MỞ ĐẦU Vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, như chiến tranh, nội chiến, quan niệm về chủ nghĩa xã hội một cách giản đơn và có phần cực đoan khi đối lập một cách trừu tượng nhà nước tư sản với nhà nước xã hội chủ nghĩa, đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản, coi mô hình nhà nước pháp quyền là mang tính tư sản…nên ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, việc nghiên cứu và vận dụng một cách có ý thức (chủ động, tự giác) mô hình nhà nước pháp quyền có nhiều hạn chế. Đó là một trong những nguyên nhân khiến dân chủ ở các nước xã hội chủ nghĩa trở thành “có vấn đề”. Dân chủ mang nặng tính hình thức; tình trạng độc đoán, chuyên quyền, quan liêu có xu hướng phát triển đã làm suy yếu nhà nước. Tổ chức bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả. Nhà nước quản lý, điều hành xã hội chủ yếu bằng mệnh lệnh, chỉ thị, nghị quyết, bằng đạo lý, trong khi pháp luật thì bị coi nhẹ. Chính vì vậy, vấn đề dân chủ đã được đặt ra một cách bức bách ở các nước xã hội chủ nghĩa nói chung, ở nước ta nói riêng. Trong quá trình đổi mới tư duy về chính trị, về chủ nghĩa xã hội, nhận thức về nhà nước pháp quyền của Đảng ta ngày càng đầy đủ hơn, rõ ràng và cụ thể hơn; quyết tâm chính trị là xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới hình thức nhà nước pháp quyền cũng ngày càng cao hơn. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng là bước đột phá trong đổi mới tư duy chính trị của Đảng ta, đánh một dấu mốc quan trọng trong đổi mới hệ thống chính trị nói chung, đổi mới Nhà nước ở nước ta nói riêng. Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu, tiến tới nhận thức đầy đủ việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là một tất yếu khách quan và phù hợp trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra trên thế giới nhằm góp phần khẳng định nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa ở nước ta và khẳng định, nâng cao hơn nữa vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Trang 1MỞ ĐẦU
Vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, như chiến tranh, nội chiến, quan niệm về chủ nghĩa xã hội một cách giản đơn và có phần cực đoan khi đối lập một cách trừu tượng nhà nước tư sản với nhà nước xã hội chủ nghĩa, đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản, coi mô hình nhà nước pháp quyền là mang tính tư sản…nên ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa, trong đó
có Việt Nam, việc nghiên cứu và vận dụng một cách có ý thức (chủ động, tự giác) mô hình nhà nước pháp quyền có nhiều hạn chế Đó là một trong những nguyên nhân khiến dân chủ ở các nước xã hội chủ nghĩa trở thành “có vấn đề” Dân chủ mang nặng tính hình thức; tình trạng độc đoán, chuyên quyền, quan liêu có xu hướng phát triển đã làm suy yếu nhà nước Tổ chức bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả Nhà nước quản lý, điều hành xã hội chủ yếu bằng mệnh lệnh, chỉ thị, nghị quyết, bằng đạo lý, trong khi pháp luật thì bị coi nhẹ
Chính vì vậy, vấn đề dân chủ đã được đặt ra một cách bức bách ở các nước xã hội chủ nghĩa nói chung, ở nước ta nói riêng Trong quá trình đổi mới
tư duy về chính trị, về chủ nghĩa xã hội, nhận thức về nhà nước pháp quyền của Đảng ta ngày càng đầy đủ hơn, rõ ràng và cụ thể hơn; quyết tâm chính trị
là xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới hình thức nhà nước pháp quyền cũng ngày càng cao hơn Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng
là bước đột phá trong đổi mới tư duy chính trị của Đảng ta, đánh một dấu mốc quan trọng trong đổi mới hệ thống chính trị nói chung, đổi mới Nhà nước ở nước ta nói riêng
Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu, tiến tới nhận thức đầy đủ việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là một tất yếu khách quan và phù hợp trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra trên thế giới nhằm góp phần khẳng định nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa ở nước ta và khẳng định, nâng cao hơn nữa vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Trang 2NỘI DUNG
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN
1 Khái niệm “Nhà nước pháp quyền”
Qua nhiều nghiên cứu về sự hình thành, phát triển và các quan điểm lý luận về nhà nước pháp quyền hiện nay, chúng ta có thể xác định: “Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành
bộ máy nhà nước do pháp luật quy định và thừa nhận tính tối cao của pháp luật; bao hàm việc xác định rõ ràng quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân để điều chỉnh những quan hệ pháp luật phát sinh trong xã hội, nhất là việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cơ bản của công dân (hoặc con người nói chung)”
2 Khái niệm “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam
Trong văn kiện hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII đã nêu: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” ở nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng ta lãnh đạo”
3 Tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền
Trong học thuyết chuyên chính vô sản, đúng là C.Mác và Ph.Ăngghen chưa sử dụng thuật ngữ nhà nước pháp quyền Nhưng những tư tưởng cốt lõi
về nhà nước pháp quyền lại được các nhà kinh điển đề cập sâu sắc trong các chủ trương xây dựng nhà nước kiểu mới, chế độ dân chủ mới, chế độ dân chủ
vô sản Đó là chủ trương xây dựng nhà nước hợp hiến, hợp pháp; là nhà nước dân chủ cao nhất, triệt để nhất, dân chủ “do nhân dân tự quy định”; là bước chuyển từ xã hội thần dân sang xã hội công dân, từ “nhân dân của nhà nước”
Trang 3sang “nhà nước của nhân dân” Đó là chế độ dân chủ xuất phát từ con người
và pháp luật cũng vì con người Đó là nhà nước đảm bảo cho “tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” Nhà nước đó xây dựng và phát triển một xã hội có khả năng tạo ra những điều kiện cơ bản
để “giải phóng cá nhân” theo phương châm “xã hội sẽ không thể giải phóng cho mình được, nếu không giải phóng mỗi cá nhân riêng biệt”… Những tư tưởng cốt lõi đó của C.Mác và Ph.Ăngghen đã được V.I.Lênin vận dụng và phát triển trong sự phân tích, đánh giá nhà nước tư sản, chế độ cộng hoà dân chủ tư sản, cũng như trong thực tiễn lãnh đạo nhân dân Nga xây dựng nền pháp luật kiểu mới, nền pháp chế xã hội chủ nghĩa
Ở nước ta, tư tưởng nhà nước pháp quyền cũng đã được thể hiện rất đậm nét ở Hồ Chí Minh, khi Người lãnh đạo nhân dân ta xây dựng nhà nước cách mạng Đó là tư tưởng về xây dựng một nhà nước dân chủ, một chế độ
dân chủ thực sự theo phương châm “bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân
cử ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” Chính phủ là
chính phủ của nhân dân, Chính phủ phải hứa với dân: “Việc gì có lợi cho dân,
ta phải hết sức làm Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh” Đó là một nhà nước chịu sự kiểm soát của nhân dân, “tất cả các cơ quan nhà nước đều phải dựa vào dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe và chịu sự kiểm soát của nhân dân” (Điều 6, Hiến pháp 1959) Trong quan hệ với nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định, Chính phủ là đầy tớ của nhân dân Người viết: “Chế độ
ta là chế độ dân chủ Nhân dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ của nhân dân Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ” Chỉ một ngày sau khi đọc “Tuyên ngôn độc lập”, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ,
Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ lâm thời xác lập nền tảng dân chủ và pháp quyền cho chế độ nhà nước cách mạng, đó là tổ chức Tổng tuyển cử và xây dựng Hiến pháp dân chủ Người nói: “Trước đây chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên
Trang 4nước ta không có hiến pháp Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v.”
4 Quá trình nhận thức về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới
Trong Văn kiện Đại hội VI, quan điểm, chủ trương đổi mới Nhà nước
đã manh nha một số nội dung về Nhà nước pháp quyền Đó là sự khẳng định
“quản lý nhà nước bằng pháp luật, chứ không phải bằng đạo lý”; phải quan
tâm xây dựng pháp luật; từng bước bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật
để bảo đảm cho bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo pháp luật Đến Đại VII, quan điểm đổi mới Nhà nước đã được bổ sung thêm nội dung:
“Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó”.
Như vậy, có thể nói, qua hai kỳ Đại hội của thời kỳ đổi mới, tư duy về đổi mới Nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng đã có những bước tiến quan trọng Tuy nhiên, chỉ đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1994), chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mới được Đảng ta chính thức khẳng định và thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” cũng mới lần đầu tiên được sử dụng trong văn kiện của Đảng
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường ở nước ta là việc làm mới mẻ, chưa có tiền lệ trong lịch sử, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việc phải vừa làm, vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm Điều này đòi hỏi chúng ta cần phải thận trọng trong quyết định, cũng như trong tiến hành thực hiện Trong Văn kiện Đại hội VIII (1996), Đảng ta coi xây dựng Nhà nước pháp quyền như một trong năm quan điểm cần quán triệt trong quá trình tiếp tục cải cách, đổi mới Nhà nước, xây dựng và hoàn
Trang 5thiện Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đến Đại hội IX, qua tổng kết những thành tựu nghiên cứu lý luận, cũng như thực tiễn từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền, Đảng ta đã coi “xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng” là một nhiệm vụ mang tính chiến lược
và xuyên suốt trong quá trình “đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế” Trong Văn kiện Đại hội
X, khi tổng kết lý luận và thực tiễn 20 năm đổi mới, Đảng ta không những tiếp tục khẳng định chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền, mà còn ghi nhận điều chúng ta “có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản” là một đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng
5 Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa có một số đặc trưng chung của nhà nước pháp quyền vừa có đặc trưng riêng của nước ta mang đậm tính dân tộc và nhân đạo được thể hiện ở một số điểm sau: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước:
- Thực sự của dân, do dân, vì dân; mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
- Tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người
- Được tổ chức và hoạt động theo pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật và bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và luật trong đời sống Nhà nước
và xã hội
- Tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhát, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước về mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp
- Chịu trách nhiệm trước công dân về mọi hoạt động của mình và bảo đảm cho công dân thực hiện các nghĩa vụ trước nhà nước và xã hội
- Do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
Trang 6- Thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác, bình đẳng
và phát triển với nhân dân các dân tộc và các nước trên toàn thế giới, đồng thời tôn trọng và cam kết thực hiện các công ước, điều ước quốc tế đã tham gia, ký kết, phê chuẩn
II Thực trạng việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Thời gian qua, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc - một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam ở bất kỳ giai đoạn nào, đã được phát huy ở mọi cấp, mọi ngành Dân chủ ngày càng được mở rộng Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Quốc hội đã có nhiều đổi mới quan trọng, tập trung vào thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và quyền giám sát tối cao Điều này được thể hiện rất rõ ở cách thức Quốc hội lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong xây dựng và ban hành pháp luật Thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và gián tiếp, nhân dân được tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước Cơ cấu và hoạt động của
bộ máy hành pháp, tư pháp được phân định ngày càng rõ ràng, cụ thể hơn và
có nhiều chuyển biến tích cực Với Quy chế dân chủ ở cơ sở, hoạt động của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội ngày càng có hiệu quả thông qua các cuộc vận động xã hội đầy ý nghĩa, thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được thì việc xây dựng
và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trên thực tế vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế và yếu kém:
"Tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
Trang 7dân còn một số khâu chậm đổi mới Quốc hội còn lúng túng trong việc thực hiện chức năng giám sát Bộ máy quản lý nhà nước các cấp, nhất là ở cơ sở còn yếu kém Tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm ở một
bộ phận công chức, nhất là ở các cơ quan trực tiếp giải quyết công việc của dân và doanh nghiệp, chậm được khắc phục Mô hình tổ chức chính quyền địa phương, nhất là tổ chức hội đồng nhân dân, còn những điểm bất hợp lý Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở nhiều nơi còn mang tính hành chính, hình thức Dân chủ trong xã hội còn bị vi phạm Kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi không nghiêm" Hơn nữa, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật đối với nhân dân còn hạn chế
III Giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời gian tiếp theo
Để khắc phục các tồn tại, yếu kém và phát huy truyền thống dân tộc, nhân văn, nhân đạo của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:
1 Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng nhà nước và quản lý xã hội, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân: Trong lĩnh vực xây dựng nhà nước, quyền dân chủ và làm chủ của
nhân dân được thực hiện bằng phương thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Ở cơ sở, dân chủ và quyền làm chủ của dân được thực hiện bằng các hoạt động tự quản trong cộng đồng với những thỏa thuận tự nguyện không trái với pháp luật hiện hành và được toàn thể cộng đồng thông qua Trong quản lý xã hội: thực hiện cơ chế “nhà nước và nhân dân cùng làm” để cùng nhau huy động và phối hợp các nguồn lực; tham gia quản lý thông qua các tổ chức, thiết chế phi nhà nước hay bằng sự kết hợp, phối hợp với các tổ chức, các phong trào, các nguồn lực để phát triển kinh tế - văn hóa, xây dựng xã hội lành mạnh và nhằm giải quyết các vấn đề trong đời sống xã hội, gắn với lợi ích và nhu cầu của nhân dân
Trang 82 Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật: Coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật,
bảo đảm cho luật pháp thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng và quyền lực của dân, thực sự bảo vệ được các quyền của công dân Nhà nước quản lý, điều hành bằng pháp luật Do đó, luật pháp chiếm vị trí tối thượng trong hoạt động của Nhà nước và trong đời sống xã hội Một trong những biểu hiện của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là pháp luật của Nhà nước được thể chế hóa và bảo vệ quyền của công dân và quyền của con người Điều này thể hiện tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc của hệ thống luật pháp thuộc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Muốn vậy, việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện hệ thống pháp luật phải tuân thủ các
nguyên tắc: Một là, bảo đảm sự phù hợp giữa ý chí chủ quan với tồn tại khách quan trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Hai là, bảo đảm dân chủ trong xây dựng pháp luật. Ba là, bảo đảm pháp chế trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Bốn là, bảo đảm tính khoa học trong xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Năm là, bảo đảm tính hiệu quả của điều chỉnh pháp luật. Sáu là, bảo đảm sự phù hợp giữa pháp luật quốc gia với luật pháp quốc tế mà Nhà nước ta đã tham gia ký kết hoặc gia nhập. Bảy là, bảo
đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật
3 Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội: Tiếp tục đổi mới tổ chức và phương
thức hoạt động của Quốc hội theo hướng xây dựng Quốc hội bảo đảm thực hiện được vai trò, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn do Hiến pháp và luật quy định và cần thực hiện một số giải pháp như: tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả việc thực hiện các chức năng của Quốc hội; phát huy vai trò, trách nhiệm, nâng cao năng lực, bản lĩnh và nghiệp vụ hoạt động đại biểu của đại biểu Quốc hội; tiếp tục kiện toàn các cơ quan của Quốc hội; tăng cường mối quan
Trang 9hệ giữa Quốc hội với nhân dân; bảo đảm các điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Quốc hội
4 Đẩy mạnh cải cách nền hành chính nhà nước theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Xây dựng nền hành chính dân chủ,
trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Trong quá trình
thực hiện phải cải cách đồng bộ các yếu tố của nền hành chính nhà nước: Thứ nhất, cải cách thể chế nền hành chính. Thứ hai, cải cách tổ chức hoạt động
của bộ máy hành chính nhà nước ở Trung ương và chính quyền địa
phương. Thứ ba, đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Thứ tư, tiếp tục đổi mới chế độ tài chính công và tài sản công.
5 Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp theo ý cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Đẩy mạnh cải cách tư pháp theo hướng:
"Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm
minh, bảo vệ công lý, quyền con người Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ; lấy
cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với
hoạt động điều tra Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp" Đổi mới tổ chức và hoạt động tư pháp cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau: Một là, tiếp
tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo cơ sở pháp lý vững
chắc cho hoạt động tư pháp Hai là, đổi mới tổ chức hoạt động của các cơ quan tư pháp Ba là, chấn chỉnh các tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp Bốn
là, đẩy mạnh công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đáp ứng về số lượng
và chất lượng theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
6 Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đó là cần phải
Trang 10đáp ứng những yêu cầu sau: Một là, có năng lực chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công việc Hai là, tận tâm, mẫn cán với công việc, thể hiện trách
nhiệm và đạo đức công vụ khi thực hiện công việc Có tinh thần hợp tác, giúp
đỡ đồng nghiệp Ba là, thực hiện đúng các quy định của pháp luật với ý thức
tự giác và kỷ luật nghiêm minh
Cải cách tư pháp phải thể hiện và phát huy các quan điểm của Đảng
về vấn đề này Đó là, cải cách tư pháp phải bảo đảm giữ vững bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân của các cơ quan tư pháp; phải được tiến hành đồng bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan lập pháp, hành pháp, bảo đảm sự phân công rõ ràng và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia; cải cách tổ chức và hoạt động
của các cơ quan tư pháp phải bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, luật, bảo
đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật; tổ chức và hoạt động
tư pháp phải công bằng, bình đẳng và dân chủ, tôn trọng và bảo vệ các quyền
tự do của con người; cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp phải đáp ứng các yêu cầu của hội nhập quốc tế và khu vực
1. Để đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới, Đảng Cộng sản Việt
Nam được người làm chủ là nhân dân tín nhiệm và tin cậy giao trách nhiệm lãnh đạo Nhà nước, cần phải nâng tầm trí tuệ và tư tưởng, nâng cao năng lực lãnh đạo và phong cách lãnh đạo, kiên quyết khắc phục bệnh quan liêu, thành tích, cơ hội, thực dụng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên Phong cách lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được học tập và làm theo một cách có hiệu quả, nói cần phải đi đôi với làm và làm một cách thiết thực Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là một trong những đặc trưng cơ bản của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được quy định rõ trong điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đảng lãnh đạo Nhà nước,
không bao biện, làm thay công việc của Nhà nước nhưng Đảng phải nắm chắc công việc của Nhà nước để không bị động, lúng túng trong lãnh đạo Nhà