1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

MÔN NHÀ nước và PHÁP LUẬT

19 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 408,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi ôn tập Nhà nước và Pháp luật 1Câu 1 Phân tích bản chất, chức năng và các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Nhà nước XHCN Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam? 3Câu 2 Phân tích bản chất, vai trò của pháp luật XHCN VN Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam? 7Câu 3 Phân tích những điểm khác biệt của PL quốc gia và PL quốc tế? Phân tích những biểu hiện mối quan hệ giữa PLQG và PLQT? Phân tích phương thức xử lý quan hệ giữa PLQG và PLQT? 10Câu 4 Phân tích các đặc trưng, quan điểm và phương hướng tiếp tục xâ.

Trang 1

Câu hỏi ôn tập Nhà nước và Pháp luật

Câu 1: Phân tích bản chất, chức năng và các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Nhà nước XHCN Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam? 2 Câu 2: Phân tích bản chất, vai trò của pháp luật XHCN VN Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam? 2 Câu 3: Phân tích những điểm khác biệt của PL quốc gia và PL quốc tế? Phân tích những biểu hiện mối quan hệ giữa PLQG

và PLQT? Phân tích phương thức xử lý quan hệ giữa PLQG và PLQT? 5 Câu 4: Phân tích các đặc trưng, quan điểm và phương hướng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay Liên hệ thực tiễn 6 Câu 5: Nêu khái niệm và phân tích đặc điểm, vai trò của lập pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam? Phân tích thực trạng thiết chế, hoạt động lập pháp và các định hướng hoàn thiện hoạt động lập pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam 8 Câu 7: Phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò và nội dung của tư pháp trong NNPQ XHCN VN? Phân tích các quan điểm, định hướng hoàn thiện mô hình tư pháp trong NN PQXHCN VN? 9 Câu 8 Phân tích khái niệm, đặc điểm , nội dung và các yếu tố cấu thành của cơ chế pháp lý về kiểm soát quyền lực NN? Phân tích nội dung thể chế pháp lý về KSQLN ở VN hiện nay? Liên hệ thực tiễn VN 10 Câu 9: Nêu khái niệm, phân tích vị trí, tính chất nguyên tắc tổ chức và hoạt động, mô hình tổ chức của chính quyền địa phương? Phương hướng hoàn thiện tổ chức và hoạt động chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay? Liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay 11 Câu 10: Nêu khái niệm, phân tích bản chất, đặc điểm, nguyên tắc, quy trình, các điều kiện đảm bảo và các giải pháp về XDPL ở Việt Nam hiện nay? 13 Câu 11: Nêu khái niệm, phân tích các đặc điểm, vai trò phương thức biện pháp nguyên nhân hạn chế quan điểm và giải pháp đấu tranh phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay 15 Câu 12: Phân tích nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa? Phân tích thực trạng và quan điểm định hướng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 17

Trang 2

Câu 1: Phân tích bản chất, chức năng và các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Nhà nước XHCN Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam?

- Khái niệm Nhà nước:

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nhà nước song dưới góc độ lý luận về NN và PL, Nhà nước (NN) là tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, bao gồm một lớp người được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức và quản lý xã hội, phục vụ lợi ích chung của xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền trong xã hội (GT tr 12)

- Bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa:

Theo quan điểm của CN M-LN, NN ra đời xuất phát từ những nguyên nhân nội tại của XH, xét về mặt KT là sự xuất hiện chế độ tư hữu (tư nhân) về TLSX, về mặt

XH là sự phân hóa XH thành các giai cấp có lợi ích đối kháng nhau NN là một hiện tượng XH mang tính lịch sử, chỉ ra đời khi XH đã phát triển đến một trình độ nhất định cùng với những điều kiện lịch sử nhất định, do đó NN cũng sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của nó không còn

Lịch sử XH loài người tồn tại 4 kiểu NN được quy định bởi QHSX đặc thù tương ứng với các hình thái KT-XH có giai cấp: NN chủ nô, NN phong kiến, NN Tư sản và

NN XHCN NN XHCN là kiểu NN mới, có bản chất khác với các kiểu NN bóc lột trước đó (NN là công cụ để duy trì sự thống trị của g/c bóc lột đối với đông đảo quần chúng nhân dân lao động), là NN bảo vệ cho lợi ích của nhân dân lao động NN XHCN ra đời là kết quả đấu tranh CM của g/c vô sản và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của ĐCS Nhà nước XHCN là một trong những tổ chức chính trị cơ bản nhất của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, một công cụ quản lý mà Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo nhân dân tổ chức ra để qua đó là chủ yếu, nhân dân lao động thực hiện quyền lực và lợi ích của mình, cũng qua đó là chủ yếu mà giai cấp công nhân

và Đảng của nó lãnh đạo xã hội về mọi mặt

Bản chất của bất kỳ nhà nước nào trong xã hội có giai cấp đều mang bản chất của giai cấp thống trị xã hội Do đó bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa (nhà nước chuyên chính vô sản) trước hết mang bản chất giai cấp công nhân Nhưng giai cấp công nhân lại là giai cấp thuộc nhân dân LĐ mà ra, đại biểu cho phương thức sản xuất mới hiện đại, có lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của toàn thể nhân dân lao động và dân tộc Do đó, nhà nước XHCN không chỉ mang bản chất giai cấp công nhân mà còn có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc

Liên hệ VN:

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa trước đây nay là Nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước kiểu mới về bản chất, khác hẳn với các kiểu nhà nước từng có trong lịch sử

- NN CHXHCN VN mang bản chất g/c: NN dựa trên nền tảng liên minh g/c CN-ND-đội ngũ trí thức dưới sự lđạo của ĐCSVN

- NN CHXHCN VN mang bản chất XH: NN luôn quan tâm thực hiện quản lý XH, bảo đảm an sinh XH cho nhân dân LĐ, gi/q các vấn đề XH phát sinh trong quá trình phát triển như xdung CSHT, xóa đói giảm nghèo, chăm lo cho người già, trẻ em, người khuyết tật, thực hiện BĐ Giới và bảo vệ môi trường,

- NN CHXHCN VN mang bản chất dân chủ: Nhân dân làm chủ thông qua 2 hình

thức: DC đại diện (nhân dân th/h DC bằng NN, thông qua h/đ của NN) và DC trực tiếp với việc thực hiện quyền được biết, được bàn, tham gia trưng cầu dân ý của cả nước và địa phương, cơ sở, quyền giám sát ktra h/đ của NN DC XHCN vừa là bản chất, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự PT đất nước

Bản chất bao trùm chi phối mọi lĩnh vực tổ chức và hoạt động của đời sống nhà nước là tính nhân dân của nhà nước Đảng CS VN và CT HCM từ lâu đã nêu ra quan điểm “nhà nước của dân, do dân và vì dân” Trong sự nghiệp đổi đất nước hiện nay, đảng và NN ta càng chú trọng phát triển, cụ thể hóa nhà nước của dân, do dân,

vì dân Tiếp theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Hiếu pháp năm 2013 khẳng định: “ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Chức năng của NN XHCN: được xem xét dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau: nếu xem xét dưới góc độ là một cơ quan công quyền thì được chia thành chức năng

g/c và chức năng XH phù hợp với b/c của NN, nếu xem xét dưới góc độ chủ quyền thì chia thành chức năng đối nội và đối ngoại

Chức năng đối nội của nhà nước XHCN là những mặt h/động chủ yếu của NN trong quan hệ với cá nhân, tổ chức trong nội bộ đất nước, thể hiện ở việc tập trung quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực của toàn xã hội, chủ yếu bằng pháp luật, chính sách, pháp chế XHCN và hệ thống cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở Nhà nước XHCN quán triệt và thể chế hóa quan điểm, đường lối cách mạng, chủ trương lãnh đạo của Đảng CSVN thành Hiến pháp, pháp luật, pháp chế, chính sách, kế hoạch, biện pháp của nhà nước để chỉ đạo thực hiện thoog qua quá trình hoạt động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quan trên mọi lĩnh vực Nhà nước XHCN thực hiện sự chuyên chính đối với mọi tội phạm và mọi kẻ thù để bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện cơ bản để mở rộng dân chủ trong nhân dân

Chức năng đối nội của NN XHCN VN gồm:

- Ch/n KT: Tổ chức KT: thừa nhận sự tồn tại của các thành phần KT khác nhau nhằm phát huy mọi nguồn lực, tận dụng mặt tích cực của các TpKT; Quản lý KT:

NN quản lý KT vĩ mô thông qua tạo lập môi trường h/đ sxkdoanh, định hướng, hdan h/đ KT, điều tiết và kiểm soát đối với các h/đ KT, có chính sách ưu tiên PT các ngành nghề mang lại lợi nhuận không cao, khuyến khích tạo việc làm cho người lao động yếu thế,

- Ch/n CT (giữ vững an ninh CT, bảo đảm ổn định trật tự XH, phát triển đất nước, xây dựng thành công CNXH, nghiêm trị các hành vi phản kháng, chống đối NN của các lực lượng phản động nhằm bảo vệ thành quả CM, ),

- Ch/n XH (thể hiện trên các phương diện cụ thể: văn hóa, giáo dục, y tế, KH-CN, vấn đề dân tộc, tôn giáo, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, ứng phó thảm họa, -> là một trong những ch/n cơ bản, thể hiện rõ nét bản chất XH của NN XHCN)

- Ch/n bảo vệ trật tự PL, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong XH (bằng cách ban hành khung pháp lý qđịnh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia QHXH được PL điều chỉnh)

Chức năng đối ngoại là những mặt h/động chủ yếu của NN trong phạm vi QH với các QG, DT khác, bao gồm:

- Ch/n bảo vệ đất nước: Nhà nước XHCN VN luôn đặc biệt quan tâm đến ch/n bảo vệ đất nước trong bất cứ gđoạn lịch sử nào và không ngừng củng cố nền quốc phòng toàn dân, xdung lực lượng QĐ chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và tuyệt đối trung thành với TQ, với nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn DT để bảo vệ vững chắc TQ VN XHCN, xây dựng thế trận an ninh nhân dân, k/hợp KT với QP, AN, sử dụng các diễn đàn QT để be chủ quyền và toàn vẹn LT đất nước

- Ch/n quan hệ với các nước khác: Với quan điểm chỉ đạo đặt lợi ích QG-QT là trên hết, đa phương hóa, đa dạng hóa QH đối ngoại, thực hiện chính sách hòa bình, hợp tác với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, hòa bình, thống nhất và toàn vẹn LT của nhau, các bên bình đẳng và cùng có lợi

Các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Nhà nước XHCN VN:

- Ngtac Bảo đảm tất cả quyền lực NN thuộc về nhân dân: Nhân dân là chủ thể của quyền lực NN, tham gia xây dựng NN thông qua th/h các quyền bầu cử, ứng cử, bãi miễn các ĐB dân cử không xứng đáng Các cơ quan NN, cán bộ công chức NN là những chủ thể được ND trao quyền, thay mặt ND thực hiện quyền lực NN

- Ngtac Tập trung dân chủ: Qluc NN được tập trung ở các cquan NN ở TƯ, ở cquan NN cấp trên, bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành tập trung thống nhất của CQNN ở TƯ đối với địa phương, của cấp trên đối với cấp dưới, đồng thời bảo đảm quyền chủ động, sáng tạo và khả năng độc lập nhất định trong qtrinh th/h ch/n, quyền hạn được giao (quan hệ b/chứng, bổ trợ cho nhau nhằm bđ qluc NN thuộc về ND)

- Ngtac Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (được ghi nhận trong HP 2013)

- Ngtac hoạt động th/hiện qluc NN có kế hoạch: trong toàn bộ h/đ của bmay NN phải xdung KH h/đ dựa trên cơ sở KH và cơ sở thực tiễn nhằm th/h mục tiêu đề ra, đb phải linh hoạt điều chỉnh cho phù hợp tình hình biến động KT-CT trong và ngoài nước

- Ngtac pháp chế XHCN: đòi hỏi mọi cquan, mọi cán bộ CCVC phải nghiêm chỉnh và triệt để tuân thủ PL khi thi hành qhan và nhvu của mình

- Ngtac công khai, minh bạch, lắng nghe ý kiến nhân dân

- Ngtac đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc

- Ngtac bđảm sự lđạo của Đảng đối với NN: Sự lđạo của Đảng đvới NN để bđảm NN luôn giữ vững và củng cố b/chất NN kiểu mới – NN của ND, do ND,

vì ND và bđảm NN có mục tiêu, phương hướng đúng đắn trong t/c và hoạt động, có đủ năng lực tổ chức qly XH, bđảm quyền làm chủ của ND

Câu 2: Phân tích bản chất, vai trò của pháp luật XHCN VN Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam?

1 Khái niệm:

- Pháp luật: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung (Quy phạm pháp luật) do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị,

được nhà nước bảo đảm thực hiện, kể cả bằng biện pháp cưỡng chế, để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm duy trì xã hội

Trang 3

- Pháp luật XHCN: Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống quy phạm pháp luật thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, được

nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện trên cơ sở giáo dục, thuyết phục, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo

định hướng xã hội chủ nghĩa

2 Bản chất của pháp luật:

- Bản chất pháp luật:

Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, bản chất của pháp luật thể hiện trước hết không phải là sản phẩm thuần túy của lý tính hay bản tính tự nhiên, bản chất của pháp luật thể hiện trước hết ở tính giai cấp của nó Tính giai cấp của pháp luật thể hiện trước hết ở chỗ, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị Mặt khác, tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội Bên cạnh tính giai cấp, pháp luật còn mang tính xã hội Pháp luật là do nhà nước, đại diện chính thức cho toàn xã hội ban hành Vì vậy ở chừng mực nào đó pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các giai cấp và tầng lớp khác nhau trong xã hội

- Bản chất pháp luật XHCN:

Bản chất pháp luật xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở tính giai cấp và tính xã hội như các kiểu pháp luật đã và đang tồn tại, đó là:

Trong xã hội – xã hội chủ nghĩa, pháp luật là sản phẩm của hoạt động nhà nước và xã hội chủ nghĩa – nhà nước kiểu mới – nhà nước của dân, do dân, vì dân Vì vậy, pháp luật xã hội chủ nghĩa mang bản chất của giai cấp công nhân

Cũng như nhà nước xã hội chủ nghĩa, pháp luật xã hội chủ nghĩa không chỉ có tính giai cấp công nhân mà còn có tình nhân dân, tính dân tộc Pháp luật xã hội chủ nghĩa cũng mang tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa Pháp luật xã hội chủ nghĩa một mặt nghiêm khắc trong việc ngăn chặn, đấu tranh chống lại mọi hanh vi vi phạm pháp luật; mặt khác, rất khoan hồng đối với người phạm tội khi biết hối cải, trở thành người công dân lương thiện

- Bản chất pháp luật XHCNVN:

Ở Việt Nam, bản chất của pháp luật là do bản chất nhà nước và mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” quy định Do đó, pháp luật XHCNVN mang những bản chất như sau:

- Tính giai cấp của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Pháp luật XHCNVN quy định những biện pháp trừng phạt nghiêm khắc đối với những phần tử chống đối, đi ngược lại lợi ích của nhân dân lao động, pháp luật là công cụ để bảo vệ nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền lợi của nhân dân lao động nếu các thế lực thù địch, phản động có âm mưu chống phá Nhà nước, chống phá chế độ

- Tính xã hội của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam: pháp luật XHCNVN do nhà nước-đại diện chính thức cho các giai cấp, tầng lớp trong xã hội ban hành, có

ý nghĩa xã hội rộng lớn Pháp luật XHCNVN là chuẩn mực hành vi, là quy tắc ứng xử của mọi tổ chức, cá nhân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, là cơ sở pháp lý đảm bảo an ninh, an toàn cho mỗi người, duy trì sự ổn định trật tự vì một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tất cả vì hạnh phúc con người

- Tính nhân dân của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam: các quy định do Nhà nước Việt Nam ban hành luôn thể hiện những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân lao động, luôn hướng đến bảo vệ các lợi ích của nhân dân lao động Pháp luật XHCNVN do Quốc hội, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Việt Nam ban hành, luôn phản ánh mong muốn, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân Nhân dân là chủ thể tích cực tham gia xây dựng pháp luật, đóng góp ý kiến vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

3 Vai trò của pháp luật xã hội chủ nghĩa

Vai trò của pháp luật XHCNVN đã được ghi nhận trong Hiến pháp là: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa" Vai trò to lớn của pháp luật được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:

- Vai trò của pháp luật đối với kinh tế

Đối với kinh tế, pháp luật là phương tiện hàng đầu xác định địa vị pháp lý bình đẳng đối với chủ thể tham gia quan hệ kinh tế; tạo lập các "khung" hay còn gọi là các "hành lang pháp lý" để các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế hoạt động Mặt khác, với tư cách là chủ thể quản lý, nhà nước dựa vào các chuẩn mực pháp lý để điều khiển hoạt động sản xuất - kinh doanh Thông qua pháp luật, nhà nước tạo ra môi trường thuận lợi, tin cậy và chính thức cho sản xuất - kinh doanh hoạt động có hiệu quả Pháp luật xác định rõ các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hoạt động kinh tế Đồng thời, pháp luật củng cố và bảo vệ những nguyên tắc vốn có của nền kinh tế thị trường như: tính quy định của lợi ích, nhu cầu của người tiêu dùng đối với sản xuất, bảo đảm tôn trọng sự cạnh tranh, cạnh tranh lành mạnh, tính trách nhiệm cao của người sản xuất - kinh doanh Ngoài ra, pháp luật còn là phương tiện bảo vệ lợi ích kinh tế tốt nhất đối với các bên tham gia hoạt động kinh tế trong trường hợp xảy ra tranh chấp kinh tế, vi phạm hợp đồng kinh tế

- Vai trò của pháp luật đối với xã hội

Là phương tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật trước hết là một trong những yếu tố bảo đảm và bảo vệ sự ổn định trật tự của xã hội Một mặt, pháp luật ghi nhận và thể chế hóa quyền con người, quyền công dân và bảo đảm về mặt pháp lý cho các quyền đó được thực hiện Mặt khác, pháp luật trở thành phương tiện để các thành viên của xã hội có điều kiện bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình Ngoài ra, các vấn đề như phúc lợi xã hội, an toàn tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm, tự do, bình đẳng và công bằng đều gắn liền với sự điều chỉnh của pháp luật Vì vậy, pháp luật là phương tiện không thể thiếu cho sự tồn tại và ổn định của xã hội Đồng thời, xã hội cũng là cơ sở cho sự tồn tại của pháp luật

- Vai trò của pháp luật đối với chính trị

Thứ nhất, pháp luật là cơ sở pháp lý thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, làm cho đường lối đó có hiệu lực thực thi và bắt buộc chung trên

quy mô toàn xã hội Thứ hai, pháp luật là phương tiện để Đảng kiểm nghiệm đường lối của mình trong thực tiễn Thứ ba, pháp luật là phương tiện phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng bằng đường lối chính trị với chức năng tổ chức, quản lý, điều hành mọi hoạt động xã hội của Nhà nước.

- Vai trò của pháp luật đối với Nhà nước

Đối với Nhà nước, pháp luật là phương tiện để Nhà nước quản lý kinh tế, xã hội Để quản lý toàn bộ xã hội, Nhà nước dùng nhiều phương tiện, biện pháp, nhưng pháp luật là phương tiện quan trọng nhất Với những đặc điểm riêng có của mình, pháp luật có khả năng triển khai những chủ trương, chính sách của Nhà nước nhanh nhất, đồng bộ và có hiệu quả nhất trên quy mô rộng lớn nhất Nhà nước cũng dựa vào pháp luật để phát huy quyền lực và kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các tổ chức, các cơ quan, nhân viên nhà nước và mọi công dân Ngoài ra, Nhà nước có thể tự hoàn thiện chính mình thông qua việc quy định bằng pháp luật các nguyên tắc tổ chức và hoạt động, quyền hạn và nghĩa vụ, các chế độ, thể lệ, quy chế của các cơ quan quản lý nhà nước, quy chế công chức, viên chức nhà nước, tổ chức bộ máy nhà nước

- Vai trò của pháp luật đối với các tổ chức chính trị - xã hội

Đối với các tổ chức chính trị - xã hội, pháp luật là phương tiện bảo đảm cho quần chúng nhân dân lao động tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội thông qua các tổ chức chính trị - xã hội của mình Đồng thời, pháp luật còn là yếu tố thể chế phát triển nền dân chủ, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhân dân dựa vào pháp luật để chống lại các hành vi lộng quyền, bạo lực trực tiếp không có tổ chức

- Vai trò của pháp luật đối với đạo đức và tư tưởng Vai trò của pháp luật đối với đạo đức

Pháp luật và đạo đức luôn có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau trong

việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Dưới chủ nghĩa xã hội, các nguyên tắc cơ bản của đạo đức mới được Nhà nước thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật Do vậy,

pháp luật xã hội chủ nghĩa một mặt là phương tiện bảo vệ và phát triển đạo đức xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính công bằng, chủ nghĩa nhân đạo của con người; mặt khác, là

phương tiện củng cố các nghĩa vụ đạo đức trước xã hội, chống lại mọi biểu hiện chống đối xã hội, bảo vệ hạnh phúc gia đình, giáo dục thế hệ trẻ, xây dựng và phát triển mối quan hệ đồng chí, tính lương thiện

Vai trò của pháp luật đối với tư tưởng

Pháp luật là phương tiện ghi nhận và đăng tải thế giới quan khoa học, các tư tưởng và các giá trị của loài người tiến bộ và có khả năng tác động lên sự hình thành, phát triển và biến đổi tư tưởng Điều đó được thể hiện:

Một mặt, pháp luật ghi nhận hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Mặt khác,

pháp luật phủ nhận, cấm sự tồn tại hoặc hạn chế sự phát triển của những hệ tư tưởng không phù hợp với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những tư tưởng

kỳ thị dân tộc, chống chủ nghĩa xã hội, mê tín dị đoan

- Vai trò của pháp luật đối với hội nhập quốc tế

Cùng với những tuyên bố chính trị, các quốc gia đang hướng tới xây dựng một hệ thống pháp luật, tạo cơ sở vững chắc cho quá trình hội nhập quốc tế

Hệ thống pháp luật này, một mặt ghi nhận địa vị pháp lý của mọi chủ thể tham gia quan hệ quốc tế; mặt khác, khẳng định mọi chủ thể tham gia quan hệ quốc tế phải tôn trọng các cam kết đã ký, gánh chịu trách nhiệm về những hậu quả có thể xảy ra Với ý nghĩa đó, pháp luật là công cụ, phương tiện thực hiện chủ trương, chính sách đối ngoại của các quốc gia trên trường quốc tế Đồng thời, pháp luật còn là phương tiện bảo vệ lợi ích hợp pháp cho các chủ thể trong quá trình hội nhập quốc tế

Tự liên hệ thực tiễn: (Tự làm)

Thực tiễn quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta từ trước đến nay đã luôn phản ảnh hai bản chất của pháp luật XHCN đó là tính giai cấp và tính xã hội thể hiện tại các bộ luật, luật như Bộ luật hình sự (1999, 2015), Bộ luật dân sự (1995, 2015) Bộ luật hình sự năm 1999 và 2015 đều quy định “Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”, Tính giai cấp của pháp luật còn được thể hiện ở các văn bản luật như luật an ninh quốc gia, luật quốc phòng, luật công an

Trang 4

nhân dân… với các quy định bảo vệ chế độ, bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa Tính xã hội của pháp luật XHCNVN được thể hiện rõ nét nhất tạiBộ luật dân sự với tư cách

là đạo luật gốc quy định về các quyền nhân thân, kinh tế, sở hữu Bộ luật này quy định “Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản

và tự chịu trách nhiệm” Cụ thể hóa các quyền thể hiện tính xã hội của Bộ luật dân sự, các văn bản luật như luật sở hữu trí tuệ, luật doanh nghiệp, luật nhà ở, luật xây dựng, đã cụ thể hóa, đưa ra các quy định để bảo vệ các quyền sở hữu, quyền nhân thân,… tạo cơ sở pháp lý cho các tổ chức, cá nhân tham gia vào các hoạt động giao lưu thương mại, dân sự, bảo đảm sự ổn định của các quan hệ xã hội

Ở Việt Nam, nhân dân có quyền tham gia vào việc hoạch định chính sách, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước thông qua việc tham gia ý kiến vào các

dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015; thực tiễn Việt Nam đã tổ chức lấy ý kiến nhân dân về các đạo luật quan trọng của đất nước như Hiến pháp 2013, Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự vào hàng triệu lượt ý kiến tham gia

Hệ thống pháp luật Việt Nam trong những năm qua liên tục được rà soát, hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của cả hệ thống chính trị, tạo nền tảng cho các hoạt động kinh tế, xã hội được phát triển Các đạo luật về đầu tư, kinh doanh như Luật đầu tư, Luật thương mại, Luật doanh nghiệp lần lượt ra đời, hoàn thiện đã tạo khuôn khổ, hành lang pháp lý thông thoáng cho các hoạt động của doanh nghiệp; đối với các cơ quan nhà nước, pháp luật về tổ chức bộ máy, cán bộ công chức không ngừng được hoàn thiện, các luật như Luật tổ chức quốc hội, luật tổ chức chính phủ, luật tổ chức chính quyền địa phương, luật tổ chức tòa án nhân dân, luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân, luật cán bộ, công chức, luật viên chức… là những văn bản pháp lý quan trọng điều chỉnh hoạt động của cơ quan công quyền nhằm phục vụ người dân, quản lý xã hội tốt hơn và đích cuối cùng là đưa đất nước ta phát triển bền vững Hiện nay, Việt Nam đang tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tổ chức bộ máy, cán bộ công chức để tăng cường hiệu lực hiệu quả của bộ máy, nâng cao chất lượng dịch vụ công theo tinh thần các nghị quyết trung ương số 18, 19 của Hội nghị Trung ương 6

Trang 5

Câu 3: Phân tích những điểm khác biệt của PL quốc gia và PL quốc tế? Phân tích những biểu hiện mối quan hệ giữa PLQG và PLQT? Phân tích phương thức xử

lý quan hệ giữa PLQG và PLQT?

K/n PLQG: tổng hợp các quy tắc xử sự do các cquan có thẩm quyền của mỗi QG thừa nhận, ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của g/c cầm quyền, đồng thời là yếu tố điều chỉnh các QHXH nhằm tạo ra một XH ổn định, trật tự trong nội bộ QG PLQG được hình thành thông qua các quy tắc xử sự có sẵn trong xã hội (đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo, ) phù hợp với ý chí NN được nâng lên thành luật; các quy tắc xử sự do NN đặt ra để điều chỉnh các QHXH và các quy tắc xử sự khác không điều chỉnh; cách gi/quyết các vụ việc cụ thể trong thực tế được sử dụng làm khuôn mẫu gi/quyết các vụ việc khác có tính tương tự

K/n PLQT(còn gọi là công pháp QT): tổng hợp các nguyên tắc, các quy phạm PL để điều chỉnh mối QH nhiều mặt (chủ yếu là QH mang tính Ctri) giữa các chủ thể tham gia QHQT thông qua đấu tranh thương lượng, bình đẳng với nhau nhằm phục vụ mđích ctri của các chủ thể đó và được bđảm th/hiện chủ yếu bằng bphap thương lượng, hợp tác với nhau, trong trường hợp cần thiết, có thể sdung bphap cưỡng chế riêng lẻ hay tập thể phù hợp với qđịnh của PL qte

Khác biệt giữa PLQG và PLQT:

Trang 6

Những biểu hiện mối quan hệ giữa PLQG và PLQT:

Có nhiều hthuyet khác nhau về mối QH giữa PLQG và PLQT song thuyết nhị nguyên đã chiếm ưu thế trong lý thuyết PLQT và có ảnh hưởng nhất định đối với thực tiễn xử lý mối QH PLQG-PLQT Thuyết nhị nguyên đã phân tích tương đối chính xác các đặc điểm của PLQG và PLQT và cho rằng PLQG và PLQT là những hệ thống PL độc lập, bình đẳng với nhau

Cơ sở QH: Sự gắn bó chặt chẽ giữa ch/n đối nội và ch/n đối ngoại của NN; Sự thống nhất về vai trò của 2 HT PL (cùng là cơ sở thiết lập, củng cố tăng cường Qluc NN); Ngtac tự nguyện thực hiện các cam kết QT

Nội dung QH PLQG - PLQT:

- PLQG là công cụ, phtien để hoàn thiện, phát triển và th/hien PLQT: PLQG là cơ sở quan trọng, định hướng nội dung, tính chất của PLQT, là bđảm pháp lý qtrong để ngtac, quy phạm PLQT đc th/hien trong phạm vi lãnh thổ QG

- PLQT là công cụ, phtien để phát triển, hoàn thiện và th/h PLQG trong đời sống qte: những ndung tiến bộ của PLQT sẽ dần được truyền tải vào

VB PLQG, đthời QG với tư cách là thành viên mới của T/chức QT sẽ phải hoàn thiện HT PLQG cho phù hợp với quy định của t/chức mới tham gia, việc tham gia ký kết các điều ước QT liên quan là cơ sở pháp lý quan trọng để các QG th/hiện quyền và nghĩa vụ của mình

- Trong những điều kiện nhất định, PLQG và PLQT có thể chuyển hóa cho nhau – PLQT có thể trở thành nguồn của PLQG và ngược lại:

+ Trong PLQT có 1 số qđịnh mang tính ngtac đòi hỏi PLQG phải đưa ra những qđịnh cụ thể (nội luật hóa) nếu không thì các qđịnh mang tính ngtac của PLQT không có ý nghĩa Nếu PLQT đã có những qđịnh cụ thể thì các QG thành viên có thể th/hiện ngay, không cần thông qua h/động nội luật hóa (PLQT trở thành nguồn của PLQG)

+ Trong PLQG có 1 số ngtac, qtac được đa số các nước thừa nhận và sử dụng nhiều lần trong cộng đồng QT (vd: ngtac không can thiệp nội bộ, ngtac quyền DT tự quyết, ) sẽ dần trở thành tập quán QT và có thể được đưa vào các điều ước QT, trở thành 1 bphan của PLQT (PLQG trở thành nguồn của PLQT)

Phương thức xử lý quan hệ giữa PLQG và PLQT:

- Đvới điều ước QT có 2 hthuc tiếp nhận vào PLQG: chuyển hóa (cq lập pháp nội luật hóa các ngtac lquan của PLQT thành PLQG bằng cách ban hành

1 luật riêng hoặc sửa đổi, bổ sung luật cũ cho phù hợp điều ước QT đã ký kết hoặc thgia) và chấp nhận (Hiến pháp hoặc PLQG qđịnh PLQT có hiệu lực trong PLQG, QG có thể áp dụng trực tiếp PLQT mà không cần thông qua nội luật hóa), trong đó phthuc “chấp nhận” ít được sdung hơn

- Đvới tập quán QT cũng được th/h thông qua 2 hthuc trên song đa số các nước thường sdung hthuc chấp nhận để áp dụng tập quán QT trong PLQG (nhiều nước qđịnh nếu có xung đột giữa PL thông thường của QG và tập quán QT thì tập quán

QT được ưu tiên hơn luật thông thường)

Đối với VN:

- Các VBQPPL của VN đã sdung thông lệ QT để xử lý QH PLQT – PLQG theo đó PLQT được ưu tiên áp dụng so với PL thông thường của QG nhưng nếu qđịnh của điều ước QT mâu thuẫn với qđinh của Hiến pháp thì Hiến pháp sẽ được

ưu tiên áp dụng và qđịnh của điều ước QT trở nên vô hiệu (được thừa nhận từ khi ban hành Luật Điều ước QT năm 2016)

- PLVN thừa nhận cả 2 hthuc chuyển hóa (áp dụng gián tiếp) và chấp nhận (áp dụng trực tiếp) để th/hiện PLQT trên lãnh thổ VN trong đó áp dụng gián tiếp được sdung nhiều hơn (vd: đưa các qđịnh trong Công ước Bern về bảo hộ tác phẩm VHNT, Công ước Paris về bảo hộ SH công nghiệp được đưa vào Bộ luật Dân sự năm 2015, Công ước CEDAW được đưa vào Luật BĐ Giới năm 2006, ) Thẩm quyền qđ áp dụng hthuc nào thuộc về QH, CT nước và CP

- PLQG và PLQT có t/động qua lại, sau khi PLQT được áp dụng gián tiếp hoặc trực tiếp trên lãnh thổ QG thì không chỉ NN mà các chủ thể PL của QG

đó đều có trách nhiệm th/hiện các cam kết QT – bước đi quan trọng tiếp theo để nắm bắt cơ hội phát triển và nâng cao vị thế, quy tín VN trên trường QT Những qđịnh nói trên sẽ giúp đẩy nhanh tiến trình HNQT của VN được thuận lợi hơn, bảo đảm sự chặt chẽ về thủ tục, vừa bđảm phù hợp với thông lệ QT (điểm nổi bật của HT PLQV trong tiến trình đmới và HNQT)

- VN hiện đã ban hành nhiều VBQPPL làm cơ sở pháp lý cho th/h các cam kết QT như Luật Điều ước QT năm 2016, Luật CQ đại diện nước CHXHCN

VN ở nước ngoài năm 2009 (sđ, bs năm 2017), Luật Ban hành VBQPPL năm 2015, cùng nhiều VPQPPL để nội luật hóa và t/chức th/hiện các ĐƯQT, cam kết

QT hoặc quy chuẩn của các tổ chức QT chuyên môn trong từng ngành, lĩnh vực cụ thể như Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật Trẻ em năm 2016, Luật Phòng chống mua bán người năm 2012,

- Tnhien, việc th/hiện các cam kết QT của VN tgian qua đã bộc lộ 1 số hạn chế nhất định, dẫn đến phát sinh 1 số vụ kiện của các nhà đầu tư nước ngoài (vd: DialAsie, Saigon Metropolitan, ) đvới NN VN ra trọng tài QT lquan đến các vđề TM và đầu tư gây tốn kém về nhân lực, tài lực và ảnh hưởng tiêu cực đến

MT đầu tư của VN Điều này đòi hỏi phải nâng cao nhận thức của các cấp CQuyen, các cquan NN về điều ước QT, thỏa thuận QT và cam kết QT, theo đó cần có

KH ký kết, phương án đàm phán và KH triển khai sau khi ký kết, đthời đẩy nhanh việc chuyển hóa các cam kết QT vào PL trong nước để đ/ứ y/c HNQT, nâng cao ý thức pháp quyền trong qly NN, xử lý nghiêm những trường hợp nhũng nhiễu hoặc chậm xly kiến nghị, khiếu nại của nhà đầu tư NN

Câu 4: Phân tích các đặc trưng, quan điểm và phương hướng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay Liên hệ thực tiễn.

Khái niệm Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam: Giáo trình tr 113.

Ở Việt Nam, khái niệm “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” lần đầu tiên được nêu ra tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (ngày 29/11/1991) và tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) cũng như trong các văn kiện khác của Đảng và Nhà nước Tại Hiến pháp năm 2013, bản chất và đặc điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được thể chế hóa rõ hơn

Đặc trưng của nhà nước pháp quyền XHCN VN (tr.113-119):

1. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực NN thuộc về nhân dân

2. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là NN công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tất cả vì hạnh phúc của con người

3. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là NN được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và PL, quản lý XH bằng HP và PL; bảo đảm tính tối cao của HP và y/c thượng tôn PL trong đời sống NN và XH

4 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và nguyên tắc tập trung dân chủ.

5 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

6. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước th/hiện đường lối

đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác, bình đẳng và phát triển với nhân dân các dân tộc và các nước trên TG, đồng thời tôn trọng và cam kết th/h các công ước, điều ước qt đã tham gia ký kết, phê chuẩn

Có thể nhận thấy, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vừa mang những đặc điểm của nhà nước pháp quyền nói chung, nhất là tính thượng tôn Hiến pháp, pháp luật, vừa có những đặc thù của riêng Việt Nam, được nhấn mạnh ở ba điểm chính sau:

Thứ nhất, cơ sở kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tính định hướng xã hội chủ

nghĩa của nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật khách quan của thị trường, mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường trong chủ nghĩa tư bản và kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã hội Do vậy, đặc tính của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa tạo ra sự khác nhau giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời tạo ra nét đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Thứ hai, cơ sở xã hội của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khối đại đoàn kết toàn dân tộc Với khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhà nước pháp quyền có

được cơ sở xã hội rộng lớn và khả năng to lớn trong việc tập hợp, tổ chức các tầng lớp nhân dân thực hành và phát huy dân chủ Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tuy không loại bỏ được sự phân tầng xã hội theo hướng phân hoá giàu nghèo, nhưng có khả năng xử lý tốt hơn công bằng xã hội Những mâu thuẫn xã hội phát sinh trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường do được điều tiết thông qua pháp luật, chính sách và các công cụ khác của nhà nước nên ít có nguy cơ trở thành các mâu thuẫn đối kháng và tạo ra các xung đột

có tính chất chia rẽ xã hội Đây là một trong những điều kiện đảm bảo ổn định chính trị, đoàn kết các lực lượng xã hội vì mục tiêu chung của sự phát triển

Ba là, tính nhất nguyên chính trị và sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất cầm quyền tạo khả năng đồng thuận xã hội, tăng cường khả năng hợp tác và giúp đỡ lẫn

nhau giữa các giai tầng, các cộng đồng dân cư và các dân tộc Nhờ vậy, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có được sự ủng hộ rộng rãi từ phía xã hội, nguồn

Trang 7

sức mạnh từ sự đoàn kết toàn dân, phát huy được sức sáng tạo của các tầng lớp dân cư trong việc nâng cao quyền làm chủ của nhân dân Tuy nhiên, thách thức từ việc thiếu cơ chế cạnh tranh, kiểm soát quyền lực của Đảng đặt ra yêu cầu phải xác định rõ nội hàm và phân định rõ chức năng lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và cả hệ thống chính trị

Quan điểm và phương hướng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền

XHCN Việt Nam hiện nay:

Thực tiễn xây dựng NN PQ XHCN VN: Thành tưu, hạn chế: tóm tắt tr 119-126

Quan điểm, định hướng: tr 127 – 143.

Liên hệ thực tiễn: tự liên hệ, có thể tham khảo thêm 1 số ý sau (ngoài giáo trình):

Yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là phải bảo đảm Nhà nước ta thật sự là của Nhân dân, do Nhân dân

và vì Nhân dân; Nhà nước phải chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi người dân Do đó, cần nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành để thật sự bảo đảm đúng nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

Ðồng thời, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải bảo đảm Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, kỷ luật, kỷ cương trong mọi lĩnh vực của xã hội Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước Ðổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm để Quốc hội thật sự là Cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, cải tiến, nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, quyết định và giám sát các vấn đề quan trọng của đất nước Đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh, tổ chức tinh gọn, hợp lý; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan của Chính phủ; thực hiện phân cấp hợp lý cho chính quyền địa phương, đồng thời nâng cao chất lượng quy hoạch và tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát của Trung ương Đẩy mạnh cải cách hành chính, bãi bỏ các thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân Tiếp tục thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh Tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của Chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân,

Ủy ban nhân dân các cấp; tiếp tục thực hiện thí điểm chủ trương không tổ chức hội đồng nhân dân quận, huyện, phường; nghiên cứu tổ chức chính quyền đô thị, hải đảo

Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật để nhân dân hiểu được bản chất dân chủ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nắm vững và thực hiện quyền làm chủ và nghĩa vụ công dân của mình, hiểu được mọi quyền lực của Nhà nước đều do dân giao cho, các cơ quan nhà nước không tự có quyền lực Quyền lực của dân được thể hiện qua việc bầu ra cơ quan đại diện cho mình để xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước các cấp thông qua các bộ luật này Điều này thể hiện tính dân chủ, tính nhân văn của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - một nhà nước mang tính nhân dân sâu sắc

Song song với việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, cần đẩy mạnh việc giáo dục tư tưởng dân chủ và ý thức tôn trọng pháp luật cho nhân dân (một điểm còn yếu hiện nay), vì mức độ thể hiện dân chủ và ý thức tôn trọng dân chủ, tôn trọng pháp luật, mức độ tham gia đóng góp ý kiến được thể hiện thông qua trình độ hiểu biết chính trị, ý thức tự giác, lòng tự trọng và trách nhiệm của họ trong việc tham gia xây dựng luật pháp, giám sát việc thi hành luật pháp và tự giác chấp hành luật pháp

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, phẩm chất; đồng thời, đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng và những tiêu cực khác đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, mang đậm nét dân tộc và nhân đạo Đội ngũ cán bộ có vai trò quyết định sự thành bại của cách mạng và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị Cần phân công lao động hợp lý đội ngũ cán bộ, công chức, tránh tình trạng bộ máy hành chính phình ra quá lớn và đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu nâng cao chất lượng cả về năng lực và phẩm chất đạo đức Thực hiện trách nhiệm trong đề cử, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo theo hướng cấp trưởng giới thiệu cấp phó, cấp sử dụng trực tiếp giới thiệu để cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định Phải kết hợp chặt chẽ các khâu quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, luân chuyển, sắp xếp, bố trí, điều động cán bộ và tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ và công tác cán bộ để xây dựng một đội ngũ cán bộ có tâm, đức, năng lực và thực sự là công bộc của dân Có ngăn chặn và chống được quan liêu, tham nhũng mới xây dựng được Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực sự là của dân, do dân và vì dân Toàn bộ hệ thống chính trị và toàn dân phải có quyết tâm

chính trị cao đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí thì cuộc đấu tranh mới có hiệu quả

Nhận định trong Nghị quyết Đại hội XII cho thấy, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, xu thế hội nhập và phát triển hiện nay cũng đặt ra những thách thức to lớn cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Xu thế hội nhập và phát triển không chỉ giúp Việt Nam nhận thức sâu sắc hơn tính tất yếu khách quan mà còn giúp có thêm cơ hội để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với những nét đặc thù, học tập kinh nghiệm về

tổ chức, kỹ thuật vận hành bộ máy nhà nước của các nước phát triển để hoàn thiện hơn mô hình nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Tuy nhiên, xây dựng nhà nước pháp quyền trong bối cảnh có những đặc thù đã là một thách thức, nhưng khó khăn hơn là chúng ta luôn phải đối mặt với sự chống phá hoặc ngấm ngầm, hoặc trực diện từ các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước Bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển càng làm cho các hình thức và thủ đoạn chống phá trở nên tinh vi hơn Do đó, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là công việc hoàn toàn mới mẻ, cần đến tính tích cực, chủ động và sáng tạo rất lớn của Đảng, tuyệt đối không thể rập khuôn theo các giá trị và mô hình xây dựng của các nước phương Tây với các mô hình và thể chế chính trị khác Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải bảo đảm nguyên lý của mối quan hệ giữa đảng cầm quyền và nhà nước pháp quyền

Vì vậy, yêu cầu đặt ra là Đảng phải luôn đảm bảo được tính chính đáng trong cầm quyền của mình thể hiện uy tín, sự tin tưởng, sự cuốn hút của Đảng đối với nhân dân; tính hiệu quả trong lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đáp ứng yêu cầu, lợi ích của nhân dân Đồng thời, để tiến nhanh cùng với xu thế phát triển của xã hội hiện đại, sự cầm quyền của Đảng trong quan hệ với xây dựng nhà nước pháp quyền cần không ngừng được đổi mới: quyền lực chính trị của Đảng gắn liền với quyền lực nhà nước và quyền lực của nhân dân

Trang 8

Câu 5: Nêu khái niệm và phân tích đặc điểm, vai trò của lập pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam? Phân tích thực trạng thiết chế, hoạt động lập pháp và các định hướng hoàn thiện hoạt động lập pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Khái niệm

Lập pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là một bộ phận của quyền lực nhà nước, bao gồm thể chế, thiết chế và hoạt động của thiết chế đó, thực hiện nhiệm vụ làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật, nhằm bảo đảm chủ quyền nhân dân, thực thi quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và lợi ích chung của toàn xã hội

1 Phân tích đặc điểm, vai trò của lập pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Đặc điểm của lập pháp:

Một là, lập pháp là bộ phận quyền lực trực tiếp và cao nhất đại diện cho lợi ích và ý chí của nhân dân Quyền lập pháp là quyền lực do nhân dân ủy thác

trực tiếp cho quốc hội

nhằm ban hành các văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất của quốc gia (Hiến pháp và luật), chứa đựng các quy tắt xử sự chung của toàn bộ đời sống nhà nước và

xã hội

Hai là, lập pháp mang tính sáng tạo, là quá trình nhận thức các quy luật xã hội Trong quá trình lập pháp, thiết chế lập pháp phải căn cứ vào nhu cầu của

thực tiễn cuộc sống, nắm bắt các quy luật khách quan của xã hội, thể hiện những yêu cầu của các quy luật đó thành những quy tắc xử sự, những chuẩn mực pháp

lý nhất định

Thứ ba, lập pháp được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ nhất, phức tạp nhất so với quy trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật khác Quy

trình ban hành Hiến pháp và luật bao gồm các công đoạn: sáng kiến lập pháp, soạn thảo, thảo luận và thông qua Hiến pháp và luật Trong đó, quy trình ban hành Hiến pháp theo thủ tục đặc biệt, khác với thủ tục ban hành các văn bản sửa đổi, bổ sung luật

Thứ tư, lập pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do cơ quan quyền lực cao nhất thực hiện, với thẩm quyền riêng biệt làm Hiến pháp, sửa đổi

Hiến pháp, làm luật, sửa đổi luật Việc thực hiện quyền lập hiến, lập pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào nên quyền lập hiến, lập pháp phải được trao cho Quốc hội – cơ quan đại biểu cao nhất của toàn dân

Năm là, lập pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam tuân thủ nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm

soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” Việc tuân thủ này đảm bảo cho quyền lập pháp không mâu thuẫn với chế độ chính trị của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam

Vai trò của lập pháp

Một là, lập pháp giữ vai trò chủ đạo thực thi và bảo đảm chủ quyền nhân dân Thông qua các hoạt động như tiếp xúc cử tri, tiếp nhận ý chí, nguyện vọng

của nhân dân, Quốc hội thể hiện ý chí, nguyện vọng đó trong Hiếp pháp và các đạo luật

Hai là, lập pháp có vai trò quan trọng trong việc thể chế hóa các định hướng, chủ trương lãnh đạo về chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam với Nhà nước

và xã hội, bảo đảm sao cho các chủ trương, định hướng đó được “chuyển hóa” thành các “chuẩn mực”, “quy tắc xử sự” cụ thể, được thực hiện thường xuyên trong đời sống xã hội

Ba là, lập pháp giữ vai trò quan trọng nhất trong việc tạo nền tảng, hành lang pháp lý cho toàn xã hội và tổ chức, hoạt động của bộ máy nước Cộng hòa

XHCN Việt Nam

Bốn là, lập pháp góp phần cân bằng lợi ích của nhân dân, cử tri và lợi ích quốc gia Thiết chế lập pháp – Quốc hội do cử tri cả nước bầu ra, đại diện cho cử

tri, phản ánh ý chí, nguyện vọng của cử tri, đồng thời, ban hành luật, nghị quyết mang lại lợi ích tốt nhất cử tri và lợi ích quốc gia

Năm là, lập pháp thiết lập nên những chuẩn mực pháp lý cho hoạt động của hai bộ phận còn lại là quyền hành pháp và quyền tư pháp, góp phần thực hiện

cơ chế “phân công, phới hợp, kiểm soát” giữa các cơ quan nhà nước

Sáu là, cùng với hành pháp và tư pháp, lập pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam góp phần phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ XHCN Việt Nam

2 Phân tích thực trạng thiết chế, hoạt động lập pháp và các định hướng hoàn thiện hoạt động lập pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

a Phân tích thực trạng thiết chế

Thiết chế lập pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là cơ quan thực hiện quyền lập pháp theo quy định của Hiến pháp, pháp luật

Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”

Vị trí, vai trò của Quốc hội trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước được xem xét từ hai thuộc tính của Quốc hội: là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, đồng thời là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất

Thứ nhất, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Thuộc tính này thể hiện trên 3 vấn đề: 1) Quốc hội có cơ cấu thành phần đại biểu đại diện

rộng rãi cho các tầng lớp nhân dân 2) Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình dựa vào sự tín nhiệm của nhân dân, do nhân dân ủy quyền 3) Quốc hội chịu trách nhiệm trước nhân dân

Thứ hai, Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Quốc hội là cơ quan thay mặt nhân dân thực hiện quyền

lực nhà nước thống nhất trong cả nước và thực hiện quyền lực đó thông qua việc cụ thể hóa thành các chức năng của Quốc hội (chức năng lập hiến, lập pháp; chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước)

b Thực trạng hoạt động lập pháp

* Thành tựu

Hoạt động lập pháp thời gian qua đã được tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ và đạt được kết quả quan trọng cả về chất lượng, số lượng

Về số lượng: Sau hơn 30 năm đổi mới, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ quốc hội đã ban hành số lượng luật, pháp lệnh gấp 8 lần so với số lượng Quốc hội đã ban hành trong 41 năm trước đổi mới

Về chất lượng:

Thứ nhất, hoạt động lập pháp bao quát hầu khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội Từ việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các

thiết chế trong hệ thống chính trị; đảm bảo quyền con người, quyền tự do cơ bản của công dân; về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đến xây dựng hoàn thiện pháp luật các lĩnh vực đời sống - xã hội

Thứ hai, trong số các dự án luật đã được thông qua thời gian qua có tới gần một nửa là các dự án luật sửa đổi, bổ sung Hoạt động lập pháp của Việt Nam

đã bước sang thời kỳ chú trọng xây dựng hệ thống pháp luật theo chiều sâu và chấm dứt thời kỳ xây dựng hệ thống pháp luật theo chiều rộng

Thứ ba, cách làm chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật đã từng bước khắc phục tính hình thức trong việc đề xuất các dự án luật, pháp lệnh; góp phần

làm cho chương trình, kế hoạch lập pháp trở nên khoa học, thực tiễn hơn, thông qua yêu cầu trong các đề xuất chính sách, phải làm rõ dự báo sơ bộ tác động kinh

tế - xẫ hội, lộ trình ban hành, cơ quan soạn thảo và các điều kiện bảo đảm, làm cho hoạt động xây dựng pháp luật sát hợp hơn với yêu cầu của thực tiễn

Thứ tư, hoạt động lập pháp thời gian qua tiếp tục bảo đảm phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Các dự

án luật, pháp lệnh quan trọng đều có đại diện Ủy ban Trung Ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia với tư cách là thành viên Ban soạn thảo, Tổ biên tập,… Thứ năm, kinh nghiệm trong hoạt động lập pháp của một số nước đã được nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc để vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam như phương pháp đánh giá dự báo tác động kinh tế - xã hội, thủ tục rút gọn kỹ thuật “một văn bản sửa nhiều văn bản”,… bước đầu phát huy hiệu quả làm cho tính khả thi, tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật được cải thiện, đáp ứng kịp thời hơn, tốt hơn yêu cầu của thực tiễn

* Hạn chế:

- Hoạt động lập pháp chưa thực hiện đầy đủ các chương trình đề ra, các đạo luật phải sửa đổi, bổ sung nhiều; số lượng luật được Quốc hội thông qua chưa đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi của cuộc sống, đặc biệt là trong các lĩnh vực liên quan đến quyền con nguời, quyền công dân

- Việc xây dựng dự thảo luật rất phức tạp, mất nhiều thời gian, phải soạn thảo lại nhiều lần; văn bản có nội dung dàn trải, không cụ thể; khó ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành

- Hoạt động thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh còn nhiều hạn chế

- Chất lượng thảo luận về dự án luật ở các ủy ban còn nhiều hạn chế Việc thảo luận các dự án luật chủ yếu được thực hiện ở các đoàn đại biểu Quốc hội theo cơ cấu địa phương, vì vậy, còn nhiều chồng chéo giữa các ủy ban và các đoàn đại biểu quốc hội Vì vậy, năng lực và hiệu quả hoạt động của các ủy ban bị hạn chế

Trang 9

- Về chất lượng văn bản, trong một số đạo luật còn chứa đựng những quy định phản ánh không đầy đủ nhu cầu của cuộc sống nên tác dụng điều chỉnh không cao, một số quy định còn thể hiện ý chí chủ quan, tính dự báo không cao, tính khả thi còn thấp, sức sống của một số điều luật và đạo luật không dài

Câu 7: Phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò và nội dung của tư pháp trong NNPQ XHCN VN? Phân tích các quan điểm, định hướng hoàn thiện mô hình

tư pháp trong NN PQXHCN VN?

Khái niệm tư pháp: Tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là một bộ phận của quyền lực nhà nước – quyền xét xử do tòa án nhân dân

thực hiện dựa trên hệ thống thể chế và thông qua các hoạt động tố tụng để xét xử và giải quyết xung đột các quan hệ xã hội nhằm bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

Đặc điểm tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Một là, tư pháp là một bộ phận quyền lực nhà nước trong mối quan hệ phân công (phân chia), kiểm soát quyền lực nhà nước được giao cho Tòa Án nhân

dân thực hiện

Hai là, tư pháp trong nhà nước pháp quyền là quá trình áp dụng pháp luật xét xử và giải quyết xung đột của các quan hệ xã hội được thực hiện theo trình

tự thủ tục tố tụng luật định nghiêm ngặt Trình tự thủ tục tố tụng bảo đảm nguyên tắc xet xử hai cấp, nguyên tắc tranh tụng là những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xét xử của tòa án

Ba là, tư pháp được tổ chức và hoạt động mang tính độc lập nhằm đảm bảo việc xét xử và giải quyết xung đột các quan hệ xã hội một cách khách quan.

Vai trò của tư pháp trong nhà nước pháp quyền

Thứ nhất, tư pháp là bộ phận quyền lực được giao cho Tòa án nhân dân thực hiện xét xử và giải quyết những xung đột của các quan hệ xã hội có vai trò rất

quan trọng trong hoạt động thực thi quyền lực nhà nước của bộ máy công quyền

Thứ hai, tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân.

Thứ ba, tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN.

Thứ tư, tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam góp phần bảo đảm tính đúng đắn, hợp hiến, hợp pháp của cơ quan nhà nước trong thực hiện

quyền lập pháp, hành pháp

Thứ năm, tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam góp phần đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm.

Thứ sáu, tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam góp phần đưa các nguyên tắc được thừa nhận chung của Nhà nước pháp quyền vào thực tế,

góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội

Thể chế và thiết chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được hiểu là toàn bộ các quy định pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân Những quy định đó được thể hiện ở các khía cạnh cơ bản sau:

- Quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân

dân

- Quy định của pháp luật về tổ chức, hoạt động, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân

- Quy định pháp luật về chức năng danh trong Tòa án nhân dân, gồm: chánh án, phó chánh án, thẩm phán, thẩm tra viên, thư ký tòa án

- Quy định pháp luật về bảo đảm tòa án nhân dân Số lượng thẩm phán, biên chế của Tòa án nhân dân; kinh phí hoạt động của Tòa án nhân dân; chế độ, chính sách

đối với công chức khác, viên chức và người lao động của Tòa án nhân dân được quy định tại Chương X, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014

Thiết chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được xác định tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 là “Tòa án có vị trí trung tâm

và xét xử là nhiệm vụ trọng tâm

Khoản 2, Điều 102 Hiếp pháp 2013 quy định:

- Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp

- Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các tòa án khác do luật định

- Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”

Điều 3 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định về tổ chức tòa án nhân dân: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân sự

Hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức theo cấp xét xử, không phụ thuộc địa giới hành chính (Theo quy định tại Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014): Tòa án nhân dân tối cao là cấp xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm cao nhất và làm nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động xét xử trên phạm vi toàn quốc; Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền xét xử theo quy định tại Điều 29 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương là cấp xét xử sơ thẩm

Phân tích các quan điểm, định hướng hoàn thiện mô hình tư pháp trong NN PQXHCN VN

Quan điểm:

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã chỉ rõ: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước Pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị… Xây dựng nhà nước pháp quyền phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp và tư pháp

Hoàn thiện tư pháp cần quán triệt các quan điểm có tính nguyên tắt sau:

Thứ nhất, hoàn thiện tư pháp trong nhà nước pháp quyền phải bảo đảm xây dựng một nền tư pháp độc lập.

Thứ hai, hoàn thiện tư pháp trong nhà nước pháp quyền phải đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

Thứ ba, hoàn thiện tư pháp trong nhà nước pháp quyền phải bảo đảm quyền tiếp cận công lý.

Định hướng:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế về tổ chức và hoạt động thực hiện quyền tư pháp theo hướng mở rộng thẩm quyền xét xử cho Tòa án nhân dân Thứ hai, hoàn thiện tư pháp theo hướng bảo đảm nguyên tắc công khai trong hoạt động tố tụng, cần mở rộng quyền khiếu nại của cá nhân, cơ quan, tổ

chức về việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án

Trang 10

Thứ ba, hoàn thiện tư pháp theo hướng bảo đảm nguyên tắc tranh tụng khi xét

xử

Thứ tư, hoàn thiện tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam theo hướng bảo đảm vai trò của tòa án trong việc áp dụng thống nhất pháp luật

và chức năng công bố án lệ, cần tiếp tục hoàn thiện chế định án lệ trên cơ sở sơ kết, đánh giá thực tiễn việc công bố, áp dụng án lệ thời gian qua Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới về án lệ để có những bổ sung phù hợp

Thứ năm, hoàn thiện tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam theo hướng phát huy vai trò của Tòa án trong việc nâng cao hiệu quả thi hành

án

Câu 8 Phân tích khái niệm, đặc điểm , nội dung và các yếu tố cấu thành của cơ chế pháp lý về kiểm soát quyền lực NN? Phân tích nội dung thể chế pháp lý

về KSQLN ở VN hiện nay? Liên hệ thực tiễn VN

1 Khái niệm

Dưới góc độ luật học, kiểm soát quyền lực nhà nước được hiểu là toàn bộ hoạt động xem xét, theo dõi, đánh giá của các thiết chế có thẩm quyền nhằm ngăn chặn, loại bỏ những nguy cơ, những hành vi, những việc làm sai trái của các chủ thể trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước (QLNN), bảo đảm cho quyền lực nhà nước được sử dụng và thực hiện theo đúng Hiến pháp và pháp luật, đạt được mục đích và hiệu quả Để đạt được những mục tiêu đó, kiểm soát QLNN phải được vận hành theo một trật tự, một cơ chế pháp lý khoa học và hợp lý

Hiện nay, có nhiều quan niệm bàn về cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN, có thể hiểu: cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước là tổng thể các thể chế pháp lý và các thiết chế liên quan đến việc kiểm soát quyền lực nhà nước có mối liên hệ chặt chẽ với nhau; được vận hành theo nội dung và các phương thức do pháp luật quy định nhằm phòng ngừa, loại bỏ những nguy cơ, những hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước; bảo đảm quyền lực nhà nước vận hành theo Hiến pháp và pháp luật, đúng mục đích hoạt động và hiệu quả

2 Đặc điểm

Một là, cơ chế này là một chỉnh thể thống nhất, gồm các thể chế pháp lý và các thiết chế có mối quan hệ tác động qua lại, vận động nhịp nhàng, ăn khớp cùng hướng đến mục tiêu của hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền lực nhà nước được sử dụng đúng và hiệu quả Cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN được tiến hành trên cơ sở HP và PL; được kiến tạo trên cơ sở và nền tảng của nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước

Hai là, că cứ vào chủ thể thực hiện kiểm soát QLNN, có thể phân chia thành cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực bên ngoài (nhân dân kiểm soát QLNN, cơ chế kiểm soát QLNN của đảng cần quyền) và bên trong (các có quan nhà nước vận hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình tự kiểm soát lẫn nhau: cơ quan thực hiện quyền lập pháp – Quốc hội; cơ quan thực hiện quyền hành pháp – Chính phủ; cơ quan thực hiện quyền tư pháp – Toà án nhân dân) Mặc dù có sự khác nhau về chủ thể, nội dung, hình thức, phương pháp, trình tự, thủ tục và hậu quả pháp lý, nhưng cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN bên trong và bên ngoài có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, hướng đến mục tiêu chung là bảo đảm QLNN được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả

Ba là, căn cứ theo các lĩnh vực của việc thực hiện QLNN, có thể phân chia thành cơ chế pháp lý kiểm soát việc thực hiện quyền lập pháp; cơ chế pháp lý kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp và cơ chế pháp lý kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp Ngay trong mỗi cơ quan nhà nước, tuỳ theo vị trí, tính chất, chức năng mà pháp luật quy định có những biện pháp cách thức kiểm soát QLNN khác nhau Tuy nhiên, dù được tổ chức và hoạt động như thế nào đều phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN nói chung

Bốn là, cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN không ngừng vận động, phát triển phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia , phù hợp với trình

độ phát triển về dân chủ trên thế giới Cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN tác đôngj lên các chủ thể trong quan hệ thực hiện QLNN, là yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng nên những thay đổi về cơ sở hạ tầng sẽ dẫn đến những thay đổi trong cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN Ở mỗi quốc gia, ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế- xã hội, quan hệ giai cấp mà có cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN khác nhau nhưng theo quy luật chung sẽ phát triển, hoàn thiện, hiệu quả và tiến bộ

3 Nội dung và các yếu tố cấu thành cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN - Thể chế pháp lý

Thể chế pháp lý của CCPLKSQLNN là tổng thể các quy phạm pháp luật, có mối liên

hệ chặt chẽ, thống nhất; quy định các nguyên tắc kiểm soát QLNN; xác lập địa vị pháp lý của các chủ thể cũng như nghĩa vụ và trách nhiệm của đối tượng của kiểm soát QLNN; đồng thời, xác định phạm vi, hình thức, phương pháp, trình tự, thủ tục và hậu quả pháp lý của kiểm soát QLNN; được biểu hiện trong các văn bản QPPL Thể chế pháp lý về kiểm soát QLNN có cấu trúc chặt chẽ về nộ dung lẫn hình thức

Về nội dung, thể chế pháp lý có các nhóm quy định sau:

Một là, nhóm các quy định về phạm vi kiểm soát QLNN

Đối với quyền lập pháp: Thể chế pháp lý xác định phạm vi kiểm doát gồm tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan lập pháp; kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật do Quốc hội thông qua, phạm vi hoạt động lập pháp (bao gồm cả lập pháp uỷ quyền), kiểm soát hoạt động tham gia thực hiện quyền lập pháp của các chủ thể khác

Đối với quyền hành pháp: Thể chế pháp lý xác định phạm vi kiểm soát tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan hành pháp; việc thực hiện quyền hành pháp, chức năng hành chính và chấp hành đối với Quốc hội của Chính phủ; tính hợp pháp và hợp lý của các quyết định và hành vi thực hiện chức năng hành pháp và hành chính

Đối với quyền tư pháp: Thể chế pháp lý xác định phạm vi kiểm soát việc tổ chức và hoạt động của hệ thống toà án; việc thực hiện chức năng xét xử và quyền tư pháp; kiểm soát việc tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tham gia thực hiện quyền tư pháp như Viện Kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra và các

cơ quan khác được giao nhiệm vụ tham gia thực hiện quyền tư pháp

Hai là, nhóm quy định về nguyên tắc kiểm soát QLNN

Các nguyên tắc kiểm soát QLNN là những quan điểm, tư tưởng làm nền tảng chi phối, kiến tạo nên mô hình, cũng như quá trình vận hành của CCPLKSQLNN Các nguyên tắc chi phối đến CCPLKSQLNN ở Việt Nam hiện nay là: nguyên tắc tất cả QLNN thuộc về nhân dân; nguyên tắc QLNN là thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội; nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Ba là, nhóm các quy định địa vị pháp lý của chủ thể và đối tượng kiểm soát QLNN

Chủ thể kiểm soát QLNN bao gồm: Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan nhà nước khác theo quy định của pháp luật, Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội và cá nhân Cùng với việc xác định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể kiểm soát, pháp luật quy định nghĩa vụ của đối tượng kiểm sát là các cơ quan thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, cơ quan thực hiện quyền hành pháp,

cơ quan thực hiện quyền tư pháp, chính quyền địa phương và những người được giao nhiệm vụ thực hiện QLNN

Bốn là, nhóm các quy phạm pháp luật quy định về trình tự, thủ tục kiểm soát QLNN Trình tự, thủ tục thực hiện hoạt động kiểm soát là cách thức, biện háp

cụ thể được sắp

xếp theo trật tự do pháp luật quy định nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động kiểm soát Trình tự và thủ tục thực hiện hoạt động kiểm soát QLNN đa dạng và có nhiều cấp độ khác nhau, phụ thuộc vào thẩm quyền của các chủ thể thực hiện Do vậy, nhóm quy phạm pháp luật này phải phù hợp với đặc điểm của các chủ thể và đối tượng giám sát, phù hợp với hình thức kiểm soát Chẳng hạn: trình tự, thủ tục của hoạt động kiểm soát quyền lập pháp khác với kiểm soát quyền hành pháp và tư pháp

Năm là, nhóm các quy định về hình thức, phương pháp kiểm soát QLNN

Các hình thức của kiểm soát QLNN là ban hành các văn bản; xem xét báo cáo của các cơ quan, người có thẩm quyền, người được giao nhiệm vụ thực hiện QLNN, cán bộ, công chức, nhân viên nhà nước; hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm stas; hoạt động chất vấn, điều trần, lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm, trưng cầu ý dân, hoạt động phản biện xã hội Xuất phát từ sự đa dạng trong các chủ thể tiến hành hoạt động kiểm soát QLNN mà pháp luật có những quy định về hình thức và phương pháp kiểm soát phù hợp đối với các chủ thể và đối tượng

Phương pháp kiểm soát: tuỳ thuộc chủ thể sự dụng hình thức kiểm soát mà pháp luật có quy định về phương pháp giám sát phù hợp Tựu trung, có thể bằng phương pháp thảo luận, đối thoại, gửi kiến nghị, phản ánh qua phương tiện thông tin và truyền thông, hay lập chương trình, kế hoạch giám sát

Sáu là, nhóm các quy định về hậu quả pháp lý của kiểm soát QLNN

Hậu quả pháp lý của kiểm soát QLNN là việc áp dụng các biện pháp nhất định đối với chủ thể thực hiện QLNN Theo đó, sau khi có kết quả thảo luận, kiến nghị về hậu quả pháp lý của kiểm soát QLNN, các thiết chế và chủ thể có liên quan tổ chức thực hiện các kiến nghị, yêu cầu, các quyết định, biện pháp đối với đối tượng bị kiểm sát Đó là đình chỉ, bãi bỏ, huỷ bỏ, sửa đổi văn bản pháp luật mà đối tượng bị kiểm soát đã ban hành, hay đối tượng bị kiểm soát từ chức, chấp hành các hình thức kỷ luật, giải tán cơ quan, tổ chức, truy tố hành vi vi phạm trước pháp luật

Ngày đăng: 06/05/2022, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w