1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ CÁC THÀNH PHẢN CÔNG NHÂN TRÊN CÔNG TRƯỜNG XÂY DỰNG

52 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • TRANG BÌA

  • NỘI DUNG

    • CHƯƠNG 1:TÌNH HÌNH CHUNG VÀ TÍNH ĐẶC THÙ CỦA CÔNG TRƯỜNG XÂY DỰNG HIỆN NAY

      • 1.1.Tốc độ phát triển của ngành xây dựng những năm gần đây ở nước ta

      • 1.2. Đặc thù công nhân xây dựng trên các công trường lớn và nhỏ

      • 1.3. Mức độ cơ giới hóa và thủ công ở các công trường xây dựng khác nhau

        • 1.3.1. :Tại những công trường xây dựng lớn

        • 1.3.2. Tính cơ giới ở các công trình dân dụng tư nhân đơn lẽ

      • 1.4. Điều kiện lao động ngành xây dựng

      • 1.5. Tình hình tai nạn lao động trên công trường xây dựng hiện nay

    • CHƯƠNG 2:MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

      • 2.1.Mục tiêu

      • 2.2. Đối tượng nghiên cứu

      • 2.3. Phương pháp nghiên cứu

    • CHƯƠNG 3 :CÁC THÀNH PHẦN CÔNG NHÂN TRONG NGÀNH XÂY DỰNG

      • 3.1.Công nhân thường trực (đội cơ hữu) của công ty xây dựng

      • 3.2.Công nhân tổ khoán (thầu phụ)

      • 3.3.Công nhân thời vụ

      • 3.4.Công nhân đặc biệt

    • CHƯƠNG 4:HỆ THỐNG QUẢN LÝ CÁC THÀNH PHẦN CÔNG NHÂN

      • 4.1.Quản lý cấp công ty

        • 4.1.1.Đối với công nhân cơ hữu

        • 4.1.2.Các thành phần khác

      • 4.2.Giám sát thi công

      • 4.3.Giám sát an toàn

      • 4.4.Quản lý ra vào cổng (Bảo vệ)

    • CHƯƠNG 5:CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ

      • 5.1.Tại công ty

        • 5.1.1.Đối với công nhân cơ hữu

        • 5.1.2.Đối với đội khoán

      • 5.2.Tại công trường

        • 4.2.1.Giám sát thi công

        • 5.2.2.Giám sát an toàn

        • 5.2.3.Đội bảo vệ

    • CHƯƠNG 6KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN

      • 6.1. Kết luận

      • 6.2. Kiến nghị

  • MỤC LỤC

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Biểu mẫu kiểm tra cẩu tháp

  • Biểu mẫu kiểm tra thiết bị ra vào cổng

  • Kiểm tra chung

  • SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BAN AN TOÀN LAO ĐỘNG

  • MỘT SỐ HÌNH ẢNH

Nội dung

Điều kiện lao động của công nhân ngành xây dựng có những đặc thù rất khác so với các ngành nghề khác: Khác với các ngành công nghiệp khác dệt, cơ khí v.v… chỗ làm việc của công nhân tươn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG

TP H Ồ CHÍ MINH, THÁNG 12/2008

Trang 2

CHƯƠNG 1:

TÌNH HÌNH CHUNG VÀ TÍNH ĐẶC THÙ CỦA CÔNG TRƯỜNG XÂY

DỰNG HIỆN NAY

1.1.T ốc độ phát triển của ngành xây dựng những năm gần đây ở nước ta

Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, cùng với các nước trong khu vực Việt Nam được đánh giá là “ Con rồng mới của Châu Á”, là điểm đến đầu

tư hấp dẫn nhất của các nước phát triển trên thế giới Sự phát triển đó được thể

hiện qua việc rất nhiều những khu công nghiệp được xây mới, nhiều con đường và nhiều cây cầu được xây mới và mở rộng nhằm tăng hiệu quả thông thương, các chính sách thu hút đầu tư cũng được Nhà nước ban hành , và đặc biệt hơn hết l à

việc xây dựng ngày càng nhiều những cao ốc văn phòng – những khu chung cư cao cấp cao tầng Cả đất nước ta ở đâu cũng nhận thấy sự hiện diện của các công trường xây dựng lớn và nhỏ đang hoạt động ngày đêm Các tỉnh và thành phố đã

có Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh đã được lập cho 60/64 tỉnh Toàn bộ 94 thành

phố thị xã, 621 thị trấn, 161 khu công nghiệp đã có quy hoạch khu kinh tế đặc thù, khu kinh tế cửa khẩu đã lập và phê duyệt; Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 đạt khoảng 40-47% diện tích đất xây dựng ở các độ thị, 20% tổng số xã trên toàn quốc đã lập quy hoạch xây dựng Mạng lưới đô thị quốc gia được sắp

xếp lại, mở rộng và phát triển cùng các khu công nghiệp, khu kinh tế, nhiều đo thị

mới được xây dựng khang trang, hiện đại với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng

xã hội đồng bộ, góp phần thay đổi và tạo ra diện mạo mới của đô thị, cải thiện, nâng cao điều kiện ở và môi trường sống của người dâ n Những việc làm trên bước đầu tiên đã thu hút hàng trăm tỷ USD từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư xây dựng phát triển đô thị, nông thôn và các khu công nghiệp

tạo ra những bước đột phá rất quan trọng khiến diện mạo đô thị thay đổi với quy

mô ngày càng lớn, càng hiện đại và đồng bộ nhưng vẫn giữ được bản sắc truyền

thống dân tộc Số dự án phát triển nhà ở đô thị tăng nhanh Hiện có hơn 1500 dự

án đang triển khai Bình quân mỗi năm có them 58 triệu m

:

2 nhà ở ( trên tổng số

260 triệu m2

hiện có) Đến nay kinh phí đầu tư cho cấp nước đạt khoảng 01 tỷ USD Có trên 300 dự án với tổng công suất thiết kế 4,2 triệu m3/ ngày đêm (tăng 42% so với năm 2000) Đầu tư cho thoát nước và vệ sinh môi trường khoảng 1,2

ỷ USD Tốc độ tăng trưởng đạt trên 17% năm (cao hơn tốc độ tăng trưởng công

Trang 3

nghiệp cả nước) Giá trị sản lượng của ngành đạt mức tăng trưởng 16,5% năm, giá

trị gia tăng 10,7%

Và đến ngày nay ngành xây dựng đã dần trở thành ngành giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Và cũng từ những lý do đó, để bắt kịp sự phát triển không ngừng của ngành thì nhu cầu về lao động để phục vụ cho ngành cũng tăng lên đáng kể so với những năm trước đây

1.2 Đặc thù công nhân xây dựng trên các công trường lớn và nhỏ

Ngành đã giải quyết việc làm cho một lượng lớn lao động của nước ta Thế nhưng

vấn đề được đặt ra ở đây là chất lượng lao động của ngành, tính chất phức tạp của các thành phần lao động trên công trường vì do đây là ngành chủ yếu cần sức lực

và sự quen việc của công nhân Hầu hết là bán chuyên nghiệp, hoặc thời vụ, có khi

là thợ đụng( đụng đâu làm đó), tay ngang Đồng thời tùy thuộc rất nhiều vào thành

phần xuất thân, quê quán, và điều kiện về đời sống…đã tạo ra những điểm rất riêng cho lực lượng lao động này

:

Đặc thù của công nhân trên công trường được chia ra như sau:

a, Công nhân thường trực (đội cơ hữu) của công ty xây dựng

b, Công nhân tổ khoán

c, Công nhân thời vụ

d, Công nhân đặc biệt

Ở những công trường lớn thường có đầy đủ các thành phần công nhân như trên, còn ở những công trường nhỏ và tư nhân thì sẽ không có thành phần đội cơ hữu

1.3 M ức độ cơ giới hóa và thủ công ở các công trường xây dựng khác nhau

1.3.1

:

T ại những công trường xây dựng lớn

Với quy mô của công trường lớn có nhiều công đoạn phức tạp và sử dụng nhiều

vật liệu nặng không thể làm bằng tay và sức người, phạm vi hoạt động của công trường lớn, cùng với sự đầu tư của Chủ đầu tư và đơn vị thi công do đó các thiết bị làm việc trong các công trường đều có công suất và kích thước lớn: như cần cẩu bánh xích, cần cẩu tháp, máy uốn sắt, máy cắt sắt, máy vận thăng…điều này cũng

:

Trang 4

làm giảm nhẹ được phần nào những lao động nặng nhọc cho người lao động Một

số hình ảnh thiết bị có công suất lớn:

Hình 1: xe đào 1m3

2

Hình 2: cẩu bánh xích 80 tấn

Trang 5

Hình 3: cần cẩu tháp Tuy có đầy đủ các phương tiện và thiết bị với công suất lớn nhưng chất lượng của các thiết bị này lại là một vấn đề cần phải đề cập đến Hiện nay nước ta vẫn đang

là một nước nghèo đang trên đường phát triển chưa thể sản xuất các thiết bị này, nên tất cả các thiết bị đều được nhập từ nước ngoài và chủ yếu là những thiết bị đã qua sử dụng và gần như đã bị loại bỏ ở nước sản xuất, theo quy định của Nước ta các thiết bị đòi hỏi nghiêm ngặt về an toàn như thiết bị nâng phải được cơ quan

kiểm định kỹ thuật an toàn kiểm tra và cấp giấy chứng nhận khi đó thiết bị mới được đưa vào sử dụng, thế nhưng tình trạng chung hiện nay của thiết bị các thiết này là hệ thống phụ trợ nhằm đảm bảo vận hành an toàn cho thiết bị: thiết bị báo

tốc độ gió, thiết bị không chế góc nâng cần, thiết bị báo tầm với và tải trọng tương ứng… hầu như không còn hoạt động Điều này đã làm giảm đi sự an toàn khi vận hành các thiết bị này

1.3.2 Tính cơ giới ở các công trình dân dụng tư nhân đơn lẽ

Công trình dân dụng tư nhân đơn lẽ chủ y ếu là nhà ở và các công trình sinh hoạt

phụ của người dân Quy mô của những cồng trường này nhỏ (cả về diện tích cũng như vốn đầu tư), do đó không được trang bị nhiều các máy móc - thiết bị có công

suất lớn, và thêm vào đó lao động trên các công trình này chủ yếu là các lao động

phổ thông không có kĩ thuật cũng như không được đào tạo qua trường lớp, họ chủ

yếu là lao động chân tay và làm việc thủ công

:

Trang 6

Hình 5: ở khu vực xây dựng công trình tư nhân đơn lẽ không có các thiết bị máy

móc có công suất lớn

Hình 6: thiết bị nâng vật liệu lên cao thô sơ ở các công trình dân dụng riêng lẽ

1.4 Điều kiện lao động ngành xây dựng:

Trang 7

Điều kiện lao động của công nhân ngành xây dựng có những đặc thù rất khác so

với các ngành nghề khác:

Khác với các ngành công nghiệp khác (dệt, cơ khí v.v…) chỗ làm việc của công nhân tương đối cố định ở một nơi, và làm việc trong phân xưởng tránh được sự tác động trực tiếp của khí hậu, hoàn thành các thao tác kỹ thuật nhất định trên các thiết bị cố định Còn trong xây dựng chỗ làm việc của công nhân luôn thay đổi nay đây mai đó, ngay cả trong phạm vi của một công trình, phụ thuộc vào tiến trình xây dựng, do đó mà điều kiện lao động cũng thay đổi luôn Đặc biệt là công nhân xây dựng phải làm việc trực tiếp ngoài trời, chịu mọi sự tác động từ thời tiết và khí

hậu vùng miền (nắng, mưa, gió v.v…)

Trong ngành xây dựng có nhiều ngành nghề, nhiều công việc nặng nhọc (thi công đất, đổ bêtông, vận chuyển vật liệu v.v…) mức cơ giới thi công còn thấp (như đã

đề cập ở phần 3) nên phần lớn công nhân phải làm thủ công tốn nhiều công sức, năng suất lao động rất thấp và khả năng xảy ra tai nạn lao động là rất lớn

Hình 7: công nhân phải vận chuyển vật liệu bằng tay

Có nhiều công việc buộc người lao động phải làm việc ở tư thế gò bó, không thoải mái như quỳ gối, khom lưng, ngồi xổm, nằm ngửa…(như khi hàn, tô tường)

Trang 8

Nhiều công việc phải làm trên cao, những chổ chênh vênh nguy hiểm (lắp dựng giàn giáo, công tác copha cột v.v… ) lại có những công việc phải làm ở sâu dưới đất, dưới nước (ví dụ: thi công giếng chìm, thi công tầng hầm v.v…) có nhiều nguy cơ tai nạn

Hình 8: làm việc nơi chênh vênh nguy hiểm

Hình 9: công tác thi công móng sâu dưới đất

Trang 9

Về tình trạng vệ sinh lao động, nhiều công nhân xây dựng phần lớn phải thực hiện ngoài trời, chịu ảnh hưởng xấu của khí hậu thời tiết như nắng gắt, giông bão, như

dầm, và bùn đất tại nơi làm việc nhất là ở những công trường đang thi công nền nóng

Hình 10: công nhân làm việc tại nơi bùn đất ngập sâu Nhiều công việc công nhân phải làm trong môi trường ô nhiễm bởi các yếu tố có

hại như bụi (trong công tác đất đá, trộn xi-măng, công tác chà nhám tường v.v…),

tiếng ồn và rung động lớn (ép cọc, khoan cọc nhồi v.v…), hơi khí độc (công tác hàn, sơn trang trí …

Trang 10

Hình 11: khu vực trộn xi-măng rất nhiều bụi

Với những đặc điểm như trên ta thấy rằng điều kiện lao động trong xây dựng có nhiều khó khăn, phức tạp, nguy hiểm, độc hại do đó tai nạn lao động rất dễ xảy ra

và để lại những thiệt hại nghiêm trong

1.5 Tình hình tai n ạn lao động trên công trường xây dựng hiện nay

Cùng với sự phát triển về kinh tế của ngành và những mặt tích cực của ngành xây

dựng đã đóng góp cho xã hội thì đi kèm đó là sự mất an toàn và tai nạn lao động trên công trường xây dựng ngày càng tăng cao , gây thiệt hại và để lại những hậu

quả nặng nề về người và vật chất ( theo báo Người Lao Động ngày 27/11/2008, từ đầu năm 2008 tới nay trong lĩnh vực xây dựng tại địa bàn thàn phố Hồ Chí Minh

có 34 vụ tai nạn chết người, so với cùng kì năm 2007 tăng 21% ).Nhưng số liệu này chưa chính xác, trên thực tế số vụ tai nạn chết người trên công trường cao hơn

rất nhiều Một số trường hợp tai nạn thương tâm:

:

- Khoảng 17 giờ, ngày 22-11, trong khi đang di chuyển trên công trường xây

dựng một nhà dân ở đường số 2, khu cư xá Đô Thành (quận 3 – TPHCM), anh N.D.L (19 tuổi) đã bị trượt chân ngã vào hố thang máy Tai nạn lao động (TNLĐ) này khiến anh L chết ngay sau đó Nguyên nhân ban đầu được xác định, hố thang máy đã không được che chắn đúng quy định

Trang 11

- Vụ TNLĐ tại trạm nghiền xi măng Hạ Long (KCN Hiệp Phước, huyện Nhà

Bè -TPHCM do Công ty S.Đ thi công) ngày 3-4 Trong khi đang điều khiển palăng di chuyển các dụng cụ, vật liệu lên tầng 7, anh V.T.H sơ ý bị ngã qua lỗ sàn

tầng (không có biển báo, rào chắn) rơi xuống từ độ cao 26 m và chết ngay sau đó

- TNLĐ ngày 28-6 tại công trình lắp ghép nhà xưởng của Công ty Cổ phần Đầu

tư – Xây dựng 45 ở Khu Công nghệ cao (quận 9-TPHCM) Trong khi nhóm công nhân (CN) đang làm việc thì 7 tấm bê tông rơi xuống làm chết hai CN và bị thương một CN khác

Phân tích các vụ TNLĐ chết người cho thấy nhiều vụ TNLĐ sẽ không xảy ra

nếu như thực hiện đúng quy định về an toàn lao động, một điều đáng buồn là hầu

hết nạn nhân đều nằm trong độ tuổi từ 18 đến 30 (hơn 65%) lứa tuổi có khả năng lao động cao nhất và thường là trụ cột trong gia đình Điều này cho thấy rằng công tác bảo hộ lao động tại các công trường xây dựng hiện nay đã không được đặt để đúng vị trí, tại các công trường thiếu rất nhiều những cán bộ chuyên trách an toàn lao động và các cán bộ an toàn này lại chịu sự chỉ huy của Chỉ huy trưởng công trường nên việc thực hiện các chính sách về an toàn lao động bị hạn chế (vì các đơn vị thi công chủ yếu xem trọng việc tiến độ và tiết kiệm chi phí trang bị các thiết bị bảo vệ cá nhân cũng như thực hiện các chính sách) Và một nguyên nhân quan trọng phải nói đến là đội ngũ lao động, công trường là nơi tập hợp của nhiều thành phần lao động như nông dân lên thành thị, những người thất nghiệp, hay ngay cả những thành phần bất hảo của xã hội… do đó sự nhận thức cũng như hiểu

biết của họ về các chính sách bảo hộ lao động của Nhà nước là rất hạn hẹp, nên họ không thể tự đòi quyền lợi cho mình, mặt khác vì không được đào tạo và huấn luyện về nghề nghiệp cùng với sự xuất thân của mỗi thành phần lao động khác nhau (không có tác phong công nghiệp và tính kỹ luật, thích gì làm nấy), các đơn

vị thi công đã dựa vào các yếu tố đó để tránh việc trang bị cũng như thực hiện các chính sách Bảo hộ lao động, nên tạo ra một môi trường làm việc rất khó để quản

Hiện nay môi trường quản lý và các mối quan hệ giữa chủ đầu tư ,các đơn vị thi công được thể hiện như sơ đồ sau:

Trang 12

Hình 12: Sơ đồ tổ chức mối quan hệ quản lý ở công trường xây dựng

“Con người là vốn quý của xã hội, là nền tảng động lực phát triển xã hội” Đúng

vậy từ khi biết lao động con người với tư duy sáng tạo đã tạo ra biết bao công cụ lao động và dùng nó để tác động lên môi trường sống tạo ra của cải vật chất và nuôi sống mình Hàng thế kỉ trôi qua, cùng với sự phát triển của xã hội loài người, khoa học kỹ thật ngày càng được phát triển, các loại máy móc thiết bị được nghiên

cứu sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng và khai phá thiên nhiên, nâng cao năng suất ngày càng lớn của con người Ngày xưa chỉ là rìu đá phá núi, đào đất nay được thay vào đó là những máy đào đất lớn; ngày xưa để nâng những tảng đá

lớn phải cần rất nhiều người lao động nặng nhọc nhưng giờ đã được thay bằng xe

cẩu hay cần trục có thể nâng được vật với khối lượng hàng trăm tấn Nhưng dù có thay thế con người như thế nào đi chăng nữa thì các máy móc đó muốn hoạt động được, làm việc được vẫn phải nhờ có con người điều khiển và cũng có những việc

những thứ máy móc đó không thể làm được (thay thế người thợ xây) Thế nhưng

TƯ VẤN GIÁM SÁT

NHÀ THẦU CHÍNH

PHÒNG KỸ THUẬT BAN AN TOÀN

CÁC NHÀ THẦU PHỤ

CHỦ ĐẦU TƯ

BAN KT CHẤT

LƯỢNG

Trang 13

hiện nay, trên công trường xây dựng công tác quản lý và bảo vệ an toàn sức khỏe cho “vốn quý” này lại rất lỏng lẻo, và vì thế đã có rất nhiền tai nạn xảy ra để lại

hậu quả nặng nề về người và vật chất cho xã hội Tất cả đều chạy theo tiến độ và kinh tế bỏ quên người lao động

Dựa trên thực tế hiện nay, nên Tôi đã chọn đề tài “ ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG HỆ

THỐNG QUẢN LÝ CÁC THÀNH PHẦN CÔNG NHÂN TRÊN CÔNG TRƯỜNG XÂY DỰNG “ nhằm tìm hiểu sâu hơn cách suy nghĩ của những người lao động trên công trường từ đó đề ra các phương cách giúp cho người cán bộ an toàn tại công trường xây dựng có thể phát huy tốt hơn các ý tưởng an toàn của mình, khi các thành phần công nhân nhận thức được họ phải được bảo vệ và tự

bảo vệ mình như thế nào

Trang 14

CHƯƠNG 2:

M ỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 2.1.M ục tiêu:

Thông qua đề tài này, với cách giải quyết vấn đề đặt ra, sẽ giúp cho người

quản lý công trường và ngưới giám sát an toàn tại công trường có cái nhìn tổng thể

về hệ thống hồ sơ và cách thức quản lý công nhân khi họ đang làm việc trên công trường xây dựng, cùng với một số biện pháp hỗ trợ, và kĩ năng được đề cập sẽ giúp cho người giám sát an toàn có thể thực hiện tốt công tác quản lý an toàn lao động và tạo nên một môi trường làm việc thân thiện nhưng nghiêm túc với người lao động Nâng cao chất lượng quản lý nhân sự và quản lý công tác an toàn tại công trường xây dựng hiện nay

2.2 Đối tượng nghiên cứu :

• Hệ thống hồ sơ công nhân

• Các thành phần công nhân làm việc trên công trường xây dựng

• Các nguyên nhân sẽ gây tai nạn cho người lao động và các biện pháp phòng ngừa

2.3 Phương pháp nghiên cứu :

• Tham khảo các ý kiến và kinh nghiệm của các chuyên gia

• Nghiên cứu bộ môn Bảo hộ lao động trong xây dựng: chủ yếu là tiến hành phân tích nguyên nhân phát sinh các yếu tố nguy hiểm, độc hại, gây ra sự cố, tai nạn, trên cơ sở đó đề xuất và thực hiện các biện pháp phòng ngừa

• Kinh nghiệm của bản thân qua thực tế làm việc

Trang 15

CHƯƠNG 3 : CÁC THÀNH PH ẦN CÔNG NHÂN TRONG NGÀNH XÂY DỰNG

Thành phần lao động trong ngành xây dựng là rất phức tạp do tính chất của ngành là theo thời vụ, thời gian ngắn, theo vùng miền nơi có công trường đang

hoạt động Lao động hầu hết là bán chuyên nghiệp, tay ngang Đặc điểm của họ còn phục thuộc vào xuất thân, quê quán, và điều kiện về đời sống…

3.1 Công nhân thường trực (đội cơ hữu) của công ty xây dựng

Đây là thành phần lao động nòng cốt của công ty số lượng không nhiều chỉ từ

200 – 300 người, những lao động này đã làm việc và gắn bó với công ty nhiều năm, và đã được công ty đào tạo thêm về mặt kỹ thuật cũng như tạo điều kiện cho nâng cao tay nghề trong quá trình làm việc tại những công trường của công ty Do

đó thành phần này có tay nghề, biết việc, có việc làm thường xuyên, họ chấp nhận xây dựng là nghề nghiệp Họ thường được tập hợp thành từng Tổ, Đội theo từng

loại công việc chuyên biệt do một tổ trưởng hay đội trưởng quản lý Đội trưởng là người quản lý toàn bộ công việc của đội Đây là thành phần đã được huấn luyện và quen với chính sách của công ty nên ý thức chấp hành nội quy công trường cũng như những nội quy về an toàn lao động là rất nghiêm túc Do đó việc quản lý thành phần này rất thuận lợi và thân thiện

:

3.2.Công nhân t ổ khoán (thầu phụ)

• Cơ cấu của thành phần này gồm: một người quản lý thường được gọi

là “ Cai”, dưới đó có một nhóm thợ Ông Cai nhận khối lượng công

việc (làm sắt, làm lồng thép …) sau đó gọi công nhân đi làm, Cai tự

chấm công và phát lương, và thầu phụ này là thành phần do đơn vị thi công thuê để hỗ trợ một phần công việc giúp đẩy nhanh tiến độ thi công Vì thế họ chú tâm làm cho nhiều khối lượng, làm càng nhanh càng tốt nên công tá c an toàn lao động đã bị bỏ quên Và tai

nạn lao động rất hay xảy ra với thành phần này với nhiều nguyên nhân cần chú ý:

:

• Công nhân của thầu khoán thường là những lao động phổ thông thuộc nhiều thành phần của xã hội(người dân xung quanh công trường, họ hàng

Trang 16

của ông Cai, tội phạm có tiền án…) Do đó tính cách của họ là rất ngang tàng và thường không làm theo những quy định về an toàn

• Họ không được huấn luyện sâu về nghề nghiệp cũng như huấn luyện về kĩ thuật an toàn Do đó nhận thức cũng như ý thức của họ về vấn đề an toàn công việc trên công trường kém, dù được nhắc nhở nhưng vẫn cố tình không thực hiện các biện pháp an toàn

• Ông Cai muốn thu nhiều lợi nhuận và giảm nhẹ những chi phí cho công nhân, do đó họ đã không cung cấp các trang thiết bị bảo vệ cá nhân phù hợp

với công việc cho công nhân cũng như việc sử dụng những thiết bị đạt yêu

cầu an toàn Chính những sai phạm đó đã dẫn đến tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho người lao động

Do những nguyên nhân trên để quản lý tốt công tác an toàn đối với thành

phần này người quản lý an toàn tại công trường trước tiên phải xây dựng được

ý thức an toàn và phải cho người đội trưởng nhận thức được tầm quan trọng

của công tác an toàn, sau đó mới đến người công nhân

3.3.Công nhân th ời vụ

Thành phần gồm một nhóm 5-10 người ở cùng xóm, cùng quê sau khi thu

hoạch mùa màng xong, hoặc là không có việc gì làm gặp lúc có công trường nên đã tập hợp lại cùng nhau đi xin việc ở công trường Một anh nhanh nhẹn

nhất, hiểu biết về công việc nhất sẽ tự làm tổ trưởng Thành phần này chủ yếu

là có lối sống thích tự do, không có tác phong công nghiệp cũng như tính kỹ

luật, tiền ăn thì mượn trước trả sau, do xuất thân từ nông dân và thành phần vô công rồi nghề Thích thì họ làm còn không thì nghỉ Họ không hiểu biết về công việc cũng như ý thức về các biện pháp an toàn Với tính đặc thù riêng như

thế nên việc thực hiện công tác an toàn với thành phần này là rất khó khăn, và thành phần này cũng rất dễ bị tai nạn lao động

Trang 17

Thành phần này có khi riêng lẽ hoặc từng nhóm 3-5 người vào xin việc, họ thường ở rất xa có thể ở phía Bắc vào Nam làm việc, thiếu giấy tờ tùy thân

Bảng khai tập huấn mập mờ không rõ ràng địa chỉ cũng như người thân Có thể

là thành phần có tiền án tiền sự, thậm chí có người đang trốn trại, đang bị truy

nã, họ lẫn vào công trường để tránh sự truy bắt của ngành An ninh Họ tìm

những việc làm thoải mái không chịu sự quản lý của ai, thích thì họ làm còn

nếu không thì đi chỗ khác, không có gì có thể ràng buộc họ Thái độ của họ thì

rất ngông ngênh, bất cần, giao tiếp theo lối dân anh – chị thô lỗ Khi nói chuyện về vấn đề an toàn, họ nói rất tốt rất huênh hoang, nhưng khi làm thì không có gì là biểu hiện của sự hiểu biết về an toàn Cũng có khi họ thực hiện nhưng người giám sát an toàn vẫn phải chú ý vì có thể chỉ là đối phó

Đối với thành phần này người giám sát an toàn tại công trường phải đặc

biệt chú ý về mặt an toàn cũng như an ninh Nhằm nhanh chóng phát hiện cũng như ngăn chặn các việc làm xấu, ảnh hưởng tới công trường

Tất cả 4 thành phần trên là những thành phần ta thường gặp ở công trường

lớn, có nhiều hạng mục và đông công nhân làm việc Sau khi tập huấn an toàn cho họ trước khi bắt đầu công việc tại công trường, người giám sát an toàn đều

phải bám sát nhất là thành phần (2)(3)(4) Thường xuyên nhắc nhở phát hiện ngay những thiếu xót về an toàn và uốn nắn ngay Đối với công nhân (2)(3)(4)

vì họ luôn nghĩ rằng họ làm công nhật, làm ngày nào ăn lương ngày đó nên vấn

đề an toàn họ ít chú tâm, có khi chỉ là đối phó, khi giám sát an toàn đi khỏi thì

họ sẽ lơ là Người giám sát an toàn phải kiên trì, có khi phải bắt đầu từ sự gần

gũi rồi dần dần xây dựng ý thức Người làm an toàn phải giảng giải và nói chuyện cho công nhân thấy những cái lợi mà họ có thể nhận được khi chấp hành đúng và nghiêm túc điều lệ an toàn, và những tai nạn, những mất mát đến

với họ và gia đình khi làm việc không an toàn, không tuân thủ đúng điều lệ an toàn

Trang 18

CHƯƠNG 4:

HỆ THỐNG QUẢN LÝ CÁC THÀNH PHẦN CÔNG NHÂN

Vì tính chất của ngành xây dựng là nay đây mai đó tùy vào địa điểm của công trường, do đó việc quản lý công nhân cũng như các vấn đề khác như tài chính, nhân sự … sẽ có những đặc điểm riêng và khác biệt so với các ngành nghề khác Các ngành nghề chủ yếu dựa trên quản lý tập trung (quản lý ngay tại công ty chính, phân xưởng), còn đối với ngành xây dựng sự quản lý chủ yếu là quản lý phân tán(công ty ở một nơi, công trường ở một nơi), nhiều tầng cấp Do đó công tác quản lý của ngành xây dựng sẽ gặp nhiều khó khăn và có nhiều kẻ hở hơn so

với các ngành nghề, đặc biệt là trong vấn đề quản lý người lao động Nếu chỉ cần

bộ phận chuyên trách an toàn quản lý người lao động thì sẽ không đủ và không có

hiệu quả cao trong việc phòng ngừa các vấn đề xấu xảy ra trong công trường (ví

dụ: tai nạn lao động, trộm cắp, gây gỗ, thành phần xấu trà trộn vào công trường…)

mà cần phải có thêm sự quản lý của các cấp quản lý khác như đội trưởng đội thi công, chỉ huy trưởng công trường, kỹ sư giám sát đồng thời có thêm chủ đầu tư và đơn vị tư vấn giám sát Các cấp quản lý này phải hỗ trợ và phối hợp lẫn nhau giám sát tất cả mọi việc trên công trường để có thể sâu sát và phát hiện cũng như kịp

thời ngăn chặn những vấn đề xấu có thể xảy ra

Theo sự quản lý phân tán thì hệ thống quản lý công nhân của công trường thường được phân chia như sau:

4.1.Qu ản lý cấp công ty

Công ty chủ yếu quản lý về mặt thủ tục hành chính, và làm theo các quy định của pháp luật về quản lý nhân sự(làm theo bộ Luật lao động Việt Nam)

:

4.1.1 Đối với công nhân cơ hữu

Đây là thành phần lao động nòng cốt và có tay nghề của công ty nên được công ty

quản lý và quan tâm chặt chẽ, sâu sát:

:

- Sơ yếu lý lịch( phải có sự chứng nhận của địa phương) : từ đây công ty sẽ

biết được quê quán, thành phần gia đình,trình độ học vấn cũng như tay

Trang 19

nghề, và địa chỉ cần thiết để liên lạc với người thân khi có trường hợp khẩn

cấp

- Lý lịch tư pháp (phải có sự xác nhận của cơ quan an ninh) : dựa vào giấy tờ này giúp cho công ty có thể biết được tiểu sử của người lao động trước khi vào làm việc tại công ty, họ có tiền án tiền sự trước đó hay không Nhằm tránh trường hợp những người xấu có thể trà trộn vào làm việc trong công

ty

- Giấy khám sức khỏe (có chứng nhận của nơi khám) : giấy chứng nhận này

rất quan trọng, vì dựa vào đây công ty có thể biết được người lao động đó

có đủ sức khỏe để hoàn thành công việc không, hoặc có thể bố trí việc làm phù hợp với sức khỏe của người lao động (những người sợ độ cao thì chỉ giao nhiệm vụ dưới mặt đất), và phiếu khám sức khỏe này còn giúp cho công ty biết được rằng người lao động có bị bệnh nghề nghiệp trước khi vào làm việc tại công ty không Các phiếu khám sức khỏe này phải được lưu giữ lại để làm cơ sở so sánh với những lần khám sức khỏe định kì của công ty

- Đơn xin việc : nói lên nguyện vọng của người lao động được làm việc cho công ty, và cũng trong đơn xin việc người lao động sẽ đề cập tới vị trí làm

việc của mình khi vào làm cho công ty, đó là những công việc mà người lao động có thể làm tốt với năng lực của họ Dựa vào những điều đó công

ty sẽ sắp xếp công việc cho người lao động phù hợp với chuyên môn, tay nghề và khả năng của họ nhằm giúp cho người lao động thoải mái tinh thần khi làm việc và sẽ giúp họ phát huy khả năng làm tăng năng suất lao động

Nhờ đơn xin việc, công ty sẽ tránh được những sai sót khi phân công công

việc (áp đặt công nhân làm việc không đúng khả năng của người lao động ), điều này sẽ tạo ra tâm lý lo lắng cho người lao động

4.1.2.Các thành ph ần khác

Các thành phần khác là công nhân tổ khoán, công nhân thời vụ, công nhân đặc

biệt, với tính chất của các thành phần này chủ yếu là theo thời vụ, không có tính chuyên nghiệp và hầu hết được tuyển chọn vào làm việc tại nơi công trường đang

:

Trang 20

diễn ra và sẽ bị sa thải khi công việc kết thúc Do đó các thành phần này được

quản lý đơn giản, thường gồm:

- Chứng minh nhân dân (CMND) : đây là loại giấy tờ tùy thân quan trọng

nhất, vì thành phần này ở khắp mọi miền trên đất nước và làm việc thời vụ nên việc yêu cầu các loại giấy tờ khác như giấy khám sức khỏe, đơn xin

việc hay sơ yếu lí lịch là rất khó đạt được Do đó ta cần xác định rõ về CMND của thành phần này, phải là bản gốc, hình ảnh của CMND phải rõ không có hiện tượng hình bị nhòe ( do bị nhúng ướt), CMND không được

mất chữ và mất số CMN rất dễ bị làm giả hay cố tình làm hư hỏng nhằm tránh sự kiểm soát của công trường, và do các thành phần này ở khắp mọi

miền đất nước nên khó để xác minh, do đó khi có dấu hiệu khả nghi người tuyển dụng tại công trường phải loại bỏ ngay những CMND đó nhằm tránh

những thành phần xấu trà trộn vào công trường

- Giấy bảo lãnh của tổ trưởng : tất cả người lao động thuộc thành phần này khi vào làm việc tại công trường phải có giấy bảo lãnh của người tổ trưởng,

giấy bảo lãnh này đảm bảo cho người lao động rằng họ có người quản lý

trực tiếp, xác nhận họ là những người lao động được phép làm việc và người đội trưởng chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư, pháp luật khi xảy ra tai

nạn lao độ tai nạn lao động hay bất kì chuyện gì xảy ra đối với người lao động của tổ Giấy này ràng buộc trách nhiệm của người đội trưởng, buộc họ

phải quan tâm nhắc nhở cũng như kiểm soát các thành viên trong đội

4.2.Giám sát thi công

Gồm các kỹ sư thi công, họ không phải là người quản lý an toàn nhưng lại

là những người hỗ trợ đắc lực cho công tác an toàn, vị họ là những người

quản lý thi công do đó khi họ hợp tác thực hiện các ý đồ về an toàn tốt thì sẽ

giảm được tai nạn lao động Nhiệm vụ của giám sát thi công là quản lý máy móc, theo dõi tiến độ, giám sát về chất lượng thi công Họ theo dõi thái độ làm việc, ghi nhận hàng ngày hàng, hàng tuần các đội thi công, nhắc nhở về

mặt chất lượng cũng như hối thúc về tiến độ

:

4.3.Giám sát an toàn :

Trang 21

Ban an toàn tại công trường là những người chịu tách nhiệm quản lý về công tác an toàn, bảo đảm an toàn lao động và vệ sinh môi trường cho công trường Các giám sát an toàn phải luôn theo sát, quan sát kĩ những công nhân

và thiết bị đang làm việc trên công trường, hồ sơ người giám sát an toàn quản

lý tại công trường sẽ theo sơ đồ sau:

Trang 22

• Hồ sơ huấn luyện an toàn : được làm ngay tại công trường, khi

người công nhân (thời vụ, tổ khoán …) được tuyển vào làm việc,

gồm có: nội quy công trường, bài giảng cơ bản về an toàn lao động

tại công trường, phần cho người lao động tự khai về bản thân Quan

Trang 23

trọng nhất là phần công nhân tự khai, đây là phần bắt buộc, người lao động phải ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, địa chỉ khẩn cấp – số điện thoại khẩn cấp, khi cần thiết sẽ liên hệ với ai và sau cùng là người lao động phải kí tên Qua phần tự khai này người giám sát an toàn đã

nắm được thành phần của người lao động và sẽ đối chiếu với CMND

của từng người lao động xem có trùng khớp hay không, nếu như có

sự sai lệch về quê quán và nơi thường trú chứng tỏ người công nhân

đó đã có sự gian lận trong lúc xin việc ( lấy CMND của người khác

để xin việc), và ta cần phải làm rõ để tránh kẻ gian trà trộn vào công trường

Trong khi học an toàn, viết bảng kê khai người giám sát an toàn sẽ đánh giá được trình độ của mỗi người, và tuyệt đối không kí giùm công nhân Như vậy khi người công nhân vi phạm an toàn, người giám sát có thể

nhắc nhở: “ điều này anh đã học rồi “

• Ảnh 3*4: dùng để đối chiếu với CMND và người thật vào làm việc, ảnh sẽ được dán vào hồ sơ tập huấn an toàn và thẻ ra vào công trường để kiểm soát

• Hồ sơ thiết bị : mọi thiết bị được sử dụng trên công trường đều phải

có giấy xuất xứ, đối với các thiết bị sử dụng điện phải có giấy xác

nhận đã được kiểm tra của ban an toàn trước khi được sử dụng, các thiết bị có quy định nghiêm ngặt về an toàn (cẩu tháp, cẩu bánh xích, máy nén khí…) phải có giấy kiểm định an toàn (phải còn hạn sử

dụng, bản photo phải có xác nhận của chính quyền) của cơ quan có

thẩm quyền trước khi đưa vào sử dụng

• Hồ sơ người điều khiển và sử dụng thiết bị : người điều khiển phải

hội đủ các yêu cầu của pháp luật, phải đủ tuổi, đủ sức khỏe, có

chứng chỉ nghề (lái cẩu, sử dụng các thiết bị hàn…), các loại giấy tờ

phải có xác nhận của chính quyền Người giám sát an toàn phải yêu câu người điều khiển phải cung cấp các loại giấy tờ trên trước khi cho làm việc

Trang 24

Người giám sát an toàn phải theo dõi mọi hành vi thực hiện công việc trên công trường của từng người hàng ngày và hàng tuần, theo sát mọi công việc nhằm phát hiện các nguy cơ có thể xảy ra tai nạn lao động (để dây điện dưới nước, máy móc thiết bị để gần nơi sạc đất, làm việc không theo quy trình kĩ thuật an toàn…)

từ đó kịp thời nhắc nhở, cảnh báo công nhân, các kĩ sư thi công, các đội trưởng

cũng như tìm phương án khắc phục các yếu tố nguy hiểm đảm bảo an toàn cho người lao động Theo dõi hành vi còn có tác dụng phát hiện kịp thời và phối hợp

với bảo vệ ngăn chặn các đối tượng xấu muốn trộm cắp tài sản của công trường Công tác giá sát an toàn là công việc phức tạp , bao gồm: tính pháp luật, tính khoa học kỹ thuật, tính quần chúng Vì thế người làm công tác giám sát an toàn

muốn làm tốt phải tự hoàn thiện mình trước, trong đó tính nhân đạo quần chúng được đặt lên hàng đầu

4.4.Qu ản lý ra vào cổng (Bảo vệ)

Bộ phận bảo vệ tại công trường thường thuộc thầu chính hay chủ đầu tư vì

nếu có như thế thì mới bảo vệ được tài sản của công trường Bộ phận bảo vệ

có nhiệm vụ phát hiện những hành vi trộn cắp, mất trật tự và gây rối trong công trường, phối hợp với ban an toàn và giám sát an toàn nhắc nhở cũng như

xử lý các hành vi đó Bộ phận bảo vệ còn có nhiệm vụ kiểm soát chặt chẽ người, thiết bị, vật tư ra – vào công trường mỗi ngày nhằm tránh kẻ gian vào

lấy cắp, gây rối và mất mát trong công trường

:

Trang 25

CHƯƠNG 5:

CÁC BI ỆN PHÁP HỖ TRỢ TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ 5.1.T ại công ty:

5.1.1 Đối với công nhân cơ hữu

- Có h ợp đồng lao động : đây là phần quản lý chính của công ty với công nhân

nòng cốt, là nơi thể hiện mối liên hệ hợp pháp theo pháp luật của công ty tuyển

dụng và người lao động Tất cả người lao động trực thuộc công ty đều phải có hợp đồng lao động dù là có thời hạn hay vô thời hạn Trong hợp đồng công ty phải ghi

rõ vị trí, công việc mà người lao động được tuyển dụng cùng với những quyền lợi (ví dụ: lương, phụ cấp, thưởng, Bảo hiểm y tế, Bảo hiển xã hội v.v…) mà người lao động được hưởng theo vị trí làm việc đó Trong hợp đồng công ty cũng quy định rõ nhiệm vụ của người lao động phải hoàn thành và chịu sự quản lý của ai (đội trưởng, kỹ sư, chỉ huy trưởng v.v…) Hợp đồng lao động rất quan trọng vì thể

hiện tính pháp lý của người lao động cũng như sự ràng buộc trách nhiệm của công

ty đối với người lao động Hợp đồng lao động cũng sẽ là cơ sở để giải quyết các

mức đền bù cho người lao động khi có tai nạn lao động xảy ra

:

5.1.2 Đối với đội khoán

- Có h ợp đồng công việc bằng văn bản rõ ràng: trong hợp đồng quy định rõ trách

nhiệm của đội khoán trong công việc (dưới sự quản lý của ai và chịu sự giám sát

của ai tại công trường, và phải hoàn thành khối lượng công việc nào… ), trách nhiệm của người đội trưởng đối với công nhân của đội (trang bị các phương tiện

bảo vệ cá nhân đúng với ngành nghề, có trách nhiệm hỗ trợ giám sát an toàn thầu chính quản lý và nhắc nhở công nhân về vấn đề an toàn…), trách nhiệm giải quyết

hậu quả cho người lao động của đội mình khi có tai nạn lao động xảy ra

:

5.2.T ại công trường:

4.2.1.Giám sát thi công:

Trang 26

- Giám sát thi công tuy là quản lý về mặt kĩ thuật trên công trường nhưng lại

là thành phần hỗ trợ đắc lực cho công tác an toàn và người giá m sát an toàn, vì khi họ hợp tác và nghe theo các ý đồ an toàn của người giám sát an toàn thì công tác an toàn sẽ có hiệu quả cao Giám sát an toàn theo sát tình hình công trường thông qua “nhật kí công trường” với nội dung bao gồm:

• Công vi ệc đang làm: hàng ngày khối lượng công việc được thực hiện

sẽ được ghi vào nhật kí Thông qua đó người giám sát an toàn sẽ biết được hiện tại công trường đang thực hiện ở giai đoạn nào và trong giai đoạn đó sẽ có những mối nguy hiểm gì cần phải được chú ý Sau khi nhận định và phân tích người giám sát an toàn sẽ cảnh báo cho

chỉ huy trưởng công trường

• Tình hình công nhân: tổng số công nhân đang làm việc trên công trường, bao nhiêu đội khoán đang làm việc, thái độ làm việc của công nhân… qua đó giúp cho người giám sát có các biện pháp cụ thể phù hợp cho từng đội

• Tình hình thi ết bị : số lượng thiết bị được sử dụng trên công trường,

số lượng từng loại thiết bị( cẩu bánh xích, xe đào, các thiết bị sử

dụng điện), tình trạng các máy đang sử dụng (còn tốt hay có hư

hỏng…), qua đó người giám sát an toàn sẽ có các biện pháp theo dõi

và kiểm tra an toàn các máy móc thiết bị

Quyển nhật kí công trường phải được ghi nhận hàng ngày bởi kĩ sư giám sát

hoặc chỉ huy trưởng công trường, và người viết phải kí và ghi rõ họ tên xác nhận trách nhiệm báo cáo, ngoài ra quyển sổ này phải được đóng dấu giáp lai của công

ty và đánh số trang nhằm tránh việc sau này có sự cố xảy ra trên công trường sẽ có người xé bỏ để tránh trách nhiệm

5.2.2.Giám sát an toàn

Đây là bộ phận chịu trách nhiệm c hính công tác an toàn trên công trường, vì tính

chất công việc trên công trường hoàn toàn khác biệt với xí ngiệp hay nhà máy (ở công trường công việc luôn thay đổi và dịch chuyển liên tục theo không gian và

thời gian củ dự án) nên người giám sát an toàn phải có tính năng động để theo dõi sát công việc trên công trường Giám sát an toàn phải tham gia các buổi họp của

:

Ngày đăng: 30/10/2022, 15:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm