngân Giang không ít lần nói về điều này: “Ở đây không lợi không danh /
Mà người đồng điệu say tình văn chương” (Soi gương)
Thi sĩ ý thức được tài năng của mình và có trách nhiệm với ngòi bút Đối với bà việc sáng tác không phải là thích hay không thích Sáng tác văn chương, đó là sự nghiệp của cuộc đời thi nhân Giống như Ngân Giang đã từng bảo : “kiếp trước tôi là võ tướng, vì giết nhầm một văn nhân nên kiếp này phải làm thi sĩ để trả nghiệp Và bởi vì là nghiệp chướng nên cái nợ văn chương cứ đeo đuổi mãi” Ngân Giang hiểu lắm cái giá phải trả khi sống đời thi nhân trần thế nên gửi gắm “Câu chuyện văn chương dài vạn thưở / Đã đem thân thế gửi vào thơ / Kể làm chi nữa, sầu chi nữa” (Ân tình) Có những lúc nhà thơ tự ý thức về đời mình và thầm khóc với lòng:
“Tháng năm hồ bể cách vời
Tình non nước vẫn sáng ngời với thơ
Giấy đời chép mãi cay chua
Ga đời thôi mấy tiễn đưa ngại ngần” (Đò Chiều)
Như vậy có thể thấy trong văn học lãng mạn, việc đề cao cá tính sáng tạo và vai trò chủ quan của nhà văn thể hiện rất rõ nét và là tính cố hữu của cái tôi lãng mạn Với cuộc đời khắc nghiệt, phũ phàng, hồn thơ Ngân Giang luôn giữ mình thanh sạch Người thơ không để cho những bụi bặm nẻo đời làm quả tim chết cứng
Trang 26số quan điểm về cảm hứng sáng tạo coi như việc xác định đối tượng và phạm vi nội hàm của thuật ngữ
Đặc biệt với mỹ học Tây phương, Hégel bàn nhiều về cảm hứng sáng tạo Theo ông “lí do dẫn đến sự sáng tạo có thể là hoàn toàn do từ bên ngoài, và yêu cầu duy nhất quan trọng với nghệ sĩ tóm lại chỉ là anh ta quan tâm nghiêm túc tới tài liệu này để cho đối tượng trở thành một cái gì sinh động trong tâm hồn anh ta, và lúc đó cảm hứng của nghệ sĩ tự nó sẽ đến và một nghệ sĩ dồi dào thực sự nhờ cái sức sống này sẽ tìm thấy hàng ngàn điều kích thích hoạt động
và cảm hứng, những kích thích mà người khác sẽ bỏ qua chẳng hề chú ý tới”{25} Ở đây, Hégel chú ý tới nguồn gốc và sự hình thành của cảm hứng sáng tạo Và Bielinsky cũng bàn thêm về vấn đề này Rằng “trong những tác phẩm thơ ca đích thực, tư tưởng không phải là một khái niệm trừu tượng, được diễn tả một cách giáo điều, mà nó tạo thành linh hồn tỏa vào trong tác phẩm như ánh sáng chiếu vào pha lê Tư tưởng trong sáng tạo thi ca, đó chính là cảm hứng Cảm hứng là sự tha thiết và nhiệt tình nồng cháy gợi lên bởi một tư tưởng nào đó” {108} Với nhận xét này, ông cho thấy rõ hơn sự tồn tại của cảm hứng như là gió đẩy thuyền trôi và ánh sáng chiếu vào pha lê hay chính là tư tưởng con người
Trở về thời cổ đại, dẫn theo lời của E.G.RUDNEVA, ông trình bày vấn
đề cảm hứng: “ngay các triết gia cổ Hy Lạp, và sau này là Hégel và Bielinsky đều đã dùng từ “cảm hứng” (Tiếng Hy Lạp cổ là pathos – một tình cảm sâu sắc, nồng nàn) để chỉ trạng thái phấn hứng cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất cuộc sống mà họ miêu tả Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt nguồn từ lí tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại”{74} Tuy nhiên với từng văn sĩ, mỗi trạng thái phấn chấn thần kinh mang khuynh hướng cũng tương đồng với tình huống kích thích cao độ của tâm lí (có thể tích cực hay tiêu cực, trung hòa hay thái quá) ở mỗi vấn đề và thời khắc nhất định lại dẫn đến những hệ quả khác nhau và điều này in dấu lên trang viết Tuy nhiên, trong văn nghiệp, mỗi văn sĩ lại trở về thường xuyên, bị tác động nhiều lần gây ra vài cảm hứng xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm và nó tạo nên cảm hứng chủ đạo
Trang 27Với lí luận văn học phương Đông, cụ thể là Việt Nam, Ngô Thì Nhậm nói rằng “tại tâm vi chí, phát ngôn vi thi” “Chí” ở đây có thể hiểu là đối tượng tài liệu, hay ngọn nguồn của cảm hứng đã được chủ thể hóa Lê Quý Đôn cũng đưa ra vài quan điểm về cảm hứng hay rung cảm thi ca, rằng trong lòng hễ có cảm xúc thật sự thì rung cảm nên lời Nguyễn Quýnh thì nói đến cái hứng trong thơ.“Người như sông biển, chữ như nước, gió thổi từ sông biển cho nên nước lay động thành gợn, thành sóng, thành ba đào Hứng chạm vào người ta cho nên chữ nổi dậy, không thể nín được mà sinh ra ở lòng, ngâm vịnh ngoài miệng, viết nên ở bút nghiên giấy mực Gió không bám vào chỗ nào nhất định, hứng cũng biến động, không ở yên, mỗi cái tuy ở hướng Đông Tây Nam Bắc
mà buột ra rất nhanh Người làm thơ không thể không có gió vậy”{70} Có thể thấy quan niệm này rất gần gũi với quan niệm của Bielinsky Hơn nữa, Nguyễn Quýnh còn chú trọng đến sự linh hoạt, bén nhạy của cảm hứng và tầm quan trọng của nó trong sáng tác thi ca
Đến thời kỳ hiện đại, ở Việt Nam cũng có nhiều nhà nghiên cứu bàn thêm về cảm hứng sáng tạo Theo Huỳnh Như Phương, “cảm hứng chủ đạo thấm nhuần vào toàn bộ cấu trúc của tác phẩm, vào thế giới hình tượng, bao gồm không gian, thời gian, tính cách nhân vật, vào xung đột và cốt truyện, vào ngôn từ và giọng điệu của bài thơ, một truyện ngắn, một thiên tùy bút hay một cuốn tiểu thuyết”{22} Vậy là ông đã nhấn mạnh đến cảm hứng chủ đạo và phạm vi dấu ấn của nó trong cơ thể tác phẩm
Chung quy, việc điểm qua các quan niệm về thuật ngữ góp phần định hướng và xác định bình diện thâm nhập của công trình trong vấn đề này Cụ thể, đó là xem xét những đối tượng tài liệu mà người nghệ sĩ (ở đây là Ngân Giang) quan tâm, cũng có nghĩa là tìm hiểu “con gió” mà Nguyễn Quýnh với sức mạnh, độ dài, trạng thái của nó đã xoay ánh nhìn của nữ sĩ Hướng Dương
về phương nào Thứ hai, làm rõ sự biểu hiện của cảm hứng sáng tạo hay phạm
vi dấu ấn mà cảm hứng ấy gây nên trong thi ca Ngân Giang Tất nhiên, vấn đề chỉ xoay quanh và đi sâu những cảm hứng chủ đạo, có tác động quan trọng đến thế giới nghệ thuật thơ Ngân Giang
Trang 282.2.1 Với ái tình dang dở
Khó mà nói được tại sao văn chương lại bén duyên với tình yêu lâu bền đến thế Đã trải qua không biết bao nhiêu chuyến ngược xuôi, trăng khuyết lại tròn, cuộc thế bể dâu sao dời vật đổi, vậy mà tình yêu càng bắt rễ sâu hơn vào đất thơ và ngày càng lan rộng Không biết bao nhiêu ngòi bút đã viết về tình yêu với muôn ngàn sắc thái, nhưng tưởng chừng vẫn chưa nói được gì về ái tình trong thiên hạ Ronsard ở phương Tây, ở Việt Nam có Xuân Diệu, đều cống hiến một đời cho thơ tình Hàn có tình yêu quằn quại, Bích có mối tình rung bật sắc nước Cây ái tình ấy dường như chất ngất chẳng thể nào leo đến tận cùng Vũ Hoàng Chương cứ ôm ắp mối tình đê mê cuồng dại Thi sĩ thời ấy hay yêu lắm mà hễ yêu là họ quên lối về Như Huy Cận ở cái buổi e ấp ban đầu, chẳng biết đi trên lối nào mà nơi ấy chỉ ánh lên một chặng đường thơm, có
lẽ bởi cõi lòng vốn “giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng” Riêng nữ sĩ Ngân Giang giữ cõi lòng tàn phai hầu tôn thờ mối tình úa nhạt
Hầu như nguồn mạch chủ yếu trong sáng tác của nhà thơ vẫn là những mối tình dang dở, bất hạnh Thi sĩ Nguyễn Vỹ viết: “Không giống như Mộng Sơn, Anh Thơ, Ngân Giang nữ sĩ sống rất nhiều về tình yêu Nhưng chẳng bao giờ nàng có được hạnh phúc với tình yêu cả…” Ngân Giang vẫn yêu, vẫn trải lòng mình với nỗi nhớ niềm thương suốt cả cuộc đời Có gì buồn hơn, đau khổ hơn khi yêu thương mong mỏi mà không thể kiếm tìm san sẻ: “Đêm nay thôi
đã bao đêm / Ai trao thương nhớ cho mềm con tim / Thương không thể đến thể tìm / Nhớ không thể ruổi cánh chim cuối trời” (Đêm mưa quán vắng)
Mối cảm hoài về Tình yêu là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đời người và thi nghiệp Không giống như Xuân Diệu, hay cậu học trò trường Tây quen lối vội vàng :“Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai; / Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn, / Vừa xịch gối chăn mộng vàng tan biến / Dung nhan xê động, sắc đẹp tan tành” (Giục giã) Người phụ nữ dưới mái hiên Khổng Trình vọng ngóng trời xa
mà theo đó thước cảm ái tình trong thơ nàng thường trầm tư, sâu lắng tạo nên một cảm giác chừng như nghiêng mình trước gờ vực thẳm sâu hút mắt Đó cũng là vực tình, là chiều sâu thăm thẳm trong lòng người nghệ sĩ đa tình Dẫu yêu, dẫu nhớ, dẫu buồn nhưng không thể gọi thành tên, chỉ còn đó là nỗi đợi
Trang 29chờ mong mỏi, hoang vắng giá buốt nơi tâm hồn người phụ nữ khát khao yêu thương và đồng cảm
“Thế mà hai ngã, ngựa dặm trường rong ruổi lối trăng khuya
Để lại muôn thu, tình vạn thuở bâng khuâng mùa gió quạnh”
(Ngày về)
Ở đây, rõ là cái thói nhớ xa xôi không chỉ của một ai, không chỉ của họ
Đỗ, cả họ Ngô cũng hay nhớ xa xôi Mà tưởng chừng như cả vườn thơ Mới đều phảng phất thứ mùi nhớ xa xôi ấy “Đã bao lúc màu hoa đem nhớ tới, / Biết nhớ ai, đành chỉ nhớ xa xôi” (Mời yêu) Chính niềm nhớ mông lung gây nỗi đợi lạnh lùng Chẳng tại sao nhưng chỉ nhớ vậy thôi Chỉ mong ngóng mãi hình hài sương khói Ngân Giang khắc khoải mối tình xa suốt cả cuộc đời Không ít lần nàng chạnh ngắm “vầng trăng ai xẻ làm đôi”, nhưng thói lòng sao nhiều lần bất hạnh lại càng vững tấc dạ chờ Chẳng khác nào hướng mắt ngóng tìm nơi chân trời biển cả mênh mông Mà hễ mắt rưng rưng thì trái tim nàng buốt lạnh hoang vắng, cô đơn Có lúc nàng sợ một mình đối diện với đêm khuya, đối diện với chính lòng mình Không gian, thời gian giống như sợi giây vô hình làm tim nàng tan nát, rạn vỡ và cô quạnh
“Chiều nay gió nổi lạnh sao
Tiếng thu nghe đã sạc sào khắp nơi
Đừng rơi ! Đừng rơi ! Lá ơi !
Có ai góc biển chân trời nhớ nhau” (Mấy nét đơn sơ)
Có nỗi buồn âm ỉ ngấm cô lẻ Tay hi vọng chồm níu giữa bạc sóng tuyệt vọng biển ái tình; có nỗi nhớ trong sự quên và có cả sự dằn vặt giữa lý trí sáng suốt và con tim đam mê “Dằng vặc thời gian thơ thẩn nhớ / Võ vàng hình ảnh hững hờ quên” (Quên …nhớ) Dường như tất cả đều xuất phát từ cảm hứng dở dang, phũ phàng, cô đơn lạc lỏng giữa cuộc đời của một nữ sĩ tài hoa nhưng bạc phận Tình yêu trong thơ Ngân Giang không có bến đỗ, không có bờ tình, ngay cả “lòng người ấy” cũng luôn là một hoài nghi xa xôi trong thơ người
“Chốn ấy tờ hoa đành lẻ ý
Mùa này chim nhạn có chung đôi
Thương thay trên quãng đường chia ngã
Trang 30Thì ngã nào không có lá rơi” (Khi gió heo may về)
Xuyên suốt toàn bộ sáng tác của Ngân Giang đều gắn liền với cảm hứng tình yêu dang dở và nỗi buồn cô liêu trong chiều ảm đạm
2.2.2 Với thế sự thăng trầm, thân thế mỏng manh
“Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân
Du du bỉ thương hề thùy tạo nhân » (Đặng Trần Côn)
Ngân Giang đứng giữa thiên địa cũng mang theo cảm thiết ấy
“Thiên thu một tiếng thở dài
Lỡ vương lấy chuyện sắc tài vào thân,
Nước non biết mấy phong trần
Hoa hương biết mấy ái ân lạc loài !” (Dọn nhà mới)
Cuộc trời đất thương hải tang điền, bức vân cẩu thoáng chốc rã tan Gốc hòe mộng phút bỗng lụi tàn Kẻ sĩ trong thiên hạ xưa nay đều tỏ lòng chua xót cho gánh tình oằn nặng trên vai Tài và tai ở hai bên đầu gánh Xem ra bậc tài danh muôn đời cứ không sao dứt khỏi mối nợ tài mệnh tương phương Nguyễn
Du khóc Kiều Bước tiếp mối sầu ấy, Ngân Giang càng chua chát nhiều hơn với nợ tài danh Đa mang thêm kiếp hồng nhan, nữ sĩ càng trải nghiệp giữa chốn bọt bèo Má phấn thường mệnh bạc Sóng Tiền Đường vỗ dưới quần hoa Tất cả hãy còn rành rõ giữa đồng thơ
Hãy còn nhớ buổi xuân xanh, Ngân Giang tiếp thu Hán học Bà lại giỏi đàn và có lần hầu đàn cho cựu hoàng Bảo Đại, còn điêu luyện các món kỳ tửu
Nợ trần ai nào có tha người tài hoa đến thế ! Kiếp tài mệnh gieo vào người thơ
và gieo vào đồng thơ Nguyễn Du viết : “Thương thay cũng một kiếp người / Hại thay mang lấy sắc tài làm chi” Và Ngân Giang viết : “Một đời tài tử trong lao khổ” Người thơ mang hoài một niềm chua xót cho tài mệnh vướng thân để sóng cuồng vùi dập mày hoa Nữ sĩ suy ngẫm nhiều về tài mệnh với lòng cay xót
“Chữ tài chữ mệnh khó chung đôi
Mệnh bạc, nhưng tài lộng khắp nơi
Tài ngỡ bóng trăng lồng bóng nước
Trang 31Mệnh như hoa giạt vướng hoa trôi” (Thiên cổ hận)
Đa mang kiếp tài hoa ấy rồi, người thơ lại rất hay đắn đo về thân thế của mình Bể trần chìm nổi, nhìn dòng đời dời chuyển há kẻ sĩ chẳng xót lòng với chút phận mỏng manh Xưa nay không ít tiếng thở dài chuyện phù sinh là do thế ! Ngân Giang càng ý thức về tài hoa bấy nhiêu thì có bấy nhiêu ngậm ngùi, nhất là khi thấy mây bay ngang đầu thì người thơ lại càng thêm suy ngẫm về đời người Quả tim người vì thế cứ ngấn buồn “Ở đây như vắng tình tri ngộ / Một kiếp hồng nhan mấy xót xa” (Không đề V) Và :
“Mỗi bước chân đi mỗi bước sầu,
Trăm năm thân thế gửi về đâu ?” (Hoài cảm II)
Rồi người lại bâng khuâng nghĩ đến lúc tiêu tan cùng sương khói, ắt có cảnh tình nhớ người mà xao xuyến Không như Nguyễn Du than thở “Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như !”, Ngân Giang tin:
“Nắng chiều soi nhạt chiều hoang phế / Sông núi bâng khuâng nhớ một người” (Dư âm dư ảnh) Ý thức được kiếp sống phù vân trôi dạt khắp nong trời bao la,
nữ sĩ muốn sống thật trọn vẹn, muốn giong đuốc chơi cả trời đêm Đặc biệt với tri âm càng hết lòng Người vẫn hay tâm sự
“Phong trần đến thế thì thôi
Hẹn gì góc biển chân trời nhớ nhau !
Rượu ngon dù có lưng bầu
Uống đi, uống nữa vơi sầu thiên thu
Trăm năm một bước sông hồ
Nghìn năm chẳng thấy bến bờ người ơi !” (Góc biển bên trời)
Chuyện trần ai đã vậy, nàng còn hẵn món nợ hồng nhan Có lẽ vậy mà Ngân Giang thường dành nhiều xúc cảm cho những bậc khuynh nước khuynh thành Bà nghĩ nhiều về lẽ hồng nhan bạc phận Bởi “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” nên: “Vàng tan đá nát đôi dòng lệ / Lũy đổ thành nghiêng một
nụ cười; / Tây Tử về Ngô thân chẳng vẹn / Vương Tường nhớ Hán thuở nào nguôi ! / Nếu không tài, không sắc không mang hận / Hôm sớm bâng khuâng chuyện sắc tài ” (Thiên cổ hận) Kiếp hồng nhan vốn cảnh éo le vậy mà người đời lại quá bội bạc Lẽ vàng thau như gió rét gợn nét thu ba nơi khóe
Trang 32hạnh Tình người buổi trở mình cũng ráo hoảnh như mặt đồng Ngay cả mặt sắt cũng chẳng ngây vì tình Nhựa đời đà cạn kiệt lắm
Năm xu vất trả quay đi”
(Từ đấy tôi mang hình ảnh
Trang 332.2.3 Với đời tư bẽ bàng
Đồng hành cùng cảm hứng về tình yêu thì cảm hứng đời tư cũng là một mạch nguồn xuyên suốt trong thơ Ngân Giang Ngay từ những bài thơ đầu tiên đã bộc lộ những nét riêng rất đời thường của nữ sĩ được đưa vào thơ một cách tự nhiên và chân thật
“Con lên hai, mẹ hai mươi
Ngơ ngác buồn tênh giữa cuộc đời
Gió táp, sương lầm ôi lạnh
Đường về biết sẽ hỏi thăm ai ?” (Đường về)
Đối với Ngân Giang thơ ca cũng chính là cuộc đời và cuộc đời cũng chính
là thơ ca Bởi vậy khi làm thơ bà dành nhiều trân trọng, vì đó cũng là cuộc đời của
bà Nhà thơ tự trần thuật về cuộc đời hồng nhan bạc phận của mình Nhà thơ tự thương xót cho cuộc đời của mình Lời thơ nghe như tiếng khóc uất hận, nghẹn ngào Dường như cuộc đời cố tình trêu đùa người nữ sĩ tài hoa này
“Đã mấy lần rồi tội nghiệp không
Chia cau hàng xóm nàng theo chồng
Nhưng ôi, số phận con người ấy
Một đóa mai đào giữa ác phong” (Hình ảnh)
Bởi tự ý thức về cuộc đời mình, tự ý thức về số phận của mình nên những dòng thơ Ngân Giang luôn mang cho ta cảm giác chua chát xót xa về cuộc sống Không phải hoàn toàn là sự mơ hồ phóng đại Với Ngân Giang thơ ca chính là cuộc đời và là sự trải nghiệm sâu sắc của chính bà về cuộc đời Có những câu thơ người thể hiện những nỗi đau khổ, bất hạnh thực sự trong cuộc sống đời thường Nỗi “cơm áo không đùa với khách thơ” khiến thi nhân luôn đối mặt với nỗi đau Gạo tiền khiến nhà thơ phải thốt lên bất lực: “Mẹ theo chồng môi cười như mếu / Con nhớ cha xưa khóc ngỡ đùa / Mẹ con ngơ ngác lặng nhìn nhau / Khung thêu chỉ hết, tiền không có / Giường mọt nan thưa ruột nuỗng rầu” (Cùng đường)
Nói lên những cùng quẫn, bế tắc đang diễn ra trong cuộc đời mình, Ngân Giang tâm tình những cảnh éo le, với giọng điệu mỉa mai chua chát Bên cạnh
Trang 34những cảm xúc chán cường, bế tắc với cuộc sống hiện tại vẫn còn bắt gặp trong thơ người một nỗi tuyệt vọng về cuộc đời Văn chương đối với người là lẽ sống, là cuộc đời và còn là sự giải thoát cho một tâm hồn thiết tha nhạy cảm Thế nhưng có những lúc thi nhân cũng tự cảm thấy chán ngán và muốn vất bỏ đi sự nghiệp của đời mình “Trước đã xé tan bao nhật ký / Nay kiêng không chép lại lời thơ / Thôi
ai dù biết qua tâm sự / Cũng chớ cười tôi sống hững hờ”
“Nàng” đã toan bỏ văn chương để trở về với cuộc sống thường tình Nhưng khổ nỗi văn chương đã trở thành cái nghiệp của đời bà, mà đã là cái nghiệp thì đâu
dễ dàng vất bỏ được Nhưng cuộc đời lại vốn không công bằng với nữ sĩ Nhà thơ càng cố gắng cống hiến cho sự nghiệp văn chương bao nhiêu thì cuộc đời người càng bế tắc và bất hạnh Người bị bỏ rơi giữa cuộc đời rộng lớn Chính vì thế nên trong toàn bộ sáng tác của Ngân Giang ta luôn bắt gặp nỗi buồn da diết, một nỗi buồn bàng bạc như dàn trải khắp trong những trang thơ Những câu thơ viết về đời
tư của Ngân Giang thường là những câu thơ vô cùng bi quẫn và bế tắc
“Hỡi ơi ! Sinh kế từ muôn thuở
Buộc chết nhân tài đến thế ư ?” (Thân thế)
Ngân Giang là nữ sĩ duy nhất của thơ Mới viết bằng thể Đường luật một cách thành công Nàng sáng tác văn chương bằng tất cả kinh nghiệm sống và cuộc đời vốn có của mình Không thêm bớt, không phô trương nhưng có thể thấy văn chương của người không mất đi cái vẻ quý phái sang trọng của Đường thi, cũng không mất đi cái gam màu cổ trọng điển hình trong văn học Trung đại Chính bởi vậy nên thơ Ngân Giang luôn giữ được cái vẻ dịu dàng nữ tính Giọng thơ mềm mại uyển chuyển nhưng lại chân thật thiết tha Ấy là chỗ dễ thấy nơi vườn thơ Ngân Giang
Trang 35CHƯƠNG 3: ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NGÂN GIANG
3.1 CHIẾT QUANG THƠ NGÂN GIANG
Trước hết, chiết quang chỉ những vật hay việc làm cho các tia sáng chiết toả
ra, là một thuật ngữ của vật lí học nhưng đặc biệt mang tính hình tượng cho sự biểu hiện công việc phê bình Nói thêm rằng, pha lê là một chất chiết quang {54}
Paul Tuffrau cho rằng : Gaston Bachelard là một nhà tâm lí của tư duy khoa học, nhà siêu hình học; Ông cũng có nhiều hứng thú với những vấn đề của văn chương thể hiện qua sự học tập những bạn thơ siêu thực và là đồ đệ của S Freud Cũng chính ông đặt ra những vấn đề của “thần tứ” (nói như Lưu Hiệp) với sự hiện diện của bốn yếu tố truyền thống : Lửa, nước, khí và đất {43} Ở đây, tư chất thi
ca của một triết gia nơi G Bachelard đóng vai trò là viên pha lê chiết quang trong cuộc soi sáng vườn thơ Ngân Giang
Đặt vấn đề theo hướng phê bình chủ đề, chúng tôi rời khỏi địa hạt của những chủ đề theo lối phê bình cũ, nghĩa là những khái niệm trừu tượng xem như một chủ đề của việc phê phán Theo như ví dụ của ông Nguyễn Văn Trung: “tình cảm danh dự của Corneille, hay tài mệnh tương đố trong truyện Kiều, đó là một lối phê bình chủ đề… Trái lại trong phê bình chủ đề hiện đại, chủ đề không phải là tư tưởng, nhưng là sự kiện, sự vật, biến cố (không gian, thời gian, con đường, cái nhà, cái hố, vực sâu, ánh sáng hoặc một hình thể, đặc tính của những sự vật trên)”{93} Đây là lối phê bình của J P Richard, Paul Weber và G Poulet Thơ Mới bắt gặp Trăng - Nước trong thơ Hàn, Nước - Khí nơi Bích Khê, Thời Gian đối với Xuân Diệu Ở Ngân Giang, hồn thơ óng ánh sắc cổ điển thì vấn đề thi ca đặc biệt sáng tỏ với học thuyết của Théodor Lipps, hay thuyết chuyển cảm Tưởng như ông ta là một mảnh Đông Phương giữa trái tim Châu Âu Và rằng, lối phê bình chủ đề trong vườn thơ Ngân Giang cũng dựa lưng vào khoa phân tâm vật chất như chính ba cánh chim đầu đàn của lối phê bình này từng bị ảnh hưởng bởi Gaston Bachelard Tựu trung, vấn đề chiết quang thơ Ngân Giang xoay quanh lối phê bình chủ đề mà riềng mối xuất phát từ phương pháp phân tâm vật chất, cùng thuyết
Trang 36chuyển cảm biến cải, nghĩa là kết hợp và phát tiến cùng vấn đề ý hướng tính của hiện tượng luận thời kỳ E Husserl
Ngay từ những ngày đầu bước vào làng thơ, Ngân Giang để cho sương khuya, gió bụi và ám tối miệt mài tung hoành giữa “thể tính” {27} thi ca mình Buổi hồng hoang của “Giọt Lê Xuân” đã nhú rạng vài ngòi mầm đầu tiên dựng xây nên chốn hôn mị, li tan, hoang lạnh của nữ sĩ Hà thành Nếu Gaston Bachelard
có dịp đến viếng thăm vườn thơ Ngân Giang, ắt sẽ thấy lạnh và xa xôi, thể như cả biên ải trần thế dồn hết vào đây Hẳn ông sẽ thấy xao xác hơn cả cái heo may đầu đông, cõi lòng bỗng não nùng và tâm khảm hoang mang bởi sắc tối miên man của nàng thơ Đỗ Thị Rồi ông cả quyết : Tôi thấy cả dòng “khí” miên viễn luân chuyển vĩnh hằng; không bàng hoàng tung toé như Bích Khê nhưng da diết và sầu mơ hơn
độ Chung quy, cả sương khuya, gió bụi và ám tối nơi hồn thơ Ngân Giang đều phản ánh một dòng “khí” bền bỉ Có thể gọi “Khí” là nguyên mẫu tưởng tượng cho phát niệm thần tứ nơi hồn thơ Ngân Giang Nói như C Jung, “Khí” trở thành “tâm thức hệ chủ quản” {76} cho sự hình thành “thể tính” thơ ca “Khí” của Ngân Giang cũng có thể hiểu như Siêu tượng của C Jung Nghĩa là “siêu tượng nằm trong cái khuynh hướng tạo ra những ý tượng (motif) như thế chứ không phải chính những ý tượng ấy; ý tượng ấy có thể khác nhau rất nhiều về chi tiết, nhưng vẫn giữ ngưyên vẹn một ý chính yếu” {35} Quy nhất, “Khí” của Đỗ Thị là một siêu tượng vật chất
Với những tâm hồn nhạy cảm, thần trí dễ bị chi phối bởi những hoạt động thần tình của lãnh hạt vô thức Sự điều khiển vô hình mà nhiều khi ta cho đó thuộc
về những thế lực ngoại tại Ấy thế nhưng, đối với thi nhân lãng mạn, nghĩa là những kẻ hay mơ màng và nhạy cảm cao độ thì sự tác động bởi vô thức trong tâm khảm lại càng phát huy sức mạnh hơn bao giờ hết Điều này được phân tâm học lí giải rõ rệt Đặc biệt, học trò của Freud, “G Bachelard vận dụng phân tâm học cũng không theo hướng tính dục, mà chỉ theo hướng vô thức thuần tuý, nhưng lại
là loại vô thức bắt nguồn từ những trạng thái vật chất như nước, lửa, khí, trời, đất, đêm, gió, mưa, …”{50} Xét rõ thấy, các trạng thái vật chất ấy đều gắn bó mật
Trang 37thiết với sinh hoạt đời sống của con người và ít nhiều khắc ghi bằng những sự kiện thời thơ ấu, hay biểu hiện thức niệm sơ khai của nhân loại Đây chính là những thế lực hay ám tuợng đi lại thường xuyên trong thế giới nghệ thuật của văn bản tác phẩm, xét như một liên văn bản
Đã từng nói về buổi tiễn đưa trên sân ga cùng bác, Ngân Giang cảm tác nên đôi câu “Tàu về rồi tàu lại đi, / Khối đen đuổi ấy nhớ gì sân ga” Không gian li biệt dường như đã in sâu vào dáng thơ của người Rồi lúc 9 tuổi, Quế toan quyên sinh nhưng chưa dứt nghiệp Âu cũng là nỗi Phật pháp ám thị vào tư tưởng non trẻ của Quế Chuyện vô thường, trần ai còn khiến cô Hạnh Liên tự sát lần nữa vào một đêm mưa gió Cái đêm kinh hoàng tuyệt vọng ấy thường xuyên trở lại trong thơ
“G Bachelard cho rằng những thể nghiệm tiếp xúc ban đầu với thế giới vật chất đã
để lại ấn tựơng lâu dài trong thế giới vô thức và sẽ được bộc lộ trong suốt quá trình sáng tác của nhà văn Những rung động ban đầu do sự tiếp xúc đã gợi tình, gợi ảnh, hình thành dần những nguyên mẫu tưởng tượng (archetypes imaginaires) cho sự mơ màng trong suốt đời người” {50} Bachelard còn phát biểu: "Trong việc khảo sát hình ảnh, chỉ khi nào ta tìm ra được cái vật chất nào đã tạo ra nó, thì
ta mới có thể nói đến một học thuyết toàn diện về sự tưởng tượng của con người
Và khi đó ta mới thấy rằng hình ảnh là một thứ cỏ cây cần trời, cần đất, cần chất liệu và hình thái.”{114} Cái đêm tang tóc ấy chính là chất liệu và thể cốt cho những ý tượng thi ca sinh hoạt Đó là sương khuya - gió bụi - ám tối Chung quy,
ta có thể quy về trời hay khí “Khí” là siêu tượng, là tế bào gốc phái sinh nên thể tính thơ Và những “sương khuya”, “gió bụi”, “ám tối” là ý tượng của nguyên mẫu tâm thức kia Vừa rồi, chúng ta cùng xem xét nguồn gốc của những ám tượng nơi thơ Ngân Giang Sau nữa, điều cần thiết là quan sát sự hoạt động của chúng trong thơ bà
Với Sương, ta thường thấy trong hoàn cảnh sáng sớm, hay lúc xế chiều Đặc biệt, sương khuya thường gợi mở cho ta nhiều ý vị sâu xa Như chính Bachelard đã tâm sự “Đối với tôi, căn nhà đẹp nhất là căn nhà dưới trời sương tháng mười, nằm sâu trong lòng lũng nhỏ, bên bờ nước đọng, dưới bóng rũ của
Trang 38thủy liễu và miên liễu”{114} Phải chăng cái lạnh và sự mờ ảo hùa sức lay động những tưởng tượng Những suy niệm ấy cũng là thức nhận gắn liền với sự phát hiện cái tôi Mà sự thức nhận cần được tác động bởi cái lạ lùng Nghĩa là cái làm cho tâm trí ta đặc biệt chú ý, cái làm ta lo sợ, hãi hùng, thần tượng hay trốn tránh Tất cả điều đó là cơ chế cho những mơ tưởng lạ lùng của thức nhận in sâu vào vô thức Và lập tức vật liệu ấy vật chất hoá những mơ mộng của ta Không lạ gì khi câu chuyện bãi cát Sa Kỳ (dẫn theo Thuỵ Khuê), đặc biệt trở thành nguyên mẫu vật chất cho “Trăng” trong thơ Hàn Và Ngân Giang sợ hãi cái đêm mưa gió ấy, cái đêm lạnh lùng ấy và lập tức sương trở thành hình thể vật chất thường xuyên hiện diện trong thi ca Nhưng chẳng phải sương thôi ; Đó là Sương khuya, nghĩa là sương kia nhuộm đầy bóng tối Sương Khuya, tự nó đã bày biện một không-thời gian Có thể nói, đó là một ý tượng hoàn bị
“Để mộng đẹp toả mờ trong khói
Để bóng chiều theo dõi người đi
Chuông xa buông điệu từ bi
Gọi hồn đau giận vội về cửa không” (Một chiều)
Ngay cả trong vài câu thơ không nói gì đến sương nhưng bóng sương vẫn lẩn khuất, thấm nhuần với mộng đẹp, bóng chiều, tiếng chuông, hồn giận, cửa không Cũng dễ hiểu khi một tâm hồn lãng mạn tìm về với sương; mà lại là sương
mờ, bởi nỗi xa vắng mà sương gây ra Sương là nước ở dạng hơi Rõ ràng, trạng thái vật chất ấy thiên về thể khí, lại gắn bó với trời và không gian Vậy nên, cái siêu tượng đằng sau “sương khuya” chính là khí trời chứ không phải nước Những
ai có ám tượng thiên về “khí” thì cá tính cương tiết Điều này ắt cũng được biểu hiện rõ nét trong thơ và cuộc đời của bà Theo lời Bachelard, “Mơ của những người sầu não về đất Mơ của những người hay khạc nhổ, nhiều mũi rãi, về nước,
và những người nóng máu thường mơ bay bổng lên trời” {114} Từ đây, ta có thể phân biệt, siêu tượng khí của Bích Khê thiên về nước; siêu tượng khí của Ngân Giang thiên về đất
Trang 39“Chốn ấy tờ hoa đành lẻ ý
Mùa này chim nhạn có chung đôi ?
Thương thay trên quãng đường chia ngã
Thì ngã nào không có lá rơi” (Khi gió heo may về)
Và
“Không gian tơ, không gian tơ gợn sóng,
Âm thanh gì sắp sửa… Ngọc Kiều ơi!
Hay hơi thở của hoa hồng mơ mộng?
Hay buồn đêm rào rạt - ứ muôn nơi? (Mộng cầm ca, Bích Khê)
Về sương, ta thấy các dạng thức như : sương giăng mành, sương rỏ giọt, sương che lấp, sương mờ, sương quạnh, sương thấp thoáng, sương âm thầm, sương lẻn vào người, sương ải quan, sương u tối, sương dồn, sương heo hút… Tất
cả là sương trong thơ Ngân Giang Phải chú ý thêm rằng, sương khuya, gió bụi và
ám tối luôn hoà quyện với nhau Đó là trường liên tưởng bền chặt Chính đây là riềng mối vật chất cho tất cả mộng tưởng ở nữ sĩ Sương gây nhớ, khuya gợi thương Bởi sương thường mênh mông, bao hàm một không gian, làm thi nhân trở thành li khách và khiến lòng vọng ngóng cố hương Nỗi nhớ dậy từ đây Hương khuya lại nhuốm lạnh Khuya còn là trời, là trời đêm, đầy bóng tối, lại gầy dựng
cô đơn, quạnh quẽ Niềm thương cảm sâu xa xuất phát tự đây Thi nhân chợt thương người, thương mình, thương xa xôi; Một niềm thương vĩnh cửu, xót xa, thật khó nói hết trong vài lời Sương khuya là kết quả vật chất hoá của nỗi niềm dâu bể, là biểu hiện cho nỗi cô đơn
“Muốn chi ai phụ để ai yêu
Nửa mảnh trăng soi uổng diễm kiều !
Bóng ngã theo khuya vào tịch mịch
Đêm dài nghe lạnh xuống hoang liêu;” (Nửa mảnh trăng soi)
Nếu sương về mặt nào đó còn liên quan đến nước thì gió bụi chốn này thực
là ý tượng của Khí Đồng thơ Ngân Giang vì gió bụi mà heo hút hơn cả chốn giang
Trang 40hồ, bát ngát hơn phong đỉnh, tan tác hơn ải quan Đúng thực là bãi trần ai hoang lạnh Gió lại nhuộm mùa cho rừng phong Độ quan san khiến ruột gan tê tái Cũng
vì gió mà dẫu khi quay quần bên cộng đồng, lòng thi nhân vẫn thấy ớn lạnh khôn cùng
“Sống giữa tưng bừng thấy quạnh hiu,
Đâu rồi ? Hoa gấm buổi đào yêu ?
Những ai sánh bước trên đường mới,
Ngơ ngác tôi như én bạt chiều.” (Ốm)
Trước tiên, gió là yếu tượng làm nên trời “biên tái – khuê oán” Ở đây, chính Ngân Giang đã tiếp nối mạch hồn của “Chinh Phụ” và “Cung Oán” Đỗ Thị mãi mãi sống giữa lòng người đàn bà nửa đầu thế kỷ XX trong toàn cõi An Nam Nguyễn Bính trở lại với phong vị làng quê mà than thở cho số kiếp người đàn bà Ngân Giang quay về với thể cách Đường Thi mà bày biện bằng cái duyên kín đáo nỗi ai oán của người phụ nữ trong cảnh li loạn, phải sống bẽ bàng thuở ngày xanh
vì nỗi sông hồ, sống cô liêu vì ngăn cách Chỉ một nỗi “Gió”, nhưng gió vừa dựng xây cốt sắc cho khung cảnh, vừa chở che, dung dưỡng và nuôi nấng tất cả tấm chân tình của người phụ nữ Gió, vì thế, đã không ngừng xao xác, lùa về cõi thơ não nùng ấy Gió gửi về chốn quan ải mây giăng xám lạnh, đồng thời diễn tả một tiền giả định về nơi khuê phòng Chính vậy, gió liên kết hai không gian trực tiếp
và gián tiếp Chỉ vì gió mà cả hai không gian cùng hiện lên sinh động
“Heo hút quan hà lạnh cuối thu
Non xa mờ nhạt nhớ sông hồ,
Thơ trăm ý hướng mây Hoàng Hạc
Lòng mấy phương buồn gió Bích Ngô; (Mùa thương nhớ)
Tiếp nữa, gió bụi se sắt phà hơi lạnh giữa cõi khô hanh Gió thực là cái ý tượng sâu sắc, có thể phô bày phong cốt của quang cảnh thi ca Tuy không thể hoàn bị như ám tượng “sương khuya” nhưng lại độc đáo hơn phần Gió mang lấy trọng trách chuyên chở thần tình cho nhất thể toàn cục Vậy nên, gió tạo nên thần