1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và sử dụng bài tập rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh trong dạy học chủ đề Sinh học vi sinh vật, sinh học 10 - trung học phổ thông.

101 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Và Sử Dụng Bài Tập Rèn Luyện Kĩ Năng Tự Học Cho Học Sinh Trong Dạy Học Chủ Đề “Sinh Học Vi Sinh Vật”, Sinh Học 10 – Trung Học Phổ Thông
Tác giả Lê Thị Hồng Nhung
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Hải Yến
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sư phạm sinh học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy các kiến thức trong chủ đề “Sinh học VSV” mang tính thực tiễn cao, kích thích được sự tự tìm tòi, khám phá của HS, đây là một trong những điều kiện thuận l

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG

LÊ THỊ HỒNG NHUNG

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “SINH HỌC VI SINH VẬT”, SINH HỌC 10 –

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐÀ NẴNG, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG

LÊ THỊ HỒNG NHUNG

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “SINH HỌC VI SINH VẬT”, SINH HỌC 10 –

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Ngành: SƯ PHẠM SINH HỌC

Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Hải Yến

NIÊN KHÓA 2011 - 2015

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công

bố trong bất kì công trình nào khác

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Hồng Nhung

Trang 4

Trước hết, tôi xin chân thành biết ơn đến các thầy, cô giáo trong trường Đại học

Sư phạm, đặc biệt là các thầy, cô Khoa Sinh – Môi Trường đã giúp đỡ, giảng dạy, truyền thụ cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm học tập, sinh hoạt quý báu trong suốt thời gian học tập bốn năm vừa qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Để khóa luận tốt nghiệp của tôi đạt thành công như ngày hôm nay, tôi xin bày tỏ

lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo: Th.S Nguyễn Thị Hải Yến, người đã trực tiếp

hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi tận tình trong thời gian thực hiện đề tài và cả trong quá trình phấn đấu, học tập của bản thân

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các thầy, cô giáo cũng như các em học sinh ở các trường THPT Nguyễn Trãi, THPT Phạm Phú Thứ,

đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi thực hiện tốt đề tài của mình

Xin chân thành cảm ơn sự động viên, cổ vũ tình thần của gia đình và sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè trong quá trình tôi thực hiện đề tài

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2015

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Hồng Nhung

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Trên thế giới 4

1.1.2 Ở Việt Nam 5

1.2 Cơ sở lí luận của đề tài 7

1.2.1 Cơ sở lí luận của KN tự học 7

1.2.2 Cơ sở lí luận về BT 12

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 15

1.3.1 Thực trạng nhận thức của HS về vấn đề tự học 15

1.3.2 Thực trạng việc sử dụng BT trong dạy học chủ đề “Sinh học Vi sinh vật”, Sinh học 10 - THPT 17

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 19

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.1.2 Khách thể nghiên cứu 19

2.2 Nội dung nghiên cứu 19

2.3 Phương pháp nghiên cứu 19

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 19

2.3.2 Phương pháp quan sát 20

2.3.3 Phương pháp điều tra khảo sát 20

2.3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 20

2.3.5 Phương pháp xử lý các số liệu thu được bằng thống kê toán học 21

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 23

Trang 6

3.1.1 Khái quát nội dung phần“Sinh học vi sinh vật” 23

3.1.2 Phân tích cấu trúc, nội dung kiến thức phần “Sinh học vi sinh vật” 23

3.1.3 Phân loại kiến thức trong phần “Sinh học Vi sinh vật” 25

3.2 Nguyên tắc thiết kế BT rèn luyện KN tự học trong dạy học phần “Sinh học VSV” 26

3.3 Kết quả xây dựng BT nhằm rèn luyện KN tự học cho HS trong dạy học chủ đề “Sinh học VSV”, Sinh học 10 - THPT 27

3.3.1 Quy trình xây dựng BT 27

3.3.2 Ví dụ minh họa 29

3.3.3 Kết quả xây dựng BT rèn luyện KN tự học cho HS trong dạy học chủ đề “Sinh học Vi sinh vật”, Sinh học 10 - THPT 32

3.4 Quy trình sử dụng BT trong dạy - học để rèn luyện KN tự học cho HS 34

3.4.1 Quy trình chung trong sử dụng BT để rèn luyện KN tự học cho HS 34

3.4.2 Quy trình sử dụng BT trong dạy học sinh học VSV khâu nghiên cứu tài liệu mới để rèn luyện KN tự học cho HS 34

3.5 Kết quả thực nghiệm 39

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

Kết luận 48

Kiến nghị 48

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

Trang 8

Số hiệu bảng Tên bảng Trang

3.1 Hệ thống các loại kiến thức thuộc chủ đề “Sinh học

VSV”, Sinh học 10 - THPT

25

3.2 Các dạng BT đã xây dựng phân bố theo từng bài học

thuộc chủ đề “Sinh học VSV”, Sinh học 10 - THPT

3.5 Bảng phân phối tần suất và tần suất cộng dồn (CD)

kết quả của hai lần kiểm tra

41

3.6 Bảng phân phối tần suất theo xếp loại trình độ HS

qua 2 bài kiểm tra

42

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Biểu đồ 1.1 Đánh giá hiệu quả đạt đƣợc của các BT GV đã

từng sử dụng trong phần “ Sinh học vi sinh vật”, Sinh học 10 - THPT

18

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ quy trình xây dựng bài tập 27

Sơ đồ 3.2 Quy trình sử dụng bài tập rèn luyện KN tự học

Biểu đồ 3.2 Kết quả phân phối tần suất theo xếp loại trình độ

HS qua 2 bài kiểm tra

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

Luật Giáo Dục năm 2005 quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động tư duy, sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên,…” [9] Tuy nhiên, trên thực tế nền giáo dục nước ta từ trước tới nay chủ yếu vẫn là dạy học theo hướng tiếp cận nội dung, tức là nhiệm vụ của người dạy chỉ là truyền thụ kiến thức cho người học mà không chú ý nhiều đến việc hình thành các KN, kỹ xảo cần thiết cho người học Chính điều này đã dẫn đến tình trạng thầy đọc, trò chép làm cho người học không phát huy được tính tích cực, sáng tạo, thiếu khả năng suy nghĩ độc lập và giải quyết các vấn đề thực tiễn

Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số NQ/TW) đã bàn về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Trong hội nghị đã đề cập đến vấn đề “Triển khai đổi mới chương trình giáo dục theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, lối sống, rèn luyện KN vận dụng vào thực tiễn, phát triển khả năng sáng tạo và ý thức tự học” [15] Như vậy, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục chính là chuyển nền giáo dục từ hướng tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực

29-Để đáp ứng được yêu cầu giáo dục hiện nay đòi hỏi người học phải trang bị cho mình những năng lực, KN cần thiết, một trong số đó là KN tự học Tự học đã trở thành một KN thiết yếu đối với mỗi người không chỉ trong giáo dục nhà trường

mà còn trong cả thực tiễn cuộc sống Ngoài việc nâng cao kết quả học tập, tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyện cho mỗi cá nhân khả năng hoạt động độc lập và sáng tạo Với những ý nghĩa to lớn lớn đó, chúng tôi cho rằng song song với việc truyền thụ kiến thức thì việc hình thành KN tự học cho người học là vấn đề vô

Trang 12

cùng quan trọng đặc biệt là ở bậc giáo dục phổ thông – giai đoạn định hướng nghề nghiệp trong tương lai

1.2 Xuất phát từ nội dung chủ đề “Sinh học vi sinh vật” trong chương trình

sinh học 10-THPT

Sinh học VSV là môn khoa học nghiên cứu tổng thể các quá trình chuyển hóa vật chất, sinh trưởng, phát triển và sinh sản của các loài VSV Các kiến thức này được ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều khía cạnh của cuộc sống Hiện nay, trong nước cũng như trên thế giới các dịch bệnh nổ ra liên tiếp mà nguyên nhân chủ yếu

là từ VSV Chính vì vậy, việc trang bị cho con người những kiến thức về VSV là vô cùng cần thiết, qua đó con người sẽ có những hiểu biết ban đầu về việc phòng chống các bệnh do VSV gây ra

Do khuôn khổ SGK không cho phép nên các kiến thức về VSV chỉ được trình bày một cách khái quát Thêm vào đó, HS chưa có ý thức tốt về việc tự tìm tòi, nghiên cứu, chưa xác định được cho bản thân một phương pháp tự học đúng đắn Vì thế, các kiến thức mà GV truyền đạt trở nên mơ hồ, trừu tượng, HS không hiểu rõ được bản chất vấn đề dẫn đến không ứng dụng được vào thực tiễn nên việc dạy và học phần VSV còn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy các kiến thức trong chủ đề “Sinh học VSV” mang tính thực tiễn cao, kích thích được sự tự tìm tòi, khám phá của HS, đây là một trong những điều kiện thuận lợi để GV xây dựng các BT rèn luyện KN tự học cho HS Vì thế, chúng tôi cho rằng trong quá trình dạy học nói chung và phần VSV nói riêng, GV nên sử dụng các BT

có thể kích thích được tính tự tìm tòi, khám phá của HS Qua đó, hình thành cho HS

sự tự giác, tích cực, chủ động trong quá trình học tập, phát triển được các KN cần thiết ở mỗi người học Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về việc xây dựng cũng như cách thức sử dụng BT để rèn luyện KN tự học cho HS, đặc biệt

là trong chủ đề “Sinh học vi sinh vật”

Từ những lí do trên chúng tôi quyết định chọn đề tài: Xây dựng và sử dụng bài tập rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh trong dạy học chủ đề “Sinh học

vi sinh vật”, Sinh học 10 – THPT

Trang 13

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng và sử dụng các BT với mục đích rèn luyện KN tự học cho HS trong dạy học chủ đề “Sinh học vi sinh vật”, Sinh học 10 – THPT

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Nếu xây dựng đƣợc và sử dụng một cách hợp lý các BT thì sẽ rèn luyện đƣợc cho HS KN tự học trong dạy học chủ đề “Sinh học vi sinh vật”, Sinh học 10 – THPT

Trang 14

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Trên thế giới

Ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện rất nhiều nhà giáo dục kiệt xuất, một trong số

đó là Khổng Tử (551- 479 TCN ) và Xôcơrat (470 -399 TCN) Xôcơrat là người đã đưa ra những quan niệm rất nổi tiếng “Giáo dục giúp con người tự khẳng định chính mình”, vận dụng quan niệm này vào quá trình dạy học ông cho rằng cần phải để cho người học tự suy nghĩ, tự tìm tòi, tự phát hiện những sai lầm và tự khắc phục những sai lầm đó Với Khổng Tử, ông đã từng nói với học trò rằng: “Không giận vì không muốn biết thì không gợi mở cho, không bực mình vì không rõ được thì không bày

vẽ cho, vật có bốn góc, bảo cho một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa” Theo ông, thầy chỉ giúp trò cái mấu chốt, chỉ là người hướng dẫn tổ chức, mọi cái khác trò phải tự tìm ra, trò phải tự học là chính

Thế kỷ XXđược coi là một giai đoạn phát triển đỉnh cao về lí luận dạy học Với những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề tự học và đưa ra cách thức tự học như thế nào, cách độc lập nghiên cứu khoa học, cách suy nghĩ tìm tòi, cách sáng tạo của các nhà giáo dục tên tuổi như X.P.Baranov, T.A.Ilina, A.N.Leonchiev, A.V.Petrovski, A.M.Machiuskin, Makiguchi, J.G.Pestalozi, F.Disterver [27]

N.A.Rubakin (1862 – 1946) với tác phẩm “Tự học như thế nào” ông cho rằng:

Tự học không chỉ là xem sách mà phải biết so sánh cái viết trong sách với thực tế cuộc sống, biết so sánh cái khoa học với cái không khoa học, biết liên hệ giữa các môn khoa học Ông cũng phân tích rõ mối liên hệ giữa việc “tự học và đặc tính riêng của từng người” Cuối cùng Rubakin kết luận rằng: Hãy mạnh dạn tự mình đặt

ra CH rồi tự mình tìm lấy câu trả lời - đó chính là phương pháp tự học.Theo A Đixtécvéc (1790 - 1866) khẳng định: Nghệ thuật sư phạm của người thầy giáo không phải chỉ“Dạy cho họ cách tìm ra chân lí” mà phải tăng cường tổ chức hoạt động để có thể rèn luyện được cho người học KN tự học, tự nghiên cứu

Vào những năm cuối thế kỉ XX, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và cuộc cách mạng khoa học công nghệ, các nhà giáo dục đã nghiên cứu hoạt

Trang 15

động tự học theo nhiều hướng khác nhau Tiêu biểu trong thời kì này là Raja Roy Singh - một chuyên gia giáo dục nổi tiếng của USNESCO - trong tác phẩm “Giáo dục thế kỷ XX: Những triển vọng của châu Á Thái Bình Dương” ông đã nghiên cứu

về vai trò của KN tự học trong việc học tập thường xuyên và học tập suốt đời cũng như vai trò cố vấn của người thầy trong việc hình thành và rèn luyện KN tự học của người học [23]

Có rất nhiều cách thức để rèn luyện KN tự học cho người học, trong đó nổi bật lên là việc sử dụng các CH, BT trong dạy học Theo John Dewey “Biết đặt CH tốt

là điều kiện rất cốt lõi để dạy tốt” Ở một số nước Đông Âu, đặc biệt là Liên Xô cũ

đã có nhiều tác giả, điển hình như: N.A.Crupxkaia, N.M.Veczilin đã đề cập đến mục đích, nội dung, phương pháp thiết kế, sử dụng cũng như vai trò và giá trị của

CH, BT trong dạy học

Tóm lại, qua những tư tưởng, quan điểm của các nhà giáo dục trên thế giới chúng tôi có một số nhận định như sau: hầu hết các tác giả đều khẳng định vai trò to lớn của hoạt động tự học và đưa ra nhiệm vụ của nhà trường trong việc rèn luyện

KN tự học cho người học nhằm đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy - học Việc hình thành KN tự học là vô cùng cần thiết đối với bản thân mỗi người học nói chung và với HS nói riêng

1.1.2 Ở Việt Nam

Trong nước, vấn đề tự học cũng được Đảng, Nhà nước và các nhà giáo dục rất quan tâm Từ năm 1960, tại các trường sư phạm trên toàn quốc đã xuất hiện khẩu hiệu “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Trong Nghị quyết Đại hội Đảng VIII (28/6 - 1/7/1996) và Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII nêu rõ: “Tập trung nâng cao chất lượng dạy và học tạo ra năng lực tự học, sáng tạo của sinh viên, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS, phát triển mạnh phong trào tự học - tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp toàn dân,…” [14]

Tác giả Nguyễn Văn Đạo chia sẻ một vài quan điểm: thời gian dành cho việc học dưới sự giúp đỡ của người thầy chỉ chiếm khoảng ¼ của cuộc đời mỗi con người,thời gian còn lại chủ yếu là dành cho việc tự học Vì thế, việc tự học đóng vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn đi học Những người biết tự học,

Trang 16

sáng tạo trong quá trình đi học là những người có triển vọng sẽ tiến xa trong cuộc đời này

Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn nhận định rằng: “Học bao giờ cũng phải gắn liền với tự học, tự rèn luyện và biến đổi nhân cách của mình Người dạy giỏi là người dạy cho HS biết cách tự học, tự nghiên cứu, tự giáo dục” Với hai tác phẩm

“Quá trình dạy - tự học” (1997) và “Học và dạy cách học”(2002) ông đã chỉ ra rằng: người ta thường chỉ nghĩ tự học là học với sách, không có thầy bên cạnh, nhưng hiểu như vậy là chưa đầy đủ Ngay cả khi có thầy bên cạnh, thì thầy cũng chỉ giảng giải chứ thầy đâu có học hộ trò Hoạt động dạy của thầy dù sao cũng chỉ là ngoại lực tác động đến trò Ngoại lực đó phải có sự cộng hưởng của nội lực, đó là cố gắng của trò, sự cố gắng này mới đúng là tự học Như vậy, tự học có thể xảy ra khi có thầy, có sách, cả khi không có thầy, có sách [19], [20].Tác giả Trịnh Quốc Lập cho rằng: năng lực tự học không chỉ là một phẩm chất dành cho người học thuộc thế giới phương Tây, về bản chất mà nói, sinh viên châu Á không phải là không có năng lực tự học Tuy nhiên, hệ thống giáo dục ở các nước châu Á chưa tạo đủ điều kiện để sinh viên phát triển năng lực tự học [11]

Để có thể phát triển được năng lực tự học cho người học thì trước hết cần phải rèn luyện cho họ KN tự học bằng nhiều phương pháp khác nhau Trong đề tài “ Xây dựng câu hỏi theo hướng phát huy năng lực của học sinh trong các bài 12, 13, 14,

16 - Sinh học 6 ở trường trung học cơ sở”, tác giả Trần Anh Công (2005) đã đề xuất phương pháp để tổ chức hoạt động học tập tự lực cho HS đó là sử dụng CH Đây là công trình nghiên cứu có tính hệ thống từ cơ sở lí luận đến việc đề xuất các nguyên tắc xây dựng CH để tổ chức hoạt động học tập tự lực cho HS [3] Tác giả Võ Huỳnh Vương (2012) “Xây dựng và sử dụng câu hỏi, bài tập để củng cố và hoàn thiện kiến thức phần sinh học vi sinh vật, Sinh học 10- THPT” Trong luận văn, tác giả đã nêu lên vai trò quan trọng của hệ thống CH, BT cũng như nguyên tắc, quy trình xây dựng và đề xuất hướng sử dụng BT để củng cố, hoàn thiện kiến thức phần “Sinh học VSV”, Sinh học 10 - THPT [26] Tác giả Lê Thị Minh (2012) với đề tài “Xây dựng và sử dụng câu hỏi, bài tậptheo hướng phát huy tính tích cực của học sinh để dạy học phần Sinh học tế bào, Sinh học 10 - THPT” cũng đã đưa ra được các

Trang 17

nguyên tắc và cách thức sử dụng CH, BT để tổ chức các hoạt động học tập tích cực, chủ động của HS trong dạy học phần Sinh học tế bào [13]

Ngoài ra, một số tác giả còn sử dụng CH, BT để rèn luyện các KN cần thiết cho HS, có thể kể đến đề tài “Bài tập - biện pháp rèn luyện kĩ năng đặt vấn đề vào bài học” của tác giả Lê Khánh Vũ (2013) Trong đề tài, tác giả đã nêu lên quá trình hình thành và rèn luyện KN cho người học, đồng thời cũng đưa ra được các yêu cầu của một BT để rèn luyện KN đặt vấn đề vào bài học [24]

Nhìn chung, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu việc xây dựng CH, BT để thực hiện các mục đích khác nhau trong quá trình dạy - học, trong đó có việc rèn luyện các KN, kỹ xảo cho người học Đối với chuyên ngành Sinh học nói chung và chủ đề

“Sinh học VSV” nói riêng, cũng đã có nhiều nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường các hoạt động tích cực, tự lực, sáng tạo của HS Tuy nhiên, việc xây dựng các BT để rèn luyện KN tự học cho HS vẫn chưa có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu

1.2 Cơ sở lí luận của đề tài

1.2.1 Cơ sở lí luận của KN tự học

a Khái niệm về tự học

Từ khi vấn đề tự học được quan tâm, nghiên cứu cho đến nay đã có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về tự học được đưa ra bởi các nhà giáo dục trong nước cũng như trên thế giới, có thể kể đến:

Nhà tâm lý học N.A.Rubakin nhận định “Tự tìm lấy kiến thức - có nghĩa là tự học” Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm,

KN, kỹ xảo của chủ thể

Tác giả Nguyễn Kỳ cũng bàn về khái niệm tự học “Tự học là người học tích cực, chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học” [10]

Trang 18

Đứng dưới góc độ là một nhà nghiên cứu lâu năm về hoạt động tự học,tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, ) có khi cả cơ bắp (khi phải

sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi, ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [18]

Theo Vũ Văn Tảo “Tự học là sự tự biến đổi bản thân mình, trở nên có thêm giá trị bằng sự nỗ lực của chính mình để chiếm lĩnh những giá trị mới được lấy từ bên ngoài, là một hành trình nội tại được cắm móc bởi kiến thức, phương pháp tư duy và sự thực hiện tự phê bình để tự hiểu bản thân mình”

Như vậy, tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức của một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng chính hành động của mình Từ đó, hình thành cho mình những KN, kỹ xảo cần thiết, hoàn thiện nhân cách bản thân Tự học còn là quá trình chủ thể người học tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình Điều đó phụ thuộc rất lớn vào ý chí và sự say mê học tập của mỗi cá nhân

b Khái niệm kĩ năng tự học

Mỗi hoạt động bao gồm trong nó nhiều hành động với nhiều cách thức thực hiện khác nhau KN của một hoạt động nào đó là phức hợp bao gồm nhiều KN thành phần có quan hệ chặt chẽ với nhau trong cấu trúc của hoạt động KN học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó

KN tự học là khả năng thực hiện một hệ thống các thao tác tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động tự học trên cơ sở vận dụng các kinh nghiệm có liên quan đến hoạt động đó KN tự học là một hệ thống, bao hàm trong nó rất nhiều những KN thành phần riêng biệt [17]

c Các mức độ của KN tự học

 Dựa vào khả năng tự học của HS, người ta chia làm 3 mức độ khác nhau của KN tự học:

- Mức độ 1: Có tính bắt chước: HS lặp lại những điều GV hướng dẫn một cách đầy đủ

Trang 19

- Mức độ 2: Có tính luyện tập: Khi thực hiện những điều GV yêu cầu HS phải

sử dụng những KN đã có

- Mức độ 3: Có tính nghiên cứu: HS tiếp thu được những kiến thức hoàn toàn mới bằng hành động của chính mình như tự lực độc lập, quan sát, làm thí nghiệm, thực hành, đặt câu hỏi,

 Dựa vào cách thức tự học, người ta chia ra các mức độ khác nhau của KN tự học

- Tự học có hướng dẫn: Đây là hình thức hoạt động tự lực của người học để chiếm lĩnh tri thức và hình thành KN tương ứng dưới sự tổ chức, hướng dẫn, giúp

đỡ của GV Hoạt động dạy của thầy cũng chỉ là ngoại lực tác động đến trò, chính sự

nỗ lực cố gắng của trò mới là tự học Tự học có thầy hướng dẫn bao gồm các mức độ:

+ Hướng dẫn thông qua hệ thống CH - BT

GV thiết kế các CH - BT tự học cho HS, các CH - BT đó hàm chứa nội dung học tập mà HS phải tự hoàn thành Trước khi soạn thảo CH - BT tự học, GV cần lựa chọn và quyết định nội dung tự học Thông thường, các nội dung được chọn là những vấn đề cơ bản, đơn giản, mang tính thực tiễn cao, có nhiều nguồn tài liệu Các CH- BT tự học có thể soạn theo 2 hình thức: CH - BT theo bài hoặc CH -

BT theo chủ đề CH - BT theo bài học được soạn thảo rất cụ thể, chi tiết và bám sát nội dung SGK Các CH - BT loại này được cấu trúc theo hệ thống phù hợp với hệ thống tri thức đã được chọn lọc để người học tự nghiên cứu CH - BT theo chủ đề thường dùng để ôn tập Trong đó, các CH - BT thường được soạn thảo theo chủ đề

và thường có đề cương ôn tập kèm theo

+ Hướng dẫn nguồn tài liệu để thu nhận thông tin

Nguồn tài liệu quyết định một phần rất lớn chất lượng tự học Vì vậy, GV nên lập danh mục các loại tài liệu cho HS Đối với HS THPT, ngoài SGK là nguồn thông tin chính GV cần hướng dẫn cho HS biết cách khai thác, tìm kiếm tài liệu từ các nguồn khác như: thư viện trường học, Internet, để tìm đọc các thông tin bổ sung cho bài học Ban đầu, GV có thể đưa cho HS đọc một mẫu tư liệu ngắn hoặc vài ba trang trong một chương để trả lời một vài câu hỏi do GV đưa ra nhằm định

Trang 20

hướng việc tìm đọc Đến lớp, HS phải biết sử dụng kết quả tìm đọc của mình đóng góp vào bài học Cứ thế, từ từ các em sẽ được giao đọc những vấn đề rộng lớn hơn, tập hợp nhiều nguồn tư liệu, trả lời những vấn đề lớn hơn [10]

- Tự học hoàn toàn (học với sách, không có thầy bên cạnh)

Đây là cấp cao nhất của các cấp độ tự học, ở cấp độ này đòi hỏi người học phải tự nghiên cứu vấn đề mình quan tâm bằng cách tự mày mò tìm tài liệu có liên quan, tự quan sát, tự làm thí nghiệm, Học với sách cũng chính là học với thầy một cách gián tiếp

Tự học hoàn toàn là mức độ mà mỗi người cần đạt được nếu muốn học tập suốt đời Bởi vì người học chỉ làm việc với sách mà không có thầy bên cạnh nên người học cần hình thành cho mình KN “hỏi sách” Đầu tiên, người học cần phải biết mình cần sách gì và tìm sách đó như thế nào, tìm được rồi thì cần biết chắt lọc kiến thức đọc phần nào, chương nào,… Biết tìm sách mà đọc, biết độc lập làm việc với sách chính là biết cách “hỏi sách”

d Các yếu tố cấu thành của KN tự học

Mộtsốtácgiảđãphân chia KNtựhọcracác KN thành phần sau:

-KNchọnlọc,sửdụngkiếnthứcđãcóđểhìnhthànhkiếnthứcmới: Muốn tiếp nhận thức kiến thức mới có hiệu quả bắt buộc người học phải liên hệ các kiến thức cũ, vì kiến thức luôn liên kết với nhau một cách có hệ thống Vì vậy, HS có thể vận dụng những điều mình đã học để tự tìm ra mối liên hệ giữa cái đã biết với cái chưa biết,

từ đó HS hình thành nên kiến thức mới KN này thúc đẩy quá trình nhận thức kiến thức mới cũng như việc tự học của HS

-KNđọcSGK, giáotrình,tàiliệuthamkhảo: Khi đọc một tài liệu nào đó cần thực hiện nghiêm túc và tuân theo các yêu cầu sau: đọc có suy nghĩ, có chọn lọc, có

hệ thống và có ghi nhớ Đọc tài liệu đúng cách giúp HS tự khai thác và chọn lọc được lượng thông tin cần thiết có trong các tài liệu đó

-KNghichéptrênlớp: Trình độ nghe và ghi chép của người học ở mỗi môn học là khác nhau, tùy thuộc vào đặc thù của từng môn học và phương pháp giảng dạy của từng GV Trong quá trình dạy học, bên cạnh việc ghi chép nội dung của bài

Trang 21

học, HS nên ghi lại những vấn đề mà GV mở rộng Đối với các vấn đề quan trọng,

GV cần nhấn mạnh, lặp lại nhiều lần để HS tiếp thu dễ dàng hơn

-KNkhaitháckiếnthứctừcácphươngtiệndạy học: Trong quá trình giảng dạy, GV có thể sử dụng phối hợp nhiều phương tiện dạy học khác nhau Việc sử dụng các phương tiện dạy học chỉ thực sự đem lại hiệu quả khi thông qua phương tiện đó HS tự khai thác được các thông tin liên quan đến bài học

-KNgiảiquyếtcácBTnhậnthức: Căn cứ vào những yêu cầu của bài học, GV đưa ra những BT nhận thức phù hợp cho HS tự học, qua việc giải quyết các BT đó HS hoàn thiện được bài học, chương trình học của mình một cách chủ động, tự lực

-KNhìnhthànhvàgiảiquyếtvấnđề: Một tiết học được coi là có hiệu quả khi

HS tự phát hiện được vấn đề xuất hiện trong bài học (tức là phát hiện ra sự mâu thuẫn giữa cái đã biết với cái chưa biết) Từ đó, HS tư duy để đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề đó như thế nào

-KNlậpkếhoạchtựhọc: Lập kế hoạch tự học là việc xây kế hoạch cho những hoạt động cụ thể nhằm thực hiện được các nhiệm vụ mà mục tiêu đề ra.Mỗi cá nhân khi xây dựng kế hoạch học tập cụ thể cần phải hiểu rõ mục tiêu và tính toán những bước đi thích hợp Khi lập kế hoạch cần phải suy nghĩ về những gì sẽ làm, chuẩn bị tốt nhất để đạt được hiệu quả học tập cao và phải đặt câu hỏi là tại sao chúng ta phải làm như thế Kế hoạch này HS có thể lập ra cho từng môn hoặc cho

cả một quá trình học tập gồm nhiều môn

Khi bàn về vai trò của KN tự học, nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã phát biểu:

“Tự học, tự đào tạo là con đường phát triển suốt cuộc đời của mỗi người, trong điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau đó cũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình

Trang 22

giáo dục thành quá trình tự giáo dục Quy mô của giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học” [22]

Tự học thường xuyên, tích cực, tự giác, độc lập giúp HS mở rộng kiến thức, hình thành được những phẩm chất trí tuệ và rèn luyện nhân cách của mình KN tự học tạo cho HS có nếp sống và làm việc khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, hứng thú học tập và lòng say mê nghiên cứu khoa học

1.2.2 Cơ sở lí luận về BT

a Khái niệm về BT

BT là một nhiệm vụ mà người giải cần phải thực hiện, trong BT bao gồm có

dữ kiện và yêu cầu cần tìm [10] Theo Nguyễn Ngọc Quang: BT là bài ra cho HS làm để vận dụng những điều đã học nhằm hình thành kiến thức mới, củng cố, hoàn thiện, nâng cao kiến thức đã học [16]

Các nhà lí luận dạy học Liên Xô cũ cho rằng: BT là một dạng gồm những bài toán, những CH hoặc đồng thời cả bài toán và CH mà khi hoàn thành chúng HS nắm được một tri thức mới hay một KN nhất định và hoàn thiện chúng

Các mức độ của BT có thể là một CH, một thí nghiệm nêu vấn đề hay một bài toán nhận thức BT có giá trị nhận thức phải chứa đựng những tình huống sư phạm, mặt khác cũng phải tạo ra một định hướng nhận thức cho người học biết sử dụng vốn tri thức của mình để phát hiện những tri thức mới từ tài liệu

b Yêu cầu sư phạm của BT Sinh học [21]

- BT là phương tiện dùng để dạy học

- BT là phương tiện để hướng dẫn phương pháp học, hướng dẫn nội dung học,

Trang 23

cũng như nội dung kiểm tra và tự kiểm tra kết quả học tập

- BT phải mã hóa được lượng thông tin quan trọng được trình bày dưới dạng thông báo, phổ biến kiến thức thành dạng nêu vấn đề học tập BT được thiết kế phải đảm bảo yêu cầu Sư phạm, việc học không chỉ dừng lại ở mức độ ghi nhớ để trình bày lại mà còn phải sử dụng được những kiến thức đã biết để tự tìm tòi, khám phá

ra những kiến thức mới theo định hướng của GV Kết quả của việc giải BT là nắm vững kiến thức, phát triển tư duy và hình thành cho người học sự tích cực, chủ động

và tự lực

- BT cần được diễn đạt rõ ràng, chính xác và súc tích

c Vai trò của BT trong dạy học

- BT giúp HS tự lĩnh hội, củng cố và hoàn thiện kiến thức một cách có hệ thống

- BT sẽ tạo nguồn hứng thú cho việc học tập tích cực của HS Thông qua việc

sử dụng BT, sẽ rèn luyện cho HS tính kiên nhẫn, sáng tạo khi xử lý và vận dụng trong các vấn đề học tập

- BT phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong học tập của HS, khắc phục lối dạy học truyền thụ một chiều

- BT là công cụ để phát triển các thao tác tư duy: khi tìm lời giải cho một BT đòi hỏi người học cần phải có sự đối chiếu, so sánh những điều đã cho và những điều cần tìm Người học phải suy luận logic, do đó tư duy được phát triển

d Phân loại BT

BT có rất nhiều dạng và được sử dụng phổ biến trong quá trình dạy - học Có nhiều cách phân loại BT khác nhau: dựa vào mục đích của lí luận dạy học, dựa vào năng lực nhận thức, dựa vào địa điểm thực hiện BT

 Dựa vào mục đích lí luận dạy học

- Dựa vào mục đích lý luận dạy học có thể chia BT làm ba loại sau:

+ Loại 1: BT sử dụng để dạy bài mới

Khi HS giải được các BT này HS sẽ lĩnh hội được kiến thức mới Do vậy, mỗi

BT dùng với mục đích dạy bài mới phải mã hóa được nội dung kiến thức Khi giải loại BT này, GV nên đưa ra các CH phụ để hướng dẫn, gợi ý HS gợi nhớ lại các

Trang 24

kiến thức cũ vận dụng vào để giải BT Vì thế, số lượng và tính chất của câu hỏi phụ phụ thuộc vào từng đối tượng HS

+ Loại 2: BT để củng cố, hoàn thiện và nâng cao kiến thức

Các dạng BT này được xây dựng dựa trên những tri thức đã có của HS, nhưng các kiến thức đó chưa có tính hệ thống Với loại BT này sẽ giúp HS hệ thống hóa, khái quát hóa những kiến thức đã học, rèn luyện các thao tác tư duy và sự sáng tạo cho HS

+ Loại 3: BT sử dụng trong kiểm tra, đánh giá

Hệ thống BT này dùng để kiểm tra, đánh giá khả năng lĩnh hội kiến thức của

HS sau mỗi bài học, một chương hoặc một chủ đề nhất định Tùy vào từng đối tượng HS, thời gian làm bài quy định và nội dung trọng tâm của bài, của chương mà

GV xây dựng BT cho phù hợp

 Dựa vào năng lực nhận thức của HS

- Theo quan điểm của tác giả Hồ Thị Dung, dựa vào năng lực nhận thức của

HS, BT được chia thành 2 loại: BT tái hiện và BT sáng tạo [4]

+ Loại 1: BT tái hiện

Là dạng BT đòi hỏi HS nhớ lại, tái hiện lại kiến thức, KN đã học Ở mức độ cao hơn, BT tái hiện đòi hỏi HS phải nhận biết được những kiến thức cơ bản đã được thay đổi ít nhiều so với dạng đã học, biết diễn đạt những điều đã học bằng ngôn ngữ riêng, ngắn gọn hơn, chi tiết hơn

+ Loại 2: BT sáng tạo

Là dạng BT đòi hỏi HS áp dụng những kiến thức, KN đã học để giải quyết vấn

đề trong những tình huống mới, những vấn đề có tính tổng hợp Ở mức độ cao hơn, BT sáng tạo đòi hỏi giải quyết vấn đề theo một hướng mới, một kỹ thuật mới, một phương pháp mới Cái mới này có thể là cái mới đối với cá nhân hoặc cả xã hội

- Theo quan điểm của Trần Bá Hoành, phân chia các dạng BT thành 5 loại chính: + Loại 1: loại BT kích thích sự quan sát, chú ý

+ Loại 2: loại BT yêu cầu sự so sánh, phân tích

+ Loại 3: loại BT yêu cầu sự tổng hợp, khái quát hóa kiến thức

+ Loại 4: loại BT yêu cầu sự liên kết các kiến thức đã học với thực tế cuộc sống

Trang 25

+ Loại 5: loại BT kích thích tư duy, sáng tạo, hướng dẫn HS nêu và giải quyết vấn đề

 Dựa vào địa điểm thực hiện BT

- Dựa vào địa điểm thực hiện BT có thể chia BT làm hai loại sau:

+ Loại 1: BT trên lớp

Trong quá trình dạy học, GV cho HS làm những BT ngay tại lớp GV có thể

sử dụng BT trong quá trình học bài mới, cho HS vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề trong thực tiễn hoặc thông qua BT, GV truyền đạt kiến thức mới cho HS Ngoài ra, BT đó cũng có thể dùng để củng cố tiết học, qua đó GV nhanh chóng đánh giá được kết quả lĩnh hội kiến thức của HS trong buổi học

+ Loại 2: BT ở nhà

Loại BT này sẽ giúp GV đánh giá được khả năng tiếp thu bài học của HS Ngoài ra, thông qua các BT về nhà, GV sẽ rèn luyện cho HS việc tự học thêm ở nhà BT về nhà cần được sửa vào đầu tiết học mới hoặc trong tiết sửa BT để GV kịp thời phát hiện và sửa chữa những hiểu biết sai lệch của HS (nếu có)

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Để đánh giá thực trạng tình hình tự học của học sinh THPT hiện nay cũng như việc sử dụng hệ thống các BT trong dạy học chủ đề “Sinh học vi sinh vật”, Sinh học

10 - THPT để rèn luyện KN tự học cho HS, chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên 3 lớp 11 (121 HS) tại trường THPT Nguyễn Trãi và THPT Phạm Phú Thứ, năm học

2014 -2015

Phân tích kết quả của phiếu khảo sát, xem xét các số liệu thu được cùng với việc trao đổi trực tiếp với một số GV và HS tại các trường THPT trong phạm vi khảo sát, chúng tôi đưa ra một số nhận định khái quát như sau:

1.3.1 Thực trạng nhận thức của HS về vấn đề tự học

Khi tiến hành khảo sát nhận thức của HS về vấn đề tự học, kết quả cho thấy,

có đến 62% số HS cho rằng KN tự học rất cần thiết Tuy nhiên, phần lớn HS chưa hiểu một cách thấu đáo về khái niệm “tự học” và “KN tự học”, chỉ có 21.7% số HS được hỏi là nhận định tương đối đầy đủ về hai khái niệm trên Vì những hiểu biết sai lệch đó dẫn đến hơn một nửa số HS được khảo sát (57.8%) cho rằng bản thân đã

Trang 26

tích cực tự học ở lớp cũng như ở nhà nhưng không mang lại hiệu quả cao, số lượng còn lại có tới 17.4% HS hoàn toàn chưa có KN tự học

Qua khảo sát cũng cho thấy, có một số lượng không nhỏ HS chỉ tự học khi

GV yêu cầu hoặc khi có kiểm tra, thi cử (22.4%), hay học một cách tùy hứng (30.6%) Chính suy nghĩ sai lầm này đã gây khó khăn cho HS trong quá trình rèn luyện KN tự học cho bản thân và hiệu quả mang lại chưa cao Khi cho HS đưa ra đánh giá về tình hình tự học hiện nay của HS nói chung thì 49.6% cho rằng HS chưa có KN tự học Một trong những lí do dẫn đến thực trạng đó là HS chưa giành nhiều thời gian cho việc tự học

Trong cuộc phỏng vấn với một cô giáo bộ môn Toán học, trường THPT Nguyễn Trãi về vấn đề này, cô cho rằng: “HS hiện nay chưa thật sự có ý thức tự học, một số HS học theo hình thức đối phó nên rất thụ động trong giờ học Khi được GV đưa ra CH, BT thì đa phần HS ngồi im, chờ câu trả lời của từ phía GV hoặc các bạn khác Việc tự học của HS hiện nay không đem lại hiệu quả cao do nhiều nguyên nhân: có thể do HS không biết cách xây dựng một phương pháp tự học đúng đắn, thiếu sự kiên nhẫn trong quá trình học hoặc một số GV chưa sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học để rèn luyện KN tự học cho HS” Ngoài những nguyên nhân cô giáo đưa ra, qua khảo sát chúng tôi cũng xác định được một

số nguyên nhân khác, đó cũng chính là những khó khăn mà HS gặp phải trong quá trình rèn luyện KN tự học Khó khăn lớn nhất mà HS gặp phải đó chính là không biết cách làm như thế nào để hình thành KN tự học cho bản thân (68.6%), để giải quyết được khó khăn này đòi hỏi phải có thời gian và sự nỗ lực, kiên trì của người học Tuy nhiên, số HS không kiên nhẫn và muốn hoàn thành BT càng nhanh càng tốt lại chiếm một tỉ lệ tương đương (62%) Cùng với sự phát triển của công nghệ, ngày càng xuất hiện nhiều các phương tiện truyền thông (tivi, Internet, điện thoại di động), từ đó xuất hiện các trò chơi, giải trí, Chính những thứ đó đã làm mất rất nhiều thời gian của các HS nên thời gian tự học không còn nhiều HS sử dụng Internet với rất nhiều mục đích nhưng lại không biết cách tự tìm kiếm và khai thác thông tin trên đó

Thông qua kết quả khảo sát, chúng tôi cũng xác định được hình thức tự học

Trang 27

phổ biến ở HS là ghi chép bài đầy đủ (89.3%) Công việc chủ yếu của các em thường là học thuộc những gì thầy cô cho ghi trong vở để hôm sau lên trả bài đầu giờ cho GV Học nhóm cũng là một hình thức được HS lựa chọn khá nhiều (72.7%) Ngoài các kiến thức trong SGK, 57% số HS thỉnh thoảng giành thời gian nghiên cứu thêm các tài liệu tham khảo khác, song cũng có tới 25.6% số HS chưa bao giờ sử dụng hình thức này Phần lớn HS đã biết tự vạch ra kế hoạch học tập trước mỗi kì học (85.1%), song do thiếu sự kiên nhẫn trong quá trình thực hiện cũng như kế hoạch đưa ra chưa được hợp lí nên chưa mang lại hiệu quả cao

1.3.2 Thực trạng việc sử dụng BT trong dạy học chủ đề “Sinh học Vi sinh vật”, Sinh học 10 - THPT

Chúng tôi đã tiến hành các cuộc phỏng vấn ngắn với một số GV bộ môn Sinh học trường THPT Nguyễn Trãi và thu được một số kết quả sau:

Hầu hết GV đã khắc phục được lối truyền đạt kiến thức một chiều Tình trạng

“thầy đọc - trò chép” trong quá trình dạy - học không còn nhiều Một GV chia sẻ:

“Trong phần “Vi sinh vật học”, ở một số bài lượng kiến thức cần truyền đạt đến HS quá nhiều mà thời lượng của một tiết học chỉ có 45 phút nên GV soạn bài theo phương pháp hỏi đáp là chủ yếu Tuy nhiên, GV cũng thỉnh thoảng sử dụng các CH,

BT đối với những nội dung có liên hệ nhiều với thực tiến để HS tự vận dụng những điều đã học vào việc giải quyết các vấn đề gặp trong thực tế và qua đó giúp HS khắc sâu thêm kiến thức” Vì thế, phương pháp chủ đạo được GV lựa chọn trong việc truyền đạt kiến thức phần sinh học VSV vẫn là hỏi đáp truyền thống

Đối với phần kiến thức VSV học, khi khảo sát về tần suất GVsử dụng các

BT (tình huống, sơ đồ Graph, so sánh, phân tích phương tiện trực quan (hình ảnh, phim )) để kích thích sự tự tìm tòi, nghiên cứu HS, kết quả cho thấy GV thỉnh thoảng có sử dụng các BT trên, song cũng có một số ý kiến cho rằng GV rất ít khi

sử dụng (28.9%)

Trang 28

Biểu đồ 1.1 Đánh giá hiệu quả đạt được của các BT GV đã từng sử dụng trong

phần “Sinh học vi sinh vật”, Sinh học 10 - THPT

Để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng CH-BT trong dạy học phần VSV học , chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên HS Theo biểu đồ 1.1 cho thấy, những BT GV

sử dụng đã mang lại hiệu quả tương đối cao về mặt truyền thụ kiến thức Phần lớn

số HS cảm thấy việc sử dụng BT làm cho bài học trở nên dễ hiểu hơn (55.4%), dễ ghi nhớ và khắc sâu kiến thức (11.6%) Tuy nhiên, các BT trên chỉ kích thích được 4.9% số HS tự tìm tòi, khám phá trong quá trình dạy - học, 10.7% số HS chưa thật

sự quan tâm, chú ý đến các BT mà GV đưa ra Qua đó, chúng tôi nhận thấy rằng các

BT GV sử dụng trong quá trình giảng dạy đã giúp HS tiếp thu bài tương đối hiệu quả, song chưa thu hút được sự chú ý và chưa rèn luyện được một số KN, kỹ xảo cho HS

Tóm lại, qua khảo sát ban đầu cho thấy phần lớn HS chưa thật sự có KN tự học Để hình thành và rèn luyện được KN đó, bên cạnh sự nỗ lực, kiên trì của HS thì GV cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc định hướng, tổ chức giúp

đỡ HS thực hiện các hoạt động học tập tự lực Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng các biện pháp (cụ thể là sử dụng BT trong dạy học chủ đề “Sinh học vi sinh vật”, Sinh học 10 - THPT) để rèn luyện KN tự học cho HS ở các trường THPT trong phạm vi khảo sát chưa mang lại hiệu quả cao trong việc kích thích sự tích cực, tự tìm tòi, khám phá tri thức mới của HS

Dễ nhớ, nhớ lâu

Bài học sinh động Kích thích HS tự tìm

tòi

HS chưa quan tâm, chú ý

Ý kiến khác

Hiệu quả

Trang 29

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc rèn luyện KN tự học của HS và xây dựng các BT để rèn luyện KN tự học cho HS;

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài: Điều tra thực trạng nhận thức của HS

về vấn đề tự học và việc sử dụng BT để rèn luyện KN tự học cho HS trong dạy học chủ đề “Sinh học vi sinh vật”, Sinh học 10 - THPT của HS lớp 11 tại một số trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng;

- Xây dựng và đề xuất phương án sử dụng các BT để rèn luyện KN tự học cho

HS trong dạy học chủ đề “Sinh học vi sinh vật”, Sinh học 10 – THPT;

- Thực nghiệm sư phạm, sau đó thống kê và xử lý số liệu nhằm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng BT rèn luyện KN tự học cho HS

2.3 Phương pháp nghiên cứu [5]

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp quy của Nhà nước, Bộ Giáo dục - Đào tạo liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu các tài liệu chuyên môn, SGK và các tài liệu khác để phân tích tổng hợp, hệ thống hóa những kiến thức về chủ đề “Sinh học vi sinh vật”, Sinh học

10 – THPT

Trang 30

2.3.2.Phương pháp quan sát

- Quan sát thực tế hoạt động dạy - tự học thông qua các buổi sinh hoạt chuyên

môn, các hoạt động giáo dục tập thể

2.3.3 Phương pháp điều tra khảo sát

- Sử dụng phiếu khảo sát để điều tra nhận thức của HS về tự học, thực trạng việc sử dụng các BT và hiệu quả chúng mang lại trong dạy học chủ đề “Sinh học vi sinh vật”, Sinh học 10 – THPT Bên cạnh đó, thông qua phiếu khảo sát để đánh giá

hiệu quả của các BT đã xây dựng trong việc rèn luyện KN tự học cho HS

- Phỏng vấn một số GV về tình hình tự học của HS nói chung và trong chủ đề VSV học nói riêng từ đó làm cơ sở để xây dựng các BT nhằm rèn luyện KN tự học cho HS

2.3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

a Mục đích thực nghiệm

- Kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của các BT đã xây dựng trong việc rèn luyện KN tự học cho HS khi dạy học chủ đề “Sinh học vi sinh vật”, Sinh học 10 – THPT

b Chuẩn bị thực nghiệm

- Gửi BT đã xây dựng nhờ GV phổ thông xem xét, chỉnh sửa

- Thống kê kết quả học tập của HS qua kết quả học kì I nhằm lựa chọn các lớp

có trình độ tương đương để tiến hành TN

c Thực nghiệm sư phạm

 Đối tượng thực nghiệm

Trong phạm vi có hạn của đề tài, chúng tôi chỉ có thể tiến hành thực nghiệm trên quy mô nhỏ với đối tượng là học sinh lớp 10 trường THPT Nguyễn Trãi - quận Liên Chiểu - thành phố Đà Nẵng

Cụ thể: 2 lớp 10/3 và 10/5 - chương trình nâng cao

 Bố trí thực nghiệm

Tương ứng với từng chương trình học, chúng tôi chia đối tượng TN thành 2 nhóm: Nhóm lớp TN và nhóm lớp ĐC

Trang 31

+ Nhóm lớp TN: Được tổ chức dạy học có sử dụng BT nhằm rèn luyện KN tự học cho HS

+ Nhóm lớp ĐC: Được tổ chức dạy học theo hình thức mà GV thực hiện lâu nay

 Kiểm tra đánh giá

- Đểkiểm tra đánh giá hiệu quả sử dụng BT trong việc tiếp thu kiến thức của

HS, chúng tôi đã thiết kế và sử dụng cùng đề kiểm tra ở cảlớp TN và lớp ĐC

- Ngoài ra, để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng BT để rèn luyện KN tự học cho HS, chúng tôi đã tiến hành 3 lần khảo sát Cụ thể như sau:

+ Lần khảo sát thứ nhất: Chúng tôi tiến hành khảo sát trên lớp ĐC vào thời gian sau khi kết thúc 2 bài học

+ Lần khảo sát thứ 2: Chúng tôi tiến hành khảo sát trên lớp TN trước khi vào bài học

+ Lần khảo sát thứ 3: Chúng tôi tiến hành khảo sát trên lớp TN sau khi kết thúc 2 bài học

Cả 3 lần khảo sát chúng tôi sử dụng cùng một nội dung, chỉ có ở lần thứ 3 chúng tôi có khảo sát thêm mức độ hứng thú của HS đối với việc sử dụng các BT trong dạy - học

2.3.5 Phương pháp xử lý các số liệu thu được bằng thống kê toán học

- Các bài kiểm tra của lớp TN và ĐC đều được chấm theo thang điểm 10 và được xử lý bằng thống kê toán học với các tham số sau:

+ Tham số trung bình cộng (𝑋): là tham số xác định giá trị trung bình của dãy

số thống kê, được tính theo công thức:

𝑋 = 1

𝑛 𝑋𝑖𝑛𝑖Trong đó: Xi : Giá trị của điểm số thứ i

ni : Số bài làm có điểm số là Xi

n : Tổng số bài kiểm tra

+ Độ lệch chuẩn (S): khi có hai giá trị trung bình chưa đủ để kết luận hai kết quả là giống nhau, mà còn phụ thuộc vào các giá trị của đại lượng phân tán ít hay

Trang 32

nhiều xung quanh hai giá trị trung bình cộng Sự phân tán đó được mô tả bởi độ lệch chuẩn có công thức:

𝑋1 , 𝑋2: Điểm số trung bình của 2 phương án TN và ĐC

n1, n2: Số bài trong mỗi phương án

𝑆12, 𝑆22: Phương sai của phương án TN và ĐC

Sau khi tính được td, ta so sánh với giá trị được tra trong bảng phân phối Student với mức ý nghĩa ∝= 0,05

Nếu td : Sự khác nhau giữa 𝑋1 và 𝑋2là có ý nghĩa thống kê

Nếu : Sự khác nhau giữa 𝑋1 và 𝑋2là không có ý nghĩa thống kê

Các số liệu điều tra được phân loại và tính toán theo tỉ lệ % số bài đạt khá, giỏi, trung bình, yếu, kém trong tổng số bài Từ đó, đánh giá mức độ hiểu, nắm bắt kiến thức và khả năng vận dụng các kiến thức vào các tình huống khác nhau

Ngoài ra, sau khi thu thập các thông tin và số liệu từ các hoạt động điều tra khảo sát, chúng tôi tiến hành thống kê xử lí số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel

Trang 33

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Phân tích cấu trúc, nội dung kiến thức thuộc chủ đề “Sinh học Vi sinh

vật”, Sinh học 10 - THPT

3.1.1 Khái quát nội dung phần“Sinh học vi sinh vật”

Phần “Sinh học vi sinh vật” - Sinh học 10 gồm 3 chương với 19 bài (Sách nâng cao) và 12 bài (sách cơ bản) Cấu trúc chương trình phần “Sinh học vi sinh vật” - Sinh học 10 thể hiện rõ tính logic trong cấu trúc nội dung, trong đó các kiến thức ở bài trước là cơ sở để hình thành các kiến thức ở phía sau chương trình Các kiến thức tạo thành một hệ thống nhất, có quan hệ chặt chẽ với nhau

- Chương 1: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở VSV

Chương này giới thiệu cho HS cái nhìn khái quát về VSV, về các kiểu dinh dưỡng và chuyển hóa vật chất rất đa dạng ở VSV thông qua các quá trình tổng hợp

và phân giải các chất, đồng thời cũng nêu lên vai trò của VSV trong thiên nhiên và những ứng dụng của nó đối với đời sống con người

- Chương 2: Sinh trưởng và sinh sản của VSV

Chương 2 đề cập tới sự sinh trưởng của VSV theo cấp số mũ, quy luật sinh trưởng trong nuôi cấy liên tục, nuôi cấy không liên tục, cơ sở của công nghệ vi sinh, công nghệ tế bào và công nghệ sinh học, đồng thời nêu được các yếu tố ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của VSV Ngoài ra, chương 2 còn giới thiệu đến các hình thức sinh sản của VSV

- Chương 3: Virut và bệnh truyền nhiễm

Chương 3 đề cập tới các dạng virut, sự nhân lên của virut trong tế bào chủ và mối quan hệ của nó với các sinh vật khác Đồng thời, cũng nói lên các phương thức truyền bệnh của virut và các ứng dụng của virut trong thực tiễn Phần cuối cùng của chương giới thiệu về các bệnh truyền nhiễm và miễn dịch

3.1.2 Phân tích cấu trúc, nội dung kiến thức phần “Sinh học vi sinh vật”

- Tính khái quát: Sinh học vi sinh vật cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về

VSV: khái niệm, môi trường nuôi cấy, các quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng, sinh trưởng, sinh sản của VSV

Trang 34

- Tính kế thừa: Phần “Sinh học VSV” được đưa vào cuối chương trình SGK

Sinh học 10 vì kiến thức của nó là sự kế thừa những kiến thức về tế bào trước đó Nắm bắt được các kiến thức về sinh học tế bào sẽ là nền tảng cho HS tìm hiểu kiến thức phần sinh học VSV một cách dễ dàng hơn

- Tính lôgic: Các bài trong một chương có sự liên hệ với nhau rất chặt chẽ, nội dung chương trước là nền tảng để học tiếp chương sau Nhờ có quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng mà cơ thể VSV mới sinh trưởng và phát triển được Sinh trưởng phát triển đến một giai đoạn nhất định, VSV sẽ tiến hành quá trình sinh sản

để duy trì nòi giống, đảm bảo sự phát triển liên tục của loài Virut chỉ là một thực thể sống, chưa có cấu tạo tế bào nên bản thân nó không phải là một cơ thể sinh vật Tuy nhiên, virut mang một số đặc điểm đặc trưng của VSV: kích thước nhỏ bé, phân bố rộng, có thể nhân lên (sinh sản) và di truyền các đặc điểm cho thế hệ sau nên những kiến thức về virut vẫn được đưa vào phần VSV

Tính logic không chỉ thể hiện qua sự sắp xếp của các chương mà còn giữa các phần trong chương trình Sinh học 10 Thực chất sinh học VSV cũng là sinh học tế bào vì VSV tồn tại chủ yếu ở dạng đơn bào nhưng đồng thời chúng cũng là những

cơ thể Trong sinh học tế bào cũng đề cập đến các quá trình sinh lí là chuyển hóa vật chất và năng lượng, sinh sản Đây sẽ là cơ sở để người học tìm hiểu về các quá trình trong chu trình sống của VSV ở phía sau

- Tính hiện đại và thực tiễn: Phần lớn những nội dung kiến thức trong phần

“Vi sinh vật học” đều gắn liền với thực tiễn Sau khi tiếp thu các kiến thức lý thuyết

HS sẽ vận dụng chúng vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn Một số ví dụ như:

Sử dụng các kiến thức trong bài “Sinh trưởng của VSV” để thu được sinh khối lớn trong sản xuất Hoặc người học cũng có thể áp dụng những hiểu biết về ảnh hưởng của các yếu tố vật lý và hóa học đến sự sinh trưởng của VSV để kích thích sự sinh trưởng của VSV có lợi và ức chế sự hoạt động của các VSV có hại trong sản xuất

và đời sống

Với sự sắp xếp nội dung các chương trong phần “Sinh học VSV” - sinh học 10 theo một hệ thống logic cấu trúc đã giúp cho người dạy thuận lợi trong việc truyền

Trang 35

tải kiến thức, đồng thời giúp cho người học có thể tiếp thu kiến thức một cách sâu sắc và có hệ thống

3.1.3 Phân loại kiến thức trong phần “Sinh học Vi sinh vật”

Bảng 3.1 Bảng hệ thống các loại kiến thức thuộc chủ đề “Sinh học VSV”, Sinh

học 10 - THPT

Chương Kiến thức khái

niệm

Kiến thức cơ chế, quá trình

Kiến thức ứng dụng thực tiễn

Quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng ở VSV, quá trình hô hấp, quá trình lên men: lactic

và etilic, quá trình phân giải và tổng hợp các chất:

protein, lipit, axit nucleic, polysaccarit

Nuôi cấy các VSV khác nhau để tạo ra sản phẩm phục vụ đời sống con người như: sản xuất sinh khối thu protein, thu các chất có hoạt tính sinh học cao,

Quá trình sinh trưởng của quần thể VSV, quá trình sinh sản bằng các hình thức: phân đôi, nảy chồi và sinh sản bằng bào tử

Sử dụng nhiệt độ,

độ ẩm, tia bức xạ, độ

pH, các hóa chất thích hợp để nuôi cấy VSV có ích hay tạo điều kiện bất lợi

về các yếu tố trên để kìm hãm sự sinh trưởng của VSV hoặc tiêu diệt chúng

Chu trình nhân lên của virut trong tế bào chủ (chu trình tan, chu trình tiềm tan), cơ chế tác động của miễn dịch đặc hiệu và các loại miễn dịch không đặc hiệu

Sử dụng virut để sản xuất các sản phẩm phục vụ đời sống con người như: vacxin, insulin, inteferon,

Nhận biết và biết cách phòng tránh HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm

Trang 36

3.2 Nguyên tắc thiết kế BT rèn luyện KN tự học trong dạy học phần “Sinh học

VSV”

Khi xác định các nguyên tắc trong thiết kế BT trong dạy - học chủ đề “Sinh học VSV”, Sinh học 10 - THPT nhằm rèn luyện KN tự học của HS ngoài dựa vào các cơ sở của lí luận dạy - học như: mục đính giáo dục, tính quy luật của quá trình dạy - học, hoạt động nhận thức và những đặc điểm tâm lý của HS, còn phải xem xét đến tính đặc thù của môn học và những nội dung phù hợp có thể xây dựng được BT rèn luyện KN tự học trong phần sinh học VSV

Khi xây dựng hệ thống BT nhằm rèn luyện KN tự học cho HS trong dạy - học chủ đề “Sinh học VSV”, chúng tôi tuân thủ các nguyên tắc sau:

Trong nghiên cứu của chúng tôi, quá trình đạt mục tiêu bài học chính là quá trình

HS tự tìm lời giải đáp cho BT; nó vừa là phương tiện cụ thể hóa mục tiêu dạy học, vừa quy định và định hướng cách thức tìm tòi nội dung học tập, nên đó là phương tiện hữu hiệu để rèn luyện KN, phát triển tư duy, giáo dục nhân cách cho HS

 Đảm bảo tính chính xác nội dung

BT muốn rèn luyện được KN tự học cho HS thì trước hết cần đảm bảo tính khoa học, chính xác về nội dung Nếu yêu cầu tất yếu này không đảm bảo được thì việc định hướng tìm tòi của HS sẽ không đạt được mục tiêu dạy - học đề ra

 Đảm bảo phát huy tính tích cực, tự nghiên cứu của HS

Trong quá trình dạy - học, vai trò của người thầy không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức mà quan trọng hơn là phải sử dụng các phương pháp để HS tự chiếm lĩnh kiến thức, bồi dưỡng và phát triển KN tự học, tự nghiên cứu suốt đời Để phát huy tính tích cực, tự học của HS thì các BT phải được xây dựng và sử dụng sao cho thu hút sự chú ý và tạo ra động lực để HS tự tìm tòi cái mới

Trang 37

 Đảm bảo tính vừa sức

Trong dạy học, mức độ tiếp thu tri thức và khả năng tự học giữa các HS là khác nhau Vì vậy, xây dựng BT ngoài đảm bảo những yêu cầu chung cần tính đến khả năng của từng cá nhân để đưa ra những yêu cầu riêng, phù hợp với năng lực người học BT được xây dựng phải phù hợp với trình độ của HS, cùng một nội dung kiến thức nhưng với những đối tượng HS khác nhau thì cách thức xây dựng BT của

GV là không giống nhau

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ quy trình xây dựng BT

Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học

Bước 2: Phân tích nội dung bài học

Bước 3: Lựa chọn nội dung có thể xây dựng BT

để rèn luyện KN tự học cho HS

Bước 4: Tiến hành xây dựng BT

Bước 5: Xây dựng đáp án, hướng dẫn giải cho BT

Bước 6: Chỉnh sửa, hoàn thiện và sắp xếp các BT

xây dựng được thành hệ thống

Trang 38

Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học

- Để xây dựng được một BT, trước hết GV cần nghiên cứu mục tiêu của bài học Việc xác định đúng mục tiêu bài học một phần sẽ giúp GV có những định hướng đúng đắn về nội dung có thể xây dựng BT

Bước 2: Phân tích nội dung kiến thức

- Phân tích nội dung kiến thức đ ể có một cái nhìn tổng quát về nội dung bài học, kiến thức trọng tâm, kiến thức cần mở rộng cũng như những kiến thức có thể liên hệ thực tiễn

Bước 3: Lựa chọn nội dung có thể xây dựng BT để rèn luyện KN tự học cho HS

- Để thực hiện được bước này, GV cần phải thực hiện tốt bước 1 Sau khi đã xác định được mục tiêu của bài học, GV sẽ tiến hành lựa chọn các nội dung phù hợp

để xây dựng BT thỏa mãn được 2 yêu cầu:

+ Đáp ứng được mục tiêu bài học đã đề ra

+ Nội dung đó có thể xây dựng BT để rèn luyện KN tự học cho HS

- Dựa vào quá trình nghiên cứu về cơ sở lí luận của vấn đề tự học cũng như nội dung kiến thức phần 3 “Sinh học vi sinh vật”, Sinh học 10 - THPT, chúng tôi đưa ra một số nội dung trong phần sinh học VSV có thể xây dựng BT để rèn luyện

KN tự học cho HS, cụ thể như sau:

.+ Nội dung gắn liền với thực tiễn: HS tự liên hệ thực tiến kết hợp với các kiến thức có trong SGK để giải quyết BT GV đưa ra Cụ thể: các kiến thức về quá trình lên men, về quá trình tổng hợp và phân giải các chất, về HIV/AIDS, về bệnh truyền nhiễm,

+ Nội dung kiến thức về cơ chế, quá trình: Trong quá trình dạy - học, GV sử dụng các phương tiện dạy học, yêu cầu HS nghiên cứu SGK kết hợp với các phương tiện dạy học để tự mô tả lại quá trình Cụ thể: các kiến thức về quá trình sinh trưởng và sinh sản ở VSV, chu trình nhân lên của virut,

+ Nội dung kiến thức có sự so sánh, đối chiếu Cụ thể: các kiến thức về sinh trưởng và sinh sản của VSV, các loại môi trường nuôi cấy VSV, chu trình nhân lên của phago và virut HIV,

Trang 39

Bước 4: Tiến hành xây dựng BT

- BT được xây dựng nhìn chung gồm 2 phần chính:

+ Phần thứ nhất:Tài liệu cung cấp thông tin để có thể thực hiện các yêu cầu ở phần thứ hai, bao gồm: đoạn tư liệu trong SGK, trong các tài liệu tham khảo; phương tiện trực quan; các thí nghiệm và kết quả cho trước; một nhận định hoặc một tình huống

+ Phần thứ hai: Các câu lệnh yêu cầu HS tự nghiên cứu hoặc hoạt động nhóm

để xử lí các dữ liệu đã có Từ đó, HS tự lực giải quyết các vấn đề BT yêu cầu, GV chỉ hướng dẫn, giúp đỡ nếu HS gặp khó khăn

Bước 5: Xây dựng đáp án, hướng dẫn giải cho từng BT

- BT cần có đáp án chi tiết kèm theo, việc xây dựng đáp án giúp GV có thể tham khảo trong quá trình dạy - học, HS tham khảo trong học tập

Bước 6: Chỉnh sửa và hoàn thiện BT đã xây dựng

- GV chỉnh sửa lại một lần nữa nội dung và hình thức diễn đạt BT Các BT được sắp xếp theo một logic chặt chẽ, phù hợp với mục đích lí luận dạy học

+ Nêu được khái niệm bệnh truyền nhiễm và các tác nhân gây bệnh

+ Phân biệt được các phương thức lây truyền

+ Từ phương thức lây truyền, đề xuất được các biện pháp phòng tránh một số bệnh truyền nhiễm

- Về kĩ năng:

+ KN đọc và chọn lọc những thông tin cần thiết trong tài liệu

+ KN tự phân tích, tổng hợp tài liệu Từ kết quả đã phân tích được tự rút ra kiến thức mới của bài học

- Về thái độ

+ Có nhận thức đúng đắn về các phương thức lây truyền bệnh để có các biện

Trang 40

pháp phòng tránh bệnh hợp lý

Bước 2: Phân tích nội dung bài học

- Bài học gồm hai nội dung chính: Phần thứ nhất là bệnh truyền nhiễm giới thiệu về khái niệm, các phương thức lây truyền và một số bệnh truyền nhiễm phổ biến do virut Phần còn lại đề cập đến các loại miễn dịch

Bước 3: Lựa chọn nội dung xây dựng BT

- Các kiến thức về bệnh truyền nhiễm gắn liền với thực tế hơn nữa cũng rất gần gũi với HS HS sẽ dựa vào nguồn tài liệu GV cung cấp kết hợp với những hiểu biết của bản thân trong thực tiễn, từ đó phân tích và tự rút ra được kiến thức mới Bước 4: Xây dựng BT

Chúng tôi đã cung cấp cho HS một đoạn thông tin ngắn về 2 bệnh truyền nhiễm khá phổ biến hiện nay: Bệnh viêm gan B và bệnh viêm loét dạ dày Yêu cầu

HS từ đoạn thông tin đó kết hợp với vốn hiểu biết của bản thân hoàn thành các yêu cầu của BT Từ đó, tự bản thân HS hình thành nên kiến thức mới Cụ thể như sau: Đoạn thông tin dưới đây giới thiệu về hai căn bệnh phổ biến hiện nay: bệnh viêm gan B và bệnh viêm loét dạ dày Hãy đọc và hoàn thành các yêu cầu sau:

 Bệnh viêm gan B [28]

Viêm gan B là một căn bệnh tấn công lá gan Căn bệnh này do siêu vi viêm gan B (HBV) gây ra Khoảng 4.9% người Mỹ bị nhiễm HBV Nhiều người bị nhiễm bệnh thường không cảm thấy có triệu chứng gì và thậm chí không biết là mình nhiễm bệnh Khoảng 90% trẻ nhỏ sinh ra đã có mẹ mắc bệnh đều nhiễm bệnh viêm gan B

Viêm gan B là căn bệnh viêm nhiễm do máu, điều đó có nghĩa là có siêu vi gây bệnh trong máu và chất dịch cơ thể của những người mắc bệnh Nếu máu hoặc chất dịch cơ thể nhiễm HBV xâm nhập vào cơ thể của người lành qua vết cắt hoặc chỗ

hở khác, người đó rất dễ có nguy cơ mắc bệnh HBV là loại siêu vi sống rất dai; thậm chí chúng còn có thể sống trong máu khô trong nhiều ngày Chính vì vậy rất

dễ nhiễm HBV nếu bạn sinh hoạt tình dục không có biện pháp bảo vệ với một người

đã nhiễm bệnh hoặc nếu máu hoặc chất dịch cơ thể có siêu vi HBV đã tiếp xúc với một vết thương hở miệng hoặc da bị bong HBV cũng lây lan dễ dàng qua dụng cụ y

Ngày đăng: 09/05/2022, 01:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Quang Báo (1991),Sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học sinh học, Luận án phó tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học sinh học
Tác giả: Đinh Quang Báo
Năm: 1991
2. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành (1996), Lý luận dạy học sinh học, phần đại cương, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học sinh học
Tác giả: Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1996
3. Trần Anh Công (2005), Xây dựng câu hỏi theo hướng phát huy năng lực của HS trong các bài 12, 13, 14, 16 - Sinh học 6 ở trường trung học cơ sở”, khóa luận tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng câu hỏi theo hướng phát huy năng lực của HS trong các bài 12, 13, 14, 16 - Sinh học 6 ở trường trung học cơ sở”
Tác giả: Trần Anh Công
Năm: 2005
4. Hồ Thị Dung (2012), Xây dựng hệ thống bài tập cho một giờ lên lớp, Tạp chí giáo dục, (số 280), tr. 26 - 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí giáo dục
Tác giả: Hồ Thị Dung
Năm: 2012
5. Vũ Cao Đàm (2002), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2002
6. Nguyễn Thành Đạt (Tổng Chủ biên), Phan Văn Lập (Chủ biên), Trần Dụ Chi, Trịnh Nguyên Giao, Phạm Văn Ty (2008), Sinh học 10 cơ bản, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 10 cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt (Tổng Chủ biên), Phan Văn Lập (Chủ biên), Trần Dụ Chi, Trịnh Nguyên Giao, Phạm Văn Ty
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
8. Trần Bá Hoành, Bùi Phương Nga, Trần Hồng Lam, Trần Thị Bích Ngọc (2003), Áp dụng dạy học tích cực trong môn Sinh học, NXB Đại học sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng dạy học tích cực trong môn Sinh học
Tác giả: Trần Bá Hoành, Bùi Phương Nga, Trần Hồng Lam, Trần Thị Bích Ngọc
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2003
10.Nguyễn Kì, Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học, NCGD số 3/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học
11.Trịnh Quốc Lập (2008), Phát triển năng lực tự học trong hoàn cảnh Việt Nam, Tạp chí Trường Đại học Cần Thơ, (10), tr. 169-176 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Trường Đại học Cần Thơ
Tác giả: Trịnh Quốc Lập
Năm: 2008
12. Biền Văn Minh (2007), Giáo trình điện tử vi sinh vật học, Trường Đại học sư phạm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình điện tử vi sinh vật học
Tác giả: Biền Văn Minh
Năm: 2007
13. Lê Thị Minh (2012), Xây dựng và sử dụng câu hỏi, bài tập theo hướng phát huy tính tích cực của HS để dạy học phần Sinh học tế bào - Sinh học 10 - THPT,Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và sử dụng câu hỏi, bài tập theo hướng phát huy tính tích cực của HS để dạy học phần Sinh học tế bào - Sinh học 10 - THPT
Tác giả: Lê Thị Minh
Năm: 2012
16. Nguyễn Ngọc Quang và các tác giả (1975), Lí luận dạy học đại học, Tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lí luận dạy học đại học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang và các tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1975
17. Trần Quốc Thành - Nguyễn Quang Uẩn (1992), Vấn đề KN và KN học tập, Trường ĐHSP Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề KN và KN học tập
Tác giả: Trần Quốc Thành - Nguyễn Quang Uẩn
Năm: 1992
18. Nguyễn Cảnh Toàn (1999), Bàn luận về kinh nghiệm tự học, tr .59-60, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn luận về kinh nghiệm tự học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1999
19. Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên), Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo (2002), Học và dạy cách học, NXB Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học và dạy cách học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên), Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2002
20. Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên), Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Táo, Bùi Tường (1997), Quá trình dạy - tự học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình dạy - tự học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên), Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Táo, Bùi Tường
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
21. Đỗ Thị Trường (2008), Chuyên đề phát triển các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học Sinh học ở trường THPT, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề phát triển các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học Sinh học ở trường THPT
Tác giả: Đỗ Thị Trường
Năm: 2008
22.Thƣ gửi “Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo” ngày 6/1/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo
23. Raja Roy Singh (1994), Nền giáo dục thế kỷ XX: Những triển vọng của châu Á Thái Bình Dương, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền giáo dục thế kỷ XX: Những triển vọng của châu Á Thái Bình Dương
Tác giả: Raja Roy Singh
Năm: 1994
24. Lê Khánh Vũ (2013), Bài tập - biện pháp rèn luyện KN đặt vấn đề vào bài học, tiểu luận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập - biện pháp rèn luyện KN đặt vấn đề vào bài học
Tác giả: Lê Khánh Vũ
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w