Với mong muốn trên, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân CHDCND Lào đã đề ra chiến lược phát triển nguồn nhân lực từ 2006- 2020 có 4 hướng: Một là tăng cường nội dung dạy học trong chương
Trang 1HUOY XAY, TỈNH SAVANNAKHET,
NƯỚC CHDCND LÀO
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH Bộ môn Vật lí
Mã số: 8.14.01.11
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Đà Nẵng – Năm 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN BẢO HOÀNG THANH
Phản biện 1:
PGS.TS Nguyễn Ngọc Hưng Phản biện 2:
TS Lê Thanh Huy
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Khoa học giáo dục họp tại Trường Đại học Sư phạm vào
ngày 22 tháng 12 năm 2018
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN
Khoa Vật lý, Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước Lào đang trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh phát triển, đòi hỏi xã hội phải tạo ra nguồn nhân lực có trình độ cao Điều đó đồng nghĩa với ngành Giáo dục và Đào tạo cần phải có sự đổi mới về mọi mặt, nhằm đào tạo người lao động có đủ kiến thức, năng lực sáng tạo, trí tuệ và phẩm chất đạo đức tốt, đáp ứng được yêu cầu nhân lực của đất nước và phù hợp với bốn trụ cột giáo dục của UNESCO trong thế kỷ XXI (Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học
để khẳng định mình)
Với mong muốn trên, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào đã đề ra chiến lược phát triển nguồn nhân lực từ 2006- 2020 có 4 hướng: Một là tăng cường nội dung dạy học trong chương trình giáo dục phổ thông ở CHDCND Lào, giáo dục phổ thông kéo dài 12 năm; hai là khuyến khích và mở rộng cơ hội cho mọi người được học tập, cải thiện chất lượng và liên kết giáo dục; ba là tổ chức nghiên cứu khoa học giáo dục và có kế hoạch phát triển khoa học giáo dục; bốn là chú ý mở rộng các trường kỹ thuật và đạo tạo dạy nghề Trong giai đoạn hiện nay, khi khoa học công nghệ có những bước tiến nhảy vọt, việc đào tạo những con người không chỉ nắm vững kiến thức mà còn có năng lực sáng tạo, có ý nghĩa quan trọng đối với tiềm lực khoa học kĩ thuật của đất nước
Với mục tiêu và định hướng về đổi mới phương pháp dạy học như vậy thì một trong những điều quan trọng trong việc trang bị tri thức trong nhà trường phổ thông là phải phát triển kỹ năng sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra đánh giá kết quả học tập ,đặc biệt
là với học sinh học trong các trường phổ thông
Cho nên dựa trên môi trường chúng tôi đang làm việc, xuất hiện
đa số là những học sinh có kết quả học tập kém, thiếu hiệu quả, hầu như các giáo viên ở trường chúng tôi đều áp dụng phương pháp dạy
Trang 4học nói chung là chưa phù hợp với đối tượng, chương trình, giảng bài nhiều lý thuyết, không có điều kiện để nghiên cứu xây dụng và sử dụng
hệ thống câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong dạy học Những vấn đề đó, chúng tôi và các đồng nghiệp trong tổ vật
lí là đang phải tìm các giải pháp cải thiện hoạt động KTĐG kết quả học tập của học sinh Chính vì vậy, chúng tôi chọn lựa phương pháp
sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong dạy học vật lý để học sinh của mình có thể thích ứng dụng
Vì vậy, nhằm góp phần khắc phục khó khăn nói trên và để nâng cao hiệu quả dạy học, đáp ứng nhu cẩu đổi mới trong giáo dục, chúng tôi
chọn đề tài nghiên cứu là: “ xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn vật lý lớp 11 ở trường trung học phổ thông Huoy Xay, tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào”
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Các phương pháp trắc nghiệm đo lường thành quả học tập đầu tiên được tiến hành vào thế kỷ XVII – XVIII tại Châu Âu Sang thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX các phương pháp trắc nghiệm đo lường thành quả học tập đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới
Năm 1904 nhà tâm lý học người Pháp – Aifred Binet trong quá trình nghiên cứu trẻ em mắc bệnh tâm thần đã xây dựng một số bài trắc nghiệm về trí thông minh Năm 1916, Lewis Terman đã dịch và soạn các bài trắc nghiệm này sang tiếng Anh từ đó trắc nghiệm trí thông minh được gọi là trắc nghiệm Stanford – Binet
Mới đây, ở nhiều nước trên thế giới (Anh, Mỹ, Úc, Bỉ, Pháp…) với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin họ đã cái tiến việc thực hiện trắc nghiệm như: Cài đặt chương trình chấm điểm, xử lý kết quả trên máy tính khiến cho trắc nghiệm trở thành công cụ hữu ích, nhất là đối với chương trình tự học tự đào tạo
Trang 5Vì vậy việc soạn thảo các câu trắc nghiệm có chất lượng ngày càng được khuyến khích trên nhiều lĩnh vực thuộc nhiều ngành khác nhau
Kể từ khi giải phóng đất nước vào năm 1975, CHDCND Lào đã cải cách hệ thống giáo dục của đất nước lên 4 lần, gần đây, Lào đã thiết lập thời gian biểu cho cải cách giáo dục trong giai đoạn 2006-2015 Hiện đang trong giai đoạn thứ hai của chính sách
Vào năm 2010, Bộ giáo dục và thể thao đã tổ chức khảo thí và kiểm định chất lượng để cải tiến thi cử và đánh giá chất lượng các trường đại học, đồng thời sẽ sử dụng phương pháp trắc nghiệm kiểm tra để làm đề thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh đại học Phương pháp trắc nghiệm kiểm tra đã rất phổ biến ở nước Lào, nhiều môn học với kết quả tốt và được đánh giá cao Tuy nhiên, trắc nghiệm kiểm tra
ở Lào còn mới mẻ và hạn chế nhất là ở các trường phổ thông vùng xa, năm 2012 – 2013 học sinh phổ thông cả nước đã bắt đầu làm quen với bài thi trắc nghiệm kiểm tra với tất cả các môn học
3 Mục tiêu của đề tài
Xây dựng được hệ thống câu hỏi trắc nghiệm chương “Điện tích – Điện trường” vật lí 11 theo chương trình Vật lí THPT ở Việt Nam, phù hợp và có thể sử dụng được trong việc đánh giá kết quả học tập của HS ở CHDCND Lào
4 Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức xây dựng được hệ thống câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong dạy học chương “Điện tích – Điện trường” vật lí lớp 11 phù hợp với lí luận dạy học hiện đại thì sẽ giúp cho hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học môn vật lí của học sinh được hiệu quả hơn
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc xây dụng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương “Điện tích – Điện trường” vật lí 11 THPT
Trang 65.2 Phạm vi nghiên cứu
Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm giới hạn trong chương “Điện Điện trường” SGK vật lí 11
tích-6 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu lý luận về phương pháp xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong dạy học vật
- Phương pháp Nghiên cứu lí luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn như: Quan sát, điều tra, phỏng vấn, thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp thống kê toán học để xử lí các kết quả quan sát
và thực nghiệm
8 Đóng góp của đề tài
Chúng tôi đã căn cứ vào chuẩn kiến thức – kĩ năng chương “ Điện tích Điện trường” cùng với việc sử dụng quy trình quy trình 4 giai đoạn, 10 bước, chúng tôi đã xây dựng nên đề kiểm tra cuối chương gồm 60 câu hỏi trắc nghiệm ở các mức nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương
Chương 1 Cơ sở lí luận về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học ở trường trung học phổ thông
Chương 2 Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương “Điện tích – Điện trường” Vật lí 11 cơ bản Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 7CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Sơ lược về tình hình nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Năm 1904 nhà tâm lý học người Pháp – Aifred Binet trong quá trình nghiên cứu trẻ em mắc bệnh tâm thần đã xây dựng một số bài trắc nghiệm về trí thông minh Năm 1916, Lewis Terman đã dịch và soạn các bài trắc nghiệm này sang tiếng Anh từ đó trắc nghiệm trí thông minh được gọi là trắc nghiệm Stanford – Binet
Mới đây, ở nhiều nước trên thế giới (Anh, Mỹ, Úc, Bỉ, Pháp…) với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin họ đã cái tiến việc thực hiện trắc nghiệm như: Cài đặt chương trình chấm điểm, xử lý kết quả trên máy tính khiến cho trắc nghiệm trở thành công cụ hữu ích, nhất là đối với chương trình tự học tự đào tạo
Vì vậy việc soạn thảo các câu trắc nghiệm có chất lượng ngày càng được khuyến khích trên nhiều lĩnh vực thuộc nhiều ngành khác nhau
1.1.2 Các nghiên cứu ở Lào
Kể từ khi giải phóng đất nước vào năm 1975, CHDCND Lào đã cải cách hệ thống giáo dục của đất nước lên 4 lần, gần đây, Lào đã thiết lập thời gian biểu cho cải cách giáo dục trong giai đoạn 2006-2015 Hiện đang trong giai đoạn thứ hai của chính sách
Cải cách giáo dục là rõ ràng nhất Điều chỉnh thời gian Giáo dục
Cơ bản cho một hệ thống 12 năm từ một hệ thống 11 tuổi được gọi là
hệ thống 5 + 3 + 3 đề cập đến tiểu học 5 năm, trung học cơ sở 3 năm
và trung học phổ thông 3 năm Trong khi ở trong hệ thống giáo dục cơ bản mới, CHDCND Lào đã mở rộng trình độ trung học cơ sở từ 3 năm
Trang 8lên 4 năm để giáo dục học sinh trung học cơ sở lên Học sinh có hiểu biết sâu sắc về nội dung của từng môn học
Trong lĩnh vực giáo dục, Lào đã cải thiện chương trình giảng dạy của mình và bắt đầu sử dụng lần đầu tiên vào năm 2006, tập trung vào việc đào tạo học sinh phù hợp với tình hình kinh tế xã hội hiện tại CHDCND Lào đã và đang cải thiện việc dạy và học bằng cách nghiên cứu xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra đánh giá kết quả học tập và bổ sung nhiều tài liệu giảng dạy, ngoài các lớp học nâng cao hơn Giáo viên, những người quan trọng đối với chất lượng giáo dục Mặc dù Lào hiện đang phải đối mặt với tình trạng thiếu giáo viên, chẳng hạn như trường trung học, có tỷ lệ giáo viên trung bình là 35 sinh viên Vào năm 2010, Bộ giáo dục và thể thao đã
tổ chức khảo thí và kiểm định chất lượng để cải tiến thi cử và đánh giá chất lượng các trường đại học, đồng thời sẽ sử dụng phương pháp trắc nghiệm kiểm tra để làm đề thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh đại học Phương pháp trắc nghiệm kiểm tra đã rất phổ biến ở nước Lào, nhiều môn học với kết quả tốt và được đánh giá cao Tuy nhiên, trắc nghiệm kiểm tra ở Lào còn mới mẻ và hạn chế nhất là ở các trường phổ thông vùng xa, năm 2012 – 2013 học sinh phổ thông cả nước đã bắt đầu làm quen với bài thi trắc nghiệm kiểm tra với tất cả các môn học
1.2 Cở sở lý luận về việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.2.1 Khái niệm về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
a Kiểm tra
Như vậy trong quá trình kiểm tra nhằm thu nhập thông tin để đánh giá kết quả học tập, hoạt động kiểm tra được thực hiện theo hai hướng: Định tính và định lượng Dựa trên kết quả theo ghi nhận định tính và định lượng, giáo viên đưa ra những phán đoán, những kết luận
về người học
Trang 9b Khái niệm đánh giá
1.2.2 Mục đích của việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
b Đối với giáo viên
c Đối với cán bộ quản lí và nghiên cứu giáo dục
1.2.3 Chức năng của kiểm tra đánh giá trong giáo dục
b Chức năng chỉ đạo định hướng hoạt động học
c Chức năng xác định thành tích học tập, hiệu quả học tập
1.2.4 Ý nghĩa của việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập
a Đối với học sinh
Việc kiểm tra đánh giá được tiến hành thường xuyên có hệ thống giúp cho học sinh có cơ hội để củng cố tri thức, phát triển trí tuệ
Thông qua kiểm tra đánh giá, học sinh có điều kiện tái hiện và chính xác hóa tri thức, hoàn thiện, khắc sâu, hệ thống hóa những kiến thức đã học được, giúp cho học sinh rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng tri thức, phát triển năng lực tư duy sáng tạo
b Đối với giáo viên
Thông qua KTĐG, giáo viên thu được những thông tin ngược
từ học sinh phát hiện thực trạng KQHT của học sinh cũng như những nguyên nhân cơ bản dẫn tới kết quả đó Đây là cơ sở thực tế để giáo viên điều chỉnh hoạt động của học sinh và hướng dẫn học sinh tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động học của bản thân, thông qua đó giáo viên cũng kịp thời điều chỉnh hoạt động giảng dạy của mình cho phù hợp với mục đích yêu cầu dạy học và trình độ nhận thức của người học
c Đối với cán bộ quản lí giáo dục
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh giúp cho các nhà quản lý đi đến những quyết định để cải tiến và hoàn thiện một nội dung
Trang 10hay chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học Trong quá trình dạy học, vấn đề sử dụng tài liệu nào, phương pháp hay phương tiện nào thích hợp, phải được thực thi và có kết quả Những kết quả này thông qua KTĐG để đi đến quyết định là nên tiếp tục hoạt động giáo dục hay thay đổi những gì trong giáo dục
1.2.5 Các yêu cầu sư phạm đối với việc KTĐG kết quả học tập của học sinh
Vấn đề KTĐG tri thức: Kĩ năng, kĩ xảo chỉ có tác dụng khi thực hiện những yêu cầu sau:
a Đảm bảo tính khách quan trong quá trình đánh giá
b Đảm bảo tính toàn diện
c Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống
d Đảm bảo tính công khai
e Đảm bảo tính giáo dục
f Đảm bảo tính phát triển
1.2.6 Nguyên tắc chung cần quán triệt trong kiểm tra đánh giá
Để đảm bảo tính khoa học của việc KTĐG kiến thức, kỹ năng, cần quán triệt một nguyên tắc chung quan trọng nhất là: Việc KTĐG kiến thức kỹ năng cần được tiến hành theo một quy trình hoạt động chặt chẽ Quy trình hoạt động này bao gồm 4 yếu tố sau:
- Xác định rõ mục đích KTĐG, việc KTĐG có thể có các mục đích khác nhau tùy trường hợp, chẳng hạn:
- Xác định rõ biện pháp thu thập thông tin (hình thức kiểm tra) phù hợp với đặc điểm của nội dung kiến thức, kỹ năng cần kiểm tra, phù hợp với mục đích KTĐG và điều kiện cho phép Cần nhận rõ ưu, nhược điểm của mỗi hình thức kiểm tra để có thể sử dụng phối hợp và tìm biện pháp phát huy ưu điểm và khắc phục tối đa các nhược điểm của hình thức đó
- Xây dựng các câu hỏi, các đề kiểm tra cho phép thu lượm các thông tin tương ứng với các mục tiêu đã xác định và phù hợp với hình thức kiểm tra lựa chọn
Trang 11- Tiến hành kiểm tra, thu lượm thông tin, chấm, xem xét kết quả
và kết luận đánh giá Chấm điểm các bài kiểm tra căn cứ theo một thang điểm xây dựng phù hợp với mục tiêu đánh giá đã xác định Xem xét kết quả chấm thu được, rút ra kết luận đánh giá tương ứng với mục đích kiểm tra đã xác định [9]
1.2.7 Các hình thức kiểm tra đánh giá
a Kiểm tra đánh giá thường xuyên
b Kiểm tra đánh giá định kỳ
c Kiểm tra đánh giá tổng kết
1.3 Quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Phần này trình bày các bước của qui trình soạn thảo và phân tích đề kiểm tra dùng trong lớp học Với những đề kiểm tra sử dụng câu hỏi trắc nghiệm, nhiệm vụ sẽ tăng thêm như: Phải thực hiện số lần thử nghiệm nhiều hơn, phải thu thập số liệu và phân tích kết quả trên những nhóm học sinh khác nhau
Quy trình g ồm 4 giai đoạn trải qua 10 bước như sau:
(1) Xác định mục đích thi, kiểm tra đánh giá
(2) Soạn đề thi, kiểm tra và tạo các đề tương đương
(3) Tổ chức thi, kiểm tra và chấm thi, kiểm tra
(4) Phân tích đề và câu trắc nghiệm
1.3.1 Giai đoạn 1: Xác định mục đích thi KTĐG
Là giai đoạn chuẩn bị cho việc tạo ra được các đề, các câu trắc nghiệm khách quan, tự luận phù hợp với yêu cầu về nội dung kiến thức
và mức độ, mục tiêu nhận thức cần KTĐG Giai đoạn này cần thực hiện 3 bước:
Bước 1: Phân tích nội dung môn học
Bước 2: Xác định mục tiêu nhận thức cho từng môn học Bước 3: Thiết lập dàn bài trắc nghiệm:
1.3.2 Giai đoạn 2: Soạn đề thi, kiểm tra và tạo các đề tương đương
Giai đoạn này cũng thực hiện qua 3 bước:
Trang 12Bước 4: Soạn câu trắc nghiệm (Tự luận hoặc Khách quan) Bước 5: Trao đổi trong nhóm đồng nghiệp
1.3.3 Giai đoạn 3: Tổ chức thi, kiểm tra và chấm thi, kiểm tra
Bước 7: Tổ chức thi kiểm tra và chấm bài thi, bài kiểm tra
1.3.4 Giai đoạn 4: Phân tích và lưu trữ câu trắc nghiệm
Bước 8: Phân tích câu hỏi
- Mục đích phân tích câu hỏi
- Phương pháp phân tích câu hỏi
- Xử lí số liệu
Bước 9: Phân tích bài trắc nghiệm
- Điểm trung bình của bài trắc nghiệm
- Độ khó vừa phải của bài trắc nghiệm
- Độ lệch chuẩn
- Hệ số tin cậy của bài trắc nghiệm
Bước 10: Sửa chữa và lưu trữ câu trắc nghiệm
1.4 Trắc nghiệm tự luận
a Khái niệm
b Ưu điểm và nhược điểm của trắc nghiệm tự luận
c Các biên soạn đề bài tự luận
d yêu cầu đối với phương pháp kiếm tra viết tự luận
e Cách chấm điểm bài tự luận
1.5 Cơ sở của việc lựa chọn và sử dụng phối hợp câu hỏi trắc nghiệm
Trang 13chuẩn quốc gia và có chất lượng cao, theo quy định tổ chức và hoạt động của trường THPT của Bộ giáo dục và thể thao đã đề ra từ tháng
3 năm 2013, trường có tất cả 16 lớp học sinh, học theo chương trình
và quy định của Bộ giáo dục và thể thao Trường gồm 3 tổ chuyên
môn, có 28 giáo viên và 659 học sinh
Kể từ năm 2010, Bộ giáo dục và thể thao đã quy định áp dụng phương pháp trắc nghiệm kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, áp dụng tự luận vào trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh toàn quốc gia Sau những năm, sở giáo dục của tỉnh đã tổ chức cho các giáo viên được đi tập huấn về phương pháp trắc nghiệm kiểm tra để có thể tiếp thu hiệu quả cao và một cách đầy đủ hơn
K ết luận chương 1
Trên đây chúng tôi đã hệ thống lại cơ sở lý luận về kiểm tra đánh giá nói chung cũng như cơ sở lý luận về kỹ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ NLC và TNTL Trong đó chúng tôi quan tâm đến những vấn đề sau:
1 Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu trong quá trình giáo dục nói chung và trong dạy học nói riêng Kiểm tra đánh giá có thể tiến hành theo nhiều mục đích khác nhau, tùy theo từng mục đích mà kiển tra đánh giá có những cách tiếp cận khác nhau Các chuyên gia về đánh giá giáo dục trong nước và trên thế giới đều cho rằng, vấn đề đánh giá két quả học tập của HS trước hết phải căn
cứ vào mục tiêu dạy học Đây là cách tiếp cận theo tiêu chí, tức là đánh giá mức độ mà HS đạt được các mục tiêu dạy học như thế nào? Luận văn nghiên cứu về KTĐG dựa trên cơ sở cách tiếp cận này
2 Phương pháp KTĐG ở trường phổ thông rất đa dạng: Bài kiểm tra tự luận, bài kiểm tra trắc nghiệm, …Các phương pháp kiểm tra đánh giá đó đều có tác dụng thích hợp trong từng điều kiện học tập của HS Do đó các GV cần sử dụng phối hợp câu trắc nghiệm với tự luận một cách linh hoạt sao cho có hiệu quả nhấy, nhằm góp phần nâng cao chất lượng KTĐG trong trường phổ thông