Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào foreign investment ỡnlows là dòng vốnđầu tư nước ngoài đưa vào một quốc gia.. Dòng vốn đầu tư nước ngoài ra foreign investment outlows là
Trang 1Lời mở đầu
Đầu tư là một bộ phận không thể thiếu trong bất cứ nền kinh tế nào và làchìa khóa then chốt cho tăng trưởng và phát triển Trong bối cảnh nền kinh tế thếgiới hội nhập và toàn cầu hóa thì đầu tư quốc tế trở thành mối quan tâm của tất cảcác quốc gia cũng như các tổ chức, cá nhân Việc đầu tư ra nước ngoài cũng nhưtiếp nhận đầu tư đã trở thành hoạt động vô cùng sôi nổi trong nền kinh tế toàn cầuthế kỉ XX
Nắm bắt được xu thế chung đó, Việt Nam ngay từ những năm đầuĐổi mới, mở cửa đã tích cực đón nhận nguồn vốn đầu tư nước ngoài để xây dựngkinh tế – xã hội Chỉ trong hơn 20 năm, đầu tư nước ngoài đã đóng góp rất lớn vàosự phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta
Đứng trước thực trạng đó, việc nghiên cứu tìm hiểu hoạt động đầu tưquốc tế nói chung và đầu tư nước ngoài của Việt Nam nói riêng là hết sức cầnthiết đặc biệt là đối với sinh viên kinh tế Do đó, nhóm chúng em lựa chọn đề tài:
“ Đầu tư quốc tề – Bản chất, hình thức, mối quan hệ” để nghiên cứu sâu hơn về
hoạt động đầu tư quốc tế, tìm hiểu thực trạng Việt Nam để từ đó đưa ra các giảipháp nhằm thu hút và sử dụng, quản lý hiệu quả nguồn vốn quan trọng này
Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Từ Quang Phươngđã hướng dẫn chúng em trong quá trình thực hiện đề tài
Trang 2Chương I: Lý luận chung về Đầu tư quốc tế
I Khái niệm, bản chất vai trò của đầu tư quốc tế.
1 Đầu tư và mối quan hệ quốc tế.
1.1 Khái niệm đầu tư:
Đầu tư là một trong những hoạt động quan trọng nhất của nền kinh tế Nó là mộtthành tố không thể thiếu được trong nền sản xuất Nó cũng là mối quan tâm của bất kỳdoanh nghiệp nào muốn gia tăng lợi nhuận bất kỳ cá nhân, gia đình nào muốn gia tăngthu nhập, đời sống vật chất và tinh thần Vậy đầu tư là gì?
Theo nghĩa rộng, đầu tư có thể hiểu là sự hy sinh nguồn lực hiện tại để đạtđược một hay tập hợp mục đích (mục tiêu) của nhà đầu tư trong tương lai Theokhái niệm này, đầu tư là khoản chi trong hiện tại, bao trùm nhiều lĩnh vực như đầu
tư tài chính, đầu tư thương mại, đầu tư tài sản vật chất và phi vật chất…nhiều cấpđộ như cấp độ nền kinh tế, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các cá nhân Dođó, mục tiêu của đầu tư cũng được hiểu là đa lĩnh vực như mục tiêu chính trị, kinhtế, VH-XH và cũng có thể là một mục tiêu nhân đạo đơn thuần… của chủ đầu tư
Theo nghĩa hẹp, đầu tư là việc chi dùng vốn và các nguồn lực khác tronghiện tại nhằm thu về một kết quả lớn hơn nguồn lực đã chi ra để đạt kết quả đó,duy trì và tạo thêm những tài sản mới, năng lực mới cho nền kinh tế và cho chủđầu tư trong tương lai Định nghĩa này đã chỉ rõ phạm vi đầu tư là các tài sản vàgiúp phân biệt hoạt động đầu tư với hoạt động mua sắm tiêu dùng, và những hoạtđộng loại này không nhằm đem lại kết quả trực tiếp lớn hơn sau chu kỳ đầu tư.Phạm trù đầu tư theo nghĩa hẹp cũng giúp phân biệt hoạt động đầu tư với việc cáctổ chức, doanh nghiệp phải chi một khoản tiền khá lớn cho các hoạt động mangtính thường xuyên nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục.Như vậy, đầu tư là hoạt động rất cần thiết để tái sản xuất tài sản của nền kinh tế vàcủa chủ đầu tư Với sự phân tích trên, đầu tư theo nghĩa hẹp cũng được hiểu là đầu
tư phát triển
1.2 Khái niệm đầu tư quốc tế:
Trang 3Đầu tư quốc tế là hình thức di chuyển tài vốn từ nước này sang nước khácđể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hữu hình hoặc
vô hình trên phạm vi toàn cầu
Đầu tư quốc tế là hoạt động xuất nhập khẩu tư bản, trong đó doạnh nghiệpchuyển tài sản ra nước ngoài để thực hiện một dự án đầu tư nào đó với mục đíchtìm kiếm lợi nhuận Tư bản được di chuyển gọi là vốn đầu tư quốc tế Nước tiếpnhận đầu tư được gọi là nước chủ nhà (host country) Nước mang vốn đi đầu tưđược gọi là nước đầu tư hay nước xuất xứ (home country)
Thực chất, đầu tư quốc tế là sự vận động của tiền tệ và tài sản giữa các quốcgia nhằm điều chỉnh tỷ lệ giữa các quốc gia phát triển, góp phần thúc đẩy sự pháttriển của nền kinh tế toàn cầu nói chung
1.3 Các dạng vốn đầu tư quốc tế:
Dòng vốn đầu tư nước ngoài (foreign investment flow) là lượng vốn đầu tư
trực tiếp thực hiện trong một thời kỳ xác định (thường là một năm).
Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào (foreign investment ỡnlows) là dòng vốnđầu tư nước ngoài đưa vào một quốc gia
Dòng vốn đầu tư nước ngoài ra (foreign investment outlows) là dòng vốnđầu tư nước ngoài được đưa ra khỏi một quốc gia
Trữ lượng vốn đầu tử nước ngoài (foreign investment stock) là tổng giá trịtích lũy của tài sản thuộc sở hữu nước ngòai ở một quốc gia tại một thời điểmnhất định
Vốn di chuyển giữa các quốc gia có thể là tiền mặt, các dạng tài sản(nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, mặt bằng sản xuất, nhà xưởng ) giá trị bảnquyền sở hữu trí tuệ, bí quyết, bản quyền thương hiệu
2 Bản chất và vai trò của đầu tư quốc tế:
2.1 Bản chất của đầu tư quốc tế:
2.1.1 Lịch sử phát triển của đầu tư quốc tế:
a Lịch sử phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thế kỷ thứ XVI, các nhà tư bản từ các nướcc đế quốc phong kiến Châu
Trang 4Âu bắt đầu thiết lập hệ thống ngân hàng, giao thông, thương mại và chi nhánhcông ty trên các thuộc địa của nước mình để phục vụ cho các hoạt động muabán và khai thác tài nguyên tại chỗ, khởi đầu nhưng hoạt động đầu tư trực tiếpnước ngoài đầu tiên Trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, sự phát triển củavận tải đườnng thuỷ và đường sắt khiến cho các chi phí vận chuyển giữa cácquốc gia giảm đáng kể, thúc đẩy sự phát triển của FDI Từ năm 1860 đếnchiến tranh thế giới thứ nhất, các nước tư bản phương tây mà dẫn đầu là Anh,Pháp, Đức và Nga đua nhau đầu tư vốn ra nước ngoài Anh là nước đầu tư ranước ngoài lớn nhất với số vốn đầu tư ra nước ngoài chiếm khoảng 45% tổnglượng vốn FDI toàn cầu Mỹ là nước tiếp nhận FDI lớn nhất Cho tới năm
1914 phần lớn dòng vốn FDI cũng như trữ lượng vốn FDI tập trung tại cácnước đang phát triển ở Mỹ La-tinh, Trung Quốc và các khu vực với mức độcông nghiệp hóa thấp ở châu Âu Vào năm 1913, 55% tổng trữ lượng vốn FDIlà đầu tư vào lĩnh vực khai thác tài nguyên vật liệu và nông sản thô, 30% đượcđầu tư vào giao thông vận tải, thương mại và phân phối, chỉ 10% được đầu tưcho sản xuất, nhưng các cở sở sản xuấtnước ngoài còn tương đối độc lập, mứcđộ lien kết và hội nhập chưa cao Tuy FDI được phân bố rộng hơn về mặt địalý so với FPI, nhưng việc mở rộng hoạt động sản xuất ra nước ngoài thông quaFDI lại phân bố không đều việc tìm kiếm các nguồn tài nguyên thiên nhiênđược diễn ra trên quy mô toàn cầu, trong đó FDI cho sản xuất chỉ tập trungchủ yếu ở châu Âu và Bắc Mỹ FDI tìm kiếm tài nguyên được sự hỗ trợ mạnh
mẽ của FDI vào giao thông vận tải và thương mại Lợi ích thu được từ FDIchủ yếu tập trung cho các nước đi đầu tư Thời gian giữa hai cuộc chiến tranhthế giới, sự phát triển của kinh tế quốc tế đã bị suy giảm mạnh do ảnh hưởngcủa chiến tranh và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 Tuy nhiên,FDI là hoạt động quốc tến ít chịu tác động nhất: trong giai đoạn 1914-1938,trữ lượng vốn FDI tăng gần gấp đôi, đạt hơn 26 tỉ USD Thời kì này cũng đánhdấu việc Mỹ nổi lên thành một trong những nước dẫn đầu trong đầu tư ra nướcngoài, dù đến năm 1938, Anh vẫn là nước dẫn đầu Thời kì 1945-1960 là giai
Trang 5đoạn Mỹ vươn lên dẫn đầu trong hoạt động đầu tư quốc tế mà cụ thể là đầu tưtrực tiếp nước ngoài Với kế hoạch Marshall giúp tái thiết lại châu Âu cùngvới việc triển khai quân đội Mĩ trên toàn châu Âu thời hậu chiến, trên bán đảoTriều Tiên và Nhật Bản trong chiến tranh Triều Tiên…Các doanh nghiệp Mýđã đưa một lượng lớn vốn đầu tư, việc làm, kĩ thuật công nghiệp của mình đếnđầu tư vào những khu vực đó Thời kì từ 1960-1980 là giai đoạn phục hồi củachâu Âu và Nhật Bản sau khi đất nước được tái thiết Đầu tư trực tiếp nướcngoài của Tây Âu và Nhật Bản bắt đầu dần dần phát triển trở lại và tăngtrưởng rất mạnh Từ đó Mỹ, Nhật và Tây Âu luôn là ba khu vực dẫn đầu vềđầu tư trực tiếp nước ngoài, cả với tư cách là nước đầu tư lẫn với tư cách lànước chủ nhà Đến cuối thập niên 1980 dòng vốn FDI đã tăng trưởng nhanhhơn dòng vốn tài chính quốc tế và đã đạt tới mức cao nhất là hơn 1200 tỉ USDvào năm 2000 Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, trữ lượng vốn FDI chủ yếutập trung vào lĩnh vực sản xuất…tuy nhiên từ giữa thập niên 1970, tỉ trọng vốnFDI cho sản xuất bắt đầu giảm và tỉ trọng đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ ngàycàng tăng, tỉ trọng dòng vốn FDI chảy vào các nước đang phát triển cũng ngàycàng giảm từ sau chiến tranh, dù rằng con số tuyệt đối vẫn liên tục tăng vàFDI vẫn là một trongn những nguồn vốn chính của nhiều nước trong 3 năm.Trong 3 năm 2001, 2002, 2003 FDI giảm sút mạnh tương ứng là 41%, 13%,12% do kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, các nước trung tâm của hoạtđộng FDI rơi vào suy thoái, lại cộng them những bất ổn chính trị nhưu vụkhủng bố ngày 11/9/2001 tại Mỹ cùng cuộc chiến Irắc do Mỹ và đồng minhtiến hành Từ năm 2004 dòng vốn FDI tăng trưởng trở lại, cao hơn năm 2003là 2%, chủ yếu là nhờ sự tăng trưởng của dòng vốn FDI vào các nước đangphát triển (tăng 40%) Dòng vốn đầu tư vào các nước vẫn giảm sút 14% so vớinăm 2003 Kết quả là dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển chiếm 36%tổng dòng vốn FDI toàn cầu, đạt mức cao nhất từ năm 1997
Trang 6b Lịch sử phát triển của đầu tư gián tiếp nước ngoài:
Khoảng giữa thế kỷ XIX, do có nhu cầu vốn lớn để phục vụ cho cuộccách mạng công nghiệp, Anh đã phát hành các loại trái phiếu chính phủ đểhuy động vốn từ các nước tưi bản phát triển Tây Âu khác, đánh dấu sự xuấthiện của hình thức đầu tư nước ngoài gián tiếp trong giai đoạn 1870-1913, sởhữu chứng khoán nước ngoài (bao gồm trái phiếu và cổ phiếu chính phủ và tưnhân) dật mức rất cao Tỷ lệ chứng khoán nước ngoài được giao dịch tại LuânĐôn chiếm 59% vào năm 1913; tại Pháp, tỷ lệ đó là 53%
2.1.2 Bản chất của Đầu tư quốc tế
Quan hệ quốc tế trong đầu tư là một lĩnh vực của quan hệ kinh tế đốingoại đang ngày càng mở rộng trên phạm vi toàn thế giới, ngày càng xuất hiệnnhiều dòng chảy đan xen giữa các quốc gia về yếu tố sản xuất bao gồm vốn,công nghệ và lao động không chỉ giữa các nước phát triển với các nước đangphát triển mà cả giữa các nước phát triển với các nước phát triển và giữa cácnước đang phát triển với nhau Đó là hàng trăm tỷ đô la được đầu tư ra nướcngoài mỗi năm và xu hướng ngày càng tăng lên Các làn sóng công nghệ đượcchuyển giao giữa các quốc gia và các khu vực cũng ngày càng mạnh mẽ Vàothế kỷ XIX vốn lao động Châu Âu chảy sang Mỹ và các quốc gia có nền kinhtế phát triển Những năm 60 của thế kỷ XX, Mỹ đã đưa một khối lượng lớnvốn đầu tư sang Canada và Tây Âu Những năm 80 và 90 của thế kỷ XX vốnđàu tư lại chảy từ Nhật Bản sang Mỹ Đó là hiện tượng sống động và gia tăngcủa nền kinh tế thế giới, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trêntrong đó có thể tổng kết một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất, do sự mất cân đối về các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia nêncó sự chênh lệch về giá cả các yếu tố, đầu tư quốc tế thực hiện nhằm đạt được lợiích từ sự chênh lệch đó (khai thác lợi thế so sánh mỗi quốc gia)
Thứ hai, do sự gặp gỡ về lợi ích của các bên tham gia, bên có vốn dầu tư thìcần tìm nơi đầu tư có lợi, cần tránh hàng rào bảo hộ mậu dịch cũng như sự kiểmsoát hải quan trong buôn bán quốc tế, cần khuyếch trương thị trường, uy tín, tăng
Trang 7cường vị thế và mở rộng qui mô kinh doanh Đối với bên nhận đầu tư do thiếu vốntích lũy, do nhu cầu tăng trưởng nhanh, nhu cầu đổi mới kỹ thuật, công nghệ vàtiếp nhận kinh nghiệm quản lý tiên tiến để khai thác có hiệu quả các nguồn tàinguyên và tạo việc làm cho lao động trong nước, đầu tư quốc tế được thực hiên đểđáp ứng nhu cầu đó Đặc biệt, đối với các nước đang phát triển, thực hiện tiếpnhận đầu tư quốc tế cũng nhằm mục đích dịch chuyển cơ cấu kinh tế, xây dựngcác khu công nghiệp và khu công nghệ cao, góp phần thực hiện công cuộc côngnghiệp hóa đất nước.
Thứ ba, trong nhiều trường hợp, đầu tư quốc tế nhằm giải quết các nhiệmvụ đặc biệt như xây dựng các công trình có quy mô vượt ra ngoài phạm vi biêngiới quốc gia, đòi hỏi phải có sự phối hợp của quốc gia
Đầu tư quốc tế đưa đến những tác động tích cực khác nhau đối với bên điđầu tư và bên nhận đầu tư, đồng thời có thể đưa lại cả tác động tiêu cực Điều đóphụ thuộc nhiều vào những yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau, trước hết làphụ thuộc vào chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài và trình độ tổ chức, quảnlý của cán bộ
Đầu tư nước ngoài ở các nhóm nước có sự khác nhau về qui mô, về cơ cấu,về chính sách cũng như đưa đến những tác động khác nhau Việc nghiên cứu đặcđối với một điểm cơ bản của đầu tư quốc tế hiện nay có ý nghĩa lý luận và thựctiễn quan trọng quốc gia
2.2 Vai trò của đầu tư quốc tế:
2.2.1 Đối với nước đi đầu tư:
a Tác động tích cực:
Trong các chương trình viện trợ hoàn lại hoặc không hoàn lại cho các nướcđang phát triển thì mục tiêu chủ yếu là đạt được các mục đích chính trị, gây sức épbuộc các nước nhận đầu tư phải chấp nhận những điều kiện có lợi cho các nướcđầu tư hoặc là vì mục tiêu nhân đạo
Trang 8Khai thác các nguồn lực nước ngoài khi các ngồn lực trong nước khan hiếmnhư tài nguyên, lao động rẻ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Các quốc giađều có giới hạn về nguồn lực thậm chí không có nguồn lực Khi các nguồn lựctrong nước trở nên khan hiếm các chủ đầu tư có xu hướng vươn ra thị trường nướcngoài nhằm khai thác nguồn lực sẵn có của nước sở tại Tìm kiếm lợi nhuận thôngqua việc giảm chi phí do sử dụng được nguồn lao động giá rẻ mặt khác ở nhữngnước có nền kinh tế chậm phát triển do trình độ công nghệ còn thấp kém nên chưakhai thác được hết những nguồn nguyên vật liệu, tài nguyên phong phú của mình.Nhà đầu tư nước ngoài sẽ tận dụng lợi thế này để khai thác các nguồn tài nguyênđó của nước sở tại thu lợi nhuận cho mình.
Giúp kéo dài chu kỳ sống của công nghệ và sản phẩm Các nước trên thếgiới có trình độ phát triển khác nhau và chia thành ba nhóm nước: các nước pháttriển, các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển Các nước phát triểncó trình độ khoa học kỹ thuật vượt rất xa so với hai nhóm nước còn lại, vì vậy,một công nghệ lạc hâu ở các nước phát triển có thể vẫn là công nghệ mới hoặccông nghệ đang được sử dụng tối ưu ở các nước đang phát triển và chậm pháttriển Quá trình chuyển giao công nghệ lạc hậu ở các nước phát triển sang cácnước đang phát triển và chậm phát triển thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp nướcngoài sẽ kéo dài chu kỳ sống cho sản phẩm, công nghệ và tạo thêm lợi nhuận chonhà đầu tư
Giúp bành trướng sức mạnh kinh tế , tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịchcủa nước nhận đầu tư
Các nước giàu đầu tư sang nhau, dựa vào nhau để phát huy thế mạnh củamình Liên kết với nhau để cùng thu lợi nhuận về mình, gíup phân tán rủi ro dotình hình kinh tế - chính trị bất ổn Khi lựa chọn những phương án đầu tư khácnhau các nhà đầu tư không chỉ nhìn vào lợi tức dự kiến có thể thu về mà còn nhìnvào khả năng giảm rủi ro và bất ổn định về thu nhập bằng cách đầu tư vào các dựán ở nhiều nước khác nhau
Trang 9b Tác động tiêu cực:
Chủ đầu tư có thể gặp rủi ro lớn nếu không hiểu biết về môi trường đầu tư.Dẫn tới làm giảm việc làm ở nước chủ đầu tư trong trường hợp đầu tư ranước ngoài là nhằm thay thế cho sản xuất trong nước, làm sản xuất trong nướcgiảm sút và thất nghiệp tăng nhanh
Có thể xảy ra hiện tượng chảy máu chất xám trong quá trình chuyển giaocông nghệ
Nếu không có định hướng và chính sách thích hợp thì các nhà kinh doanhkhông muốn kinh doanh trong nước mà chỉ muốn kinh doanh ở nước ngoài, gây rasự tụt hậu của nước chủ vốn đầu tư
2.2.2Đối với nước tiếp nhận vốn đầu tư
a Tác động tích cực
Giúp giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế và xã hội trong nước.Giúp cải thiện cán cân thanh toán tác động tích cực lên cán cân thanh toánkhi nhà đầu tư nước ngoài chuyển vốn vào, khi FDI tạo ra sản phẩm thay thế hàngnhập khẩu hay sản xuất hàng xuất khẩu
Giúp tạo công ăn việc làm mới Các nhà đầu tư nước ngoài phải sử dụngnguồn nhân lực chủ yếu của nước chủ nhà để đáp ứng được nhu cầu sản xuất,nguồn nhân lực cần được đào tạo một cách cơ bản, một số được đào tạo trongnước một số khác được đào tạo nước ngoài chính vì vậy mà tạo ra công ăn việclàm trong các hãng có vốn đầu tư nước ngoài, tạo ra cơ hội việc làm trong các tổchức khác khi các nhà đầu tư nước ngoài mua hàng hóa dịch vụ từ các nhà sảnxuất trong nước hoặc thuê họ thông qua các hợp đồng gia công chế biến Bên cạnhviệc nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ kỹ thuật, đội ngũ quản lý nhànước của nước chủ nhà cũng được tiếp cận cách làm việc và quản lý tiên tiến
Các nhà đầu tư nước ngoài không chỉ chú trọng đến việc đào tạo nguồnnhân lực của doanh nghiệp mình mà còn có những chương trình đào tạo khác đểgóp phần phát triển giáo dục của nước chủ nhà như mở rộng lớp phổ cập kiến thức
Trang 10cho người dân địa phương, các hoạt động trợ cấp phương tiên dụng cụ học tập,khuyến khích học tập
Giúp tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế
Tạo môi trường cạnh tranh để thúc đẩy sự phát triển của kinh tế và thươngmại Sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài đó khiến hoạt động sản xuất trongnước trở nên sôi nổi hơn, thị trường đó có thêm đối thủ cạnh tranh, các công tytrong nước phải có các chiến lược kinh doanh mới, như thay đổi mẫu mã, giảmgiá thành sản phẩm , có các chương trình khuyến mại hấp dẫn, quảng cáo sảnphẩm rộng rãi để thu hút khác hàng và chiếm lĩnh thị trường
Giúp học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài
Có thể làm tăng các vấn đề về tệ nạn xã hội, dịch bệnh
Có thể bị ảnh hưởng hoặc lệ thuộc vào những yêu cầu từ phía chủ đầu tư
3 Cơ sở lý luận về đầu tư quốc tế:
3 1 Lý thuyết lợi ích cận biên:
Lý thuyết này được xây dựng dựa trên những giả định sau:
- Thế giới có 2 quốc gia :quốc gia 1 và quốc gia 2
- Tổng vốn đầy tư của toàn thế giới được biểu diễn trên hình vẽ làđoạn OO’ và vốn được di chuyển tự do giữa các quốc gia
Trang 11Với các giả định trên, hiệu quả của đầu tư quốc tế có thể được biểu diễn quahình vẽ sau:
Oi ,O’i’ –tương ứng là các trục biểu diễn giá trị sản phẩm cậnbiên tăng thêm của vốn đầu tư ở quốc gia 1 và quốc gia 2
OA -vốn đầu tư của quốc gia 1
O’A - vốn đầu tư của quốc gia 2
VMPK1 và VMPK2 là 2 đường biểu diễn giá trị sản phậmcận biên tăng thêm của quốc gia 1 và quốc gia 2 tương ứng với các mức vốn đầu
tư khác nhau Trong điều kiện cạnh tranh, giá trị đó biểu hiện thành lợi nhuậnhoặc cổ tức của vốn đầu tư
* Xét trường hợp toàn bộ vốn ở mỗi quốc gia được sử dụng để đầu tưtrong nước:
- Đối với quốc gia 1: đầu tư toàn bộ vốn trong nước OA với mức lợinhuận là OC
Khi đó, giá trị tổng sản phẩm (được đo bằng diện tích phía dưới củađường giá trị sản phẩm cận biên tăng thêm) là diện tích của hình OFGA Trongđó, phần diện tích của OCGA là giá trị sản phẩm tạo ra từ vốn đầu tư và phần cònlại là diện tích tam giác CFG là giá trị sản phẩm tạo ra từ các yếu tố phối hợp nhưđất đai, lao động
Trang 12- Đối với quốc gia 2: đầu tư toàn bộ vốn trong nước O’A với mức lợinhuận O’H Tổng giá trị sản phẩm tạo ra là diện tích của hình O’JMA, trong đódiện tích O’HMA là giá trị sản phẩm tạo ra từ vốn và phần còn lại là diện tíchHJM- giá trị sản phẩm của các yếu tố phối hợp.
* Xét trường hợp vốn đầu tư di chuyển từ quốc gia này sang quốc giakia (có đầu tư quốc tế), khi đó hiệu quả vủa vốn đầu tư sẽ được xác định như sau:
Do lợi nhuận của vốn đầu tư ở quốc gia 2 (OH’) cao hơn so với quốcgia 1 (O’H) cao hơn ở quốc gia 1 (OC) nên phần AB của vốn đầu tư sẽ chuyêể từquốc gia 1 sang đầu tư ở quốc gia 2 và cân bằng ở mực lợi nhuận BE(BE=ON=O’T) BE chính là mức tỷ suất lợi nhuận bình quân ở hai quốc gia Khiđó, tổng giá trị sản phẩm tạo ra bởi quốc gia 1 là diện tích của OFEB (thu nhập từđầu tư trong nước) cộng thêm phần diện tích ABER (tổng lợi nhuận thu được nhờđầu tư ra nước ngoài) Như vậy, tổng thu nhập của quốc gia 1 là diện tíchOFERA, trong đó diện tích ERG là phần thu nhập tăng thêm so với trước khi cóđầu tư ra nước ngoài Nhờ dòng vốn đầu tư quóc ế di chuyển tự do, tổng giả trịsản phẩm tạo ra (thu nhập) từ vốn ở quốc gia 1 tăng lên đến diện tích ONRA, còntổng thu nhập từ các yếu tốc phối hợp giảm xuống còn diện tích tam giác NFE
Dòng vốn đầu tư nước ngoài AB từ quốc gia 1 đổ vào quốc gia 2 làmcho tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư ở quóc gia này giảm từ O’H xuống còn O’T.Khi đó, tổng giá trị sản phẩm (hay tổng thu nhập) của quốc gia 2 tăng từ diện tíchO’JMA lên diện tích O’JEB Tổng giá trị sản phẩm tăng thêm là diện tích ABEM,trong đó phần diện tích ABER là phần thu nhập thuộc về nhà đầu tư nước ngoài( các nhà đầu tư đến từ quốc gia 1), còn diện tích ERM là thu nhập lợi tích thực sựcủa quốc gia 2 nhờ có đầu tư nước ngoài Trong khi đó, tổng giá trị sản phẩm thunhập tạo ra từ vốn đầu tư trong nước giảm từ diện tích O’HMA xuống còn diệntích O’TRA, còn thu nhập từ các yếu tốc phối hợp tăng từ diện tích HJM lên diệntích TJE
Qua phân tích trên, chúng ra có thể rút ra kết luận rằng từ quan điểmcoi thế giới là một tổng thể gồm 2 quốc gia, đầu tư quốc tế làm cho tổng giá trị
Trang 13sản phẩm của toàn thế giới tăng lên Như vậy, đầu tư quốc tế đã góp phần tăngkhả năng phân phối và hiệu quả sử dụng các nguồn lực của từng quốc gia cũngnhư của toàn nền kinh tế thế giới.
3.2 Lý thuyết về chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm:
Lý thuyết này được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết về chu kỳ sốngcủa sản phẩm Theo quan điểm của lý thuyết về chu kỳ sống quốc tế của sảnphẩm, người ta có thể giải thích tại sao các nhà sản xuất lại chuyển hướng hoạtđông kinh doanh của họ từ chỗ sản xuất và xuất khẩu sản phẩm sang thực hiệnđầu tư ra nước ngoài Lý thuyết giả định rằng, đầu tiên các nhà sản xuất đạt đượclợi thế độc quyền xuất khẩu nhờ việc cho ra đời những sản phẩm mới, hoặc cảitiến những sản phẩm đang được sản xuất dành riêng cho thị trường nước ngoài.Trong giai đoạn đầu của vòng đời sản phẩm mới, giai đoạn thử nghiệm sản xuấtđược tiến hành tập trung tại chính quốc ngay cả khi chi phí sản xuất ở nước ngoàicó thể thấp hơn Ở giai đoạn này, để thâm nhập thị trường nước ngoài công ty cóthể thực hiện xuất khẩu sản phẩm Tuy nhiên, khi sản phẩm đã trở nên chuẩn hoátrong giai đoạn phát triển, các nhà sản xuất sẽ khuyến khích việc thực hiện đầu tư
ra nước ngoài nhằm tận dụng lợi thế chi phí sản xuất thấp ( với giá các yếu tố đầuvào rẻ, chính sách ưu đãi của chính phủ nước sở tại) và quan trọng hơn là nhằmngăn chặn khả năng để mất thị trường vào tay các nhà sản xuất địa phương
3.3 Lý thuyết về quyền lực thị trường
Lý thuyết về quyền lực thị trường cho rằng, đầu tư quốc tế được thựchiện do những hành vi đặc biệt của các công ty độc quyền nhóm trên phạm viquốc tế, trong đó bao gồm: phản ứng của các công ty độc quyền nhóm, hiệu quảkinh tế nhờ quy mô và sự liên kết đầu tư quốc tế theo chiều dọc Tất cả các hành
vi đó đều nhằm hạn chế cạnh tranh, mở rộng thị trường và ngăn cản không chođối thủ khác thâm nhập vào ngành và thị trường của các công ty độc quyền nhóm
Trang 14Đầu tư quốc tế theo chiều dọc (hay còn gọi là liên kết theo chiều dọcgiữa các nhà sản xuất) tồn tại khi các công ty đầu tư ra nước ngoài để sản xuất cácsản phẩm trung gian Sau đó những sản phẩm này được xuất khẩu ngược trở lại vàđược sử dụng làm đầu vào sản xuất của nước chủ nhà Đầu tư quốc tế theo chiềudọc là hình thức được thực hiện phổ biến trong các ngành công nghiệp chế tạo vànhững ngành sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên.
Theo lý thuyết này, các công ty thực hiện đầu tư quốc tế với một số lý
do như sau:
Thứ nhất, do nguồn cung cấp nguyên liệu ngày càng trở nên khan hiếm,
trong khi các công ty của nước sở tại không đủ khả năng thăm dò và khai thácnguyên liệu mới Do vậy, các công ty đa quốc gia tận dụng lợi thế cạnh tranh trên
cơ sở khai thác nguyên liệu ở nước sở tại Điều đó góp phần lý giải tại sao đầu tưquốc tế theo chiều dọc thường được thực hiện ở các nước đang phát triển
Thứ hai, thông qua đầu tư quốc tế theo chiều dọc, các công ty độc
quyền nhóm có thể thiết lập nên các hàng rào ngăn cản không cho các công tykhác tiếp cận tới nguồn nguyên liệu họ đang khai thác
Thứ ba, đầu tư quốc tế theo chiều dọc còn có thể tạo ra lợi thế về chi phí
thông qua việc cải tiến kỹ thuật bằng cách phối hợp sản xuất và chuyển giao sảnphẩm giữa các công đoạn khác nhau của quá trình sản xuất Đây là lợi thế lớn hơnhẳn lợi thế có được từ việc phối hợp giữa các nhà sản xuất độc lập thông qua việcđịnh giá
3.4 Lý thuyết chiết trung
Lý thuyết này phát biểu rằng, các công ty sẽ thực hiện đầu tư ra nướcngoài khi hội đủ ba lợi thế Đó là lợi thế về địa điểm, lợi thế về sở hữu và lợi thếvề nội hoá
- Lợi thế về địa điểm là lợi thế có được do việc tiến hành hoạt động kinhdoanh tại một đia điểm nhất định với những đặc thù riêng ( do điều kiện tự nhiênhoặc nhân tạo) Lợi thế về địa điểm có thể gắn liền với sự giàu có của nguồn tài
Trang 15nguyên thiên nhiên, sự sẵn có của lực lượng lao động với giá rẻ, lao động lànhnghề
- Lợi thế về sở hữu là lợi thế có được khi một công ty có cơ hội thamgia sở hữu một số tài sản đặc biệt nhất định, chẳng hạn như nhãn hiệu sản phẩm,bản quyền công nghệ hoặc cơ hội quản lý
- Lợi thế nội hoá là lợi thế đạt được do việc nội hoá hoạt động sản xuấtthay vì chuyển nó đến một thị trường kém hiệu quả hơn
Lý thuyết chiết trung khẳng định rằng, khi xuất hiện đầy đủ các lợi thếkể trên, các công ty sẽ tham gia vào đầu tư quốc tế
II Các hình thức đầu tư quốc tế.
1 Đầu tư trực tiếp( FDI).
1.1.Khái niệm và đặc điểm
a.Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI xuất hiện là kết quả tất yếu của quá trìnhquốc tế hóa và phân công lao đọng quốc tế Trên thực tế có nhiều cách nhìn nhậnkhác nhau về FDI
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một khoản đầu tưvới những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chứ trong một nền kinh thế (nhà đầu tưtrực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tếkhác” Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việcquản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó
Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa : đầu tư trực tiếp nước ngoài là ngườisở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác Đólà một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để cóảnh hưởng quyết định đổi với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soáttrong thực thể kinh tế ấy
Theo luật đầu tư 2005 tại Việt Nam thì “FDI là việc nhà đầu tư nước ngoàiđưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt
Trang 16động đầu tư theo quy định của luật này”, trong đó nhà đầu tư nước ngoài đượchiểu là tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
Như vậy,đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tưở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quốc gia đó để cóđược quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốcgia đó với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữuhình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bát động sản, các loại hợp đồng vàgiấy phép có giá trị…), tài sản vô hình (quyền sở hữu tí tuệ, bí quyết và kinhnghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghinợ…) Như vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nướcngoài Hai đặc điểm cơ bản của FDI là: có sự dịch chuyển tư bản trong phạm viquốc tế và chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sửdụng vốn và quản lí đối tượng đầu tư
b.Bản chất.
Là sự di chuyển một khối lượng nguồn vốn kinh doanh giài hạn giữa cácquốc gia nhằm thu lợi nhuận cao.Đó chính là hình thức xuất khẩu tư bản để thu lợinhuận cao.Do đi kèm với đầu tư vốn là công nghệ và tri thức kinh doanh nên hìnhthức này thúc đẩy mạnh mẽ quá trình CNH-HĐH ở nước nhận đầu tư.Các nướccông nghiệp phát triển và các TNCs đóng vai trò quan trọng trong sự vận độngcủa dòng vốn FDI trên thế giới
c.Đặc điểm
Được thực hiện chủ yếu bằng nguồn vốn tư nhân, chủ đầu tư tự quyết địnhđầu tư, tự chịu trách nhiệm về sản xuất kinh doanh lãi, lỗ Là hình thức có tinhdkhả thi và tính hiệu quả cao, không có các ràng buộc về chính trị, không để lạigánh nặng nợ nần trực tiếp cho nền kinh tế
Tỷ lệ vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trong vốn pháp định cuả dự ánđạt mức tối thiểu tùy theo luật đầu tư của từng nước quy định
Các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý dự án mà họ bỏ vốn đầu
Trang 17tư Quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào tỉ lệ góp vốn của chủ đầu tưtrong vốn pháp định của dự án.
Kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh của dự án được phân chiacho các bên theo tỉ lệ góp vốn và vồn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sởtại và trả lợi tức cổ phần nếu có
FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới,mua lại toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổphiếu để thôn tính hoặc sát nhập các doanh nghiếp với nhau
1.2 Các hình thức FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể phân chia theo nhiều tiêu thức khácnhau
Nếu căn cứ vào tính chất đầu tư có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành hai loại :
Đầu tư tập trung trong khu công nghiệp – khu chế xuất và đầu tư phân tán.Mỗi loại đầu tư có ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu công nghiệpcủa từng quốc gia
Nếu căn cứ theo động cơ đầu tư, FDI có thể chia thành :
FDI vì động cơ tìm kiếm nguồn lực : FDI vào các nguồn lực tài nguyênthiên nhiên, tìm kiếm lao động giá rẻ Nó nhằm khai thác lợi thế so sánh của mộtnước và nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược khỏi lọt vào tay đốithủ trong tương lai
FDI vì động cơ tìm kiếm thị trường : FDI nhằm mở rộng chiếm lĩnh thịtrường, phục vụ khách hàng của họ ở nước ngoài thích ứng sản phẩm của họ vớinhu cầu và khẩu vị địa phương, đồng thời giảm bớt hàng rào thuế quan khi xuấtkhẩu Các công ty tiến hành theo dạng này thường là các công ty sản xuất các mặthàng tiêu dùng hoặc công nghiệp muốn đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai
FDI vì động cơ tìm kiếm hiệu quả : FDI ở dạng này thường được thể hiệnbằng các hoạt động kết nối (khu vực / toàn cầu) để có được các sản phẩm xuyên
Trang 18biên giới ( được tăng giá trị ở nhiều nước khác nhau ) hoặc chuyên môn hóa quytrình sản xuất.
FDI vì động cơ tìm kiếm tài sản chiến lược : Được thể hiện ở việc mua lạihoặc liên minh để thúc đẩy các mục tiêu kinh doanh dài hạn
Nếu căn cứ theo tính pháp lý và hiện tại luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam phân loại FDI theo cách này thì FDI có bốn hình thức sau :
Hợp đồng hợp tác kinh doanh : là văn bản ký kết giữa hai hay nhiều bên
( gọi tắt là các bên hợp doanh) quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinhdoanh cho mỗi bên (nước ngoài và nước sở tại) dể tiến hành hoạt động kinhdoanh ở nước sở tại mà không thành lập tư cách pháp nhân.Mỗi bên thực hiệnnghĩa vụ với nước sở tại theo quy định riêng
Xí nghiệp liên doanh : Là xí nghiệp thành lập ở nước chủ nhà trên cơ sởhợp đồng liên doanh ký giữa bên hoặc các bên nước chủ nhà với bên hoặc cácbên nước ngoài để đầu tư kinh doanh tại nước chủ nhà.Là dạng công ty TNHH,có tư cách pháp nhân theo luật của nước chủ nhà
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài : Là doanh nghiệp thuộc sở hữu củanhà đầu tư nước ngoài, do người nước ngoài thành lập ở nước chủ nhà góp 100%vốn.Nó là một thực thể kinh doanh có tư cách pháp nhân, hoạt động theo sự điềuhành quản lý của nhà đầu tư nước ngoài nhưng vẫn bị phụ thuộc điều kiện về môitrường kinh doanh ở nước sở tại
BOT ( Xây dựng – Vận hành – Chuyển giao ) là văn bản ký kết giữa cácnhà đầu tư nước ngoài với cơ quan có thẩm quyền của nước chủ nhà để đầu tưxây dựng, mở rộng, nâng cấp,khai thác công trình kết cấu hạ tầng trong một thờigian nhất định (Thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý ) sau đó chuyển giao khôngbồi hoàn toàn bộ công trình cho nước chủ nhà.Ngoài ra còn có BTO ( Xây dựng –Chuyển giao – Kinh doanh ), BT ( Xây dựng – chuyển giao)
Trang 191.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới thu hút vốn FDI
1.3.1 Môi trường nước chủ nhà
b Chính sách,pháp luật.
Các nhà đầu tư nước ngoài rất cần một môi trường pháp lý hợp lý và ổnđịnh của nước chủ nhà Môi trường này gồm những chính sách quy định đốivới đầu tư nước ngoài nếu có các chính sách , quy định hợp lý và tính hiệu lựccao trong thực hiện.Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng không chỉ để đảmbảo quyền lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn cho chính các nhà đầu tưtrong nước khi tính toán đến làm ăn lâu dài
Chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi ro tiền tệ ở nước tiếp nhận
đầu tư: Yếu tố đầu tiên ở đây góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của
các nhà đầu tư Tỷ giá đồng bản bị nâng cao hay bị hạ thấp đều bị ảnh hưởngxấu tới hoạt động xuất nhập khẩu
Chính sách thương nghiệp : Yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt đối với vấnđề đầu tư trong lĩnh vực làm hàng xuất khẩu Mức thuế quan cũng ảnh hưởngtới giá hành xuất khẩu Hạn mức (quota) xuất nhập khẩu thấp và các hàngrào thương mại khác trong lĩnh vực xuất nhập khẩu cũng như có thể khôngkích thích hấp dẫn tới các nhà đầu tư nước ngoài Chính yếu tố này làm phứctạp thêm cho thủ tục xuất khẩu và bị xếp vào hàng rào xuất khẩu khác
- Chính sách thuế và ưu đãi: Chính sách ưu đãi thường được áp dụng để
Trang 20thu hút các nhà đầu tư nước ngoài
- Chính sách kinh tế vĩ mô : Chính sách này ổn định sẽ góp phần tạođiều kiện thuận lợi cho hoạt động của các nhà đầu tư bản xứ lẫn nước ngoài.Nếu không có những biện pháp tích cực chống lạm pháp thì có thể các nhàđầu tư thích bỏ vốn vào nước này Nếu giá cả tăng nhanh ngoài dự kiến thìkhó có thể tiên định được của kết quả hoạt động kinh doanh
- Luật đầu tư : Yếu tố này có thể làm hạn chế hay cản trở hoạt độngcủa các công ty nước ngoài trên thị trường bản địa (Luật này thường bảo vệlợi ích của các nhà bản xứ) Nhiều nước mở cửa thu hút vốn đầu tư nướcngoài theo các điều kiện giống như cho các nhà đầu tư bản xứ Ở Việt Nam,luật khuyến kích đầu tư nước ngoài triển khai còn chậm và không đáp ứngđược sự mong mỏi bởi mức độ ưu đãi và khuyến khích còn hạn chế, chưanhất quán
c,Vị trí địa lý điều kiện tự nhiên.
Vị trí địa lý điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ giảm được các chi phí vậnchuyển, đa dạng hóa các lĩnh vực đầu tư, cung cấp được nguyên liệu đầu vàophong phú với giá rẻ và tiềm năng tiêu thụ lớn Những yếu tố này khôngnhững làm giảm giá thành sản phẩm mà con thu hút các nhà đầu tư tìm kiếmnguyên liệu tự nhiên thị trường tiêu thụ
d Trình độ phát triển kinh tế:
Trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia ảnh hưởng rất nhiều đếnviệc thu hút và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nước ngoài, trình độ phát triểnkinh tế thể hiện qua những nội dung sau:
Mức độ phát triển về quản lý kinh tế vĩ mô, chất lượng cung cấp dịchvụ cho hoạt đông sản xuất kinh doanh, mức độ cạnh tranh của thị trường trongnước.Nếu nó thấp dẫn đến lạm phát cao, nợ nước ngoài nhiều, tham nũng thủtục hành chính rườm rà, nạn tham nhũng tiềm ẩn của khủng hoảng nó gây lêntâm lý lo ngại cho nhà đầu tư, và không hấp dẫn với nhà đầu tư vì rủi ro cao
Chất lượng dịch vụ cơ sở hạ tầng ảnh hưởng trực tiếp đến các vận hành
Trang 21hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời song nhà đầu tư nước ngoài vìvậy nếu không cao giảm sự thu hút đầu tư FDI
Chất lượng dịch vụ khác như cung ứng lao động, tài chính cũng lànhưungx yếu tố cần thiết thu hút FDI
Tính cạnh tranh của nước chủ nhà cao sẽ giảm được rào cản đối vớiFDI, các nhà đầu tư có môi trường cạnh tranh phát huy tối đa năng lực củamình
e Đăc điểm văn hóa xã hội
Nếu có trình độ giáo dục cao và nhiều sự tương đồng về ngôn ngữ, tôngiáo phong tục tập quán với các nhà đầu tư nước ngoài được coi là hấp dẫnvới nhà đầu tư nước ngoài.Nó giúp nhà đầu tư giảm chi phí đào tạo, đễ hòanhập vào cộng đồng
1.3.2 Môi trường nước chủ đầu tư
a Thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô
Những chính sách như tài chính tiền tệ, xuất nhập khẩu và quản lý ngoạihối của nước đầu tư ảnh hưởng rất lớn đến nguồn đầu tư của nước này sang cácnước khác
Sự thay đổi chính sách tài chính – tiền tệ tác động mạnh đến lãi suất làmtăng hoặc giảm khả năng tạo lợi nhuận của các nhà đầu tư.VD: Chính sách tiền tệmở rộng làm tăng lạm phát đồng nội tệ mất giákhieens hoạt động đầu tư nướcngoài giảm bởi để mua cùng một lượng dịch vụ đầu tư ở nước ngoài thì các nhàđầu tư cần nhiều bản tệ hơn
Chính sách XNK của nước đầu tư đến dòng vốn đầu tư ra nướcngoài.VD : Các ưu đãi khuyến khích XK trong hiệp định thương mại tạo chohang hóa dịch vụ dễ thâm nhập vào thị trường nước khác làm đầu tư ra nướcngoài hạn chế rào cản này giảm
Chính sách ngoại hối được nới lỏngthucs đẩy mạnh mẽ đầu tư ra nướcngoài
Trang 22b Các hoạt đọng thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài
Các hiệp định đầu tư song phương, đa biên, hiệp định tránh đánh thuế hai
lần,hỗ trợ tài chính, bảo hiểm đầu tư và các chính sách đối ngoại của nước đầu tưtác động đén luồng vốn đầu tư ra nước ngoài của một quốc gia
c Tiềm lực kinh tế, khoa học công nghệ và các chính sách xã hội
Một nước chỉ có thể đầu tư ra nước ngoài khi có tiềm lực kinh tế đủmạnh nó là áp lực làm tăng hoặc giảm nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài
Trình độ KHCN luôn là lợi thế của nước đầu tư.Các công nghệ mới rađời muốn kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm tiếp tục sinh lưoij nhuận lànguyên nhân tác động đầu tư ra nước ngoài
Đầu tư ra nước ngoài và cơ hội việc làm trong nước có quan hệ ngượcchiều, vì vậy với chính sãhs trợ cấp xã hội tốt thì làm giảm làn song phản đốiđầu tư
1.3.3 Môi trường đầu tư quốc tế
Tình hình chính trị khu vực và quốc tế ổn định thì các nhà đầu tư tậptrung nguồn lực để đầu tư ra bên ngoài, tìm kiếm đối tác
Xu hướng đối thoại giữa các nước và toàn cầu hóa đang ngày càng pháttriển mối quan hệ hữu nghị giữa các nước trên thế giới ngày càng củng cố tạođiều kiện thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mở rộng phạm vihoạt động, tìm kiếm thị trường, tài nguyên là xu thế tất yếu của thời đại hiệnnay.Nó thúc đẩy thị trường vốn quốc tế nhanh chóng và hiện đại trong cácnghiệp vụ giao dịch, hình thức đầu tư đa dạng thúc đẩy mành đầu tư FDI
1.4 Tác động của FDI đối với nước tham gia đầu tư.
1.4.1 Đối với nước đi đầu tư.
a Tác động tích cực:
Giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư : Trong quá trình phát triển
của mình, một công ty sẽ không tiếp thu được lợi nhuận nếu tiếp tục tăng đầu tưvào thị trường trong nước do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là thị phần trongnước đã khai thác hết trong khả năng chưa tìm được hướng đi mới Vì vậy việc sử
Trang 23dụng nguồn vốn hiện có sao cho hiệu quả nhất là vươn ra thị trường thế giới, ở đócó nhiều nguồn lực để khai thác có hiệu quả tận dụng lợi thế so sánh của nướcnhận đầu tư đó là lợi thế về giá lao động rẻ, chi phí khai thác nguyên vật liệu tạichỗ thấp, bởi các nước nhậ đầu tư thường là các nước đang phát triển, thường cónguồn tài nguyên phong phú nhưng do hạn chế về vốn và công nghệ nê chưa đượckhai thác tiềm năng lớn như vậy làm chi phí sản xuất rẻ, hạ giá thành sản phẩmqua đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm : Chuyển giao công nghệ thông qua
đầu tư trực tiếp, các công ty của nước phát triển chuyển được một phần các sảnphẩm công nghiệp ( phần lướn là máy móc) đang ở phần cuối của chu kỳ sốngsang các nước nhận đầu tư để tiếp tục sử dụng chúng như là sản phẩm mới củanước này hoặc ít ra là sản phẩm đang có nhu cầu ở các nước này giúp cho các nhàđàu tư tiếp tục thu được lợi nhuận và tiếp tục có vốn đưa vào hoạt động nghiêncứu mới
Giúp bành trướng sức mạnh kinh tế ,nâng cao uy tín trên thị trường quốc tế : Giúp cho công ty không ngừng mở rộng thêm nhà máy chi nhánh ở khắp
các nước trên thế giới cạnh tranh với các công ty khác có cùng mặt hang, hìnhthành các công ty xuyên quốc gia với số vốn và thị phần khổng lồ có ảnh hưởngđến kinh tế thế giới Uy tín không ngừng tăng lên, sản phẩm mang tính thươnghiệu ăn sâu vào tiềm thức người tiêu dung
Giúp phân tán rủi ro,do tình hình kinh tế - chính trị bất ổn : Những
biến động rủi ro kinh tế và chính trị ở mỗi quốc gia khó có thể lường trước vàtránh khỏi nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các công
ty : thiệt hại về nhà máy, nhân công, sản xuất trì trệ gây thiệt hại cho các nhà đầu
tư vì vậy mạng lưới công ty rộng khắp sẽ giúp san sẻ rủi ro này, giúp công ty vẫnthu được lưoij nhuận có vốn xây dựng lại cơ sở chính nếu cần thiết
Sử dụng công nghệ nước ngoài : Các nhà đaauf tư không chỉ đầu tư ở các
nước đang phát triển mà cả với các nước phát triển, lien doanh với các công tyhoặc mua lại các công ty ở những nước phát triển tăng cường học tập trao đổi
Trang 24công nghệ.Các công nghệ này được sử dụng cho toàn hệ thống nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh
Dẫn tới làm giảm việc làm ở nước chủ đầu tư : Do tập trung vốn đầu tư
sang các nước khác cơ sở sản xuất trong nước phần nào bị hạn chế đầu tư, mởrộng dẫn đến việc thiếu việc làm ở các nước đầu tư nảy sinh nếu tình trạng nàytăng cao, chính phủ nước đầu tư có chính xãhs hạn chế đầu tư trực tiếp ra nướcngoài
Có thể xảy ra hiện tượng chảy máu chất xám trong quá trình chuyển
giao công nghệ : Do FDI đi kèm với chuyển giao cộng nghệ, cần cử cán bộ có
tay nghề, trình độ quản lý nhất định sang chỉ đạo, điều hành chi nhánh ở các nướckhác, nếu chính sách , điều kiện đãi ngộ của các nước nhận đầu tư tốt hơn sẽ khiếncác cán bộ chuyển sang làm việc cho các nước nhận đầu tư
Gây ra sự tụt hậu của nước chủ vốn đầu tư : Do các nước đi đầu tư nếu
không có định hướng và chính sách thích hợp thì các nhà kinh doanh không muốnkinh doanh trong nước mà chỉ muốn kinh doanh ở nước ngoài
1.4.2 Đối với nước nhận đầu tư.
a Tác động Tích cực
Là nguồn hỗ trợ cho phát triển :
FDI là một trong những nguồn quan trọng bù đắp sự thiếu hụt về vốngóp phần tạo ra động lức cho sự tăng trưởng và phát triển
Việc tiếp nhận vốn đầu tư lớn này nó vừa tác động đến tổng cầu và tổngcung.Làm tăng tổng cung dài hạn do các dự án đầu tư đi vào vận hành cho kết
Trang 25quả làm sản lượng tiềm năng tăng, giá cả giảm tăng tiêu dung.Tiêu dung tănglại quay lại thúc đẩy sản xuất.
Thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp và rồi hậuquả thu lại là thu nhập thấp Tình trạng luẩn quẩn này chính là điểm nút khókhăn mà các nước này phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo ta kinh tế hiệnđại Nhiều nước lâm vào tình trạng trì trệ của nghèo đói bởi lẽ không lựachọn và tạo ra điểm đột phá chính xác Một mắt xích của “vòng luẩn quẩn”này Trở ngại lớn nhất để thực hiện điều đó đối với các nước kém phát triển làvốn đầu tư và kỹ thuật Vốn đầu tư là cơ sở tạo ra công ăn việc làm trongnước, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động vv Từ đó tạotiền đề tăng thu nhập, tăng tích lũy cho sự phát triển của xã hội Tuy nhiênđể tạo ra vốn cho nền kinh tế chỉ trông chờ vào vốn nội bộ thì hậu quả khótránh khỏi là sẽ tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới Do đó vốnnước ngoài sẽ là một “cú hích” để góp ghần đột phá vào cái “vòng luẩnquẩn” đó Đặc biệt là FDI nguồn quan trọng để khắc phục tình trạng thiếuvốn mà không gây nợ cho các nước nhận đầu tư Không như vốn vay nướcđầu tư chỉ nhận một phần lợi nhuận thích đáng khi công trình đầu tư hoạt độngcó hiệu quả Hơn nữa lượng vốn này còn có lợi thế hơn nguồn vốn vay ởchỗ Thời hạn trả nợ vốn vay thường cố định và đôi khi quá ngắn so với mộtsố dự án đầu tư, còn thời hạn vốn FDI thì linh hoạt hơn
FDI góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng khả năng xuấtkhẩu của nước nhận đầu tư, thu một phần lợi nhuận từ các công ty nước ngoài,thu ngoại tệ từ các hoạt động dịch vụ cho FDI tăng đóng góp vào GDP thúcđẩy phát triển kinh tế nước nhận đầu tnâng cao thu nhập đời sống của ngườidân trong xã hội
Nâng cao năng lực cạnh tranh của nước đang phát triển : FDI góp
phần phát triển các ngành công nghiệp tạo công ăn việc làm cho người laođộng.FDI góp phần phát triển trong cả nước hệ thống khu công nghiệp, khuchế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ hiện đại làm sản phẩm sản
Trang 26xuất ra có chất lượng cao xuất khẩu ra thế giới nâng cao năng lực cạnh tranhđối với quốc gia trong khu vực trên thế giới lại tiếp tục gây được sự thu hút củacác nhà đầu tư khác tiếp tục đầu tư vào.
Thúc đẩy quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế, phân công lao động : Yêu cầu dịch chuyển nền kinh tế không chỉ đòi hỏi của bản thân sự phát
triển nội tại nền kinh tế, mà còn là đòi hỏi của xu hứng quốc tế hóa đời sốngkinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong bộ phận quan trọng của hoạtđộng kinh tế đối ngoại Thông qua các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiềuvào quá trình phân công lao động quốc tế Để hội nhập vào nền kinh tế giữacác nước trên thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tếtrong nước cho phù hợp với sự phân công lao dộng quốc tế Sự dịch chuyển
cơ cấu kinh tế của nước phù hợp với trình độ chung trên thế giới sẽ tạo điềukiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài Ngược lại, chính hoạt độngđầu tư lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế.Bởi vì: Một là, thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm xuấthiện nhiều lĩnh vực và ngành kinh tế mới ở các nước nhận đầu tư Hai là, đầu
tư trực tiếp nước ngoài giúp vào sự phát triển nhanh chóng trình độ kỹ thuậtcông nghệ ở nhiều nghành kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng năng suất laođộng ở một số ngành này và tăng tỷ phần của nó trong nền kinh tế Ba là,một số ngành được kích thích phát triển bởi đầu tư trực tiếp nước ngoài,nhưng cũng có nhiều ngành bị mai một đi, rồi đi đến chỗ bị xóa bỏ Bốn làgiúp nước nhận đầu tư có điều kiện phát huy hết ưu điểm về lợi thế so sánh, gópphần giải quyết phát triển mất cân đối giữa các vùng trong lãnh thổ Từ đó cơ cấungành, cơ cấu lao động, cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu sản phẩm, thay đổi theo hướngcông nghiệp hóa , hiện đại hóa
Đẩy nhanh quá trình tiếp nhận công nghệ : Lợi ích quan trọng mà
FDI mang lại đó là công nghệ khoa học hiện đại, trình độ chuyên môn, trìnhđộ quản lý tiên tiến Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ đầu tư không chỉ
Trang 27vào nước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy mócthiết bị, nhuyên vật liệu, trí thức khoa hoạch bí quyết quản lý, năng lực tiếpcận thị thường Mà nước nhận đầu tư không dễ dàng có được do thiếu vốnđể nghiên cứu hoặc mua lại theo con đường thương mại.Thông qua FDI làcon đường tiếp nhận công nghệ một cách có hiệu quả đỡ tốn chi phí và thờigian đi tắt đón đầu dút ngắn khoảng cách về mặt bằng công nghệ với cácnước khác Do vậy đứng về lâu dài đây chính là lợi ích căn bản nhất đối vớinước nhận đầu tư
FDI thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh không ngừng
đổi mới phương thức công nghệ, quan lý để không ngừng nâng cao chấtlượng sản phẩm dịch vụ để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài
Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm:
Nguồn nhân lực có ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động sản xuát, cácvấn đè xã hội và mức độ tiêu dùng của dân cư Việc cải thiện chất lượng cuộcsống thông qua đầu tư vào các lĩnh vực dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục đào tạonghề nghiệp và kỹ năng quản lý sẽ tăng hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, nângcao được năng suất lao động và các yếu tố sản xuất khác, nhờ đó thúc đẩy tăngtrưởng
Ngoài ra, tạo việc làm không chỉ tăng thu nhập cho người lao độngmà còn góp phần tích cực giải quyết các vấn đề xã hội Đây là các yếu tố cóảnh hưởng rât lớn dến tốc độ tăng trưởng
FDI ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội tạo ra công việc làm thông qua việccung cấp việc làm trong các hãng có vốn đầu tư nước ngoài FDI còn tạo ranhững cơ hội việc làm trong những tổ chức khác khi các nhà đầu tư nướcngoài mua hang háo dịch vụe từ các nhà sản xuất trong nước, hoạc thuê họthông qua các hợp đông gia công chế biến Thực tiễn ở một số nước cho thấyFDI đã đóng góp tích cực tạo ra viẹc làm trong các ngành sử dụng nhiều laođọng như ngành may mặc, điện tử, chế biến
Trang 28Thông qua khoản trợ giúp tài chính hoặc mở các lớp đào tạo dạy nghề,FDI còn góp phần quan trọng đối vơí phát triển giáo dục của nước chủ nhàtrong các lĩnh vực giáo dục đại cương, dạy nghề, nâng cao năng lực quản lý.Nhiều nhà FDI đã đóng góp vào quỹ phát triển giáo dục phổ thông, cung cấpmột số thiết biết giảng dạy cho các cơ sở giáo dục của nước chủ nhà, tổ chứccác chương trình phổ cập kiém thức có bản cho người lao động bản địa làmviệc trong dự án (trong đó có nhiều lao động được đi đào tạo ở nước ngoài).
FDI nâng cao năng lực quản lý của nước chủ nhà theo nhiều hình thứcnhư các khoá học chính quy, không chính quy, và hoc thông qua làm
Tóm lai, FDI đem lại lợi ích về tạo công ăn việc làm Đât là mọt tác dộngkép: tạo thêm việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho người laođông, từ đó tạo điều kiện tăng tích luỹ trong nước Tuy nhiên, sự đóng gópcủa FDI đỗi với việc làm trong các nước nhận đầu tư phụ thuộc rất nhiềuvào chính sách và khả năng kỹ thuật của nước đó
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, các nước đang phát triểnmuốn thực hiện mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh ta kinh tế Đâycũng là điểm nút để các nước đang phát triển khoát ra khỏi các vòng luẩnquẩn của sự đói nghèo Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy,các quốc gia nào thực hiện chiến lược kinh tế mở cửa với bên ngoài, biếttranh thủ và phát huy tác dụng của các nhân tố bên ngoài biến nó thànhnhững nhân tố bên trong thì quốc gia đó tạo được tốc độ tăng cao
Mức tăng trưởng ở các nước đang phát triển thường do nhân tố tăng đầu
tư, nhờ đó các nhân tố khác như tổng số lao động được sử dụng, năng suấtlao động cũng tăng lên theo
Rõ ràng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần tích cực thúc
đẩy ta kinh tế ở các nước đang phát triển Nó là tiền đề, là chỗ dựađể khai thác những tiềm năng to lớn trong nước nhằm phát triển nền kinh tế
Trang 29Mở rộng quan hệ hợp tác đầu tư nước ngoài
FDI tạo điều kiện cho nước đang phát triển mở rộng quan hệ hợp tác đầu
tư theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa đẩy nhanh quá trình hội nhập vàonền kinh tế khu vực và thế giới.Bởi vì đầu tư FDI thường do công ty đa quốc giathực hiện , mà các công ty này có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàngbằng những hợp đồng dài hạn dựa trên cơ sở thanh thế và uy tín của họ vềchất lượng, kiểu dáng sản phẩm và giao hàng đúng hẹn
e Tác độngTiêu cực
Chuyển giao công nghệ.
Thứ nhất : khi các công ty nước ngoài thường chuyển giao những công
nghệ kỹ thuật lạc hậu và máy móc thiết bị cũ Điều này cũng có thể giải thich là:Một là, dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cho nên máymóc công nghệ nhanh chóng trở thành lạc hậu Vì vậy họ thường chuyển giaonhững máy móc đã lạc hậu cho các nước nhận đầu tư để đổi mới công nghệ,đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng của sản phẩm của chính nước họ Hailà, vào giai đoạn đầu của sự phát triển, hầu hết các nước đều sử dụng côngnghệ, sử dụng lao động.Tuy nhiên sau một thời gian phát triển giá của lao động
sẽ tăng, kết quả là giá thánh sản phẩm cao Vì vậy họ muốn thay đổi công nghệbằng những công nghệ có hàm lượng cao để hạ giá thành sản phẩm
Do vậy việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã gây thiệt hại cho các nướcnhận đầu tư như là:
- Rất khó tính được giá trị thực của những máy móc chuyển giao đó Dođó nước đầu tư thường bị thiệt hại trong việc tính tỷ lệ góp trong các doanhnghiệp liên doanh và hậu quả là bị thiệt hại trong việc chia lợi nhuận
Gây tổn hại môi trường sinh thái Do các công ty nước ngoài bị cưỡngchế phải bảo vệ môi trường theo các quy định chặt chẽ ở các nước công nghiệpphát triển, thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài họ muốn xuất khẩu công nghệnày sang các nước mà biện pháp cưỡng chế, luật bảo vệ môi trường kém nhằm tiếptục sinh lời nó ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường tự nhiên, sức khỏe dân cư
Trang 30Chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất cao và do đó sản phẩm của các nước nhậnđầu tư khó có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới Thực tiễn cho thấy, tình hìnhchuyển giao công nghệ của các nước công nghiệp sang các nước đang phát triểnđang còn là vấn đề nan giải.Ví dụ theo báo cáo của ngân hàng phát triển Mỹ thì70% thiệt bị của các nước Mỹ La Tinh nhập khẩu từ các nước tư bản phát triểnlà công nghệ lạc hậu.Cũng tương tự, các trường hợp chuyển giao công nghệASEAN lúc đầu chưa có kinh nghiệm kiểm tra nên đã bị nhiều thiệt thòi.
-Tuy nhiên, mặt trái này cũng một phần phụ thuộc vào chính sách côngnghệ của các nước nhận đầu tư Chẳng hạn như Mehico có 1800 nhà máy lắp ráp sảnxuất của các công ty xuyên quốc gia của Mỹ Một số nhà máy này được chuyểnsang Mehico để tránh những quy định chặt chẽ về môi thường ở Mỹ và lợi dụngnhững khe hở của luật môi trường ở Mehico
Thứ hai : FDI có thể làm thui chột sự phát triển của ngành nghiên cứu và triển
khai trong nước Nếu Chính phủ không có biện pháp khuyến khích hợp lý đối với hệthống nghiên cứu khoa học và triển khai trong nước thì sự có mặt của công nghệnước ngoài thông qua FDI sẽ làm giảm nhu cầu về công nghệ phát triển ở trongnước, đẩy ngành nghiên cứu vào thế phá sản, lụi tàn, và kết cục chỉ là một sự phụthuộc hầu như hoàn toàn vào công nghệ nước ngoài với chi phí nhiều lần đắt đỏ hơncác công nghệ trong nước
Phụ thuộc kinh tế với nước nhận đầu tư
Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường đước chủ yếu do các công ty xuyên quốcgia, đã làm nảy sinh nỗi lo rằng các công ty này sẽ tăng sự phụ thuộc của nền kinhtế của nước nhận đầu tư vào vốn, kỹ thuật và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa của cáccông ty xuyên quóc gia Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đóng góp phần vốn bổsung quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế và thực hiện chuyển giao côngnghệ cho các nước nhận đầu tư Đồng thời cũng thông qua các công ty xuyên quốcgia là những bên đối tác nươc ngoài để chúng ta có thể tiêu thụ hàng hóa vì cáccông ty này nắm hầu hết các kênh tiêu thụ hàng hóa từ nước này sang nước khác
Trang 31Vậy nếu càng dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì sự phụ thuộc của nềnkinh tế vào các nước công nghiệp phát triển càng lớn Và nếu nền kinh tế dựa nhiềuvào đầu tư trực tiếp nước ngoài thì sự phát triển của nó chỉ là một phồn vinh giảtạo Sự phồn vinh có được bằng cái của người khác Nhưng vấn đề này có xảy rahay không còn phụ thuộc vào chính sách và khả năng tiếp nhận kỹ thuật của từngnước Nếu nước nào tranh thủ được vốn, kỹ thuật và có ảnh hưởng tích cực ban đầucủa đầu tư trực tiếp nước ngoài mà nhanh chòng phát triển công nghệ nội đại, tạonguồn tích lũy trong nước, đa dạng hóa thị trrường tiêu thụ và tiếp nhận kỹ thuậtmới cũng như đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai trong nước thì sẽ được rất nhiềusự phụ thuộc của các công ty đa quốc gia.
Hình thành vốn đầu tư và việc làm
FDI cũng chính là một nguồn vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế và tạo thêmviệc làm Tuy nhiên, nguồn vốn này có thật sự là một dấu cộng bổ sung cho tổng vốnđầu tư và tạo việc làm ở trong nước hay không lại là một vấn đề khác Nói vậy bởi vìluôn có rủi ro là FDI chảy vào nền kinh tế sẽ “cào bớt” nguồn vốn đầu tư trong nước,kết cục là làm cho tổng vốn đầu tư không thay đổi hoặc thậm chí giảm đi, góp phầnlàm giảm tốc độ tăng việc làm trong nước
Có 2 lý do chính cho tình trạng này Thứ nhất, FDI không phải chỉ hoàn toàn làvốn tự có của nhà đầu tư nước ngoài Trong nhiều trường hợp, nhà đầu tư nước ngoàivào Việt Nam và huy động vốn tại Việt Nam thông qua một số hình thức như pháthành cổ phiếu, trái phiếu v.v Việc này không những làm giảm đi một phần đáng kểkhối lượng vốn FDI danh nghĩa đăng ký, mà còn cạnh tranh trực tiếp với các doanhnghiệp nội địa trong việc thu hút vốn trong nước Nếu chiến thắng thì đương nhiênnhà đầu tư nước ngoài làm giảm khối lượng vốn đầu tư mà lẽ ra nằm trong tay nhàđầu tư nội địa, và tức là làm giảm mức đầu tư và tiết kiệm trong nước, cũng chính làgiảm
Số lượng việc làm tạo ra từ đây
Thứ hai, thong thường doanh nghiệp FDI hiệu quả hơn doanh nghiệp trong
Trang 32nước với trình độ công nghệ quản lý cao hơn Vì vậy một số doanh nghiệp không đủkhả năng cạnh tranh sẽ bị lép vế, không có hướng đi hiệu quả sẽ bị phá sản, và tấtyếu dẫn đến giảm mức đầu tư, tiết kiệm và tạo việc làm trong nước.
Tác động đến thương mại quốc tế
FDI có thể tăng thêm hay làm giảm khối lượng trao đổi thương mại quốc tếgiữa Việt Nam với các nước khác, tùy thuộc vào bản chất của một dự án FDI là tuântheo hay đi ngược lại lợi thế so sánh của Việt Nam trên trường quốc tế Nếu mục đíchcủa dự án FDI đó là khai thác lợi thế so sánh của Việt Nam (địa lý, nhân công) thìFDI này sẽ có xu hướng sản sinh thêm trao đổi thương mại quốc tế của Việt Nam(tăng nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu thành phẩm) và thúc đẩy tái cơ cấu nềnkinh tế Việt Nam theo lợi thế so sánh Ngược lại, nếu dự án đó nhằm khai thác thịtrường nội địa được bảo hộ ở Việt Nam thì nó thường làm giảm thương mại (xuấtkhẩu) và đẩy các doanh nghiệp trong nước vào khó khăn do không cạnh tranh nổi, vàkhông khuyến khích tái cơ cấu nền kinh tế theo lợi thế so sánh
Bất cứ vấn đề nào cũng tồn tại hai mặt của sự đối lập đó là động lực của sựphát triển, để hạn chế tác động tiêu cực trên để FDI thực sự động lực tăng trưởng chonền kinh tế thực sự còn nhiều vấn đề cần bàn đến và giải quyết đòi hỏi sự quản lý tốt,và hướng đi phù hợp của riêng mỗi quốc gia
-Chi phí cho thu hút FDI và sản xuất hang hóa không thích hợp
2 Đầu tư gián tiếp nước ngoài
2.1 Đặc điểm
- Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài được cung cấp bởi các chínhphủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (NGO) và tư nhân Nếu là vốnđầu tư của các tổ chức quốc tế thì thường có khối lượng lớn và kèm theo là các điềukiện ưu đãi về lãi suất và thời gian ( gồm thời gian ân hạn và thời gian trả nợ).Ngoài ra nó còn gắn liền với các yêu cầu mang sắc thái chính trị của các tổ chứcquốc tế Nếu là vốn đầu tư của tư nhân thì được thự hiện thông qua việc mua cổphiếu, trái phiếu và bị khống chế ở mức dưới 10-25% vốn pháp định
Trang 33- Chủ đầu tư nước ngoài không trực tiếp tham gia điều hành hoạt độngcủa hoạt động của đối tượng đầu tư.
- Chủ đầu tư nước ngoài thu được lợi nhuận thông qua lãi suất cho vay hoặclợi tức cổ phần
2.2 Phân loại
2.2.1 Đầu tư trên thị trường chứng khóan FPI.
Hình thức mua cổ phiếu, trái phiếu là hình thức đầu tư của tư nhân Chủ đầu tư
sẽ lựa chọn các doanh nghiệp làm ăn có lãi hoặc có triển vọng phát triển trong tươnglai để đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu, nhưng số lượng cổ phần sẽ bị khống chế ởmức độ nhất định, tùy theo luật đầu tư của từng nước quy định Chủ đầu tư sẽ đượchưởng lợi tức cổ phần và giá trị của lợi tức thu được sẽ phụ thuộc vào hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp
a Đặc điểm
Số lượng chứng khoán mà các công ty nước ngoài được mua có thể bị khống chế ởmức độ nhất định tuỳ theo từng loại chứng khoán và tuỳ theo từng nước để nướcnhận đầu tư kiểm soát khả năng chi phối doanh nghiệp của nhà đầu tư chứng khoán;Ví dụ ở VN, theo Quyết định số 238/2005 QĐ-TTg ban hành ngày 29/9/2005, tỉ lệnắm giữ tối đa cổ phiếu được niêm yết của bên nước ngoài là 49%, đối với trái phiếuthì không giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với nhà đầu tư nước ngoài
Chủ đầu tư nước ngoài không nắm quyền kiểm soát hoạt động của tổ chức phát hànhchứng khoán; bên tiếp nhận đầu tư có quyền chủ động hoàn toàn trong kinh doanhsản xuất Đặc điểm này có thể suy ra từ đặc điểm trên, bởi vì chủ đầu tư nước ngoàichỉ được nắm giữ một tỉ lệ chứng khoán tối đa nào đó mà thôi, tỉ lệ mà trên mức đóthì hoạt động đầu tư của anh ta sẽ được coi là FDI tức là anh ta có quyền kiểm soáthoạt động của tổ chức phát hành chứng khoán Chúng ta cần phân biệt quyền kiểmsoát và quyền sở hữu Hai quyền này khác nhau Không phải lúc nào có quyền sởhữu cũng đồng nghĩa với việc có quyền kiểm soát doanh nghiệp Ví dụ khi mua cổphiếu, nhà đầu tư có quyền sở hữu doanh nghiệp tương ứng với số cổ phiếu xác nhậnquyền sở hữu mà anh ta đã mua, tuy nhiên anh ta có thể không có quyền kiểm soát
Trang 34doanh nghiệp Còn khi mua trái phiếu thì nhà đầu tư nước ngoài không có quyền cảvề sở hữu lẫn kiểm soát doanh nghiệp.
Thu nhập của chủ đầu tư phụ thuộc vào loại chứng khoán mà nhà đầu tư mua, có thểcố định hoặc không Nếu nhà đầu tư mua trái phiếu thì sẽ được hưởng trái tức cốđịnh, tuy nhiên cũng có những loại trái phiếu một phần thu nhập cố định một phầnthay đổi theo kết quả sản xuất kinh doanh Còn nếu mua cổ phiếu thì sẽ được hưởngcổ tức tuỳ theo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và quyết định phân chia lợinhuận sau mỗi kỳ kinh doanh của hội đồng cổ đông
Nước tiếp nhận đầu tư không có khả năng, cơ hội tiếp thu công nghệ, kỹ thuật máymóc thiết bị hiện đại và kinh nghiệm quản lý vì kênh thu hút đầu tư loại này chỉ tiếpnhận vốn bằng tiền
Lý do đầu tư chứng khoán nước ngoài: Cơ cấu tương quan quốc tế: thu nhập đầu tưchứng khoán giữa các quốc gia ít tương quan với nhau như trong một quốc gia vàphân tán rủi ro
Tóm lại: Thu nhập, lợi nhuận trong hoạt động FPI khá ổn định và thấp hơn
FDI, tuy vậy nhà đầu tư vẫn chọn nó do độ tương quan quốc tế giữa các chứngkhoán là rất thấp và chu kì kinh doanh giữa các quốc gia thường không đồng bộ Đốivới nước tiếp nhận đầu tư hình thức này có các ưu điểm sau: giúp cho thị trườngchứng khoán, một công cụ tài chính hiện đại hiện nay trên thế giới, sôi động và pháttriển hơn, ít sợ bị phụ thuộc vào mặt kinh tế vì các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữmột tỉ lệ nhỏ CK, chủ đầu tư không có quyền kiểm soát doanh nghiệp nên sẽ khôngsợ bị nhà FDI cạnh tranh và giành độc quyền với nền kinh tế trong nước Nhượcđiểm là độ ổn định không cao do nhà đầu tư dễ dàng bán chứng khoán khi khôngmuốn đầu tư nữa
Trang 35b Phân loại
Đầu tư cổ phiếu Đầu tư trái phiếuĐối tượng
đầu tư
Cổ phiếu(Equyte/share): là
chứng chỉ sở hữu
Trái phiếu (bond): làchứng chỉ nợ
Quan hệ
giữa nhà đầu tư
và DN phát hành
Quan hệ sở hữu (chủ sở hữuvà đối tượng sở hữu)
Chủ đầu tư là cổ đông(share - owner) / chủ sở hữu củacông ty
Quan hệ tín dụng(chủ nợ và con nợ
Chủ đầu tư là tráichủ/chủ nợ của công ty
Thu nhập
mà DN phát hành
trả cho nhà ĐT
- Cổ tức (Divident): là lợinhuận công ty được chia tương ứngvới phần vốn góp
=>Thu nhập không cố định
-Trái tức (Interest): làlãi tương
ứng với phần vốn chovay
=>Thu nhập cố định
So sánh
giữa chi phí và
thu nhập mà DN
trả cho nhà ĐT
(đối với 1 chứng
khoán)
-Chi phí: giá thị trường(market price) (không phải mệnhgiá-face value MG)
-Thu nhập:
Cổ tức = TNDN x (MG/TVĐTDN)
= MG x(TNDN/TVĐTDN)
Chi phí: giá thịtrường (market price)
(không phải mệnhgiá-face
value-MG) -Thu nhập:
Trái tức = MG x lãisuất trái phiếu
mua và giá bán-spread)
Không chỉ có trái tứcmà còn có thu nhập từ việcmua, bán chứng khoán(phần chênh lệch giữa giámua và giá bán-spread)
2.2.2 Tín dụng tư nhân quốc tế
a Khái niệm
Trang 36Tín dụng tư nhân quốc tế là hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước cho các doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế ở một nước khác vay vốn
và thu lợi nhuận qua lãi suất tiền cho vay
- Các khoản cho vay thường là bằng tiền, không kèm theo máy móc thiết bị,công nghệ, bí quyết hay chuyển giao công nghệ
- Đơn vị cung cấp vốn tuy không tham gia quản lý điều hành hay kiểm soáthoạt động doanh nghiệp nhưng trước khi cho vay đều nghiên cứu tính khả thi của dựán đầu tư qua hồ sơ đi vay, dự án sử dụng vốn, nếu đối tượng tiếp nhận đầu tư sửdụng vốn không có hiệu quả và đúng theo hồ sơ đi vay thì chủ đầu tư có quyền đòitiền trước.Chủ đầu tư có thể yêu cầu về bảo lãnh, hoặc thế chấp các khoản vay đểgiảm rủi ro, đồng thời có quyền sử dụng những tài sản đã thế chấp hoặc yêu cầu cơquan bảo lãnh thanh toán khoản vay trong trường hợp các doanh nghiệp vay làm ănthua lỗ, phá sản
-> Đối với đối tượng tiếp nhận đầu tư: Không phụ thuộc vào kinh tế của chủđầu tư, nhà đầu tư nước ngoài không can thiệp vào việc sử dụng vốn Tuy nhiên tínhổn định không cao do nhà đầu tư có thể đòi nợ sớm hoặc rút vốn khi đối tượng tiếpnhận đầu tư làm ăn thua lỗ
Trang 37-> Đối với chủ đầu tư: ưu điểm là vốn đầu tư ít, rủi ro ít, thu nhập không phụthuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, được ưu tiên thanh toán nếu doanhnghiệp phá sản Tuy nhiên nhược điểm là lợi nhuận không cao.
2.2.3 Hỗ trợ phát triển chính thức – ODA
a Khái niệm:
Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhànước hoặc Chính phủ một nước với các Chính phủ nước ngoài, các tổ chức liên chínhphủ hoặc liên quốc gia
Nguồn vốn ODA và nguồn vốn FDI có mối lien hệ và phụ thuộc lẫn nhau Nếumột nước kém phát triển không nhận được đầy đủ vốn ODA để cải thiện các cơ sở hạtầng kinh tế-xã hội thì cũng khó có thể thu hút được nguồn vốn FDI và những nguồnvốn tín dụng khác để mở rộng kinh doanh Sau đại chiến thế giới lần thứ 2, các nướcphát triển đã thỏa thuận về viện trợ ưu đãi cho các nước chậm và đang phát triển Tổchức tài chính thế giới- WB đã được thành lập tại hội nghị về tài chính tiền tệ được tổchức vào tháng 7/1944 tại Bretton Woods thuộc bang Hampshire (Mỹ) Mục tiêu của
WB là thúc đẩy phát triển kinh tế và tăng trưởng phúc lợi của các nước với tư cách làmột tổ chức trung gian, một ngân hang thực sự với hoạt động chủ yếu là đi vay bằngcách phát hành trái phiếu để rồi lại cho các nước vay lại
Sự kiện quan trọng hơn cả là việc thành lập Tổ chức hợp tác kinh tế và pháttriển ( OCED – Organisation for Economic Cooperation and Development) vào ngày14/12/1960 tại Paris Tổ chức ban đầu gồm 18 nước thành viên (đến nay là 20 nướcthành viên) và đã đóng góp một phần quan trọng nguồn ODA song phương cũng như
Trang 38đa phương Trong khuôn khổ hợp tác phát triển, các nước OECD đã lập ra Ủy ban hỗtrợ phát triển nhằm rút các nước đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệuquả đầu tư Năm 1996, DAC đã đưa ra bản báo cáo “ Kiến tạo thế kỉ XXI – vai tròcủa hợp tác phát triển”, trong đó khẳng định: viện trợ phát triển phải chú trọng vào
hỗ trợ cho các nước nhận vốn có được sự thay đổi chính sách và thể chế phù hợp chứkhông phải chỉ đơn thuần là cấp vốn Và điều này sẽ làm tăng hiệu quả của việc sửdụng vốn
b Các hình thức của ODA
Theo tính chất
- ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn lạicho nhà tài trợ
- ODA cho vay ưu đãi ( tín dụng ưu đãi): là hình thức cung cấp ODAdưới dạng cho vay với lãi suất và điều kiện ưu đãi sao cho yếu tố “không hoàn lại”hay “thành tố hỗ trợ” đạt không dưới 25% của tổng trị giá khoản vay
- ODA hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản chovay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại nhưng tínhchung lại, “yếu tố không hoàn lại” đạt không dưới 25% tổng giá trị các khoản đó
Theo mục đích
- Hỗ trợ cơ bản: sử dụng cho đầu tư xây dựng cở sở hạ tầng kinh tế,xã hội và môi trường, đây thường là những khoản vay ưu đãi
- Hỗ trợ kĩ thuật: sử dụng cho chuyển giao tri thức, công nghệ( thường là công nghệ quản lí ), xây dựng năng lực, nghiên cứu cơ bản haynghiên cứu tiền đầu tư, hoàn thiện thể chế, đào tạo nguồn nhân lực…
Theo tính ràng buộcODA ràng buộc và không ràng buộc Nguồn ODA có tính ràng buộc thường
bị ràng buộc dưới hai hình thức là ràng buộc mục đích sử dụng và ràng buộc nguồncung cấp hang hóa, dịch vụ
Theo cách thực hiện
Trang 39- Phi dự án: hỗ trợ cho cán cân thanh toán bằng cách hỗ trợ tài chính trựctiếp thông qua tiền tệ, hang hóa; hỗ trợ để trả nợ và hỗ trợ theo các chương trình( theo một mục đích tổng quát và trrong một thời gian nhất định nhưng không xácđịnh cụ thể vốn sẽ được sử dụng như thế nào) Những khoản hỗ trợ này thườngmang tính ngắn hạn và không đi kèm nhiều điều khoản ràng buộc trong quá trìnhthực hiện
- Theo dự án: hỗ trợ để thực hiện một dự án có mục tiêu cụ thể, thời giancụ thể và nhằm tạo ra một sản phẩm cụ thể
c Các phương thức cung cấp ODA
- Hỗ trợ cán cân thanh toán và ngân sách: gồm các khoản ODA được cung cấpdưới dạng tiền mặt hoặc hàng hóa để hỗ trợ cán cân thanh toán hoặc ngân sáchcủa nhà nước
- Hỗ trợ chương trình: gồm các khoản ODA được cung cấp để thực hiện một tậphợp các hoạt động, các dự án có liên quan nhằm đạt được một hoặc một sốmục tiên thực hiện trong một thời hạn nhất định, tại các thời điểm cụ thể
- Hỗ trợ dự án: là các khoản ODA cung cấp để thực hiện dự án xây dựng cơ bảnbao gồm xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp trng thiết bị, dịch vụ tư vấn, đào tạocán bộ…
- Các đối tác cung cấp ODA
- Chính phủ nước ngoài
- Các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, bao gồm:
Các tổ chức phát triển của Liên Hợp Quốc (LHQ) như: Chương trình pháttriển của LHQ (UNDP); Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF); Chương trình Lương thựcThế giới (WFP); Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của LHQ (FAO); Quỹ Dân sốLHQ (UNFPA); Quỹ Trang thiết bị của LHQ (UNDCF); Tổ chức Phát triển côngnghiệp của LHQ (UNIDO); Cao ủy LHQ về người tị nạn (UNHCR); Tổ chức Y tếthế giới (WHO); Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA); Tổ chức văn hóa,khoa học và giáo dục của LHQ (UNESCO); Quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp
Trang 40(IFAD); Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF); Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA) và Ngân hàngtái thiết (IBRD) thuộc nhóm Ngân hàng thế giới (WB).
Liên minh châu Âu (EU), Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD)<Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
Các Tổ chức tài chính quốc tế: Ngân hàng phát triển châu Á (ADB); Quỹ cácnước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC); ngân hàng đầu tư Bắc Âu (NDF); Quỹ Cô-oét
d Các lĩnh vực ưu tiên sử dụng ODA
Nhìn chung, ODA thường được sử dụng dựa trên kế hoạch phát triển củanước tiếp nhận và gắn với tính chất của nguồn vốn cung cấp
Vốn ODA không hoàn lại thường được ưu tiên sử dụng cho nhữngchương trình, dự án thuộc các lĩnh vực sau:
Xóa đói giảm nghèo, trước hết tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùngxa;
Y tê, dân số và phát triểnGiáo dục, phát triển nguồn nhân lựcCác vấn đề xã hội (tạo việc làm, cấp nước sinh hoạt, phòng chống dịchbệnh, phòng chống các tệ nạn xã hội)
Bảo vệ môi trường, bảo vệ phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên,nghiên cứu khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu vàtriển khai
Nghiên cứu chuẩn bị các chương trình, dự án phát triểnCải cách hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực của cơ quan quản línhà nước ở Trung ương, địa phương và phát triển thế chế
Một số lĩnh vực khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Vốn ODA vay được sử dụng cho những chương trình, dự án thuộc cáclĩnh vực:
Giao thông vận tải, thông tin liên lạcNăng lượng