1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BỘ GIÁO dục và đào tạo

17 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích quan điểm của Keynes về khủng hoảng kinh tế trong nền kinh tế thị trường
Tác giả Bùi Thu Hoài
Người hướng dẫn TS.Nguyễn Thị Giang
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 422,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Học phần: Lịch sử các học thuyết kinh tế ĐỀ TÀI: Phân tích quan điểm của Keynes về khủng hoảng kinh tế trong nền kinh tế thị trường.. Một tr

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Học phần: Lịch sử các học thuyết kinh tế

ĐỀ TÀI:

Phân tích quan điểm của Keynes về khủng hoảng kinh tế trong nền kinh tế thị trường Ý nghĩa của quan điểm này đối với nền kinh tế Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế suy

thoái

Giảng viên hướng dẫn : TS.Nguyễn Thị Giang

Sinh viên thực hiện : Bùi Thu Hoài

Lớp : ECO06A25

Mã sinh viên : 23A4010843

Hà nội, ngày 10 tháng 01 năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Phương pháp nghiên cứu 1

NỘI DUNG 2

I CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG 2

1 Vài nét về John Maynar Keynes (1883-1946) 2

2 Tiền đề tư tưởng và đặc điểm trường phái 3

3 Nội dung lý thuyết khủng hoảng kinh tế theo quan điểm của Keynes 4

II CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG 7

1 Thực tiễn ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng kinh tế lên nền kinh tế Việt Nam 7

2 Thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay 9

III CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP 11

1 Ý nghĩa quan điểm khủng hoảng của Keynes 11

2 Giải pháp khủng hoảng kinh tế của Keynes đối với Việt Nam 11

KẾT LUẬN 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Các cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra và lan rộng ra toàn thế giới, đã có những tác động mạnh mẽ đến hầu hết các nền kinh tế toàn cầu, kể cả các nền kinh tế phát triển lẫn các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi Mặc dù việc phục hồi là tất yếu sau các cuộc khủng hoảng nhưng vẫn đặt ra một loạt các vấn đề có liên quna đến sự phát triển ổn định và bền vững của nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế của từng quốc gia nói riêng Một trong những vấn đề đó là vai trò của các học thuyết về khủng hoảng kinh tế đối với

sự phát triển của nền kinh tế Trong đó, có thể kể đến học thuyết khủng hoảng kinh tế của Keynes là kết tinh của trí tuệ nhân loại, không ngừng được hoàn thiện qua thực tiễn, vận dụng trong từng giai đoạn phát triển và với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia, dân tộc Mặt khác, lịch sử phát triển kinh tế của nhân loại xét đến cùng là lịch sử của những kiêm nghiệm thực tiễn các tư tưởng kinh tế và sự lựa chọn mô hình kinh tế, tiến trình kinh

tế của Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Chính vì vậy, em xin

chọn đề tài “Phân tích quan điểm của Keynes về khủng hoảng kinh tế Ý nghĩa của quan điểm này đối với nền kinh tế Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế suy thoái.” để làm sáng tỏ vấn đề trên

2 Mục tiêu nghiên cứu

Hiểu được nội dung, ý nghĩa quan điểm của Keynes về khủng hoảng kinh tế vận dụng những quan điểm đó vào nghiên cứu hiện tượng kinh tế Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế suy thoái

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp duy vật biện chứng, nguyên tắc lịch sử Ngoài ra, việc nghiên cứu còn đòi hỏi phải sử dụng phương pháp phê phán, phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp phát triển tổng hợp

Trang 4

2

NỘI DUNG

I CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG

1 Vài nét về John Maynar Keynes (1883-1946)

John Maynard Keynes (1883-1946) sinh ra trong một gia đình tri thức điển hình và được đào tạo trong một môi trường thuận lợi ở Anh

Bố là giảng viên dạy học và kinh tế chính trị học, mẹ làm thị trưởng Cambridge (1932) Năm 14 tuổi, ông vào đại học Eton và tốt nghiệp với “điểm ưu toàn diện” và được quyền vào trường Hoàng gia ở Cambridge Năm 1909, làm trợ lý giảng dạy tại trường Cambridge sau đó trở thành giáo sư nổi tiếng ở đó Keynes là một chuyên gia trong lĩnh vực tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ, làm cố vấn cho nhà vua và chính phủ Anh về ngân khố quốc gia Vào năm 1911, ông là tổng biên tập tạp chí “Kinh tế” và tạp chí “Hội kinh tế học Hoàng gia” Ông là nhà kinh tế nổi tiếng ở Anh và thế giới tư bản, là nhà khoa học cần cù, nghiêm túc, có năng lực bẩm sinh

Tác phẩm nổi tiếng nhất của Keynes là cuốn “Lý thuyết chung về Việc làm, Lãi suất và Tiền tệ” (The General Theory of Employment, Interest and Money) được xuất bản năm 1936 và trở thành chuẩn mực cho các tư tưởng kinh tế về sau Trong tác phẩm này, Keynes đã trình bày những tư tưởng mới đối lập với những quan điểm truyền thống của trường phái Cổ điển Tác phẩm này cũng khẳng định vị trí nhà kinh tế học có ảnh hưởng nhất ở Anh của ông Trong những năm chiến tranh, Keynes đóng vai trò quyết định trong những cuộc đàm phán nhằm định hình trật tự kinh tế quốc tế thời hậu chiến Năm 1944, ông dẫn đầu đoàn đại biểu Anh đến hội nghị Bretton Woods tổ chức tại Hoa Kỳ Tại hội nghị này, ông đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ quốc tế

Trang 5

3

2 Tiền đề tư tưởng và đặc điểm trường phái

Từ những năm 30 của thế kỷ XX, ở các nước phương Tây khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp diễn ra rất thường xuyên và có xu hướng ngày càng trường phái cổ điển là còn tồn tại nhiều lỗ hổng và thiếu xác đáng Hơn nữa,

sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế Tất cả những điều này đòi hỏi những lý thuyết mới có khả năng thích ứng tình hình mới Từ đó xuất hiện lý thuyết kinh tế tư bản chủ nghĩa có điều tiết do Keynes đi đầu

Lý thuyết kinh tế của Keynes đã mở ra một giai đoạn mới trong tiến trình phát triển lý luận kinh tế tư bản Đặc biệt phải kể đến lý thuyết kinh tế vĩ mô,

về hệ thống điều tiết của đọc quyền nhà nước, biểu hiện lợi ích và công trình của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước Điểm nổi bật của học thuyết Keynes là đưa ra phương pháp phân tích vĩ mô vì theo ông phải xuất phát từ các tổng thể và mối quan hệ giữa tổng lượng và khuynh hướng biến đổi để tìm ra giải pháp, công cụ, chính sách kinh tế, Ông đưa ra mô hình kinh tế với 3 đại lượng :

Một là, đại lượng xuất phát Đại lượng này được coi là không thay đổi

hoặc thay đổi chậm như: tư liệu sản xuất, số lượng lao động, máy móc, trình

độ chuyên môn,

Hai là, đại lượng khả biến độc lập Đây là những khuynh hướng tâm lý

như : khuynh hướng tiêu dùng, khuynh hướng tiết kiệm, khuynh hướng đầu tư, Các khuynh hướng chính là cơ sở hoạt động của mô hình, đảm bảo hoạt động của các tổ chức kinh tế

Ba là, đại lượng khả biến phụ thuộc Đại lượng này giúp cụ thể hóa tình

trạng của nền kinh tế như: khối lượng công việc, thu nhập quốc dân Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng cấu thành nền kinh tế Và các đại lượng này thay đổi theo sự tác động của biến cố độc lập

Trang 6

4

Giữa các đại lượng có mối liên hệ với nhau Ký hiệu C là tiêu dùng, I là đầu tư, E là tiết kiệm, Q là giá trị sản lượng hiện tại và R là thu nhập thì ta có:

Thu nhập (R) = Giá trị sản lượng (Q) = Tiêu dùng (C) + Đầu tư (I)

Tiết kiệm (E) = Thu nhập (R) – Tiêu dùng (C)

E, I là 2 đại lượng quan trọng, theo Keynes việc điều tiết vĩ mô nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập đòi hỏi khuyến khích tăng đầu tư và giảm tiết kiệm, có như vậy mới giải quyết được khủng hoảng và thất nghiệp

3 Nội dung lý thuyết khủng hoảng kinh tế theo quan điểm của Keynes

Học thuyết khủng hoảng Keynes được trình bày trong cuốn sách: lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ Trong tác phẩm đó, ông đã phê phán quan điểm của phái cổ điển, phái tân cổ điển về tự điều tiết của cơ chế thị trường tư bản chủ nghĩa - cho rằng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là

mô hình kinh tế tự động tăng trưởng, không có khủng hoảng và thất nghiệp Quan điểm của Keynes là đối lập với quan điểm của phái cổ điển, vốn cho rằng: để chống đỡ khủng hoảng và thất nghiệp đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước, thông qua đó để nâng cao tổng cầu trong nền kinh tế, kích thích tiêu dùng, khuyến khích doanh nhân đầu tư và kinh doanh

Mấu chốt để hiểu được sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế theo học thuyết Keynes, là nguyên lý về “Cầu thực tế” và “Cầu có hiệu quả” trong nền kinh tế

Hàm số cầu tổng hợp theo học thuyết Keynes: D = f(N) Tức là tổng doanh số nhận được (D) khi sử dụng (N) số lượng lao động

Đồng thời theo Keynes: : D = D1 + D2

D1: là số tiền mà cộng đồng dành cho tiêu dùng (C)

D2: là số tiền mà cộng đồng dành cho đầu tư (I)

Như vậy tổng cầu xã hội bao gồm có cầu tiêu dùng và cầu đầu tư

Nhưng đồng thời, theo Keynes do sự xuất hiện của khuynh hướng tiết kiệm dẫn tới sự giảm sút của tổng cầu Chính sự giảm sút của tổng cầu là

Trang 7

5

nguyên nhân gây ra khủng hoảng kinh tế, doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất

và công nhân bị thất nghiệp Vì vậy, cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước nhằm nâng cao tổng cầu trong nền kinh tế, hay như hiện nay chúng ta gọi là phải kích cầu tiêu dùng và cầu đầu tư Trên thực tế, các nước có nền kinh tế thị trường đều vận dụng học thuyết Keynes ở những mức độ khác nhau, nhằm điều tiết và kích thích nền kinh tế Trong học thuyết của mình, Keynes đã nhấn mạnh tới các công cụ và chính sách kinh tế mà Nhà nước có thể sử dụng để tác động tới nền kinh tế nhằm nâng cầu, bao gồm các công cụ

và chính sách kinh tế như, chính sách khuyến khích đầu tư, công cụ tài chính

và chính sách tài khoá, công cụ tiền tệ cũng như chính sách tiền tệ và lãi suất của Chính phủ

Đối với chính sách khuyến khích đầu tư, học thuyết Keynes chủ trương

sử dụng ngân sách để kích thích đầu tư trong nền kinh tế (bao gồm cả đầu tư

tư nhân và đầu tư Nhà nước), qua đó để kích thích kinh tế tăng trưởng Nhà nước nên thực hiện các chương trình đầu tư quy mô lớn để kích thích thị trường thông qua các đơn đặt hàng của Chính phủ, thông qua các dự án đầu

tư, thông qua hệ thống thu mua - nhờ đó để kích thích đầu tư tư nhân Đồng thời, qua đó theo cơ chế số nhân (một khái niệm hết sức nổi tiếng của Keynes), nó sẽ có tác dụng làm khuyếch đại thu nhập quốc dân Khái niệm về

số nhân đầu tư của Keynes là mối quan hệ tỷ lệ giữa sự gia tăng thu nhập so với gia tăng đầu tư, nó cho chúng ta biết khi có một sự gia tăng về đầu tư thêm một đơn vị thì thu nhập sẽ gia tăng lên bao nhiêu lần, ta có:

k = R/I (k: là số nhân đầu tư, R: là gia tăng thu nhập, I: là gia tăng đầu tư)

Đối với công cụ tài chính và chính sách tài khoá của Chính phủ, Keynes cho rằng: tài chính là một công cụ hữu hiệu trong tay Nhà nước để tác động tới nền kinh tế Ví dụ: giả sử như nền kinh tế đang lâm vào khủng hoảng, suy thoái và thất nghiệp, các doanh nghiệp thì thu hẹp sản xuất, người tiêu dùng

Trang 8

6

thắt chặt chi tiêu, điều đó làm giảm sút tổng cầu Vì vậy, để nâng cao tổng cầu Chính phủ phải tăng chi tiêu, hoặc giảm thuế cho doanh nghiệp, qua đó nâng cao mức tiêu dùng trong nền kinh tế và hiệu lực của cơ chế số nhân sẽ khiến cho sản lượng tăng và việc làm trong xã hội tăng lên Ngược lại, khi nền kinh

tế đang trong trạng thái phát triển “quá nóng”, lạm phát tăng - Chính phủ có thể tác động bằng cách thắt chặt chi tiêu và tăng thuế Nhờ đó, mức chi tiêu giảm, sản lượng giảm và lạm phát được kiềm chế

Đối với công cụ tiền tệ và chính sách tiền tệ của Chính phủ: trong học thuyết của mình, Keynes đã đánh giá cao vai trò của công cụ chính sách tiền

tệ và lãi suất Đồng thời trong thực tế, các Chính phủ đều đã có sự vận dụng công cụ và chính sách tiền tệ để tác động tới nền kinh tế Chính sách tiền tệ được thể hiện tập trung thông qua việc ngân hàng Trung ương thay đổi mức cung tiền và tỷ lệ lãi suất, nhờ đó đã tác động vào lượng tiền mặt và lãi suất trên thị trường, cũng qua đó tác động tới tổng cung và tổng cầu trong nền kinh

tế, nâng cao “cầu có hiệu quả” nhằm chống khủng hoảng và suy thoái kinh tế Keynes cho rằng, có thể tăng tổng cầu bằng cách khuyến khích tiêu dùng của cả người giàu và người nghèo, áp dụng tín dụng tiêu dùng và ướp lạnh tiền công Trong thuyết Keynes, chính phủ có vai trò can thiệp, nó không cần chờ đợi cho các lực lượng thị trường cải thiện GDP và việc làm Điều này dẫn đến việc thâm hụt chi tiêu Chi tiêu của Chính phủ, như đã được nhắc đến trước đó là một nhân tố của tổng cầu, có thể tạo ra cầu về hàng hóa và dịch vụ nếu các cá nhân không sẵn sàng tiêu dùng và các doanh nghiệp không sẵn sàng đầu tư thêm các nhà máy Chi tiêu chính phủ có thể sử dụng năng lực sản xuất dư thừa đó Keynes đưa ra giả thuyết rằng sự ảnh hưởng chung của chi tiêu chính phủ sẽ được nhân lên nếu doanh nghiệp sẵn sang thuê thêm công nhân và công nhân sẵn sàng tiêu dùng nhiều hơn

Học thuyết kinh tế về khủng hoảng trường phái Keynes còn nhiều hạn chế, đó là: việc gia tăng tổng cầu trong nền kinh tế ở mức sản lượng tiềm

Trang 9

7

năng có thể gây ra việc tăng giá dẫn tới lạm phát Ngoài ra, thực tế khó tính toán một cách chính xác liều lượng của việc tăng giàm chi tiêu, thuế khóa Việc giảm lãi suất để kích thích đầu tư dẫn đến hiện tượng rút vốn đầu tư ở một nước để đầu tư vào những nước có lãi suất cao hơn làm cho đầu tư trong nước không tăng mà lại sụt giảm và ngược lại Phân tích của Keynes mới dừng ở hiện tượng bên ngoài chứ chưa đi sâu vào bản chất của sự việc Chính

vì vậy, học thuyết của Keynes mới chỉ chữa được phần ngọn chứ chữa trị được gốc rễ căn bệnh của chủ nghĩa tư bản Đã có những quốc gia áp dụng học thuyết của ông những những khuyết tật của thị trường vẫn diễn ra dù còn không còn trầm trọng như trước, như thất nghiệp, khủng khoảng, lạm phát, … Keynes nhận ra được vai trò của nhà nước những ông lại bỏ qua vai trò điều tiết của thị trường Như vậy, học thuyết của Keynes đặc biệt đề cao vài trò nhà nước và sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế là điều kiện cơ bản đảm bảo sự phát triển bền vững của kinh tế và xã hội

II CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG

1 Thực tiễn ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng kinh tế lên nền kinh tế Việt Nam

Các cuộc khủng hoảng kinh tế tác động lên nền kinh tế Việt Nam rất sâu sắc, với mỗi cuộc khủng hoảng, hậu quả để lại là khác nhau, nhưng tựu chung

có thể kể đến những ảnh hưởng của nó lên thực tiễn nền kinh tế Việt Nam ở một số điểm như sau:

Thị trường hàng hoá và dịch vụ: Sức cầu giảm Sức cầu giảm cả trong

sản xuất và tiêu dùng Năm 2009 với chính sách tiền tệ nới lỏng, lãi suất ngân hàng đã giảm đáng kể, Chính phủ lại có chủ trương bù lãi suất 4% cho doanh nghiệp đối với những khoản vay ngắn hạn, điều đó phần nào đã giúp doanh nghiệp khôi phục sản xuất kinh doanh giảm chi phí vốn, giảm giá thành sản phẩm Tuy nhiên, khó khăn lớn hiện nay đối với doanh nghiệp lại là thị trường tiêu thụ sản phẩm Chừng nào kinh tế thế giới chưa phục hồi thì thị

Trang 10

8

trường tiêu thụ (XK) vẫn còn khó khăn Trong lúc đó thị trường nội địa sức cầu đang hạn chế vì sức mua chưa tương xứng

Đối với hệ thống tài chính – ngân hàng: mặc dù chưa chịu tác động

mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ vì hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu của hội nhập; nhưng trong ngắn hạn, do tác động trực tiếp của khủng hoảng tài chính, lợi nhuận của nhiều ngân hàng có thể giảm, thậm chí một số ngân hàng nhỏ có thể thua lỗ; nợ xấu tăng lên; nên

hệ thống ngân hàng tài chính Việt Nam có nguy cơ bị ảnh hưởng trong một vài năm

Đối với hoạt động xuất khẩu: Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn của Việt

Nam hiện nay, chiếm khoảng 20-21% kim ngạch xuất khẩu, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Mỹ suy giảm sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung của Việt Nam trong năm 2008, năm 2009 và cả năm

20105 (nếu nền kinh tế Mỹ chưa có dấu hiệu phục hồi) Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng còn tuỳ thuộc vào tính chất của từng mặt hàng Do tác động của khủng hoảng, người dân tại các thị trường khác của Việt Nam cũng phải cắt giảm chi tiêu, theo đó nhu cầu nhập khẩu đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sẽ có xu hướng giảm Quý IV/2008, kim ngạch xuất nhập khẩu vào 2 thị truờng (Trung và Nhật) tháng sau đều giảm so với tháng trước

Đối với vốn đầu tư của nước ngoài (kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp): với

tình hình khủng hoảng chi phí vốn trở nên đắt đỏ hơn và thị trường xuất khẩu

có khả năng bị thu hẹp nên dòng vốn chảy vào Việt Nam bị giảm sút là không tránh khỏi Dự án FDI mới được cấp phép sẽ gặp khó khăn nếu nhà đầu tư bị tổn thương lớn từ khủng hoảng Nếu như năm 2008 Việt Nam đã thu hút gần

63 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn đăng ký), giải ngân 12 tỷ USD, thì năm 2009 tình hình thu hút FDI đã trở nên khó khăn hơn, nhiều dự

án đăng ký vốn hàng chục tỷ USD nhà đầu tư nước ngoài đã xin rút lui… Trong 5 tháng đầu năm 2009, vốn FDI chỉ đạt 6,3 tỷ USD

Ngày đăng: 06/06/2022, 13:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w