1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thỉnh thế giới nghệ thuật thơ hữu thỉnh

119 10 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 783,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những bài viết nhận xét, đánh giá chung về thơ Hữu Thỉnh Hướng tiếp cận này có các bài viết của các tác giả Lý Hoài Thu, Lưu Khánh Thơ, Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Nguyên Tản… Xuất phát từ

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo

Tr-ờng đại học vinh

Nguyễn Văn Th-ờng

thỉnh thế giới nghệ thuật thơ hữu THỉNH

Chuyên ngành: Lý luận văn học Mã số : 60.22.32

Luận văn thạc sĩ ngữ văn

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học:

PGS.TS Mai H-ơng

Vinh - 2010

Trang 2

Lời cảm ơn

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã nhận đ-ợc sự

động viên, giúp đỡ tận tình của PGS.TS Mai H-ơng, các thầy cô trong khoa

Ngữ Văn, khoa Sau đại học tr-ờng Đại học Vinh cùng ng-ời thân, bạn bè

Đồng thời tôi cũng cảm ơn tới Tr-ờng THPT Sào Nam - Nam Đàn đã tạo mọi

điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành đ-ợc khóa học của mình Qua đây cho tôi

bày tỏ tấm lòng biết ơn chân thành nhất tới tất cả thầy cô, gia đình, ng-ời

thân, bạn bè và đồng ngiệp

Vinh, tháng 12,năm 2009

Trang 3

Môc lôc

Më ®Çu

5 Ph-¬ng ph¸p nghiªn cøu

6 CÊu tróc luËn v¨n

Ch-¬ng 1 C¸i t«i tr÷ t×nh trong th¬ H÷u ThØnh

1.1 VÒ kh¸i niÖm C¸i t«i tr÷ t×nh trong th¬

1.2 C¸i t«i tr÷ t×nh trong th¬ Hữu Thỉnh

1.2.1 C¸i t«i trữ t×nh - nhµ th¬

1.2.1.1 Cái tôi nhà thơ – người lính

1.2.1.2 Cái tôi suy tư trăn trở

1.2.1.3 Cái tôi – người tình đằm thắm, thủy chung

1.2.2 C¸i t«i tr÷ t×nh thÕ hÖ

1.2.3 C¸i t«i tr÷ t×nh nhËp vai

1.2.2.1 C¸i t«i tr÷ t×nh nhËp vai ng-êi lÝnh

1.2.2.2 C¸i t«i nhËp vai vµo ng-êi mÑ, ng-êi vî

Ch-¬ng 2 ThÕ giíi h×nh t-îng trong th¬ H÷u ThØnh

2.1 H×nh t-îng kh«ng gian nghệ thuật

2.1.1 Kh«ng gian nghệ thuật trong thơ

2.1.2.C¸c h×nh t-îng kh«ng gian nghÖ thuËt trong th¬ H÷u ThØnh

2.1.2.1 Kh«ng gian chiÕn tr-êng

2.1.2.2 Kh«ng gian quª nhµ

2.2 H×nh t-îng thêi gian nghÖ thuËt

2.2.1 Thêi gian nghÖ thuËt trong th¬

2.2.2 C¸c h×nh t-îng thêi gian nghÖ thuËt trong th¬ H÷u ThØnh

2.2.2.1 Thêi gian thiªn nhiªn 60

Trang 4

2.2.2.2 Thời gian lịch sử 62

2.2.2.3 Thời gian tâm lí 66

2.3 Hình t-ợng đời sống 68

2.3.1 Hình t-ợng biển 69

3.3.2.Hình t-ợng đất n-ớc 72

Ch-ơng 3 Nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh 77

3.1 Thể thơ 77

3.1.1 Thể Tr-ờng ca 77

3.1.2 Thơ ngắn 85

3.1.2.1 Thơ năm chữ 85

3.1.2.2 Thơ bảy chữ 87

3.1.2.3 Thơ Lục bát 87

3.1.2.4 Thơ tự do 91

3.2 Ngôn ngữ thơ 94

3.2.1 Ngôn ngữ thơ gần với ngôn ngữ đời sống 94

3.2.2 Ngôn ngữ thơ mang màu sắc dân gian 98

3.2.3 Ngôn ngữ thơ sáng tạo mới mẻ 100

3.3 Sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ 102

3.3.1 Biện pháp nghệ thuật trùng điệp 102

3.3.2 Biện pháp tu từ so sánh 105

3.3.3 Biện pháp tu từ ẩn dụ 106

Kết luận 108

tài liệu tham khảo 111

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Hữu Thỉnh là nhà thơ tiêu biểu của thơ Việt Nam hiện đại Thuộc

thế hệ nhà thơ tr-ởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, từ sau 1975, Hữu

Thỉnh vẫn bền bỉ sáng tác và càng ngày càng khẳng định đ-ợc vị trí của mình

trong nền thơ dân tộc Đến nay Hữu Thỉnh đã cho xuất bản một khối l-ợng tác

phẩm khá dày dặn với ba tập tr-ờng ca, năm tập thơ in riêng và nhiều tập thơ

in chung Điều đáng quý là, Hữu Thỉnh đã sớm khẳng định đ-ợc phong cách

riêng và càng ngày càng tạo đ-ợc sự mến mộ, tin cậy của đông đảo công

chúng Hữu Thỉnh cũng là cây bút giành đ-ợc nhiều giải th-ởng cao quý của

Hội Nhà văn Việt Nam, của Bộ Quốc phòng, đặc biệt Giải th-ởng Văn học

ASEAN và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật…Việc đi sâu khám

phá thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh sẽ có cơ sở để khẳng định phong cách

nghệ thuật, thành tựu và những đóng góp của Hữu Thỉnh cho nền thơ Việt

Nam hiện đại

1.2 Hành trình sáng tác của Hữu Thỉnh gắn bó chặt chẽ với tiến trình

vận động phát triển của thơ Việt Nam hiện đại, từ thơ chống Mỹ qua giai đoạn

đổi mới Nghiên cứu thơ Hữu Thỉnh do vậy, ở một mức độ nhất định cũng làm

sáng tỏ thành tựu của thơ Việt trong hai giai đoạn phát triển quan trọng: Thơ

chống Mỹ và thơ đổi mới Đồng thời cũng cho thấy tiến trình vận động đổi

mới của thơ hiện đại nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung

1.3 Từ lâu thơ Hữu Thỉnh đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường

và trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình, luận án các cấp

Trong đó vấn đề thế giới nghệ thuật là một trong những phương diện cần được

quan tâm Vì vậy nghiên cứu Thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh còn mang

một ý nghĩa thực tiễn là giúp cho việc giảng dạy tốt hơn những tác phẩm của

ông trong nhà trường

Với ba lý do trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài Thế giới nghệ thuật

thơ Hữu Thỉnh

2 Lịch sử vấn đề

Ngay từ trước những năm 1975, thơ Hữu Thỉnh đã thu hút được sự

quan tâm chú ý của các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình, công chúng và việc

Trang 6

tìm hiểu, nghiên cứu thơ ông ngày càng có nhiều thành tựu mới, đặc biệt là

những năm gần đây

Nhìn chung các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình tiếp cận thơ Hữu

Thỉnh theo hai hướng: Hoặc đi vào đánh giá, phân tích từng tập thơ cụ thể

hoặc có những đánh giá chung về sự nghiệp thơ ca của ông

2.1 Những bài viết đánh giá từng tập thơ cụ thể

Một trong những người đầu tiên nghiên cứu thơ Hữu Thỉnh phải kể đến

là Thiếu Mai Với bài viết "Hữu Thỉnh trên đ-ờng tới thành phố", Thiếu Mai

đã chỉ ra nét đặc sắc trong trường ca Hữu Thỉnh: D-ờng nh- "thấp thoáng

đằng sau câu thơ của Hữu Thỉnh dáng dấp của ca dao, nh-ng rõ ràng thơ anh

không rập khuôn theo ca dao, không bị ca dao lấn át" Nhìn chung tác giả đã

nhận ra được chất dân gian trong trường ca "Đ-ờng tới thành phố", tuy nhiên

tác giả chưa phân tích sâu sắc, cặn kẽ những đặc điểm ấy

Cùng hướng tiếp cận trên, Mai Hương đã lí giải, phân tích, chứng minh

sự thành công của Hữu Thỉnh khi vận dụng vốn văn học dân gian: " Hữu

Thỉnh có khả năng vận dụng thông minh, sáng tạo vốn văn học dân gian Cách

nghĩ và cách nói bằng hình ảnh của quần chúng đ-ợc anh tiếp nhận tự nhiên

và thành công" [28,112] Đây là đóng góp và cũng là thành công của Hữu

Thỉnh Bài viết đã có những kiến giải khoa học, xác thực, rõ ràng trong việc

chỉ ra dấu ấn của ca dao trong trường ca ""Đ-ờng tới thành phố"

Đọc tập thơ "Th- mùa đông" Trần Mạnh Hảo nhận thấy, thơ Hữu

Thỉnh cô đọng, hàm súc, giàu chất trí tuệ, mang màu sắc thơ cổ điển phương

Đông "ý tại ngôn ngọai", thiên về cảm nhận, do đó "khả năng dồn nén t-

t-ởng, cảm xúc, dồn nén chữ nghĩa, hàm súc" [20,103] Bài viết của tác giả đã

chỉ ra nét tiêu biểu ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh, tuy nhiên tác giả chưa phân tích,

lí giải cặn kẽ đặc điểm ấy được biểu hiện như thế nào, trên những phương

diện gì ?

Trang 7

Cùng hướng tiếp cận thơ Hữu Thỉnh như tác giả Thiếu Mai và Mai

Hương, khi đọc "Tr-ờng ca biển" Hữu Đạt cho rằng "thơ Hữu Thỉnh có nhiều

cái mới mà không xa cái truyền thống, thậm chí có khi tái tạo lại cái đó có từ

trong truyền thống mà vẫn có dấu hiệu riêng về phong cách của mình"

[10,163] Tác giả thấy được trường ca này là một sáng tạo về hình tượng và

ngôn ngữ thơ ca Bài viết đã b-ớc đầu chỉ ra những cách tân nghệ thuật trên cơ

sở truyền thống trong thơ Hữu Thỉnh

Ngoài ra còn có bài viết "Dài rộng với thời gian" của Đặng Hiển với

những nhận định khá xác đáng về đặc điểm nội dung tập thơ "kết hợp nhuần

nhuyễn tính trữ tình và triết lí" Đặc biệt tác giả đi sâu khai thác đặc sắc nghệ

thuật tập thơ, đó là sự kết hợp tính dân tộc với tính hiện đại từ ngôn ngữ tới

hình ảnh, trong đó "sử dụng rộng rãi một cách sáng tạo các biện pháp tu từ,

nhân hoá, ẩn dụ, chuyển đổi cảm giác" [22,16] Nó khẳng định phong cách

thơ Hữu Thỉnh một cách độc đáo trong nền thơ ca Việt Nam đương đại

Trong bài viết "Nghe Hữu Thỉnh th-ơng l-ợng với thời gian", Trần Đăng

đã nêu lên những đánh giá, nhận định của mình khi đọc tập thơ "Th-ơng l-ợng

với thời gian" Theo tác giả, trong thế hệ nhà thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh đã tạo

được một giọng điệu riêng "Tập thơ này dù có rúng riết hơn, quặn thắt hơn,

ông vẫn giữ đ-ợc cái giọng riêng ấy." Thơ Hữu Thỉnh đọng lại trong lòng

người đọc là nhờ cách tư duy khác biệt, không giống ai "Ông không có lối lập

tứ thông minh nh- một vài nhà thơ cùng thế hệ, sự thông minh của nhà thơ này

nằm ở chỗ khác: M-ợn điều dĩ nhiên để nói chuyện khác"

2.2 Những bài viết nhận xét, đánh giá chung về thơ Hữu Thỉnh

Hướng tiếp cận này có các bài viết của các tác giả Lý Hoài Thu, Lưu

Khánh Thơ, Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Nguyên Tản…

Xuất phát từ đặc trưng thể loại, sau khi khảo sát các tập thơ Tiếng hát

trong rừng, Th- mùa đông, Tr-ờng ca Đ-ờng tới thành phố, Tr-ờng ca biển,

Lý Hoài Thu tìm hiểu sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh và

chỉ ra tư duy thơ đích thực của ông; "Một trong những tiềm năng thơ Hữu

Thỉnh là sự nhạy cảm trực giác…dĩ nhiên là không thể bắt bằng sự quan sát

Trang 8

của thị giác, sự lắng nghe âm thanh của thính giác nh-ng nhiều khi chúng bị

đẩy lại và thay thế bằng cảm giác" [75,36] Bằng cái nhìn khái quát, tác giả

nhận thấy "Thơ Hữu Thỉnh giàu sức mạnh nội lực gắn bó máu thịt với đời sống

tâm linh và truyền thống thơ ca dân tộc Việt Nam…Thơ anh có sự kết hợp

phẩm chất dân tộc và tính hiện đại, giữa chiều sâu triết lí và độ cảm xúc tràn

trào, giữa sự hiền hoà lắng đọng và mãnh liệt sục sôi, giữa khả năng viết

những tác phẩm tr-ờng ca dài và thơ trữ tình ngắn" [75,45]

Lưu Khánh Thơ trong bài viết " Hữu Thỉnh - một phong cách thơ sáng

tạo" Sau khi khảo sát từ tập thơ "Âm vang chiến hào", trường ca "Sức bền của

đất", "Những ng-ời đi tới biển" đã nhận định: Thơ ông có "giọng điệu t-ơi

mát, hồn nhiên, tinh tế" Tác giả đã phát hiện ra ảnh hưởng của chất liệu văn

hóa dân gian đến thơ Hữu Thỉnh cùng những tìm tòi, sáng tạo của nhà thơ:

"Hữu Thỉnh tiếp thu truyền thống dân tộc không những chỉ là ở những cách

nói, cách ví von, so sánh, mà còn ở cách t- duy, liên t-ởng độc đáo, ở một âm

h-ởng xa xôi khó nhận biết…đó là nguyên nhân khiến cho Hữu Thỉnh có

những câu thơ đa nghĩa, có tính hàm ẩn cao, mới lạ trong cách diễn đạt, bất

ngờ trong cảm xúc" [37,410] Cuối cùng tác giả rút ra kết luận khá vững chắc

về phong cách thơ Hữu Thỉnh: "Đằm thắm, hồn hậu, nghiêng về phía rợp mát

Cái trầm lắng yêu th-ơng lấn át cái ồn ào sôi sục" [37,421

Nguyễn Đăng Điệp đã nhận thấy một số sự thay đổi trong cấu trúc câu

thơ, dòng thơ, tứ thơ của Hữu Thỉnh để tạo nên sự mới mẻ trong thơ: "Mô

hình câu thơ, sự vật hiện t-ợng đem ra để so sánh th-ờng nhỏ bé, t-ơng quan

sự xuất hiện của những con số, tứ nằm ngay trong đơn vị câu” giọng điệu thì

trầm lắng suy tư và cuối cùng tác giả nhận xét "Xuất phát từ nền móng văn học

dân gian nh-ng…đã xử lí chất liệu truyền thống bằng cái nhìn hiện đại nhằm

tạo nên những đột phá về thi pháp thể loại" [12,226]

Từ góc độ thi pháp,Trúc Thông đã phân biệt cái tôi trữ tình trong thơ

Hữu Thỉnh với ba biểu hiện: "Ng-ời lính cách mạng mà tình yêu n-ớc rất cụ

thể trong tình yêu th-ơng rất mực quê h-ơng, đồng đất; Ng-ời bảo toàn và

đấu tranh phát triển nhân cách và nhà thơ của một thế hệ" Song nhìn vào

toàn bộ sáng tác thơ Hữu Thỉnh ta thấy "ba nhân vật trữ tình ấy trộn hoà,

Trang 9

xoắn bện, hiển hiện chỉ trong duy nhất một con ng-ời - nhà thơ, ng-ời lính

Hữu Thỉnh" Tác giả đã phát hiện và nhận định "chất liệu văn hoá dân gian

ngàn năm đã thấm d-ỡng linh hồn những câu thơ, chữ thơ Những mảng dữ

dội của đời sống thật, sự khoẻ khoắn của thể trạng tâm hồn con ng-ời tham

gia trực tiếp vào đời sống ấy đã bồi đắp nên chất hiện đại cho những dòng thơ

mềm mại Giữ vững và làm t-ơi mới hơn câu thơ Việt trong cuộc vật mình đổi

mới ngôn ngữ thơ đang dần dà mà quyết liệt diễn ra trong toàn bộ nền thơ ta,

đó là đóng góp đáng trân trọng của thế hệ nhà thơ chống Mỹ mà Hữu Thỉnh là

một trong số đại biểu xứng đáng nhất" [73]

Có thể nói, các bài viết dù từ nhiều góc độ khác nhau, nh-ng về cơ bản

đã khẳng định được những đặc trưng, thành tựu và những đóng góp của Hữu

Thỉnh cho nền thơ hiện đại Việt Nam Tuy nhiên, những bài viết đó mới dừng

lại ở từng tác phẩm hoặc những đánh giá chung mang tính chất khái l-ợc Rất

cần có những công trình nghiên cứu một cách toàn diẹn, hệ thống toàn bộ thế

giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh

Kế thừa, tiếp nối những kết quả của ng-ời đi tr-ớc đề tài nghiên cứu của

chúng tôi tập trung đi sâu tìm hiểu những đặc sắc trong thế giới nghệ thuật thơ

Hữu Thỉnh để khẳng định đóng góp của nhà thơ cho nền thơ Việt Nam hiện đại

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Hữu Thỉnh là một cây bút tài hoa, ông sáng tác thành công trên nhiều thể

loại: Bút ký văn học, viết báo, song thành công hơn cả Hữu Thỉnh là một nhà

thơ Trong thời gian cầm bút ông đã để lại một số tập thơ sau:

- Âm vang chiến hào: Nxb Quân đội nhân dân, H.,1975 (in chung với Lâm

Huy Nhuận)

- Trường ca : Sức bền của đất, Nxb Hội Nhà văn, H.,1998

- Thơ Hữu Thỉnh, Nxb Hội Nhà văn, H.,1998

- Thơ với tuổi hoa, Nxb Kim Đồng, H., 2000

- Th-ơng l-ợng với thời gian, Nxb Hội Nhà văn, H., 2006

Song phạm vi tư liệu mà đề tài chúng tôi khảo sát là:

- Thơ Hữu Thỉnh, Nxb Hội Nhà văn, H., 1998, gồm một số tập:

+ Tiếng hát trong rừng

Trang 10

+ Đường tới thành phố

+ Trường ca biển

+ Thư mùa đông

- Th-ơng l-ợng với thời gian, Nxb Hội Nhà văn, H., 2006

Ngoài ra, chúng tôi còn mở rộng phạm vi khảo sát và tham khảo các tập

thơ, trường ca của thế hệ các nhà thơ chống Mỹ để đối sánh tìm ra những nét

tương đồng và khác biệt trong nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài mà chúng tôi thực hiện hướng tới tìm hiểu:

- Cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh

- Thế giới hình t-ợng trong thơ Hữu Thỉnh

- Một số thủ pháp nghệ thuật trong thơ Hữu Thỉnh

Từ đó khẳng định đ-ợc thế giới nghệ thuật đặc sắc và những đóng góp nổi bật

của Hữu Thỉnh cho thơ Việt Nam hiện đại

5 Phương pháp nghiên cứu

- Xuất phát từ mục đích và đối t-ợng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử

dụng các phương pháp:

- Ph-ơng pháp phân tích và hệ thống

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Ph-ơng pháp so sánh, đối chiếu

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung Luận văn được triển khai trong ba

chương:

Ch-ơng 1 Cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh

Chương 2 Thế giới hình t-ợng thơ Hữu Thỉnh

Chương 3 Nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh

Trang 11

Chương 1 CÁI T¤I TRỮ T×NH TRONG THƠ HỮU THỈNH

1.1 VÒ kh¸i niÖm C¸i t«i trữ t×nh trong thơ

Trong thơ, vấn đề chủ thể, c¸i t«i trữ t×nh cã một ý nghĩa đặc biệt quan

trọng Trong t¸c phẩm “Mỹ học”, khi bàn về nội dung thơ trữ t×nh, Hªghen

cho rằng: Nguồn gốc và điểm tựa của nã là từ chủ thể và chủ thể là người duy

nhất, độc nhất mang nội dung ChÝnh v× vậy nªn c¸ nh©n phải cã được bản tÝnh

thi sỹ, phải cã một trÝ tưởng tượng phong phó, phải cã một ®ộ cảm xóc dồi

dào và cã thể lĩnh hội được những ý niệm s©u sắc và đồ sộ Luận điểm này là

cơ sở để c¸c nhà lý luận X« Viết như Biªlinxki, Secnưsepxki ph¸t triển thªm

Ở thể loại thơ trữ t×nh, dấu ấn chủ quan của t¸c giả trªn h×nh tượng thơ

biểu hiện râ nÐt, trực tiếp và toàn vẹn hơn c¸c lĩnh vực nghệ thuật kh¸c Thơ

trữ t×nh là tiếng nãi trực tiếp biểu lộ những cảm xóc, suy tư, chiªm nghiệm

TÝnh chất c¸ thể hãa của cảm nghĩ và tÝnh chất chủ quan hãa của sự thể hiện là

dấu hiệu cơ bản của thơ trữ t×nh Trong qu¸ tr×nh s¸ng t¸c, c¸i t«i nghệ sỹ

bước vào thế giới nghệ thuật vµ trở thành một h×nh tượng trọn vẹn H×nh

tượng c¸i t«i cã mối quan hệ tương đồng với chủ thể trữ t×nh đang tự bộc lộ

với toàn bộ sức mạnh nh©n c¸ch, với mọi khả năng của nã H×nh tượng c¸i t«i

này là nh©n vật trung t©m trong t¸c phẩm thơ, mang vẻ đẹp độc đ¸o, kh«ng lặp

lại

C¸i t«i trữ t×nh trong thơ hay cßn gọi là h×nh tượng nhà thơ trong thơ trữ

t×nh là phương thức bộc lộ ý thức, tư tưởng, t×nh cảm của t¸c giả ë đ©y, c¸i

t«i trữ t×nh là con người “đồng dạng” của t¸c giả - nhà thơ hiện ra từ văn bản

kết cấu trữ t×nh (một bài thơ, một chïm thơ, một trường ca hay toàn bộ s¸ng

t¸c thơ) như một con người cã đường nÐt hay một vai sống động cã số phận c¸

nh©n x¸c định hay cã thế giới nội t©m cụ thể, đ«i khi cã cả nÐt vẽ ch©n dung

(mặc dï kh«ng bao giờ đạt tới đặc điểm một nh©n vật như trong t¸c phẩm tù

sù hay kÞch) C¸i t«i trữ t×nh này cã chức năng x©y dựng h×nh ảnh, quan niệm

về chủ thể Ta thường thấy c¸i t«i trữ t×nh – c¸i t«i t¸c giả xuất hiện ở những

bài thơ cã sự đan xen giữa tự sự và trữ t×nh Sự thống nhất giữa cuộc đời nhà

thơ và c¸i t«i trữ t×nh trong s¸ng t¸c là một hiện tượng kh¸ phổ biến trong thơ

Trang 12

“Hình tượng tác giả cũng là một hình tượng được sáng tạo ra trong tác phẩm

như hình tượng nhân vật xây dựng theo nguyên tắc hư cấu, được miêu tả theo

một quan niệm về con người và theo tính cách nhân vật thì hình tượng tác giả

được xây dựng theo nguyên tắc tự biểu hiện, sự cảm nhận và thái độ thẩm mĩ

đối với nhân vật” [63,20]

Tuy nhiên không thể đồng nhất một cách giản đơn cái tôi cá nhân của

nhà thơ trong đời sống với cái tôi trữ tình trong tác phẩm bởi hình tượng nhân

vật là nơi tác giả ký thác, gửi gắm thái độ chủ quan của mình vào đó Hình

tượng cái tôi là sự hiện thực hóa, khách thể hóa cái tôi trữ tình trong thế giới

nghệ thuật thơ, nó không hoàn toàn đồng nhất với con người tác giả mà là kết

quả của sự điển hình hóa nghệ thuật khi cá nhân nhà thơ nghe thấy mình trong

người khác, với người khác và cho người khác Khi sáng tác nhà thơ đã tạo

nên một thế giới nghệ thuật riêng thì tất yếu trong thế giới nghệ thuật ấy có

hình tượng cái tôi và hình tượng này đóng vai trò nhân vật trung tâm

Cái tôi trữ tình trong thơ đ-ợc biểu hiện d-ới nhiều dạng thức Có khi

d-ới dạng trực tiếp của một tình cảm riêng t-, một cảnh ngộ, một câu chuyện,

một câu chuyện gắn với cuộc đời riêng của tác giả Thường trong những

trường hợp ấy, cái tôi trữ tình rất gần hoặc có khi chính là cái tôi của tác giả,

lúc này cách thức mà nhà thơ bộc lộ trực tiếp tình cảm, tâm sự của cá nhân

mình qua đại từ “tôi”, “anh”, “em”

"Tôi là con nai bị chiều đánh l-ới Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối"

(Xuân Diệu)

"Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha"

(Tố Hữu)

"Cái rét đầu mùa anh rét xa em Đêm dài lạnh chăn chia làm hai nửa Nửa đắp cho em ở đầu sóng bể

Nửa đắp cho mình ở phía không em"

(Chế Lan Viên)

Trang 13

Song cũng có khi cái tôi trữ tình nhân danh cái “ta” chung, là tiếng nói đại

diện cho tập thể, cộng đồng Đó là anh em, bạn bè, đồng chí, đồng đội

"Ta đứng đây mắt nhìn bốn h-ớng

Trông lại nghìn x-a, trông tới mai sau"

(Tố Hữu)

"Lũ chúng tôi Bọn ng-ời tứ xứ

Gặp nhau từ buổi một hai

Đánh giặc ch-a quen quân sự m-ơi bài"

(Hồng Nguyên)

Trong những trường hợp viết về bản thân mình và những quan hệ riêng

tư thì cái tôi trữ tình trong thơ thường bộc lộ một cách trực tiếp Ở đây, cái tôi

trữ tình trong thơ thường phổ biến là cái tôi tác giả

Ở góc độ thứ hai, cái tôi trữ tình trong thơ thường biểu hiện là những

cảnh ngộ, những sự việc trong thơ không phải là cảnh ngộ của riêng tác giả

Song nhà thơ nói lên cảm nghĩ của mình về những sự việc mà mình trải qua

hoặc chứng kiến như một kỉ niệm, một quan sát như Tố Hữu với bài thơ

“Hoan hô chiến thắng Điện Biên”, Quang Dũng với “Tây Tiến”, Nguyễn Đình

Thi với “Đất N-ớc”, Chế Lan Viên với “Ng-ời đi tìm hình của n-ớc” đều

nằm trong trường hợp này

Ngoài ra trong bài thơ trữ tình còn tồn tại một dạng cái tôi trữ tình tồn

tại bên cạnh cái tôi trữ tình trong sáng tác của nhà thơ Mặc dù mức độ thể

hiện có phần mờ nhạt, ít cụ thể Đó là các bài thơ như: “Bà má Hậu Giang”,

“Mẹ Tơm”, “Mẹ Suốt” của Tố Hữu; “Anh chủ nhiệm” của Hoàng Trung

Thông; “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân Nhân vật trữ tình loại này

thường là những nhân vật có thực ngoài đời như Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn

Viết Xuân đã được “khách quan hóa” vào trong tác phẩm, do đó ít nhiều

mang màu sắc cảm xúc cá nhân nhà thơ

Có thể nhận thấy, cái tôi trữ tình trong thơ là một vấn đề cốt lõi của thơ

trữ tình Chỉ có thông qua nó người đọc mới cảm nhận được sâu sắc, chính

xác nội dung thẩm mĩ bài thơ cũng như cảm xúc, tâm trạng của chủ thể trữ

Trang 14

tình Dù trực tiếp hay gián tiếp, đậm nét hay mờ nhạt thì trong bài thơ trữ tình

cái tôi trữ tình cũng được thể hiện trên hai phương diện: Cái tôi trữ tình – nhà

thơ và cái tôi trữ tình nhập vai

1.2 Cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh

1.2.1 Cái tôi trữ tình - nhà thơ

1.2.1.1 Cái tôi nhà thơ - ng-ời lính

Cuộc kháng chiến chống Mĩ đã tạo nên một lớp nhà thơ trẻ như Nguyễn

Khoa Điềm, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Thanh

Thảo, Anh Ngọc, Hữu Thỉnh Họ là những cây bút đã chạm khắc được rõ nét

chân dung tinh thần riêng của mình vào trong tác phẩm Các nhà thơ áo lính

đã có cái nhìn sâu sắc về vai trò, vị trí của nhà thơ, của thế hệ mình trong trận

tuyến đánh Mĩ: “Ta đi hôm nay đã không là sớm/ Đất n-ớc hành quân mấy

chục năm rồi/ Ta đến hôm nay cũng ch-a là muộn/ Đất n-ớc còn đánh giặc

ch-a thôi” (Phạm Tiến Duật) Phần lớn trong số họ là học sinh, sinh viên từ

cánh cửa nhà trường đi thẳng tới chiến trường cầm súng chiến đấu và họ

trưởng thành lên từ cuộc kháng chiến đó Trước khi là nhà thơ, Hữu Thỉnh đã

là một người lính Vào bộ đội từ năm 1963, nhiều năm tham gia chiến đấu tại

chiến trường Đ-ờng 9 - Nam Lào (1970-1971), Quảng Trị (1972), Tây

Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh với tư cách là phóng viên mặt trận, đội

trưởng đội chiếu bóng, rồi tham gia mặt trận biên giới 1979 Hầu hết những

năm chống Mỹ Hữu Thỉnh đi với binh chủng thiết giáp, sống thật sự giữa lòng

cuộc chiến đấu của dân tộc Con đường thơ cũng chính là con đường đời của

nhà thơ Trong thơ Hữu Thỉnh, hình ảnh, chân dung nhà thơ hiện lên khá rõ

nét Có những bài thơ như “ chuyến đò đêm giáp ranh” và bài thơ dài “sức

bền của đất” ông như đang viết về bản thân mình Hữu Thỉnh đi vào cuộc

chiến tranh, trực tiếp chiến đấu trực tiếp ở các chiến trường Trải qua các trận

chiến, với một tâm hồn đa cảm, mỗi ngày sống là lại thêm bao thương nhớ

ngổn ngang và nó trở thành thơ ông Có những câu thơ trữ tình, khiến rơi

nước mắt:

Em có thể mất anh bất cứ lúc nào

Em có thể bơ vơ khi em còn rất trẻ

Trang 15

(Tr-ớc mặt là Tổ quốc - Đ-ờng tới thành phố) Cũng có khi ông miêu tả về cái khốc liệt, máu lửa, về những gian khổ

“t-ớp da, nhỏ máu” mà mình đã trải qua: “Quần áo t-ớp ra/ Một nửa ng-ời

anh dâm dấp máu/ Anh đang đau cho đất đỏ anh yêu” (Đường tới thành phố),

chịu đựng gian khổ cho một ngày đất mẹ thân yêu được hoàn toàn tự do Trên

chiến trường cũng có lúc tác giả đứng ở ranh giới cận kề giữa nỗi đau và sự hy

sinh, giữa sự sống và cái chết đặt ra cho mình một sự lựa chọn thật nghiệt ngã:

Em có nghe thấy không ? Sỏi buốt quá

Bò thì đau mà không bò thì chết

(Trước mặt là Tổ quốc - Đường tới thành phố)

Là người lính nên ông hiểu rằng sự nham hiểm dã man của kẻ thù chưa

phải là những đòn tra tấn, những trận mưa bom, bão đạn, những chiêu bài dụ

hàng… mà là cái cách quân giặc làm cho ông, thế hệ những người lính như

ông chết khi đang còn sống: “Họ tên anh, cả ngày tháng năm sinh/ Giặc đánh

cắp để loan tin báo tử/ Chúng ép anh từ hai phía chiến tr-ờng” (Những người

mới đến – Đường tới thành phố)

Gian khổ mấy, dằng dặc mấy thì hành trình tới thành phố cũng đến hồi

thần tốc cùng với những mất mát, những câu thơ da diết: “Xuân Lộc, tôi gọi

những cánh rừng cao su / Rừng cao su bật gốc/ chân nhang la liệt” (Đường tới

thành phố) Với một hồn thơ khỏe khoắn và rất giàu nội tâm, Hữu Thỉnh hết

lòng yêu mến đồng đội với tấm lòng tri kỉ, tri âm: “Núi cao cho thác đổ hồi /

Tr-ờng Sơn dài rộng cho tôi mặn mà/ Xe thồ vành hỏng tháo ra/ Còn lăn theo

suốt đời ta đời mình” (Đường tới thành phố) Hữu Thỉnh có cách thể hiện vừa

sâu sắc, vừa tinh tế những tình cảm, những suy ngẫm của bản thân trong cuộc

chiến đấu chống kẻ thù xâm lược đồng thời nói lên sự gian nan cũng như khát

vọng cháy lòng mong giành lại tự do cho mảnh đất quê hương:

Anh còn lại sau những ngày thay quân

Sau những lần hổ vồ Sau những lần voi đuổi Sau bữa canh nấm độc cào gan

Trang 16

Giặc đổ quân vào hậu cứ s- đoàn Hất anh qua biên giới

Thèm một chỗ ngồi th- thả bóc măng

(Đường tới thành phố)

Đặc biệt những bài thơ viết về nỗi niềm riêng của ông có sức truyền cảm

mạnh mẽ Tác giả có một người anh đã hy sinh ở chiến trường từ trước ngày

giải phóng Sau 30 – 4 ông mới có điều kiện tìm đến nơi anh mình đã nằm lại

để viếng thăm Cả bài thơ là một nỗi đau trĩu nặng, nghẹn ngào nước mắt:

“Em đã qua những cơn sốt anh qua/ Em đã gặp trận m-a rừng anh gặp / Vẫn

không ngờ có một tr-a Phan Thiết/ Em một mình đứng khóc ở sau xe/ Cánh

rừng còn kia, trận mạc còn kia / Vài b-ớc nữa thì tới đ-ờng số Một/ Vài b-ớc

nữa thế mà không thể khác/ Biển màu gì thăm thẳm lúc anh đi” (Phan Thiết

có anh tôi)

Là một thi sĩ, lạc quan yêu đời, ngay ở thời điểm chiến trường đầy bom

đạn, chết chóc vậy nh-ng nhà thơ vẫn cứ lạc quan Ngồi trong xe tăng nóng

nung như trong một quả bom hơi, cũng vẫn bình thản “Năm anh em trong một

chiếc xe tăng / Nh- năm bông hoa nở cùng một cội” (Năm anh em trên một

chiếc xe tăng) Đây cũng là điểm gặp gỡ với hình ảnh người lính lái xe trẻ

trung, hồn nhiên, yêu đời trong thơ Phạm Tiến Duật: “Không có kính không

phải vì xe không có kính / Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi/ Ung dung buồng

lái ta ngồi/ Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng” (Tiểu đội xe không kính)

Với một giọng điệu trẻ trung, sôi nổi, hồn nhiên, tinh tế cùng sự chân

thật trong cảm xúc, Hữu Thỉnh khắc họa khá rõ nét chân dung mình trong

những ngày đầu tham gia chiến đấu với tinh thần lạc quan, yêu đời và thanh

thản: “Đi trong mây anh thấy ấm em à/ Tiếng suối giục nghe khi mờ khi tỏ/

Những tâm sự lúc th-ờng nghe chẳng rõ/ Đi trong mây tí tách sáng dần ra”

(Đi trong mây – Tiếng hát trong rừng) Song càng về sau thì giọng thơ càng

trở nên trầm lắng, suy tư, chiêm nghiệm

Sức mạnh giúp nhà thơ vượt qua được những thử thách khốc liệt của

chiến tranh là bóng hình của quê hương, tuổi thơ hồn nhiên, người mẹ nghèo

lam lũ, những đồng đội “đã chết phần của nhau” - những gì từng gắn bó thân

Trang 17

thiết với cuộc sống của ông Các trường ca, các bài thơ của Hữu Thỉnh đã lý

giải điều này bằng những liên tưởng tinh tế, thấm thía, những chi tiết giàu sức

lay động Quê hương với những cảnh sắc, con người, kỉ niệm trở thành miền

nhớ thương sâu thẳm, thành nỗi niềm thường trực trong tâm hồn mỗi nhà thơ -

chiến sĩ và họ đã chiến đấu vì tất cả những điều đó Bằng sự trải nghiệm sâu

sắc của bản thân Hữu Thỉnh đã viết lên những câu thơ giàu chất triết lí mà xúc

động về quê h-ơng: “Cần có đất để làm nên quê h-ơng/ Cần có quê h-ơng để

vui buồn s-ớng khổ” (Đất này – Trường ca biển) Quê hương chính là một

phần máu thịt của Tổ quốc thân yêu, từ cảm xúc riêng, nhà thơ đã nâng tầm

lên thành một triết lí mang tính phổ quát: Quê hương là tất cả các địa danh

trên mảnh đất Việt Nam yêu dấu này, bởi từng mảnh đất ấy đã phải đổi bằng

biết bao xương máu của biết bao thế hệ Tác giả đã thể hiện lòng quyết tâm

bảo vệ đến cùng mảnh đất thân yêu này: “Đất đi đến đâu quê h-ơng đi đến

đấy/ Quê h-ơng đi đến đâu máu đi theo đến đấy” (Đất này – Trường ca biển)

Trong những ngày khốc liệt của chiến tranh với biết bao hy sinh gian

khổ, kí ức về tuổi thơ luôn dội về trong tâm khảm nhà thơ với tất cả những gì

thân thương, gần gũi và thơ mộng nhất Đó là những ngày thơ bé sống hòa

mình với thiên nhiên đất trời: “Châu chấu cào cào xanh tím rủ tôi đi/ Những

đồi cỏ may những đồi trống ếch/ Cây b-ởi ca dao cây cau cổ tích/ Tôi âm

thầm nuôi bống trong chai” (Tự thuật người lính – Trường ca biển) Có thể

nói bài thơ dài “Tự thuật ng-ời lính” là bức chân dung tinh thần tự họa của

nhà thơ từ lúc sinh ra cho đến khi trưởng thành đi vào quân ngũ Như một bản

tự thuật, quá khứ như một cuốn phim dần tái hiện về trong trí nhớ nhà thơ Từ

lúc “Tôi sinh ra quả trám đã bùi/ Rễ si buông c-ớc lá xoài r-ng r-ng/ Tôi

ch-a với tới trái bòng/ Kiễng chân chóng mặt cầu vồng lên thăm/ Cầu vồng

xanh đỏ tím vàng/ Chim cu toan đổi chuỗi c-ờm trời cho” đến khi “Tôi lớn

lên/ Vó ngựa giật mình đôi sấu đá/ G-ơm giáo hai hàng quan võ quan văn”

cho đến lúc “Tôi đã lớn để trở thành ng-ời lính/ Thọc đôi tay vào chiếc túi

của rừng/ Chiến công đôi khi là tìm ra một thứ gì ăn đ-ợc” và đất nước được

giải phóng anh trở về quê với bao điều suy tư, trăn trở cho cảnh ngộ “Tôi kết

Trang 18

bạn suốt chiến tr-ờng ngang dọc/ Bạn nói rằng bạn cũng nhớ th-ơng ta/ Ngày

giải phóng bàng hoàng nghe tin bạn…!/ Tôi khó ăn khó nói đến thăm nhà”

Tình yêu đồng đất quê hương gắn liền với nỗi nhớ thương về mẹ đã làm

nên sức mạnh như dòng sông mạnh mẽ đổ về biển lớn Điểm nổi bật và cũng

là điểm gặp gỡ của các nhà thơ – chiến sỹ khi lí giải cội nguồn sức mạnh giúp

họ vượt qua thử thách chiến tranh đều xuất phát từ những suy nghĩ và tình

cảm về mẹ Hình ảnh người mẹ tảo tần, lam lũ, đầy yêu thương luôn có mặt

trong kí ức sâu thẳm của mỗi người, tiếp thêm sức mạnh giúp họ vượt qua thử

thách: “Mẹ ơi! Con vẫn ở giữa lòng đất n-ớc/ Trời nắng thiêu nghe rìu mẹ

chém cây/ Chiếc rìu cùn nh- đời mẹ cực/ Đã cho con bao bát cơm đầy” (Bài

ca chim Chơ rao – Thu Bồn); “Về với mẹ con lại là trẻ nhỏ/ dù mái nhà đây

vẫn thấp tự bao giờ/ sao con nhớ đôi tay gầy nhen nùn rơm xua muỗi/ dáng

lặn lội đầu nguồn tàu chuối nghiêng qua/ cứ tỏa mát không một lời nhắc nhở”

(Những người đi tới biển – Thanh Thảo) Là ng-ời lính trẻ, vì thế trong bất kì

hoàn cảnh nào, ng-ời đầu tiên Hữu Thỉnh nhớ tới là mẹ Hình ảnh ng-ời mẹ là

hình ảnh in đậm trong suốt cuộc đời làm thơ của chính tác giả Hữu Thỉnh đã

đi khắp nơi trên đất n-ớc, đã sống những năm tháng chiến tranh gian

khổ…nhưng điều thấm thía và tâm niệm sâu sắc nhất là được trở về với mẹ:

“Mẹ là ng-ời chúng con th-ơng nhớ nhất/ Đất n-ớc ngày có giặc/ Mẹ vẫn đỏ

miếng trầu/ ấm một vùng tin cậy phía sau” (Sức bền của đất) Hữu Thỉnh viết

về mẹ bằng những ngôn từ bình dị, bằng những hình ảnh gần gũi thân quen,

bằng những công việc bình th-ờng nh-ng cũng bởi vì thế mà thơ ông trở nên

sâu sắc, thân thiết và gắn bó hơn với mỗi chúng ta Ông nhớ về mẹ với tất cả

những gì thật thân th-ơng, gần gũi và bình dị: “Đom đóm bay ra hoa gạo đỏ/

Mẹ ở nhà đã cất áo bông?/ Mẹ có ra bờ sông/ Qua bến đò tiễn con dạo

trước?/ Đường xuống bến có mười sáu bậc/ Mẹ nhớ thương đã bạc mái đầu”

(Sức bền của đất) Rồi có những câu thơ Hữu Thỉnh lại đ-a ng-ời đọc vào

chiều sâu của thời gian đời ng-ời: “Nếu mẹ biết ta còn đông đủ/ Đang bập

bùng th-ơng nhớ suốt hành lang/ Giọt đèn ấy bớt đi nhiều khuya khoắt/ Chia

bình yên cho mỗi con đường” (Đ-ờng tới thành phố) Ngọn đèn ấy là giọt đèn

đêm đêm mẹ th-ơng những đứa con trận mạc không ngủ đ-ợc Nếu biết đ-ợc

Trang 19

những đứa con của mẹ vẫn yên bình thì ngọn đèn ấy bớt đi phần khuya khoắt

Hữu Thỉnh lại h-ớng về mẹ, hình ảnh mẹ lam lũ tảo tần, thức khuya dậy sớm:

“Mẹ đang đi gánh rạ giữa đồng/ Rạ chẳng nặng mà nặng nhiều vì gió”

(Đ-ờng tới thành phố) Trong phút chốc ng-ời mẹ bỗng trở nên lớn lao, kì vĩ

dẫn dắt con đi:“Những cánh đồng in dấu chân của mẹ/ Cứ ngày ngày ra khẩu

lệnh cho tôi” (Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh) Với Hữu Thỉnh, mẹ là nơi

bắt đầu của nỗi nhớ, niềm tin và hy vọng, là nơi bắt đầu cho tất cả những gì

gần gũi mà thiêng liêng liêng Tất cả những gì riêng, chung, bình th-ờng hay

vĩ đại đều bắt đầu từ mẹ Anh nhớ mẹ trong gian khổ, nhớ mẹ lúc chân cứng

đá mềm Mẹ hiện lên trong tâm t-ởng anh giữa đêm rừng Tr-ờng Sơn, giữa

không gian địa hình khắc nghiệt, giữa không gian biển khơi mênh mông đầy

nguy hiểm có thể c-ớp đi mạng sống bất cứ lúc nào: “Mẹ ơi!/ Mẹ không biết

con đang một mình giữa biển/ Biển có tất cả để xóa bất cứ lúc nào/ Còn con

thì tay trắng” (Tự thuật ng-ời lính – Tr-ờng ca biển) Trong một niềm cảm

xúc thiêng liêng, Hữu Thỉnh luôn ý thức một cách sâu sắc rằng hình ảnh mẹ,

tấm lòng mẹ trở thành hành trang tinh thần theo anh suốt cuộc tr-ờng chinh

Có thể thấy, những câu thơ nh- tạc rõ chân dung tinh thần của nhà thơ

trong những ngày tham gia chiến đấu trên chiến tr-ờng và đó cũng còn là chân

dung tiêu biểu của thế hệ Hữu Thỉnh

1.2.1.2 Cái tôi suy t- trăn trở

Vào những năm tám mươi, chín mươi của thế kỷ XX cuộc sống con

ng-ời đứng tr-ớc những thử thách rất mới và rất lớn Cuộc sống ng-ời dân

hàng ngày có nhiều va đập xáo trộn trong m-u sinh, nên tâm trạng con ng-ời

có nhiều xao động, dằn vặt, tr-ớc những vấn đề lớn nh- đạo đức, nhân phẩm,

hạnh phúc Hữu Thỉnh cũng vậy, ông viết những bài thơ và bày tỏ nỗi lòng,

suy nghĩ của riêng mình Trong cả hai tập thơ “Th- mùa đông” và “Th-ơng

lượng với thời gian”, Hữu Thỉnh đã không ít lần trực tiếp bộc lộ những băn

khoăn lo lắng về vai trò, sứ mệnh của bản thân trong cuộc đời; l-ơng tâm,

trách nhiệm của kẻ sĩ tr-ớc h-ng vong vận mệnh của đất n-ớc, con ng-ời Nhà

thơ đã bày tỏ những tâm nguyện, trăn trở của mình tr-ớc thời cuộc, tr-ớc

những vấn đề đạo đức đặt ra nhức nhối những năm sau chiến tranh

Trang 20

Từ một tâm hồn nhà thơ – chiến sỹ giàu lạc quan, tin yêu trong những

năm tháng chiến tranh, ra khỏi cuộc chiến ấy, tâm hồn Hữu Thỉnh đã va đập

vào nhiều trở lực thật lớn và ông đã nhận thức về lẽ sống, về tình đời những

năm đầy xáo động “mất mùa nhân ái”: “Ta đâu có đề phòng từ phía những

ng-ời yêu/ Cây đổ về nơi không có vết rìu” (Tự thú) Cũng có khi ông nói về

nỗi đau nhân tình thế thái, một nỗi đau xa xót: “Ra sông vớt đám củi rều/ Cha

tôi mang về những khúc ca trôi nổi/ Cây khế có thêm vị buồn” (Hạnh phúc)

Cũng bởi sau chiến tranh, cuộc sống có những đổi thay lớn nên trong tâm hồn

nhà thơ luôn chất chứa nhiều tâm t- Cái tôi trữ tình nhà thơ phải đối mặt với

những thử thách ghê gớm: “Cuốc kêu vì bẫy hiểm/ Bèo leo theo n-ớc lên/ Tôi

âm thầm gọi tên/ Bàn ghế và quần áo cũ” (Nghe tiếng cuốc kêu) Một tâm hồn

vốn yêu tin không thể chịu nổi những bẫy hiểm, lại phải tìm về n-ơng tựa vào

những giá trị truyền thống của cha ông x-a: “Cuốc kêu từ ngày cây tre chưa

đủ lá đan sàng/ Trên đất -ớt có ng-ời đến ở/ Họ bắt đầu nh- một chiếc rễ

nâu/ Họ làm ra mọi thứ để nuôi nhau” (Nghe tiếng cuốc kêu) Thơ ông đi vào

lòng ng-ời chính vì nó thấm đẫm tâm hồn Việt, tràn đầy âm h-ởng đời sống

của làng quê Việt Nam Đôi khi, để nói những điều to lớn, nhà thơ chỉ phác

họa những chi tiết rất nhỏ, rất mong manh mà xót xa biết bao, ôm trùm biết

bao: “Vạc mảnh bờ con cua mất quê/ Rau đay làm lễ buổi tôi về/ ổi đào lên

tỉnh xem son phấn/ Mẹ vẫn chờ em dóc mía de” (Cung tháng chạp – Th-ơng

l-ợng với thời gian) Đến mức một tâm hồn, một phẩm chất giàu mơ mộng của

nhà thơ nay phải vùi hồn vào nỗi buồn x-a “Cuốc kêu từ ngày em lạy mẹ lạy

cha/ Đi theo một sợi tơ hồng/ Tình yêu nhiều đứt nối” (Nghe tiếng cuốc

kêu) Cảm xúc trong lòng nhà thơ thật nhiều khắc khoải, ở đây cái tôi trữ tình

cố bứt v-ơn lên đến cái đẹp, sự yêu tin, nh-ng sau tất cả, nhà thơ nhận biết

một bài học nghiệt ngã của cuộc sống: “Chúng ta bị cái chết gạt về một phía/

Bị h- danh gạt về một phía/ Phải v-ợt mấy trùng khơi mới bắt gặp nụ c-ời/

Vừa bắt gặp nụ cười/ Thì lại nghe tiếng cuốc” (Nghe tiếng cuốc kêu)

Những năm cuối của thế kỉ XX, cuộc sống m-u sinh của hầu hết mọi

ng-ời trên mọi miền quê, và nhất là ở các đô thị, mở ra nhiều tầng, nhiều vẻ,

nên tâm trạng của con ng-ời cũng mở ra nhiều biến thái mới, nhiều chiều sâu

Trang 21

mới Trong một đời sáng tác, các nhà văn có thể mô tả rất nhiều nhân vật, qua

cá tính và số phận các nhân vật ấy, phản ánh đời sống xã hội Còn nhà thơ, hầu

nh- cả đời viết chỉ mô tả tâm hồn mình, những biến động trong tâm t- mình

để ng-ời đọc thấy đ-ợc đời sống tinh thần của xã hội Bởi thế thi sỹ th-ờng

hay đau đớn, dằn vặt Nhà thơ vĩ đại Nêruda thật chân thành khi viết: Tôi

không thể khiến lòng mình lánh xa những nỗi đau th-ơng Có thể nói, đó là

một thuộc tính của các thi sĩ Và bởi vậy, dễ hiểu hơn khi ta thấy các nhà thơ

viết về những buồn đau, ngay cả khi cuộc sống xã hội không nhiều đau th-ơng

mất mát và thiếu thốn, hiểm nguy nh- trong chiến tranh Bản chất của tâm tính

nhà thơ là luôn v-ơn tới một hạnh phúc trọn vẹn hơn

Sống giữa những năm tháng này, Hữu Thỉnh không khỏi day dứt, âu lo

tr-ớc sự đổi thay của con ng-ời Nhạt nhòa dần tình nghĩa đồng đội từng sống

chết có nhau, thay vào đó con ng-ời chỉ còn biết nghĩ đến danh và lợi, đôi khi

ông phải “th-ơng l-ợng với thời gian”, bởi vốn thời gian còn ít lắm Trong cái

ngân khố thời gian ít ỏi ấy của một kiếp ng-ời, ta phải xé mình ra thành trăm

mảnh, để lấp vào bao khoảng trống vu vơ Cảm nhận một cách đắng cay và

bình thản về điều đó, Hữu Thỉnh viết: “Buổi sáng lo kiếm sống/ Buổi chiều lo

tìm công danh/ Buổi tối đem trí khôn ra mài rũa/ Tỉnh dậy/ Những hàng cây

bật khóc” (Th-ơng l-ợng với thời gian) Và nhà thơ thực sự dấn thân tới cái

đích là nhận thức cho đ-ợc về phẩm giá con ng-ời, về một hạnh phúc không tô

vẽ, một hạnh phúc thật Ông nhận thấy một vẻ đẹp cổ điển trong tình quê giữa

tháng ngày cuộc đời trăm mối bề bộn: “Gió nảy đàn tre cung tháng chạp/

Trăm câu không đỡ nổi câu tình/ Em mang thiên lí về thăm mẹ/ Sông vẫn ba

đào trúc vẫn xinh” (Cung tháng chạp – Th-ơng l-ợng với thời gian) Và nữa,

đây là vị thế rất cổ điển còn có trong nhà thơ thời nay: “Giữa hai vùng tối

sáng/ Thi nhân bước lên cầu/ Gió với bao đáng tiếc/ Sấp ngửa dạt về đâu”

(Thi nhân) Cũng có khi Hữu Thỉnh mô tả chính cuộc sống nội tâm của mình

trong một tâm thế thật buồn: “Chỉ còn một mình anh/ Với chiều ngoài cửa sổ”

(Ước), hơn cả nỗi buồn là nỗi đau nhói, cái đau nhói của ng-ời trên cuộc hành

trình tìm tới hạnh phúc trọn vẹn: “Mùa thu cũng bỏ trời/ Đi về miền tiếc nuối/

Có con tàu mệt mỏi/ Thét còi trong tim anh” (Ước) Hay lại chính là nghịch

Trang 22

cảnh rất phổ biến trong đời sống, ở đó con ng-ời mang nhiều bi kịch đáng

thương: “Kẻ ghét cứ phải gần/ Ng-ời yêu đành xa cách/ Mây dẫu th-ơng mặt

đất/ Không thể nào không bay” (Chăn-đa em ơi)

Mải mê trên đ-ờng đời, bộn bề với bao công việc, nhiều khi nhà thơ

chợt giật mình “Đời nhanh quá vui buồn chưa kịp cũ” (Th-a thầy) Vẫn cái

cách t- duy cũ, vẫn theo cái mạch “chớp nhì nhằng lô cốt méo bên sông” như

ngày nào, nh-ng bây giờ cái nhìn của nhà thơ đã xuyên qua một lớp vỏ ngôn

ngữ trần trụi để đến với một thế giới khác - Một thế giới mà ông gửi gắm cả

một đời chiêm nghiệm của mình: “Đi qua nhiều mũ áo/ Để tìm một bàn tay”

ở đó có tắc nghẹn với bao nỗi khổ tâm: “Ta im lặng vì quá nhiều mây trắng”

(Nghẹn), cái im lặng của sự bất lực: “Ăn nói khó hơn, yêu ghét khó hơn/ Va

quệt và xây xát/ Nhân tình lầm lũi đi” (Thấy) Đó là quãng thời gian không

phải sau chiến tranh, con ng-ời vừa thoát ra khỏi nỗi ám ảnh của bom đạn chết

chóc nên ùa vỡ mừng vui, sống tử tế với nhau hơn, nhân hậu với nhau hơn, mà

là quãng thời gian của mấy m-ơi năm vật lộn với gian khó, trong đó có biết

bao sự “phản thùng, thớ lợ”, biết bao cặn lắng của những oan khuất: “Một lời

như thể lưỡi cưa/ Khi nghĩ lại bao thân cây đã đổ” (Một lời) Nhiều khi Hữu

Thỉnh thấy bức bối, ngột ngạt đến khó thở tr-ớc cuộc đời: “Bão trời ta coi

khinh/ Bão người không chịu nổi” (Một thoáng làm ng-ời) Mặc dù không

phải mang một tâm trạng bi quan nh-ng bật ra đ-ợc những câu nh- thế là Hữu

Thỉnh đã gặp được “một bàn tay”, chưa chắc đã làm ông ấm áp nh-ng cũng đủ

tin cậy để có thể nắm chặt hơn mà không sợ “phản thùng” Nhà thơ chào đón

ng-ời cùng thời với bao hân hoan nh- hình t-ợng cây xanh t-ơi đầy bóng mát,

nh- phẩm cách thủy chung của ngôi sao hôm mỗi chiều lại hiện lên trong lòng

giếng, nhẫn nại, sẻ chia, an ủi và lấp lánh dịu hiền: “Những người đi lại phía

tôi/ Bao nhiêu bóng mát một lời lá bay/ Mặc ai xô dạt mỗi ngày/ Múc đau lòng

giếng vẫn đầy sao hôm” (Những ng-ời đi lại phía tôi), bài thơ diễn tả lòng

khoan dung đối với con ng-ời, vốn là một hằng số làm nên g-ơng mặt và ý

nghĩa của cuộc sống Nhà thơ cứ dùng dằng nửa đi nửa ở “Hôm qua thì tiếc

mai thì sợ” (Năm đi), nên luôn luôn phỏng vấn “Thời gian/ Ông là ai?” (Thời

gian), rồi ám ảnh “Sau mỗi lần chạm cốc/ Biết đời còn mấy ai” (Năm tháng

Trang 23

trên vai) Nh-ng Hữu Thỉnh có cách sống của mình, không phải “ôm súng bò

lên với trái tim tình nguyện” nh- dạo nào, mà: “Tôi cố lách qua cặn lắng đời

mình/ Dưới đáy cốc của hy vọng” (Cặn lắng)

Cùng chung cảm xúc, tâm trạng của Hữu Thỉnh trong tr-ờng ca “Khối

vuông rubíc” nhà thơ Thanh Thảo cũng trực tiếp thể hiện những quan niệm

của mình về đạo đức, về quan niệm sống: “Tôi xoay những ô vuông Thì ra,

yêu th-ơng cha mẹ, vợ con, bạn bè, hàng xóm là một gánh nặng với những

cực nhọc phiền toái thực sự, trong lúc yêu th-ơng toàn nhân loại là một gánh

nặng t-ởng t-ợng dễ chịu, nó lâng lâng trong ta cái cảm giác luôn thấy mình

tốt, thấy mình cần thiết cho tất cả mọi ng-ời! Mà l-ng mình lại nhẹ

không! Bây giờ ta mới thấm thía câu nói đã vang lên nhiều lần trong các tác

phẩm của Rơ mác: cái mà nhân loại đang thiếu là một lòng tốt bình thường”

Lòng tốt có khi chỉ là một hớp n-ớc cuối cùng trong bi đông, một thìa đ-ờng

bạn nh-ờng cho trong cơn sốt rét dữ dội giữa Tr-ờng Sơn Ông nhận thấy một

sự thực rằng yêu thương vợ con, bạn bè là “một gánh nặng với những cực nhọc

phiền toái thực sự”, đòi hỏi ng-ời ta phải hy sinh rất nhiều Lẽ sống bình

th-ờng, giản dị ấy là điều mà nhà thơ luôn mong muốn có đ-ợc trong cuộc đời

này Cái mà nhân loại cần là một lòng tốt bình th-ờng Đó cũng chính là t-

t-ởng vang lên trong sáng tác của Hữu Thỉnh Hữu Thỉnh rất sắc sảo, già dặn

trong nhận thức và sự trăn trở về cuộc đời và nhà thơ đã thể hiện một cách đầy

ám ảnh về những điều chiêm nghiệm thấm thía ấy: Toàn bộ bài thơ Th-ơng

l-ợng với thời gian là nỗi băn khoăn của nhà thơ về đạo đức, l-ơng tri con

ng-ời, song dồn đọng là ở câu kết “Thức tỉnh/ Những hàng cây bật khóc”

Cây bật khóc vì nó th-ơng cho những lo toan trong số phận con ng-ời : Làm

ng-ời đâu có dễ dàng gì Và đây là cuộc th-ơng l-ợng lạ lùng mà chua xót: “

Chừng nh- cây chồn gôc/ Muốn đổi bóng cho tôi/ Để cây đ-ợc làm ng-ời/

Làm người trong chốc lát” Vậy mà “Mới một thoáng làm người/ Cây bỗng

đòi bóng lại”, bởi vì “Bão trời ta coi khinh/ Bão người không chịu nổi”(Một

thoáng làm ng-ời - Th-ơng l-ợng với thời gian)

Chỉ một thoáng làm ng-ời thôi mà cây đã vội vã đòi bóng lại Vậy mới

biết làm ng-ời khó biết bao nhiêu Hai câu thơ kết làm ta bàng hoàng Đau

Trang 24

đáu vì một nỗi buồn đời, nỗi buồn ng-ời, Hữu Thỉnh có những câu thơ làm

chúng ta ngậm ngùi trong một cảm th-ơng sâu sắc:

Mẹ ơi mây héo con xin mẹ

Cho con lên an ủi mặt trăng buồn

Chợ tan đ-ờng cũng tan nh- chợ

Bán đ-ợc buồn hay mua đ-ợc buồn hơn

(Đất ngày th-ờng)

Càng yêu đời, càng yêu ng-ời, càng đau đáu suốt đời về nỗi yêu th-ơng,

thơ Hữu Thỉnh càng thể hiện nỗi buồn sâu lắng

Hữu Thỉnh thấy trách nhiệm của mình là cần thức tỉnh con ng-ời đấu

tranh cho cuộc sống tốt đẹp hơn, sao cho con ng-ời còn giữ đ-ợc phẩm chất

trong sáng, nguyên sơ: “Xin nâng chén vì anh! Ta chúc những gì đây/ Tuyết

quê anh nhiều xin cho tôi như tuyết” (Chạm cốc với Xa-in – Th- mùa đông)

Cảnh báo, níu giữ nh-ng nhà thơ biết rằng: Thật khó để giữ đ-ợc nhân phẩm

tr-ớc những va đập dữ dội nhiều chiều của cuộc sống và đó chính là nỗi lo

lắng nhất “Anh hiểu vì sao tôi hay nhắc mẹ tôi/ Nỗi ám ảnh suốt đời day dứt/

Đối với mẹ sẽ là đòn đau nhất/ Có kẻ nào rình ném bẩn lên tôi” (Chạm cốc

với Xa-in - Th- mùa đông) Có thể nói, bài thơ “Hỏi” trong tập “Th- mùa

đông” là một câu hỏi nhức nhối, một yêu cầu thống thiết và cấp bách để mang

lại những gì tốt đẹp nhất cho con ng-ời và xã hội:

Tôi hỏi đất: Đất sống với đất nh- thế nào?

Chúng tôi tôn cao nhau

Tôi hỏi n-ớc: N-ớc sống với n-ớc nh- thế nào?

Chúng tôi làm đầy nhau

Tôi hỏi cỏ: Cỏ sống với cỏ nh- thế nào?

Chúng tôi đan vào nhau làm nên những chân trời

Tôi hỏi ng-ời:

Người sống với người như thế nào?”

Tôi hỏi ng-ời:

Người sống với người như thế nào?”

Trang 25

Tôi hỏi ng-ời:

Ng-ời sống với ng-ời nh- thế nào?"

Tác giả đã phát hiện ra sự giản dị gây hiệu quả thật ngạc nhiên: Đất tôn

cao nhau, n-ớc làm đầy nhau, cỏ đan xen vào nhau làm nên những chân trời

Điệp khúc ở cuối bài thơ tạo nên nhiều ý nghĩa sâu sa, tạo ra khoảng trống

trong câu hỏi và để tự ng-ời đọc lấp đầy những câu trả lời

Hữu Thỉnh là nhà thơ của tinh thần nghĩa khí và với một t- duy thơ sắc

sảo, nhạy cảm, nhà thơ đã mạnh dạn nói thẳng, nói thực những mặt trái của

hiện thực xã hội ở vào thời điểm mà lời nói thực ch-a hẳn đ-ợc dễ dàng chấp

nhận Điều này khẳng định thêm bản lĩnh cũng nh- l-ơng tâm của một ng-ời

cầm bút chân chính Đó là một ngòi bút dám nhìn thẳng vào sự thật, v-ợt lên

thói a dua, xu thời, dám đấu tranh, dám chữa trị những “căn bệnh tinh thần”

của xã hội vì những gì tốt đẹp của con ng-ời và cuộc đời Và điều quan trọng

là, sau tất cả, nhà thơ vẫn tin rằng cuộc đời còn rất nhiều những điều tốt đẹp,

đạo lí làm ng-ời sẽ chiến thắng và rốt cuộc con ng-ời ta vẫn luôn trên con

đ-ờng tìm đến với cái thiện Niềm tin đó đ-ợc gửi gắm ở sự yêu th-ơng, giúp

đỡ từ ngay những ng-ời không quen biết: “Bất chợt được sưởi ấm/ Từ những

ai không quen biết qua đường” (Bất chợt-Th-ơng l-ợng với thời gian), hay

tinh thần t-ơng thân thân t-ơng ái đậm nét truyền thống văn hóa dân tộc “Hãy

yêu lấy con ng-ời/ Dù trăm cay nghìn đắng/ Đến với ai gặp nạn/ Xong rồi chơi

với cây” (Lời mẹ - Th-ơng l-ợng với thời gian), bởi cội nguồn của bản tính

người là tính thiện, là tình thương: “Và em tin sau cay đắng vẫn tin/ Những

ngọn suối không làm đau bóng lá” (Th-a thầy - Th-ơng l-ợng với thời gian)

Khía cạnh nhân văn trong thơ Hữu Thỉnh và cũng là quan niệm của ông về

cuộc đời chính là ở điểm này

Qua những gì mà Hữu Thỉnh trăn trở, suy t-, chiêm nghiệm về đạo đức

nhân sinh có thể thấy rõ ông đã không hề có ý thuyết lí và rao giảng đạo đức

mà bằng những vần thơ bình dị, sinh động và giàu giá trị nhân văn Nhân vật trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh âu lo, khá nhiều khi trầm buồn Không

ít lần con ng-ời ấy bật lên những câu hỏi bức thiết về con ng-ời, ông cảnh báo

về nguy cơ “mất mùa nhân nghĩa”, ông lo âu trước thước đo tình bạn, tình

Trang 26

người…nhân vật trữ tình cứ ngày càng từng trải qua bao nhiêu xung sát, nhận

chịu những vết th-ơng nặng nề trong trái tim Nh-ng ông c-ơng quyết bảo

toàn và đấu tranh không lùi b-ớc cho sự hoàn thiện nhân cách của con ng-ời

1.2.1.3 Cái tôi - Ng-ời tình đằm thắm, thủy chung

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, thơ tình đích thực hầu nh- vắng

bóng Điều đó cũng dễ hiểu, bởi trong hoàn cảnh chiến tranh và khi con ng-ời

cá nhân đã hòa tan vào trong cộng đồng thì hiển nhiên không có mảnh đất cho

thơ tình nảy nở, bởi vì thơ tình thực sự phải là tiếng nói trực tiếp của cái tôi

riêng t- cá thể, tự ý thức sâu sắc về nhu cầu, khát vọng hạnh phúc Trong thơ

kháng chiến, tình yêu chỉ đ-ợc đề cập khi nó làm sâu sắc thêm cho tình cảm

với đất n-ớc và tinh thần chiến đấu nh- “Nhớ” của Hồng Nguyên, “Bài thơ

viết cạnh đồn Tây” của Nguyễn Đình Thi…Sang cuộc kháng chiến chống Mĩ,

đặc biệt là sau những năm hòa bình lập lại, thơ tình nảy nở và phát triển một

cách mạnh mẽ với các nhà thơ tiêu biểu nh- Chế Lan Viên, L-u Quang Vũ,

Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mĩ Dạ…cũng bởi vì tình yêu là chủ đề muôn thuở, là

đối t-ợng khai thác không bao giờ cạn kiệt trong cảm hứng thi ca Tiếng nói

thơ tình trong giai đoạn này trở nên thực hơn, đời hơn, phức tạp và cũng đau

đớn hơn

So với những nhà thơ cùng lứa, Hữu Thỉnh ít viết thơ tình Nh-ng ở một

số bài viết về chủ đề quen thuộc và đã có nhiều ng-ời khai thác này, Hữu

Thỉnh có một cách nói riêng, để lại những dấu ấn riêng, mang bóng dáng một

ng-ời tình đằm thắm Ta bắt gặp trong thơ ông hình ảnh một cái tôi mang

trong lòng những nỗi nhớ, những chờ mong, khắc khoải: “Anh nhớ em như

cơn mưa tích nước/ Cứ chợt òa chỉ một cớ không đâu” (Có một điều nh- thế)

Cũng có khi da diết, dữ dội “Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn/ Em

đâu phải là chiều mà nhuộm anh đến tím”, lại có khi lẻ loi, đơn chiếc đến lạnh

người: “Anh xa em/ Trăng cũng lẻ/ Mặt trời cũng lẻ/ Biển vẫn cậy mình dài

rộng thế/ Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn” (Thơ viết ở biển), hay nỗi

lòng day dứt khi phải cách xa “Sóng có nghĩa gì đâu nếu chiều nay em chẳng

đến/ Dù sóng đã làm anh nghiêng ngả vì em” Tâm trạng bồn chồn, xao động

ấy của nhân vật trữ tình có lúc thấp thoáng tản mát trong từng câu, từng đoạn

Trang 27

thơ, có lúc dồn đọng ở một bài chứa đựng nhiều tâm t- Nó là cảm xúc thoáng

gợi, hòa quyện hơi thở của đời th-ờng với một màn s-ơng khói trong tâm t-

Những câu thơ ngỡ nh- bâng quơ, nh- thừa thãi, không ăn nhập gì với nhau

mà nói đ-ợc nhiều điều sâu lắng, vừa da diết yêu th-ơng vừa ngọt ngào đằm

thắm:

Bóc hạt sen bùi gặp một tâm sen Tâm sen đắng mình ơi ta vẫn đợi Nếu em về đ-ờng sông gió sẽ thôi than thở bến đò Nếu em về đường mây con chim xanh sẽ cùng em trở lại…

Em đỏ thắm một mình đi giữa lá

Anh lại đến tìm em qua chiếc dây rất mảnh S-ơng sớm lo âu gió muộn bồn chồn

Sau vết bỏng chiếc hôn đầu ngày ấy

ở cuối v-ờn có một nụ tầm xuân

(Trở lại mùa xuân-Th-ơng l-ợng với thời gian) Một phẩm chất của cái tôi nhà thơ là ông khá kiệm lời Ngay cả trong

những bài thơ tình yêu, ng-ời ta hay viết dài để thổ lộ đ-ợc nhiều nỗi lòng thì

Hữu Thỉnh cũng vẫn kiệm lời: “Chúng ta buồn cũng vì nhau/ Trời thấy buồn

cho mùa xuân trở lại” (Một lần - Th-ơng l-ợng với thời gian), hay những câu

thơ chất chứa nhân tình thế thái “Bông hoa này tới em/ Sau bao ng-ời mặc cả/

Con đường này tới em/ Sau bao lần lầm lỡ” (Hoa tặng - Th-ơng l-ợng với thời

gian) và thấm thía nỗi đau nhân thế “Trái đất chẳng rộng đâu/ Ta hoang dại

dưới trời/ Lấy tình yêu làm mái nhà che chở” (Trái đất chẳng rộng

đâu-Th-ơng l-ợng với thời gian)

Trên đ-ờng hành quân, chiến đấu gian nan và ác liệt, trong sâu thẳm tim

ông vẫn có những tình cảm riêng t-: Ng-ời yêu dấu Trong nỗi nhớ tình yêu

của ông, ta nghe rất rõ nhịp đập dồn dập của trái tim rất trẻ, chân thực táo bạo

và nồng say: “Em ơi em, anh không sao viết kịp một dòng thư/ Thương nhớ là

gì mà anh mang nặng thế…/ Em ở đâu trong thương nhớ của anh/ Em ở đâu

đất trời không bờ bến” (Thần tốc - Đ-ờng tới thành phố) Ngay từ những ngày

đầu đến với chiến tr-ờng, tình yêu đã theo b-ớc chân nhà thơ, là ngọn lửa soi

Trang 28

sáng mọi nẻo đ-ờng hành quân: “Tôi là chỗ thất thường của gió/ Khi người

yêu cởi áo trao khăn/ Tôi là chỗ b-ớc chân đi chậm lại/ Ng-ời th-ơng nhau dù

thương chỉ một lần” (Điệp khúc những cây cầu - Đ-ờng tới thành phố) Ngọn

lửa tình yêu đã thăng hoa cùng ngọn lửa lí t-ởng Trong suốt những năm chiến

tranh, tình yêu và niềm tin ấy đã góp phần làm nên bao kì tích Hình ảnh ng-ời

yêu trong trái tim nhà thơ nh- vòm trời xanh mát, nh- biển xanh dịu êm, là

bến bờ n-ơng tựa giữa cái khốc liệt của chiến tranh Tình yêu đã thành nguồn

năng l-ợng tinh thần vô giá mà không một sức mạnh nào sánh đ-ợc:

Em ơi em, em là biển của đời anh

Là vụng kín

Là bến bờ n-ơng tựa

Em làm anh bận rộn ngày ngày

Em làm anh nóng nực ngày ngày Anh chìa ca nhận phần n-ớc hiếm hoi

Để em thấm vào anh khúc ngọt ngào chia sẻ

Em làm anh non tơ

Em làm anh mạnh mẽ

(Tự do - Đ-ờng tới thành phố) Trong dòng cảm xúc của nhân vật trữ tình, đó có thể là một câu chuyện

tình vu vơ thoáng qua Một gã tình si lang thang đi tìm về nơi chốn cũ “Xa

vắng quá bồn chồn đi hỏi cát/ Đường đông người đâu chỉ dấu chân em” (Xa

vắng) Câu hỏi rất vu vơ, nhưng có lý bởi “cát” biết ôm vào lòng mình những

kỉ niệm êm đềm của thời hai ng-ời yêu nhau Cát chứng kiến mối tình của họ

và biết cất giữ cái điều thiêng liêng nhất cho họ Nh-ng tr-ớc và sau họ đã có

biết bao cặp tình nhân tìm đến với cát Nhân vật trữ tình cứ một mình đếm cát

và tự hỏi: Đâu là dấu chân em rồi anh lại day dứt đi tìm, nh-ng hỏi cát và bến

vẫn mù mịt song lòng vẫn không thôi kiếm tìm, hỏi han Anh chỉ mong sao

tìm lại chút hơi h-ớng của ng-ời cũ, của ngày cũ, đem hong lên s-ởi ấm cho

hồn mình Song tất cả đều vô vọng:

Xa vắng quá bồn chồn đi hỏi bến Ng-ời qua đò có dặn sóng gì thêm

Trang 29

Xa vắng quá tần ngần đi hỏi chợ Ng-ời mua g-ơng dạo ấy có hay về Ng-ời mua g-ơng chỉ một lần trở lại Soi t-ng bừng rồi lặng lẽ quay đi

(Xa vắng - Th-ơng l-ợng với thời gian) Một cảm giác bâng khuâng, xót xa, vừa th-ơng, vừa giận cứ lan tỏa nh-

những vòng sóng trong lòng thi nhân Cũng có khi nhà thơ ôn lại bao kỉ niệm

trong lòng về một ng-ời thiếu nữ: “Mười bảy tuổi chắc gì mưa ướt áo/ Em

đứng so le bên mùa ngâu/ Em chọn mùa ngâu để tha hồ lãng quên, tha hồ mơ

mộng/ Anh đi qua không gặp mắt em nhìn” (Đất ngày th-ờng), cũng chỉ vì lời

hứa hay cũng vì nỗi nhớ mong khắc khoải mà nhân vật trữ tình đi tìm nàng,

qua bao nhiêu gian khổ, qua bao thời gian mà không gặp: “Ng-ời ta bảo em rẽ

qua kênh sáng/ Anh rẽ bùn qua kênh sáng tìm em/ Ng-ời ta bảo em rẽ qua tiệc

cưới/ Anh tới nơi bát đũa đã say mèm” (Đất ngày th-ờng) Có thể nói hình ảnh

ng-ời yêu cứ vấn vít, trở đi trở lại nhiều lần trong các sáng tác của Hữu Thỉnh

Để diễn tả cái khoảnh khắc bất tử lần đầu gặp ánh mắt ng-ời yêu, nhà

thơ ví mình nh- một đôi cánh chuồn rực rỡ bị chấm nhựa bối rối không bay

lên đ-ợc trong khoảng bao la của ngày t-ơi sáng: “Anh đã một lần chạm phải

mắt em/ Chỉ một lần mà sao không gỡ đ-ợc/ Anh nh- một đôi cánh chuồn

chuồn/ Bị chấm nhựa trong cái ngày tươi sáng ấy” (Một lần - Th-ơng l-ợng

với thời gian) Với một d- vị cay đắng, xót xa, nhà thơ thảng thốt tr-ớc sự đơn

lẻ của tình yêu Lấy sự mênh mông của biển cả để biến thành môi tr-ờng suy

t- và khát vọng Tình yêu không còn xa lạ trong thơ, Xuân Quỳnh từng diễn tả

tình yêu của ng-ời phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn v-ợt lên thử

thách của thời gian và sự hữu hạn của đời ng-ời để h-ớng tới một hạnh phúc

lớn lao thì ở Hữu Thỉnh có cái rung động mới mẻ Để nói cái không trọn vẹn

trong tình yêu, anh viết: “Anh phải nói vòng vo anh yêu biển/ Anh yêu trời để

thú nhận yêu em/ Anh cứ khen ng-ời tốt đôi tốt lứa/ Để giấu đi bao nỗi xót xa

thầm” (Tạm biệt Sầm Sơn - Th- mùa đông) Nếu tr-ớc biển Xuân Diệu biểu

hiện khát vọng tình yêu mãnh liệt thì Hữu Thỉnh lại cảm nhận thấm thía nỗi

chông chênh, trống vắng của con ng-ời và đ-a ra triết lý tình yêu của riêng

Trang 30

mình: “Biển vẫn cậy mình dài rộng thế/ Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn”

(Thơ viết ở biển - Th- mùa đông) Với một cảm thức gần nh- tôn giáo, Hữu

Thỉnh đã viết về một tình yêu với vẻ đẹp tinh túy của con ng-ời: “Lọc hết bùn

đi/ Còn chút gì sót lại/ Đấy là anh sau những vui buồn/…Còn chút gì sống

đ-ợc/ Đấy là em rực rỡ sao hôm” (Lọc - Th-ơng l-ợng với thời gian)

Viết về tình yêu, cái tôi trữ tình một mặt hiện lên vẻ nồng nàn, sôi nổi,

trẻ trung của ng-ời lính, mặt khác có cái trầm t-, chiêm nghiệm của một ng-ời

từng trảI, không lẫn với bất kì ai Song dù ở góc độ nào thì cái tôi ấy cũng hiện

lên đằm thắm, đôn hậu

1.2.2 Cái tôi trữ tình thế hệ

Cùng với cái tôi cá nhân nhà thơ, cái tôi thế hệ là dạng thức tiêu biểu,

nổi bật của cái tôi trữ tình trong các nhà thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mĩ

Ch-a có giai đoạn nào mà trong thơ lại cùng lúc xuất hiện một đội ngũ đông

đảo các nhà thơ trẻ của cùng một thế hệ nh- thời kì này "Thơ của các nhà thơ

trẻ là tiếng nói tự ý thức, tự biểu hiện của thế hệ trẻ tự nguyện nhập cuộc và

đ-ợc trải nghiệm qua thử thách của chiến tranh Mỗi nhà thơ trong số họ đều ý

thức rõ ràng về thế hệ mình và tính chất đại diện cho tiếng nói thế hệ của thơ

mình bởi thế cái tôi trữ tình trong thơ họ là cái tôi thế hệ" [38,112] Hiểu đ-ợc

sứ mệnh của thế hệ mình, Thanh Thảo từng viết : "Lớp tuổi hai m-ơi, ba m-ơi

xanh màu áo lính / Trùng điệp áo màu xanh là một tiếng trả lời” (Những

ng-ời đi tới biển) Ng-ời đọc cũng không thể quên đ-ợc chân dung của những

ng-ời lính lái xe, những cô gái thanh niên xung phong trong thơ Phạm Tiến

Duật, ng-ời lính bộ binh trong thơ Nguyễn Đức Mậu "Ngủ rừng theo đội hình

đánh giặc" hay chân dung ng-ời lính xe tăng, xạ thủ trung liên trong thơ Hữu

Thỉnh

Thế hệ các nhà thơ chống Mĩ đều là những ng-ời có mặt trong chiến

tranh, trực tiếp cầm súng chiến đấu trên các mặt trận Cả một thế hệ đã hăng

hái lên đ-ờng, sẵn sàng hi sinh tất cả vì họ đã có một sự lựa chọn đúng đắn

cho lẽ sống của mình: Chiến đấu với kẻ thù để bảo vệ tất cả những gì thân yêu

nhất Và họ đã có mặt ở chiến tr-ờng những năm chiến tranh ác liệt nhất

G-ơng mặt tinh thần của họ nhanh chóng hiện diện trong thơ nh- một tiếng

Trang 31

nói ý thức mạnh mẽ: "Chúng tôi trẻ nên củi rừng mau bén/ Chúng tôi làm thơ

ghi lấy cuộc đời mình” (Những ng-ời mới đến - Đ-ờng tới thành phố) í thức

về thế hệ là một sự tự ý thức, chủ thể trữ tình ở đây là nhà thơ đồng thời là

ng-ời lính trong cuộc, cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh ở đây nhân danh

thế hệ, đại diện cho tiếng nói thế hệ nhiệt tình đối thoại, phát ngôn cho thế hệ:

” Trong cuộc chiến tranh này/ Đừng để ngượng với nhau khi gặp mặt” ( í

nghĩ không vần - Th- mùa đông) Họ b-ớc thẳng tới chiến tr-ờng với một ý

chí và sự lựa chọn quyết liệt: "Ngày mai chúng ta đòi lại phù sa/ Ngày mai

chúng ta về c-ời rung bè rau muống" (Đêm chuẩn bị - Th- mùa đông)

Suốt chặng đ-ờng kháng chiến chống Mĩ cũng là chặng đ-ờng thơ mà

cái tôi thế hệ trong thơ Hữu Thỉnh đã ghi lại quá trình tr-ởng thành về ý thức

của thế hệ trẻ cũng nh- của bản thân đã đi qua suốt cuộc chiến tranh mà ngày

càng dữ dội, quyết liệt Từ cái tôi náo nức, say s-a với cảm hứng lãng mạn của

buổi đầu, đến sự trải nghiệm với nhiều suy t-, trầm tĩnh trong giai đoạn cuối

cuộc chiến tranh Hữu Thỉnh viết những câu thơ nh- là tuyên ngôn cho thế hệ

mình: "Để có một đồng bằng tr-ớc mặt/ Chúng ta lên rừng m-ời tám đôi

m-ơi” (Ngọn lửa chiến trường - Đ-ờng tới thành phố), một ý thức nhập cuộc,

sẵn sàng hi sinh tuổi trẻ để giành lại độc lập cho dân tộc Đó cũng là cảm xúc,

lí t-ởng của Thanh Thảo: "Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình/ (Nh-ng tuổi

20 làm sao không tiếc)/ Nh-ng ai cũng tiếc tuổi 20 thì làm chi còn Tổ quốc "

(Những ng-ời đi tới biển) Đó cũng chính là tiếng nói tự ý thức của thế hệ

trong việc khẳng định bản lĩnh, ý chí, sức vóc của những ng-ời trẻ tuổi tr-ớc

những thử thách khốc liệt của chiến tranh thể hiện trong Tr-ờng ca của Thi

Bom đạn nổ tung con đập, n-ớc tràn bờ

(Gọi nhau qua vách núi)

Trang 32

Có thể thấy, ch-a bao giờ, ch-a ở đâu sự nhận thức về thế hệ lại nhiệt

thành và náo nức nh- vậy Họ đã sống và chiến đấu hết mình vì lí t-ởng cao

cả: "Khi anh hiểu nhân dân, nhân dân chia cắt/ Yêu Tổ quốc mình, Tổ quốc

chia đôi/ Nỗi đau ấy góp đời mình để xóa" (Đ-ờng tới thành phố) Nhận thức

sáng sủa đó đã tiếp thêm sức mạnh cho thế hệ chống Mĩ v-ợt qua những thử

thách ác liệt của chiến tranh Họ xuất hiện và sẵn sàng nhận lĩnh trách nhiệm

cao cả "Dàn hàng gánh đất n-ớc trên vai" (Bằng Việt), họ b-ớc vào cuộc

chiến với một tâm thế vững vàng Các anh từ giã mẹ già, từ giã gia đình với sự

lựa chọn quyết liệt: Chiến tr-ờng "chúng tôi lên rừng m-ời tám đôi m-ơi" Và

kể từ những năm tháng ấy thế hệ các anh đã không tiếc tuổi xuân của mình vì

sự sống còn của Tổ quốc Thể hiện cái tôi thế hệ, thơ Hữu Thỉnh có một chất

giọng riêng, đặc biệt ở các tr-ờng ca Một chất giọng thiên về suy t-, vừa độc

thoại vừa đối thoại, tr-ớc hết là với bản thân mình Theo đó chân dung thế hệ

hiện lên khác với nhiều tác phẩm cùng thời: "Chúng tôi, ng-ời chủ những căn

hầm/ Đốt ngọn lửa để tìm vào tri kỉ" (Những ng-ời mới đến - Đ-ờng tới thành

phố)

Từ cánh cửa nhà tr-ờng, từ những miền quê nghèo lam lũ, anh và các

thế hệ nhà thơ nh- anh b-ớc thẳng tới chiến tr-ờng cùng chung một ý chí, một

sự lựa chọn theo lớp lớp cha anh "Lớp cha tr-ớc, lớp con sau/ Đã thành đồng

chí chung câu quân hành" (Tố Hữu) Họ là những con ng-ời nhận lĩnh trách

nhiệm cao cả tr-ớc vận mệnh đất n-ớc:

Mỗi tuổi quân chịu sáu tháng m-a rừng Lại có những anh hùng

Đến với họ thơ tìm ra tinh chất

Có ng-ời chỉ huy từ lứa chúng tôi lên Góp cho đất n-ớc nhiều vầng trán Sống làm ng-ời chiến thắng

Cho mẹ mình, cho đời mình đỡ khổ Còn ao -ớc nào hơn

Tự do và đoàn tụ /

Còn hạnh phúc nào hơn

Trang 33

Tổ quốc!

(Những ng-ời mới đến - Đ-ờng tới thành phố)

Thế hệ nhà thơ ghi nhận đ-ợc dấu ấn đặc biệt bởi sự ý thức rất rõ về

trách nhiệm và sứ mệnh lịch sử của mình Vẫn là sự khảng khái vô t- của

những ng-ời lính sẵn sàng chấp nhận sự hi sinh vì lý t-ởng độc lập dân tộc,

vẫn là sự dấn thân tự nguyện với cách nói rất trẻ, nh-ng thế hệ chống Pháp ít

nhiều còn có sự phân hóa trong giọng điệu Những ng-ời lính của Hồng

Nguyên đi ra từ những miền quê nghèo có cách nói chất phác, mộc mạc: “Lũ

chúng tôi bọn ng-ời tứ xứ/ Gặp nhau hồi ch-a biết chữ/ Quen nhau từ thuở

một hai/ Súng bắn ch-a quen quân sự m-ơi bài/ Lòng vẫn c-ời vui kháng

chiến/ Lột sắt đ-ờng tàu/ Rèn thêm dao kiếm/ áo vải chân không đi lùng giặc

đánh” (Nhớ – Hồng Nguyên) Còn những ng-ời lính vốn là trai Hà Thành

trong thơ Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng có cách nói pha màu sắc lãng mạn :

“Ng-ời ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau l-ng thềm nắng lá rơi đầy” ( Đất

n-ớc – Nguyễn Đình Thi ) “Rải rác biên c-ơng mồ viễn xứ/ Chiến tr-ờng đi

chẳng tiếc đời xanh” ( Tây Tiến – Quang Dũng) Đến thế hệ chống Mỹ đã có

sự thống nhất cao trong giọng điệu, ngôn ngữ, cách nói Đó là chất giọng trầm

tĩnh, chắc chắn của những ng-ời đã qua trải nghiệm khốc liệt của chiến tranh

Không cao giọng, không đại ngôn, chối bỏ hết những hoa mỹ, sáo từ, cách nói

của họ trực tiếp, thậm chí trần trụi , nghiêng về sự đối thoại và triết lý, điều đó

thể hiện đ-ợc nhận thức sâu sắc và già dặn của thế hệ trẻ trong cuộc chiến

tranh chống Mỹ Dùng hình thức đối thoại, lập luận để nói về thái độ, trách

nhiệm của cả một thế hệ, Hữu Thỉnh đã tạo đ-ợc cách nói chân thực hiếm

thấy

Những đại từ nhân xưng: “Ta”, “chúng ta”, “chúng mình”, “thế hệ

chúng con”, “chúng tôi”, “thế hệ chúng tôi” xuất hiện thường xuyên trong

các trường ca Hữu Thỉnh: “Ngày mai chúng ta đánh trận cuối cùng/ Một nửa

nhân dân ngày mai ta nhận mặt” (Tờ lịch cuối cùng - Đ-ờng tới thành phố),

“Chúng tôi có những kỉ niệm riêng, những bài học, những điều để nghĩ/ Chúng

tôi đầy rừng, tắm giặt, hái rau đào hầm, mơ mộng, sống đời th-ờng suốt cuộc

chiến tranh, yêu đời lính yêu luôn gian khổ” (Văn xuôi một ng-ời lính -

Trang 34

Đ-ờng tới thành phố), “Đêm giáp ranh ngặt chuyện trò tâm sự/ Chúng tôi bơi

trong th-ơng nhớ của riêng mình / Con đò r-ớn cao chực đã tới bờ/ Chúng

tôi bước lên Cát buổi chiều còn ấm” (Chuyến đò đêm giáp danh) Có thể

thấy, trong thơ ca chống Mĩ nói chung và thơ Hữu Thỉnh nói riêng, cái tôi thế

hệ tuyên ngôn khá nhiều, tự bạch khá nhiều Qua đó chúng ta thấy đ-ợc nhận

thức, quan niệm của thế hệ nh- Hữu Thỉnh tr-ớc mọi vấn đề của cuộc sống

đang đặt ra Trong thực tế chiến tranh khốc liệt, nhận thức biểu hiện qua hành

động, quan niệm bộc lộ qua lối sống, trên những ứng xử cụ thể Thế hệ những

nhà thơ - chiến sỹ nh- Hữu Thỉnh nói về lòng yêu n-ớc, lòng dũng cảm, về

tình yêu th-ơng đồng đội bằng những hành động, những ứng xử cụ thể của

mình giữa chiến tr-ờng chứ không phải chỉ bằng khái nệm chung chung, thứ lí

thuyết suông mang tính chất hô hào:

Để có giấc ngủ yên hai m-ơi phút Chúng tôi đào hầm hì hục suốt đêm

Chúng tôi ch-a bao giờ yên tĩnh

Đi nh- sông hiếu động nh- rừng

Đã để lại thảnh thơi trên cỏ

Và nhận về giông bão sau l-ng

(Tự thuật của ng-ời lính-Tr-ờng ca biển) Đó cũng chính là tâm sự, là ý chí, quyết tâm trong thơ Nguyễn Đức

Mậu: “Chúng tôi nói về lòng yêu n-ớc/ Bằng l-ỡi xẻng moi hầm/ Bằng khẩu

súng cầm tay…/ Chúng tôi nói về lòng dũng cảm/ Bằng xác giặc ngổn ngang,

khẩu súng đỏ nòng” (Tr-ờng ca s- đoàn)

Đi qua những năm tháng chiến tranh, Hữu Thỉnh hiểu hơn ai hết bản

chất khốc liệt của nó và cái giá mà dân tộc phải trả cho độc lập tự do Nh- một

tất yếu, nhà thơ thấy mình cần phải có trách nhiệm khái quát hiện thực để từ

đó có cái nhìn sâu hơn về những mất mát đau th-ơng cũng nh- ý nghĩa của

chiến thắng Trở về từ cuộc chiến tranh, ông thấy d-ờng nh- đ-ợc giao phó

một sứ mệnh, phải viết về cuộc chiến tranh bi tráng Nó nh- là "món nợ tinh

thần” và Hữu Thỉnh có nhu cầu đ-ợc trả món nợ đó Nhà thơ ý thức về việc tự

ghi lấy hình ảnh của thế hệ mình bằng văn ch-ơng: "Không có sách chúng tôi

Trang 35

làm ra sách/ Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình" (Ngọn lửa chiến tr-ờng

- Đ-ờng tới thành phố) Điều Hữu Thỉnh tâm niệm là: “Đừng viết về chúng tôi

nh- cốc chén trên bàn/ Xin hãy viết như dòng sông chảy xiết” (Đ-ờng tới

thành phố), cũng chính là tâm niệm chung của các nhà thơ cùng thời khi nói

về mình, thế hệ mình

Không chỉ tuyên ngôn về trách nhiệm, hành động tr-ớc lịch sử, nhà thơ

còn tự bạch về bản thân thế hệ mình, về cuộc sống chiến tr-ờng trong những

tháng năm gian khổ Tình cảm chung với đất n-ớc, nhân dân cũng nh- những

tình cảm, kỉ niệm riêng tư, ước mơ, hoài bão… được bộc bạch chân thành

Ng-ời đọc có thể hình dung đầy đủ, thấm thía về những gian khổ, hi sinh, mất

mát đến mức khốc liệt của một thời bom đạn qua cái nhìn của một ng-ời đã

kinh qua cuộc chiến: "Máu anh bỏng xuống núi ngàn/ Đời anh treo một dấu

than giữa trời/ Kẻ thù cách một gang thôi/ Phải dằn súng lại cắn môi tìm

đ-ờng" (T- lệnh - Đ-ờng tới thành phố) Nhà thơ triết lí về sự hy sinh của thế

hệ mình qua hình ảnh, cách nói giản dị mà thấm thía: "Đứng lọt thỏm giữa bao

nhiêu th-ơngxót/ Không thể nhìn đống súng thừa nh- nhìn bát đũa"( Đ-ờng

tới thành phố), đó còn là tình cảnh họ bùi ngùi, đau xót khi phải tự tay chôn

cất chính đồng đội của mình và cũng không chỉ một lần trên hành trình bảo vệ

mảnh đất thân yêu của Tổ quốc:

Ch-a kịp đặt ba lô

Chúng tôi đặt anh cạnh mốc chủ quyền

Chúng tôi lại cùng nhau bới cát Chôn anh thêm một lần

(Cát – Tr-ờng ca biển)

Chiến tranh không chỉ có những hi sinh mất mát, chiến tranh còn biết

bao thiếu thốn đè nặng trên vai những ng-ời lính Nhà thơ đã tái hiện một cách

chân thực những thiếu thốn, những khó khăn vất vả mà những ng-ời lính thế

hệ mình đã từng trải qua: “Chúng tôi nhìn dúm thóc trên tay/ Những hạt thóc

đã biến thành thuốc quý/ Thóc hóa con đê ngăn cái chết dần mòn” (T- lệnh -

Đ-ờng tới thành phố) Song cái đói, cái rét và th-ơng vong không ngăn cản

đ-ợc b-ớc chân những ng-ời lính thế hệ ông trên đ-ờng hành quân, ra đi vì

Trang 36

nghĩa lớn, tất cả dành -u tiên cho nhiệm vụ: “Gạo chỉ mang đủ mười ngày còn

dành mang súng/ Còn mang thuốc/ Còn mang nhau/ Mang bao nhiêu tai biến

dọc đ-ờng/ Mỗi quyển sách nặng bằng năm viên đạn/ Chúng tôi đành mang

đạn trước tiên” (Ngọn lửa chiến tr-ờng - Đ-ờng tới thành phố)

Có thể nói ch-a bao giờ t- t-ởng sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc, vì nhân

dân lại vang lên mạnh mẽ nh- lúc này, nó là chất keo gắn kết bao thế hệ, bao

số phận, bao cuộc đời vào chiếc nôi chung của một thời khốc liệt, các thế hệ

tiếp b-ớc nhau trên một con đ-ờng ra trận:

Ngọn lửa này và hi vọng của anh Của chúng tôi những ng-ời mới đến Chúng tôi vẫn hát sông Lô, sông Thao, Điện Biên, Tây Bắc Thương các anh dốc đá tai mèo…

Chúng tôi s-ởi bằng ngọn lửa của mình Lại thấy ấm từ các anh đi tr-ớc

(Ngọn lửa chiến tr-ờng - Đ-ờng tới thành phố)

Có thể nói Hữu Thỉnh đã tái hiện khá chân thực hình ảnh thế hệ mình

trong những năm chiến tranh gian khổ, trong hành động ”xoay trần đánh giặc”

và chân thực trong cả những khao khát rất đời th-ờng, có khi thật nhỏ nhoi

khiến ta nao lòng: "Thèm trăm thứ nh-ng thèm đồng bằng nhất" ; "Lúc leo

dốc ta vẫn thèm đ-ờng nhựa"; "Thèm một chỗ ngồi th- thả bóc măng" (Đ-ờng

tới thành phố)

Xuyên qua tất cả các bài thơ, các cảnh ngộ của đất n-ớc, con ng-ời cái

tôi trữ tình thế hệ này luôn suy nghĩ về ý nghĩa, trách nhiệm vô cùng thiêng

liêng, hệ trọng của các nhà thơ - chiến sĩ thế hệ mình Không phải bằng lí

thuyết, đại ngôn mà những nghĩ suy trăn trở đó đ-ợc chắt lọc ra từ những mất

còn cụ thể quyết liệt, từ một cuộc chiến tranh cụ thể Họ là hiện thân cho chủ

nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam

Có thể nói trong thơ Hữu Thỉnh luôn có sự hiện diện của cái tôi trữ tình

ở vị trí trung tâm, tự biểu hiện những cảm xúc, suy t- của bản thân mình, của

thế hệ mình

1.2.3 Cái tôi trữ tình nhập vai

Trang 37

Thơ trữ tình chủ yếu đ-ợc nói đến nh- một bản tự thuật tâm trạng của

chủ thể Song có tr-ờng hợp chủ thể và khách thể gần gũi nhau đến mức nh-

hòa lẫn vào nhau Trong các bài thơ trữ tình nhập vai, nhân vật có mối quan

tâm riêng, có cảnh ngộ và đời sống riêng Việc đẩy nhân vật trữ tình ra khỏi

tầm kiểm soát thông th-ờng của nhà thơ đã biến nhân vật có khi trở thành đối

t-ợng nhận thức của chính tác giả Dù vậy, nhìn vào mối quan hệ ngầm ẩn bên

trong chúng ta có thể nhận ra nhân tố tự thuật tâm trạng và nhân tố nhập vai

Hai nhân tố này khiến nhà thơ trở thành một sự thống nhất trong hai con

ng-ời Cái tôi tác giả ở đây không chỉ nhằm tự biểu hiện mình mà chủ yếu là

để h-ớng tới các nhân vật đ-ợc nhập vai, biểu hiện lòng yêu mến, cảm phục

hay ngợi ca những con ng-ời ấy

1.2.2.1 Cái tôi trữ tình nhập vai ng-ời lính

Trong thơ văn kháng chiến chống Mĩ, ng-ời lính luôn là nhân vật trung

tâm, là hình ảnh đẹp của thơ ca Vẻ đẹp rực rỡ nhất của họ là biết hy sinh

quyền lợi, hạnh phúc cá nhân, cống hiến tất cả, kể cả x-ơng máu của mình cho

Tổ quốc Tr-ớc đó ta từng bắt gặp ng-ời lính trong thơ Tố Hữu, Chính Hữu,

Quang Dũng, Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo bởi hơn ai hết tr-ớc khi làm thơ,

trong khi làm thơ, những nhà thơ ấy đã là những ng-ời lính hoặc tình nguyện

sống nh- những ng-ời lính chống Mĩ Hữu Thỉnh có lần nói: " Thơ ca của thế

hệ chống Mĩ là tiếng nói sống động và tự tin của những ng-ời trong cuộc

Ng-ời ta bắt gặp khá nhiều tr-ờng hợp nhân danh, nh-ng mọi sự nhân danh

đều tìm đ-ợc cảm thông của ng-ời đọc vì nó đ-ợc đảm bảo bằng chỗ đứng của

ng-ời viết Thơ ở đây đ-ợc đảm bảo bằng máu" [37,417] Hình ảnh ng-ời lính

là một chủ đề xuyên suốt các tập thơ của Hữu Thỉnh, nó trở đi trở lại nh- một

nỗi ám ảnh, nh- một niềm thôi thúc khôn nguôi, thông qua hình t-ợng cái tôi

trữ tình, chân dung ng-ời lính hiện lên với nhiều dáng vẻ khác nhau Trong đó

việc tác giả hóa thân vào những ng-ời chiến sỹ để bộc bạch, nghiền ngẫm là

một biểu hiện đặc biệt Hiện lên trong thơ Hữu Thỉnh là hình ảnh những chàng

trai với tâm hồn trong sáng, tràn đầy nghĩa khí cho đức tính giản dị, cho vẻ

đẹp đời th-ờng và sự hi sinh thầm lặng

Trang 38

Đọc thơ Hữu Thỉnh, chúng ta thấy anh hóa thân vào những con ng-ời cụ

thể để diễn tả nỗi lòng của họ Đó là ng-ời Xạ thủ trung liên với cảnh ngộ éo

le tr-ớc âm m-u thâm độc của kẻ thù không phải là những đòn tra tấn, những

trận m-a bom cái mà quân giặc làm với anh là anh chết khi đang còn sống:

Họ tên anh, cả ngày tháng năm sinh Giặc đánh cắp để loan tin báo tử Chúng ép anh từ hai phía chiến tr-ờng

(Những ng-ời mới đến - Đ-ờng tới thành phố)

“Chiến tranh như một cơn bão dữ quật lên những cuộc đời, những số phận, ở

đó sự sống và cái chết chỉ cách nhau một đốt ngón tay, phẩm chất anh hùng và

sự hèn nhát chỉ cách nhau một tầng thép gai” [77,151] Hóa thân vào ng-ời Xạ

thủ trung liên, tác giả cảm nhận hết những gian khổ, sự đe dọa, hiểm nguy

rình rập đối với người lính qua “những lần hổ vồ”, “những lần voi đuổi”,

những “bữa canh nấm độc cào gan”, có lẽ ch-a thể so sánh nổi với sự độc ác

nh- trên của kẻ thù Trong gian khổ, hiểm nguy đó ng-ời xạ thủ trung liên có

những mơ -ớc thật bình dị, nhỏ bé thật cảm động:

Thèm một chỗ ngồi thư thả bóc măng…

Thèm vỏ sắn lật mình trôi dưới đáy…

Thèm một đầu củi dở, thèm một làn n-ớc đục

(Những ng-ời mới đến-Đ-ờng tới thành phố) Soi vào đó ta thấy cả một trời khát vọng - khát vọng hòa bình, khát vọng

tự do, khát vọng đ-ợc sống với những nhu cầu bình dị nhất Đó không chỉ là

mơ -ớc của một ng-ời mà là giấc mơ của cả thế hệ đang ngày đêm “xoay trần

đánh giặc”, “dàn hàng gánh đất nước trên vai”

Cũng có lúc cái tôi trữ tình hóa thân vào vị T- lệnh của mình để trò

chuyện cùng ng-ời lính Cái tôi trữ tình hóa thân này đã thể hiện đ-ợc nỗi

lòng, những trăn trở day dứt trong lòng Một lần lỡ hẹn kéo dài thành 14 năm

Ra đi từ một chiến sỹ trẻ trung, giờ nhìn lại tấm hình thấy xa lạ với chính bản

thân mình:

Anh giở bức hình chụp những năm còn trẻ Anh ngó ngơ nh- một kẻ xa lạ

Trang 39

Ai trong đó sao mà c-ời hỉ hả

Sao vô t-, sao ú mập vậy à?

Hai m-ơi năm anh khó nhận ra mình

(T- lệnh - Đ-ờng tới thành phố) Trong những năm kháng chiến chống Mĩ, vị trí của ng-ời lính luôn đặt

trong hoàn cảnh lớn của dân tộc nên những tình cảm riêng t-, hạnh phúc cá

nhân tạm thời bị che lấp Tình yêu, hạnh phúc gia đình nếu có đề cập đến cũng

gắn với bổn phận, nghĩa vụ Những lời tâm sự riêng t- của vị t- lệnh về cái

cách anh lấy vợ rất gấp gáp, sau một đêm rồi đi Nghĩ đến vợ anh thấy mình có lỗi:

Nhà mình do má tìm cho Nết ăn nết ở cũng do má tìm Một lô bánh quế má đem Mình về một buổi nên duyên cậu à Tối ăn một bữa ở nhà

Sáng bên ngoại…thế là xa một lèo

(T- lệnh - Đ-ờng tới thành phố) Chiến tranh ác liệt, bom đạn, đói rét, gian khổ nơi chiến tr-ờng không

làm anh bận lòng, không làm anh day dứt bằng những trăn trở về tình cảm

riêng t-, về nghĩa tình dành cho vợ, về sự cô đơn vò võ một mình của vợ

Trong hoàn cảnh chiến tranh, việc của một đời ng-ời mà với anh thì “một

ngày vừa biết vừa yêu/ Vừa xin vừa cưới….” nên tình nghĩa vợ chồng thật

mong manh Qua đây cho thấy sự hi sinh hạnh phúc riêng t- vì lí t-ởng của

ng-ời lính là rất lớn:

Một ngày sợi chỉ mong manh Giữ sao khỏi đứt cho mình đ-ợc đây Mình đi vui bạn vui bầy

Khi việc bận lại mong ngày đừng nhanh

ở nhà dài những năm canh

Từ bậu cửa bước xuống sân cũng dài”

(T- lệnh - Đ-ờng tới thành phố

Trang 40

Cũng bởi “Một ngày nên nghĩa nên duyên vợ chồng” nên đi khắp chiến

tr-ờng Nam, Bắc lòng anh vẫn không nguôi nhớ nhung về vợ, anh th-ơng xót,

cảm thông cho nỗi lòng ng-ời vợ trẻ Mỗi khi nhận đ-ợc tin vợ lòng anh lại

Đây cũng là tâm trạng của ng-ời lính trong thơ Trần Mạnh Hảo: “Anh thương

em rồi đơn độc/ Chỉ mình em hờn giận buồn vui/ Ngôi sao kia còn tìm đôi để

mọc/ Một vầng trăng góa bụa ở ven đồi” Thế mới thấy cái giá mà ng-ời lính

phải trả cho sự tự do là quá lớn Trong bài thơ này, tác giả đã đi sâu vào thế

giới nội tâm để phát hiện ra vẻ đẹp tâm hồn của vị T- lệnh, để nhìn nhận vị chỉ

huy trong những nét đẹp của tình ng-ời, của nghĩa vợ chồng Chân dung tinh

thần của anh hiện diện rõ thái độ lựa chọn và cống hiến Đọc bài thơ ta thấy

tình cảm bất phân, hòa nhập giữa bản thân tác giả và T- lệnh Phải là một

ng-ời am hiểu và từng trải cùng với sự nhạy cảm của nhà thơ thì Hữu Thỉnh

mới viết nên những câu thơ chân thực và cảm động đến nh- vậy

Một điều dễ nhận thấy nữa là tác giả còn hóa thân vào ng-ời lính nói

chung để nói lên tiếng nói của thế hệ mình Đó có thể là những phút giây,

những khoảnh khắc đời th-ờng, bình dị nhất của ng-ời lính mà chỉ có ai từng

là lính mới thấu hiểu đ-ợc:

Các chiến sĩ lắc đầy bao gạo Ngồi chia nhau một điếu thuốc rê Cánh tay họ còn dính đầy bụi bám Khói cứ là, cứ bổng, cứ nh- không

(Xuân 1975 - Đ-ờng tới thành phố)

Ngày đăng: 16/10/2021, 18:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristot (2007), Nghệ thuật thi ca, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Aristot
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2007
2. Lại Nguyên ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
3. Lại Nguyên ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
4. Nguyễn Phan Cảnh (2006), Ngôn ngữ Thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ Thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
5. Nguyễn Văn Dân (1995), Những vấn đề văn học so sánh, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1995
6. Phạm Tiến Duật (1981), "Nhân bàn về tr-ờng ca đôi điều nghĩ về hình thức", Văn nghệ Quân đội, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân bàn về tr-ờng ca đôi điều nghĩ về hình thức
Tác giả: Phạm Tiến Duật
Năm: 1981
7. Phan Huy Dũng (1999), Kết cấu thơ trữ tình (Nhìn từ góc độ lọai hình), Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình (Nhìn từ góc độ lọai hình
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
8. Phan Huy Dũng (1999), "Tổ chức bài thơ theo sự dẫn dắt của âm nhạc", Văn học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức bài thơ theo sự dẫn dắt của âm nhạc
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
9. Phan Huy Dũng (2000), "Nhận diện nhịp điệu thơ trữ tình", Thông báo khoa học Đại học Vinh, (24) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện nhịp điệu thơ trữ tình
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 2000
11. Hữu Đạt (1998), Nhà văn, sự sáng tạo nghệ thuật, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn, sự sáng tạo nghệ thuật
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1998
12. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
13. Nguyễn Đăng Điệp (2003), "Hữu Thỉnh và quá trình đổi mới thơ ca", Tạp chí Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh và quá trình đổi mới thơ ca
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2003
14. Hà Minh Đức (1977), Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thi ca, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thi ca
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1977
15. Hà Minh Đức (1984), Thơ ca chống Mỹ cứu n-ớc, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca chống Mỹ cứu n-ớc
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1984
16. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
17. Hà Minh Đức (2004), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
18. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên, 2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Từ "điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
19. Trần Mạnh Hảo (1995), Thơ phản thơ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ phản thơ
Tác giả: Trần Mạnh Hảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
20. Trần Mạnh Hảo (1996), "Th- mùa đông của Hữu Thỉnh", Tạp chí Văn nghệ Quân đội, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th- mùa đông của Hữu Thỉnh
Tác giả: Trần Mạnh Hảo
Năm: 1996
21. Trần Mạnh Hảo (1996), Văn học và cuộc sống, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và cuộc sống
Tác giả: Trần Mạnh Hảo
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w