CHƯƠNG 4 TỐ TỤNG CẠNH TRANH Phần nhận định 1 Phiên điều trần trong vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh có bản chất là một phiên tòa xét xử vụ việc cạnh tranh Nhận định trên là sai Bản chất của phiên điều trần là một thủ tục hành chính đảm bảo cho người vi phạm có cơ hội trao đổi các vấn đề có liên quan đến vụ việc để tránh áp đặt vị trí đơn phương của NN, quyết định của hội đồng xử lý trong phiên điều trần là một quyết định xử lý hành chính và nhiệm vụ quyền hạn của những người tham gia điều t.
Trang 1CHƯƠNG 4: TỐ TỤNG CẠNH TRANH Phần nhận định:
1 Phiên điều trần trong vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh có bản chất là một phiên tòa xét xử vụ việc cạnh tranh.
Nhận định trên là sai Bản chất của phiên điều trần là một thủ tục hành chính đảm bảo cho người vi phạm có cơ hội trao đổi các vấn đề có liên quan đến vụ việc để tránh áp đặt vị trí đơn phương của NN, quyết định của hội đồng xử lý trong phiên điều trần là một quyết định xử lý hành chính và nhiệm vụ quyền hạn của những người tham gia điều trần khác với Tố tụng dân sự, Tố tụng hình sự
2 Trong tố tụng vụ việc cạnh tranh, nếu có yêu cầu bồi thường thiệt hại, cơ quan cạnh tranh sẽ giải quyết cùng với việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh.
Nhận định trên là đúng Hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh sẽ bị xử lý theo hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền và nếu gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại như một hình thức phạt bổ sung theo quy định của pháp luật
Cơ sở pháp lý: khoản 1, 2 Điều 110 Luật cạnh tranh 2018.
3 Ủy ban cạnh tranh quốc gia có thẩm quyền xem xét việc cho phép hưởng miễn trừ đối với hành vi tập trung kinh tế.
Nhận định trên là sai Ủy ban cạnh tranh quốc gia không có thẩm quyền xem xét việc cho phép hưởng miễn trừ đối với hành vi tập trung kinh tế mà chỉ có quyền quyết định việc miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm
Cơ sở pháp lý: điểm b khoản 2 Điều 46 Luật cạnh tranh 2018.
4 Ủy ban cạnh tranh quốc gia có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với các quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
Nhận định trên là đúng Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định của Luật cạnh tranh 2018 và quy định của luật khác có liên quan
Cơ sở pháp lý: điểm b khoản 2 Điều 46 Luật cạnh tranh 2018.
5 Mọi vụ việc cạnh tranh phải được giải quyết thông qua phiên điều trần.
Nhận định trên là sai Phiên điều trần sẽ được mở để giải quyết vụ việc hạn chế cạnh tranh Vì vậy không phải mọi vụ việc cạnh tranh phải được giải quyết thông qua phiên điều trần
Cơ sở pháp lý: khoản 4 Điều 90, khoản 1 Điều 93 Luật cạnh tranh 2018.
6 Ủy ban cạnh tranh quốc gia có quyền quyết định việc cho các doanh nghiệp được tập trung kinh tế
Nhận định trên là đúng Sau khi kết thúc thẩm định chính thức và căn cứ vào nội dung thẩm định chính thức, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia ra quyết định tập trung kinh tế được thực hiện
Trang 2Cơ sở pháp lý: điểm a khoản 1 Điều 41 Luật cạnh tranh 2018.
7 Bất kỳ tổ chức, cá nhân nào cũng có quyền khiếu nại đến Ủy ban cạnh tranh quốc gia khi có quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại do hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh.
Nhận định sai
Căn cứ tại Điều 77 Luật cạnh tranh 2018 tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích
hợp pháp của mình bị xâm hại do hành vi vi phạm quy định pháp luật về cạnh tranh có quyền thực hiện việc khiếu nại vụ việc cạnh tranh đến Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia Đồng thời, tổ chức, cá nhân phải đảm bảo thời hiệu khiếu nại, hồ sơ khiếu nại cũng như chịu trách nhiệm về tính trung thực của các thông tin, chứng cứ đã cung cấp cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia được quy định trong điều luật này Như vậy, không phải bất kì tổ chức, cá nhân nào cũng có quyền khiếu nại
8 Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh quốc gia có quyền ra quyết định điều tra bổ sung đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Nhận định đúng
Căn cứ tại Điểm b Khoản 1 Điều 90 Luật cạnh tranh 2018 Chủ tịch Ủy ban Cạnh
tranh Quốc gia có quyền ra quyết định yêu cầu Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh điều tra bổ sung trong trường hợp các chứng cứ thu thập chưa đủ để xác định hành vi vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh
9 Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh quốc gia có quyền ra quyết định điều tra vụ việc cạnh tranh.
Nhận định sai
Căn cứ theo Điều 59 và Điều 80 Luật cạnh tranh 2018 thì Thủ trưởng Cơ quan điều
tra vụ việc cạnh tranh có quyền ra quyết định điều tra vụ việc cạnh tranh trong các trường hợp được quy định tại điều này Như vậy, Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia không có quyền ra quyết định điều tra vụ việc cạnh tranh
10 Ủy ban cạnh tranh quốc gia là cơ quan có quyền quyết định cuối cùng đối với các quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
Nhận định sai
Căn cứ tại Khoản 3 Điều 91 Luật cạnh tranh 2018 quy định về “Xử lý vụ việc hạn chế
cạnh tranh” thì trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được thành lập hoặc ngày nhận được
báo cáo điều tra và kết luận điều tra bổ sung, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc hoặc ra quyết định xử lý vụ việc theo quy định Do đó, tùy vào từng vụ việc cạnh tranh mà sẽ có các cơ quan khác nhau ra quyết định cuối cùng đối với các quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
11 Quyết định giải quyết vụ việc cạnh tranh luôn có hiệu lực thi hành ngay.
Nhận định sai
Căn cứ tại Điều 95 Luật cạnh tranh 2018 thì quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày kết thúc thời hạn khiếu nại quy định tại Điều 96 của Luật này là 30 ngày, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 99 của Luật này Như vậy,
Trang 3quyết định giải quyết vụ việc cạnh tranh không có hiệu lực thi hành ngay mà còn phụ thuộc vào thời gian khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
15 Ủy ban cạnh tranh quốc gia chỉ thụ lý giải quyết vụ việc khi có khiếu nại của tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại do hành vi
vi phạm Luật Cạnh tranh.
Nhận định sai Căn cứ theo Khoản 2 Điều 80 Luật Cạnh tranh 2018 thì nếu trong thời
hạn 03 năm kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện mà Ủy ban cạnh tranh quốc gia phát hiện ra, thì không cần khiếu nại của tổ chức,
cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại, Ủy ban cạnh tranh quốc gia vẫn phải giải quyết
16 Thám tử tư có thể tham gia điều tra vụ việc cạnh tranh theo yêu cầu của Ủy ban cạnh tranh quốc gia.
Nhận định sai Theo Điều 53, Điểm e Khoản 2 Điều 58 Luật Cạnh tranh 2018, điều
tra viên là những người tiến hành tố tụng cạnh tranh và phải đáp ứng được các điều kiện luật định Tại Khoản 2 Điều 53 Luật Cạnh tranh 2018 thì để là điều tra viên thì phải là công chức của Ủy ban Cạnh tranh quốc gia Do vậy thám tử tư không thể tham gia điều tra vụ việc cạnh tranh
17 Một doanh nghiệp chỉ vi phạm Luật Cạnh tranh nếu thực hiện hành vi bị cấm quy định rõ trong Luật này.
Nhận định sai Hành vi lôi kéo khách hàng bất chính bằng cách đưa thông tin gian dối
hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc hàng hóa,… theo Điểm a Khoản 5 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018 cũng được quy định trong Khoản 9 Điều 8 Luật Quảng cáo 2012 Như vậy, một doanh nghiệp cũng có thể vi phạm Luật Cạnh
tranh nếu thực hiện hành vi bị cấm trong các quy định khác của các luật chuyên ngành khác
18 Mọi vụ việc cạnh tranh đều có bên khiếu nại và bên bị khiếu nại
Nhận định trên là Sai Trong các trường hợp các tổ chức, cá nhân là bị Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quyết định tiến hành điều tra trong các trường hợp quy định tại Điều 80 của Luật Cạnh tranh 2018 thì chỉ có sự tham gia của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia và bên bị điều tra vào vụ việc cạnh tranh mà không có bên khiếu nại và bên bị khiếu nại
19 Quy trình giải quyết vụ việc cạnh tranh phải bảo đảm quyền tranh luận giữa các bên liên quan
Nhận định trên là Sai Theo quy định tại Điều 67 Luật Cạnh tranh 2018, chỉ có bên khiếu nại và bên bị điều tra mới có quyền tham gia và trình bày ý kiến tại phiên điều trần theo điểm đ khoản 3 Điều này còn bên bị khiếu nại chỉ có quyền được biết thông tin về việc bị khiếu nại và giải trình các nội dung bị khiếu nại theo khoản 2 Điều này
Do đó, trong quy trình giải quyết vụ việc cạnh tranh, quyền tranh luận giữa các bên liên quan không phải lúc nào cũng được đảm bảo
20 Một doanh nghiệp chỉ bị điều tra hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh khi có khiếu nại của doanh nghiệp khác
Nhận định trên là Sai Khi không có sự khiếu nại của doanh nghiệp khác thì một doanh nghiệp vẫn có thể bị điều tra hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh khi Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh trong thời hạn
Trang 403 năm kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 80 Luật Cạnh tranh 2018
21 Quy trình giải quyết vụ việc cạnh tranh phải bảo đảm quyền tranh luận giữa các bên liên quan
Nhận định đúng
Căn cứ theo khoản 5 Điều 93 Luật cạnh tranh 2018, tại phiên điều trần, người tham
gia phiên điều trần trình bày ý kiến và tranh luận để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
22 Doanh nghiệp vi phạm Luật Cạnh tranh 2018 được miễn trách nhiệm nếu tự nguyện khai báo trước khi cơ quan có thẩm quyền phát hiện
Nhận định sai
Miễn trừ trách nhiệm được đặt ra đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm nếu có
lợi cho người tiêu dùng và đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều
14 Luật Cạnh tranh 2028.
Đối với hành vi vi phạm quy định tập trung kinh tế và hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì không được xem xét hưởng miễn trừ trách nhiệm
Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 14 Luật Cạnh tranh 2018
23 Ủy ban cạnh tranh quốc gia là cơ quan quản lý nhà nước cao nhất về cạnh tranh
Nhận định sai
Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia là cơ quan thuộc Bộ Công thương, giúp việc cho Bộ Công thương Chính phủ mới là cơ quan quản lý nhà nước cao nhất về canh tranh, phân quyền cho Bộ Công thương thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh
Cơ sở pháp lý: Điều 46 Luật cạnh tranh 2018