Trong bối cảnh pháp luật cạnh tranh còn mới mẻ, tố tụng cạnh tranh ít được quan tâm, nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn đề tài "Pháp luật về tố tụng cạnh tranh đối với các hành vi cạnh tran
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Đào Trí Úc
HÀ NỘI - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu,
ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Chu Thị Giang
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA TỐ TỤNG CẠNH TRANH ĐỐI
VỚI CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
1.1.2 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của
pháp luật một số nước trên thế giới
Trang 51.3.3.1 Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh 24 1.3.3.2 Người tham gia tố tụng cạnh tranh 27
1.4 Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh và hậu quả pháp lý 33
Chương 2: những bất cập trong tố tụng cạnh tranh đối với hành vi
cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
37
2.1 Những bất cập trong các quy định pháp luật 37
2.2.5 Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh 57 2.2.6 Trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ quá trình điều tra 58
Trang 62.3 Những bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng
cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
64
2.3.2 Hợp tác của cơ quan điều tiết ngành, tổ chức và doanh
nghiệp trong quá trình điều tra
69
2.3.3 Nhận thức của doanh nghiệp, tổ chức ngành nghề về pháp
luật cạnh tranh
70
Chương 3: phương hướng và các giảI pháp nâng cao hiệu quả của
pháp luật tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
73
3.1 Bảo đảm tính hệ thống của pháp luật tố tụng cạnh tranh đối
với hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam
73
3.2 Hoàn thiện năng lực thể chế và khả năng thực thi pháp luật
cạnh tranh của Cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam
79
3.3 Bảo đảm tính phù hợp của pháp luật tố tụng cạnh tranh của
Việt Nam với pháp luật tố tụng cạnh tranh thế giới
85
3.4 Nâng cao nhận thức cộng đồng về tố tụng cạnh tranh đối
với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1 Thống kê số vụ việc cạnh tranh không lành mạnh Cục
quản lý cạnh tranh tiếp nhận năm 2006 - 2011
1.1 Cơ cấu quản lý của Cục quản lý cạnh tranh 26
1.2 Trình tự, thủ tục tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh
tranh không lành mạnh
35
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Điều 57 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: "Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật" [22]
Điểm 1 Điều 4 Luật Cạnh tranh năm 2004 cũng quy định: "Doanh nghiệp được tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật Nhà nước bảo hộ quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh" [25]
Sản xuất hàng hóa, hoạt động kinh tế là hoạt động cơ bản để duy trì đời sống vật chất của xã hội; cạnh tranh là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa, nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế Việt Nam đang tiến lên xây dựng nền kinh tế thị trường trong bối cảnh văn hoá pháp lý và văn hoá cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế Nền kinh tế Việt Nam phát triển chưa cao lại tạo dung môi cho những hành vi cạnh tranh không lành mạnh phát triển Môi trường kinh doanh của Việt Nam chưa thực sự tạo ra sự cạnh tranh, trong khi đó, hành vi cạnh tranh không lành mạnh lại không hiếm gặp Pháp luật cạnh tranh đã có nhưng chưa thực sự được biết đến và vận dụng rộng rãi Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn chưa hoàn thiện, gây khó khăn cho việc giải thích và áp dụng Tố tụng cạnh tranh - "bộ máy"
để đưa các chế định nội dung về cạnh tranh vào thực tiễn, theo đó, đòi hỏi phải phù hợp và hiệu quả với đa dạng các đối tượng Trong bối cảnh pháp luật cạnh tranh còn mới mẻ, tố tụng cạnh tranh ít được quan tâm, nghiên cứu,
chúng tôi lựa chọn đề tài "Pháp luật về tố tụng cạnh tranh đối với các hành
vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam" với mục đích nghiên cứu một
cách hệ thống trên phương diện lý luận và thực tiễn về pháp luật tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam; qua đó, xuất phát từ hiện thực khách quan, thực trạng văn hóa xã hội, văn hóa kinh doanh
Trang 9và đặc biệt là văn hóa pháp lý Việt Nam, trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của pháp luật cạnh tranh một số nước trên thế giới, kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng cạnh tranh, đưa pháp luật cạnh tranh thực sự trở thành công cụ bảo vệ doanh nghiệp và phát triển nền kinh tế một cách bền vững
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
Trước yêu cầu của tình hình thực tế, pháp luật cạnh tranh và vấn đề đưa pháp luật cạnh tranh vào cuộc sống được đề cập dưới nhiều dạng thức, trong nhiều lĩnh vực Ngày 03/12/2004, Luật Cạnh tranh được Quốc hội thông qua, Cục Quản lý cạnh tranh được thành lập (cổng thông tin: www.qlct.gov.vn) đã tiến hành nhiều hoạt động nghiên cứu, trao đổi trong nước cũng như quốc tế
ASEAN: "Những thách thức pháp lý đặt ra đối với việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý cạnh tranh ở nước ta hiện nay", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9, 2004; "Hiện đại hóa pháp luật cạnh tranh không lành mạnh của Cộng hòa Liên bang Đức trên nền tảng của quá trình hài hòa hóa pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh của Liên Minh Châu Âu", Tạp chí
Nhà nước và pháp luật, số 11, 2004 Những nghiên cứu, đóng góp đã góp phần hoàn thiện các chế định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, song
Trang 10vấn đề tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh dường như ít được quan tâm
3 Mục đích nghiên cứu
Thông qua đề tài: "Pháp luật tố tụng cạnh tranh đối với hành vi
cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam", luận văn mục đích trước hết là
hệ thống một cách cơ bản về tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại các lĩnh vực kinh tế theo quy định của pháp luật Việt Nam Bên cạnh đó, trên cơ sở nghiên cứu, đề ra một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao tính hiệu quả của pháp luật tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam và những vấn đề pháp lý phát sinh trong tố tụng: Thành phần tham gia tố tụng cạnh tranh, các giai đoạn của tố tụng cạnh tranh, vấn đề áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thời hạn, thời hiệu, chứng cứ
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những quy định pháp luật Việt Nam về tố tụng cạnh tranh, quy định tố tụng cạnh tranh của một số nước trên thế giới, những phát sinh trong thực tiễn khi tham gia quá trình tố tụng, thực
trạng và xu hướng cạnh tranh ở Việt Nam
5 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản được quy định trong pháp luật Việt Nam về tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh một cách có hệ thống: Các nguyên tắc tố tụng, thành phần tham gia, trình tự, thủ tục tố tụng cạnh tranh và những vấn đề phát sinh trong
tố tụng cạnh tranh Trên cơ sở lý luận về tố tụng, thực tiễn thi hành pháp luật
Trang 11tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam trong những năm vừa qua, đồng thời, tiếp thu những điểm phù hợp của pháp luật tố tụng cạnh tranh một số nước trên thế giới, luận văn đã bước đầu nêu lên những bất cập, từ đó, đề ra một số phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh của Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, luận văn đã sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở pháp lý của tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh
tranh không lành mạnh
Chương 2: Những bất cập trong tố tụng cạnh tranh đối với hành vi
cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả của
pháp luật tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA TỐ TỤNG CẠNH TRANH
ĐỐI VỚI CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
1.1 KHÁI NIỆM PHÁP LÝ VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
"Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" và Hiến pháp năm 1992 xác định: Đưa nền kinh tế nước ta phát triển thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đó, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển mình, từng bước được thị trường hoá, cơ chế quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính giảm dần, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể được thừa nhận, bắt đầu được tạo điều kiện hoạt động Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 224 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới,
đã ký hơn 350 hiệp định hợp tác phát triển song phương, 87 hiệp định thương mại, 51 hiệp định thúc đẩy và bảo hộ đầu tư, 40 hiệp định chống đánh thuế hai lần, 81 thoả thuận về đối xử tối huệ quốc Năm 2007, Việt Nam gia nhập
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), chấp nhận các đòi hỏi về tự do hoá thương mại Kinh tế phát triển, quyền lợi của các nhóm người trong xã hội trỗi dậy, đan xen và ràng buộc lẫn nhau kìm hãm mọi quá trình cải cách trong nền kinh tế; tham ô, tham nhũng bóp méo mọi quan hệ của đời sống kinh tế
xã hội
Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá, là một nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trường, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hoá để đạt được lợi nhuận cao nhất Cạnh tranh là "sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba"; là
"sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình" Cạnh tranh
Trang 13góp phần đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng; điều phối các hoạt động kinh doanh trên thị trường; đảm bảo cho việc sử dụng các nguồn lực kinh tế có hiệu quả; thúc đẩy việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong kinh doanh; kích thích sự sáng tạo, là nguồn gốc của sự đổi mới liên tục trong đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, ngay trong giai đoạn đầu của kỷ nguyên công nghiệp, doanh nghiệp thường xuyên phải cạnh tranh khốc liệt trong tình huống đối đầu để duy trì sự phát triển và gia tăng lợi nhuận Cạnh tranh không lành mạnh theo đó hình thành, ngày càng phát triển dẫn đến tình huống "cùng thua" (lose - lose) và sự sụt giảm mức lợi nhuận ở khắp mọi nơi Pháp luật về cạnh tranh ra đời nhằm quản lý và đảm bảo một nền kinh tế phát triển bền vững
1.1.1 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của pháp luật Việt Nam
Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 của Việt Nam quy định:
"Cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng" [25]
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh được cấu thành từ các yếu tố: Chủ thể thực hiện hành vi: Doanh nghiệp là tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước
và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam
Khách thể của hành vi: Lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng
Mặt khách quan: Hành vi trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh Đạo đức kinh doanh trên cơ
sở của hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức xã hội chung là một dạng đạo đức
Trang 14nghề nghiệp có tính đặc thù của hoạt động kinh doanh với các nguyên tắc và chuẩn mực:
Tính trung thực: Không dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời, trung thực trong chấp hành luật pháp; không thực hiện những dịch vụ có hại cho thuần phong mỹ tục; trung thực trong giao tiếp với bạn hàng và người tiêu dùng; không làm hàng giả, khuyến mại giả, quảng cáo sai sự thật, sử dụng trái phép những nhãn hiệu nổi tiếng, vi phạm bản quyền, bán phá giá theo lối ăn cướp; tôn trọng con người; tôn trọng cộng sự và dưới quyền; tôn trọng khách hàng, đối thủ cạnh tranh,… Tùy từng ngành, nghề, theo khu vực địa lý, khái niệm đạo đức kinh doanh lại có những nét đặc thù
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004 bao gồm:
Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;
Xâm phạm bí mật kinh doanh;
Ép buộc trong kinh doanh;
Gièm pha doanh nghiệp khác;
Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;
Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
Phân biệt đối xử của hiệp hội;
Trang 15Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi bổ sung năm
2009, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010,… Hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại mỗi lĩnh vực kinh
tế mang dấu hiệu, đặc điểm nguyên tắc của hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung Tuy nhiên, đối với mỗi lĩnh vực kinh tế, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có những đặc thù
Theo Pháp lệnh Giá năm 2002
Để xây dựng nền kinh tế thị trường, nhà nước phải tôn trọng và thừa nhận quyền định giá của doanh nghiệp đồng thời tạo lập môi trường cạnh tranh về giá ổn định, trật tự và loại trừ những biểu hiện không lành mạnh Pháp lệnh Giá do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 26/4/2002 có hiệu lực ngày 01/7/2002; Nghị định số 170/2003/NĐ-CP ngày 25/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Giá; Thông tư
số 15/2004/TT-BTC ngày 09/3/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 170/2003/NĐ-CP, bên cạnh các quy định về các biện pháp quản
lý giá, ổn định trật tự giá, các hành vi vi phạm pháp luật về giá được chú trọng, hành vi mang bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định gồm:
Hành vi bán phá giá Hành vi bán phá giá là hành vi bán hàng hóa, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thường trên thị trường Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh khác và lợi ích của nhà nước Hành vi này chỉ có thể được thực hiện bởi chủ thể kinh doanh Trong
cơ chế thị trường, việc tự do hình thành và xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ
là quyền của chủ thể kinh doanh Tuy nhiên, mọi hoạt động vật chất đều có những quy luật nhất định, giá cả được hình thành dưới sự thúc đẩy của nhu cầu, lợi nhuận và sự điều tiết của quy luật giá trị, quy luật cung, cầu trên thị trường Những hành vi bán hàng dưới hoặc bằng mức chi phí sản xuất đều
Trang 16được coi là những toan tính phi kinh tế bởi doanh nghiệp thực hiện hành vi đã chấp nhận hy sinh lợi nhuận, thậm chí là lỗ để chỉ nhằm chiếm lĩnh vi trí độc quyền trên thị trường sản phẩm bằng cách loại bỏ các đối thủ cạnh tranh - phá giá độc quyền; hoặc, mở rộng thị trường nhằm làm suy yếu đối thủ cạnh tranh, qua đó mở rộng thị phần của mình - hành vi phá giá nhằm mở rộng thị trường Hành vi bán phá giá thực chất là hành vi lạm dụng ưu thế tài chính của bên bán phá giá, dẫn đến thiệt hại trực tiếp cho bên bị cạnh tranh, cho ngành hàng và cho người tiêu dùng
Bịa đặt, loan tin không có căn cứ về việc tăng giá hoặc hạ giá gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh khác, của người tiêu dùng và lợi ích của nhà nước Đây là hành vi mang bản chất gian dối bằng những thông tin không có thật về giá cả hàng hóa, dịch vụ trên thị trường gây rối hoạt động của doanh nghiệp, hoạt động tiêu dùng của người tiêu dùng, ảnh hưởng đến hoạt động của nền kinh tế Doanh nghiệp tạo ra thông tin gian dối hoặc chỉ loan truyền thông tin gian dối do người khác tạo ra đều vi phạm hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực giá
Định giá sai để lừa dối người tiêu dùng hoặc tổ chức, cá nhân hợp tác sản xuất, kinh doanh với mình; Tăng hoặc giảm giá giả tạo bằng cách thay đổi
số lượng, chất lượng, địa điểm giao nhận hàng hóa, dịch vụ Đây cũng là hành
vi mang bản chất gian dối, chủ thể kinh doanh giảm giá nhưng không tôn trọng nguyên tắc của việc giảm giá, không cung cấp thông tin về việc đồng thời giảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ nhằm tạo cho mình lợi thế cạnh tranh trong giao dịch, gây thiệt hại trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc tổ chức, cá nhân hợp tác sản xuất kinh doanh với mình
Lợi dụng thiên tai, địch họa và diễn biến bất thường khác để đầu cơ tăng giá, ép giá - hành vi vi phạm đạo đức kinh doanh Khi xảy ra thiên tai, địch họa, nhu cầu tiêu dùng, nền kinh tế bị ảnh hưởng một cách trực tiếp và nhanh chóng nhất Cầu lớn và nguồn cung hạn chế khiến cho giá cả có chiều hướng
Trang 17tăng cao là diễn biến tất yếu Tuy nhiên, việc đầu cơ, tăng giá, ép giá sẽ xâm phạm đến quyền, lợi ích của người tiêu dùng, xâm hại, làm trầm trọng đến trật
tự kinh tế xã hội, ảnh hưởng không tốt đến khả năng kiểm soát của nhà nước
Theo Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001
Pháp lệnh Quảng cáo do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 16/11/2001 đã quy định các hành vi quảng cáo vi phạm pháp luật có các biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh, gồm:
Quảng cáo gian dối: Quảng cáo không đúng chất lượng hàng hóa, dịch vụ; không đúng cơ sở sản xuất, kinh doanh; không đúng địa chỉ sản xuất, kinh doanh dịch vụ
Quảng cáo nói xấu, xúc phạm danh dự, uy tín, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác
Quảng cáo so sánh với cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của người khác
Quảng cáo gây nhầm lẫn với cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của người khác
Quảng cáo dùng danh nghĩa, hình ảnh của tổ chức, cá nhân khác để quảng cáo mà không được sự chấp thuận của tổ chức, cá nhân đó
Quảng cáo hàng hóa, sản phẩm chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép thực hiện tại thời điểm quảng cáo
Quảng cáo hàng hóa, dịch vụ mà pháp luật cấm kinh doanh hoặc cấm quảng cáo
Theo Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009
Sở hữu công nghiệp là một lợi thế trong thương mại, đặc biệt trong môi trường kinh tế hiện đại, sở hữu công nghiệp ngày càng chiếm vị trí quyết định tạo lợi thế cạnh tranh trong thương mại Hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Trang 18xuất hiện ở mọi lĩnh vực sở hữu công nghiệp, nó mang những đặc tính chung của hành vi cạnh tranh không lành mạnh và những biểu hiện riêng biệt của lĩnh vực sở hữu trí tuệ với khách thể là quyền sở hữu công nghiệp; chủ thể có thể là người không nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ hoặc có thể do chính chủ thể kinh doanh nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ, với tính độc quyền cản trở hoạt động thương mại do xuất hiện mâu thuẫn giữa một bên là độc quyền cá nhân
và một bên là nguyên tắc tự do cạnh tranh, nhu cầu của xã hội trong việc sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp cho phát triển Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có thể liệt kê, gồm những hành
Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ
sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng
Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương tự
Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010
Trang 19Trong lĩnh vực ngân hàng, tại Điều 16, Luật Các tổ chức tín dụng năm
2010 quy định những hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm:
Khuyến mại bất hợp pháp Cung cấp các thông tin dễ gây hiểu lầm (dưới bất kỳ hình thức nào) có hại cho các tổ chức tín dụng và khách hàng khác như: Hành vi sử dụng các tên gọi, logo, chỉ dẫn địa lý gây nhầm lẫn với các tổ chức tín dụng nước ngoài, khiến cho khách hàng tưởng nhầm dịch vụ đó do tổ chức tín dụng uy tín hoặc nổi tiếng cung cấp; hành vi cung cấp thông tin sai sự thật về các chiến lược trong tương lai với các đối tác nước ngoài như: Đối tác nước ngoài mua cổ phần, ký kết hợp đồng hợp tác cung cấp dịch vụ khiến cho khách hàng lầm tưởng vào khả năng tài chính, khả năng kinh doanh của tổ chức tín dụng
Xâm phạm bí mật kinh doanh của các tổ chức tín dụng Bí mật kinh doanh của các tổ chức tín dụng là bí mật liên quan đến hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng như: Thông tin liên quan đến chiến lược phát triển của tổ chức tín dụng, các hợp đồng, giao dịch, tình hình tài chính (trừ những
bí mật mà theo quy định pháp luật phải công khai), bí mật liên quan đến tài khoản của khách hàng Các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh của các tổ chức tín dụng có thể bao gồm: Tiếp cận thông tin, phá hệ thống bảo mật của
tổ chức tín dung nhằm chiếm đoạt những thông tin bảo mật của tổ chức tín dụng; tiết lộ những thông tin thuộc bí mật kinh doanh của tổ chức tín dụng mà không được phép; lừa gạt, mua chuộc, lợi dụng lòng tin của nhân viên bảo mật của tổ chức tín dụng cạnh tranh nhằm thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của tổ chức tín dụng này; tiếp cận thông tin, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của tổ chức tín dụng khi tổ chức tín dụng này đang làm các thủ tục hành chính nhà nước (ví dụ: Đăng ký thêm loại hình dịch vụ ngân hàng), hoặc dùng các biện pháp thâm nhập hệ thống thông tin bảo mật của cơ quan nhà nước để chiếm đoạt thông tin về tổ chức tín dụng khác nhằm mục đích phục vụ hoạt động kinh doanh của mình
Trang 20Đầu cơ dẫn đến lũng đoạn tỷ giá ngoại tệ, vàng và thị trường tiền tệ Trên cơ sở các dấu hiệu cấu thành của hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Luật Cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các tổ chức tín dụng còn có thể kể đến như: ép buộc khách hàng trong kinh doanh; gièm pha
tổ chức tín dụng khác, gây rối hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng khác; quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; lạm dụng cơ chế lãi suất trong cạnh tranh (ví dụ: Các tổ chức tín dụng đưa ra mức lãi suất huy động tiền gửi trong dân cư ở mức chấp nhận lỗ để giành thị phần, hoặc Ngân hàng nhà nước đã có chỉ thị về hạn chế cho vay đầu tư chứng khoán nhưng một số ngân hàng vẫn chưa tuân thủ nghiêm túc hoặc vẫn tìm cách lách quy định này); phân biệt đối xử của hiệp hội
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có các dạng thức vô cùng đa dạng lại được nhân lên cùng với bội số của các lĩnh vực, ngành nghề, đã tạo nên một tập hợp đông đảo Dựa vào các căn cứ khác nhau, có thể phân chia các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thành các nhóm khác nhau Căn cứ vào đối tượng điều tra để xác định có hay không có hành vi cạnh tranh không lành mạnh, luận văn đề xuất phân chia hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo hai nhóm:
Nhóm thứ nhất: Đối tượng điều tra là các thực thể hiện hữu, thông qua việc phân tích các yếu tố cấu thành nên thực thể, từ đó xác định có hay không
sự tồn tại của hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gồm các hành vi: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn, Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, Bán hàng đa cấp bất chính
Nhóm thứ hai: Đối tượng điều tra là các hành vi đã được thực hiện, đòi hỏi việc thu thập chứng cứ để khẳng định chủ thể bị điều tra có hay không
đã thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh như: Xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh, Gièm pha doanh nghiệp khác, Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác, Phân biệt đối xử của hiệp hội
Trang 21Với mỗi nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh, có thể sẽ có những nghiên cứu phù hợp với từng hoạt động tố tụng
1.1.2 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của pháp luật một số nước trên thế giới
Theo Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp
Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp được ký kết ngày 20/3/1883 tại Paris, được xem xét tại Brussels năm 1900, tại Washington năm
1911, tại La Hay năm 1925, tại Luân Đôn năm 1934, tại Lisbon năm 1958, tại Stockholm năm 1967 và được sửa đổi năm 1979 Tính đến năm 2011, đã có
167 nước là thành viên của Công ước Công ước Paris áp dụng cho sở hữu công nghiệp theo nghĩa bao gồm: Sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, mẫu hữu ích, chỉ dẫn thương mại, chỉ dẫn địa lý (chỉ dẫn nguồn gốc, tên gọi xuất xứ) và chống cạnh tranh không lành mạnh Các quy định của Công ước Paris đề cập đến 4 vấn đề lớn:
Nguyên tắc đối xử quốc gia
Quyền ưu tiên
Một số nguyên tắc chung đối với hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp mà các nước thành viên phải tuân thủ
Các quy định về hành chính phục vụ cho việc thi hành Công ước Theo đó, cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại Điều 10bis là bất cứ hành động nào trái với tập quán trung thực trong công nghiệp và thương mại, cụ thể:
Tất cả những hành động có khả năng gây nhầm lẫn dưới bất cứ hình thức nào đối với cơ sở, hàng hoá, hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh của người cạnh tranh;
Trang 22Những khẳng định sai lệch trong hoạt động thương mại có khả năng gây mất uy tín đối với cơ sở, hàng hoá, hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh của người cạnh tranh;
Những chỉ dẫn hoặc khẳng định mà việc sử dụng chúng trong hoạt động thương mại có thể gây nhầm lẫn cho công chúng về bản chất, quá trình sản xuất, tính chất, tính thích hợp để sử dụng hoặc số lượng hàng hoá
Theo pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh của các nước Châu Á
Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh của các nước Châu á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan có sự tồn tại song song hai hệ thống quy định về cạnh tranh không lành mạnh: Hệ thống gắn liền với pháp luật về sở hữu trí tuệ
và hệ thống nằm trong khuôn khổ pháp luật cạnh tranh
Tại Nhật Bản, bên cạnh Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh năm
1993 được sửa đổi, bổ sung lần cuối vào tháng 6 năm 2005 quy định về hành
vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, quảng cáo gian dối, gièm pha doanh nghiệp khác, xâm phạm tên miền Ủy ban Thương mại lành mạnh Quy định về các hành vi thương mại không lành mạnh cũng ngăn cấm một loạt các hành vi mang tính chất hạn chế cạnh tranh ở mức độ thấp như: Phân biệt đối xử, từ chối giao dịch, bán kèm hàng hóa, giao dịch loại trừ, mua hàng với giá thấp bất hợp lý, bán hàng với giá cao bất hợp lý, lạm dụng vị thế giao dịch và can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp khác
Theo pháp luật Hàn Quốc, hành vi cạnh tranh được điều chỉnh bởi hai đạo luật: Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh và bảo vệ bí mật thương mại năm 1961 được sửa đổi, bổ sung lần cuối tháng 2 năm 2001 và tại Chương V của Luật Điều chỉnh độc quyền và thương mại lành mạnh năm
1980 được sửa đổi, bổ sung lần cuối năm 2004 Luật Cạnh tranh Hàn Quốc kết cấu gồm 14 chương có nhiều điểm tương đồng so với Luật Cạnh tranh của Việt Nam Theo đó các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm:
Trang 23Từ chối một cách bất hợp lý hoặc phân biệt đối xử trong giao dịch với một đối tác nhất định
Loại bỏ một cách bất hợp lý các đối thủ cạnh tranh
Xúi giục hoặc ép buộc một cách bất hợp lý khách hàng của các đối thủ cạnh tranh phải giao dịch với mình
Lợi dụng một cách bất hợp lý vị trí mặc cả của mình trong khi giao dịch với các đối tác khác
Giao dịch với những đối tác khác theo các điều kiện sẽ hạn chế hoặc gây cản trở cho những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
Theo pháp luật cạnh tranh của các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi
Các quốc gia chuyển đổi từ hệ thống tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, pháp luật cạnh tranh đảm bảo sự hài hòa giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý cạnh tranh, giữa quy phạm pháp luật và trình độ kinh tế - xã hội Luật về cạnh tranh và hạn chế hành vi độc quyền trên thị trường hàng hóa của nước Nga năm 1991 được sửa đổi, bổ sung lần cuối năm 2005 quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh gồm: Thông tin gian dối, sai lệch hoặc bóp méo có thể gây thiệt hại hoặc mất uy tín cho doanh nghiệp khác; các hành
vi gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, các hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ hoặc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác Trung Quốc có đạo luật riêng về cạnh tranh không lành mạnh năm 1993 quy định khá chi tiết các dạng hành vi gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, quảng cáo gian dối, một số hành vi hạn chế cạnh tranh như bán hàng dưới giá thành, áp đặt điều kiện bất hợp lý, đấu thầu thông đồng, được coi là những hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Theo pháp luật cạnh tranh Thái Lan
Luật Cạnh tranh thương mại Thái Lan năm Phật lịch 2542 (năm 1999), điều chỉnh về hoạt động cạnh tranh trong thương mại Trên cơ sở các
Trang 24quy định về chống độc quyền, Luật gồm 08 chương quy định về Uỷ ban cạnh tranh thương mại, Văn phòng Ủy ban thương mại, đồng thời, cụ thể hoá các hành vi độc quyền, quy định trình thực thủ tục tố tụng áp dụng đối với hành vi độc quyền Theo đó, Luật không phân loại rõ rệt hai nhóm hành vi: Hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên, một số hành vi độc quyền có mang ít nhiều biểu hiện của hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
Điều 28 cấm đối với thương nhân có hành vi thông qua quan hệ với thương nhân nước ngoài làm mất đi cơ hội mua hàng hoá dịch vụ của người dân có nhu cầu trực tiếp từ thương nhân nước ngoài
Điều 29 cấm thương nhân tiến hành các hành vi gây thiệt hại, cản trở hoặc hạn chế đối với hoạt động của những thương nhân khác, ngăn chặn những thương nhân khác hoạt động kinh doanh hoặc buộc thương nhân khác phải kết thúc hoạt động kinh doanh của mình
Điều 53, thông qua việc quy định chế tài đối với các hành vi độc quyền đã quy định cấm thương nhân có hành vi tiết lộ những thông tin, số liệu liên quan đến thương nhân hoặc hoạt động của thương nhân, mà những thông tin này thường không được phép lộ Chế tài được áp dụng đối với chủ thể tiết
lộ thông tin và chủ thể tiếp nhận thông tin bị tiết lộ mà tiết lộ thông tin đó theo cách có thể gây thiệt hại cho người khác
Như vậy, các hành vi có tính chất độc quyền theo quan niệm của Thái Lan có nhiều điểm tương đồng với một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Việt Nam như: Hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, hành vi xâm phạm bí mật trong kinh doanh, hành
vi gièm pha, gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
Trang 251.2 NGUỒN CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG CẠNH TRANH ĐỐI VỚI CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
1.2.1 Pháp luật tố tụng cạnh tranh của Việt Nam
Luật Cạnh tranh năm 2004
Luật Cạnh tranh dành Chương IV và Chương V đề cập đến vấn đề tố tụng đối với các vụ việc cạnh tranh nói chung và vụ việc cạnh tranh không lành mạnh nói riêng Chương IV quy định về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của Cơ quan quản lý cạnh tranh Chương V đi sâu điều chỉnh trình
tự, thủ tục tố tụng đối với các vụ việc cạnh tranh với các nội dung cơ bản:
Mục 1 đề cập đến các nguyên tắc, ngôn ngữ, phí xử lý vụ việc cạnh tranh và khiếu nại vụ việc cạnh tranh
Mục 2 quy định trình tự, thủ tục điều tra, xử lý và các vấn đề pháp lý
có thể phát sinh trong quá trình điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh
Mục 5 quy định rõ hiệu lực của quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh Mục 7 quy định việc giải quyết khiếu nại đối với các quyết định xử lý
vụ việc cạnh tranh chưa có hiệu lực pháp luật
Luật tố tụng hành chính năm 2010
Khoản 1 Điều 115 Luật Cạnh tranh quy định:
Trường hợp không nhất trí với quyết định khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, các bên liên quan có quyền khởi kiện
vụ án hành chính đối với một phần hoặc toàn bộ nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại ra Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương [25]
Khoản 4 Điều 28 Luật tố tụng hành chính năm 2010 của Việt Nam quy định rõ: "Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý
vụ việc cạnh tranh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án" [31] Việc giải
Trang 26quyết đơn kiện tại Tòa hành chính đối với Quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh được thực hiện theo pháp luật thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định việc giải quyết vụ việc cạnh tranh không lành mạnh có thể theo các phương thức:
Hòa giải: Các bên lựa chọn một bên thứ ba để hòa giải
Trọng tài: Theo quy định trong hợp đồng và tuân thủ theo trình tự, thủ tục của pháp luật về trọng tài thương mại
Tòa án: Vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được giải quyết theo thủ tục đơn giản quy định trong pháp luật về tố tụng dân sự khi người khởi kiện là cá nhân tiêu dùng, người bị khởi kiện là tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người khởi kiện; vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng Tổ chức xã hội có thể khởi kiện để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Bộ Công thương: Bộ Công thương có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo thẩm quyền
Ủy ban nhân dân: Ủy ban nhân dân có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền
Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ là tập con của hành vi cạnh không lành mạnh Điều 198 Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009 về quyền tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ quy định vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ được giải quyết bằng các phương pháp sau:
Trang 27Biện pháp hành chính: Theo các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh
Biện pháp hình sự: Khi hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ có dấu hiệu tội phạm có thể giải quyết vụ việc theo trình tự, thủ tục của vụ án hình sự
Biện pháp dân sự: Bên bị xâm phạm bởi hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ có quyền khởi kiện lên Tòa án nhân dân cấp tỉnh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
1.2.2 Pháp luật tố tụng cạnh tranh một số nước trên thế giới
Pháp luật Châu Âu
Châu Âu là nơi khởi đầu của pháp luật cạnh tranh không lành mạnh và cũng là nơi phát sinh các cách tiếp cận khác biệt trong quá trình xây dựng pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh Ba trung tâm kinh tế lớn Pháp, Đức
và Anh có những cách điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh riêng
Pháp, Anh, Hà Lan và Ý điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên cơ sở các nguyên tắc chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và cụ thể hóa thông qua các án lệ Tòa án có vai trò lớn trong việc đánh giá hành vi cạnh tranh không lành mạnh và quyết định biện pháp xử
lý, với chế tài chủ yếu là bồi thường thiệt hại
Tại Pháp, Tòa án có thẩm quyền xem xét và phán quyết nhiều hành vi cạnh tranh khác nhau Trong các vụ việc tại Tòa án, bên nguyên đơn cần chứng minh sự tồn tại của hành vi cạnh tranh không lành mạnh, thiệt hại xảy ra và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại; bên bị đơn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và không cần xét đến yếu tố lỗi đối với hành vi vi phạm
Hà Lan cũng áp dụng mô hình của Pháp Tuy nhiên, việc sử dụng các điều khoản chung của pháp luật dân sự để xử lý vụ việc cạnh tranh bị hạn chế
Trang 28hơn trên cơ sở nguyên tắc: "Doanh nghiệp được thực hiện mọi hoạt động cạnh tranh không bị cấm bởi quy định pháp luật" và nguyên tắc ưu tiên
Theo Thông luật Anh, Tòa án giải quyết các vụ việc về cạnh tranh không lành mạnh đối với một số hành vi cụ thể như gây nhầm lẫn, mạo nhận
về nhãn hiệu và xâm phạm bí mật kinh doanh Thẩm phán có thể từ chối thụ
lý vụ việc liên quan đến các hành vi thị trường khác
Các nước như Đức, Áo, Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Tây Ban Nha, Thụy
Sỹ, Luxembourg đã có một đạo luật riêng về cạnh tranh không lành mạnh Một số nước khác như Hungary, Bulgary hay Rumani xây dựng các quy định
về cạnh tranh không lành mạnh trong một đạo luật về thương mại hay cạnh tranh
Pháp luật Hoa Kỳ
Các nhà lập pháp Hoa Kỳ kết hợp cả hai cách tiếp cận của Châu Âu trong việc điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh: Sử dụng các quy định chung về bồi thường thiệt hại dân sự cũng như một số quy định chuyên ngành Hành vi cạnh tranh không lành mạnh được điều chỉnh chủ yếu trong Luật về Ủy ban thương mại liên bang năm 1914 và Luật Nhãn hiệu liên bang năm 1946 Tại Điều 5 Luật về Ủy ban thương mại liên bang năm 1914 quy định Ủy ban thương mại liên bang Hoa Kỳ có trách nhiệm xử lý "các cách thức cạnh tranh không lành mạnh ảnh hưởng đến thương mại, và các hành vi không lành mạnh hoặc gian dối ảnh hưởng đến thương mại" Sau đó, khái niệm "cách thức cạnh tranh không lành mạnh" được thay thế bằng khái niệm
"cạnh tranh không lành mạnh" với phạm vi bao gồm hành vi hạn chế cạnh tranh Theo thẩm quyền, Ủy ban Thương mại trong bản Tuyên bố chính sách
về hành vi cạnh tranh không lành mạnh nêu rõ: Luật thành văn chỉ định khung cho các điều khoản chung do Quốc hội nhận thấy rằng không thể soạn ra một danh sách các hành vi cạnh tranh không lành mạnh mà không bị lạc hậu một cách nhanh chóng hoặc tạo ra những kẽ hở cho vi phạm Nhiệm vụ xác định
Trang 29hành vi cạnh tranh không lành mạnh thuộc về Ủy ban, với hy vọng các tiêu chí đánh giá sẽ được xem xét và phát triển theo thời gian Khi có vi phạm xảy
ra, Ủy ban có quyền tổ chức phiên điều trần với sự có mặt của các bên vi phạm để làm rõ hành vi bị xem là không lành mạnh; dựa trên kết quả phiên điều trần ra quyết định buộc đình chỉ và chấm dứt hành vi cạnh tranh không lành mạnh Trong trường hợp Quyết định có hiệu lực (không có kháng cáo hoặc kháng cáo không được Tòa phúc thẩm hoặc Tòa tối cao chấp thuận), nếu bên bị đơn tiếp tục vi phạm, Ủy ban có thể đưa vụ việc ra Tòa án và yêu cầu phạt dân sự mỗi hành vi vi phạm tới 10.000 USD, trong trường hợp vi phạm kéo dài thì mỗi ngày vi phạm bị tính là một hành vi riêng rẽ Đối với quảng cáo gian dối, Ủy ban có thể khởi kiện trực tiếp ra Tòa án địa phương có thẩm quyền, yêu cầu bồi thường thiệt hại và cải chính công khai
Luật Lanham quy định về nhãn hiệu hàng hóa, những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong sử dụng từ ngữ, khái niệm, tên, biểu tượng, hình
vẽ hoặc sự kết hợp của chúng, hay nguồn gốc xuất xứ, cho phép các đối thủ cạnh tranh trực tiếp khiếu nại, khởi kiện dân sự đòi bồi thường thiệt hại khi thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc có thể bị xâm phạm do hành vi cạnh tranh không lành mạnh Bên nguyên đơn phải chứng minh về sự gian dối trong quảng cáo của bên bị Để chứng minh thiệt hại, bên nguyên đơn phải đưa ra được trường hợp người tiêu dùng thực tế tin vào quảng cáo gian dối và từ đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của mình
Có thể thấy, do đặt trong một đạo luật về nhãn hiệu, thủ tục giải quyết tranh chấp về quảng cáo gian dối cũng mang nhiều màu sắc của thủ tục giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
1.3 TỐ TỤNG CẠNH TRANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
1.3.1 Khái niệm tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Trang 30Về ngôn ngữ, "tố tụng" có thể được hiểu là việc thưa kiện ở toà án, theo cách hiểu này, "tố tụng" được hiểu là cách thức, trình tự, thủ tục mà đương sự cần phải tuân theo và tham gia khi tiến hành một vụ kiện Trong lĩnh vực pháp lý, tố tụng được vận dụng vào từng lĩnh vực pháp luật là tên gọi cho một ngành luật trong đó chứa đựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ án, vụ kiện ở Toà án và các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khác Trong lĩnh vực cạnh tranh, Tố tụng cạnh tranh là trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc cạnh tranh đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi hạn chế cạnh tranh Pháp luật tố tụng cạnh tranh là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh Tố tụng cạnh tranh có sự kết hợp giữa tố tụng dân sự và tố tụng hành chính
Nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa
Điều 12 Hiến pháp năm 1992 nêu rõ: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa" [22]
Trang 31Bảo đảm pháp chế là nguyên tắc cơ bản, bao trùm tất cả các giai đoạn
tố tụng cạnh tranh nhằm đảm bảo cho việc điều tra, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh một cách hợp pháp, khoa học và hiệu quả Cụ thể, trong quá trình tham gia tố tụng cạnh tranh: Cơ quan quản lý cạnh tranh khi
áp dụng, quyết định các biện pháp điều tra, các biện pháp ngăn chặn hành chính, các quyết định, các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh phải theo đúng quy định của Luật Cạnh tranh, của pháp luật hiện hành; những người tham gia tố tụng cạnh tranh phải nghiêm chỉnh tuân thủ theo quy định của pháp luật cạnh tranh và những quy định của pháp luật Việt Nam
Nguyên tắc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân liên quan và bảo đảm bí mật kinh doanh của doanh nghiệp
Trong tố tụng cạnh tranh, mục tiêu quản lý của nhà nước được thực thi nhưng không xâm phạm và tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân liên quan, bảo đảm bí mật kinh doanh của doanh nghiệp Một trong những nghĩa vụ căn bản của điều tra viên khi tiến hành tố tụng cạnh tranh là giữ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp Trên thực tế, khi tiến hành tố tụng, Cục quản lý cạnh tranh phải có cam kết bảo đảm bí mật kinh doanh của doanh nghiệp; các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gây thiệt hại cho tổ chức cá nhân liên quan có trách nhiệm bồi thường
Nguyên tắc bảo đảm quyền được luật sư bảo vệ
Khoản 1 Điều 66 Luật Cạnh tranh quy định: Bên bị điều tra có quyền
uỷ quyền cho luật sư tham gia tố tụng cạnh tranh; Khoản 2 Điều 67 quy định khi tham gia tố tụng cạnh tranh, luật sư có trách nhiệm giúp bên mà mình đại diện về mặt pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
Nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người tiến hành hoặc người tham gia tố tụng
Trang 32Người tham gia tố tụng có nghĩa vụ từ chối giám định, phiên dịch, có quyền đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch trong các trường hợp: Là người thân thích với bên khiếu nại hoặc bên bị điều tra; là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc cạnh tranh; có căn cứ cho rằng họ không vô tư khi làm nhiệm vụ
Nguyên tắc đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trong tố tụng cạnh tranh
Mục 7, Chương V, Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định việc giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh chưa có hiệu lực pháp luật, theo đó, các bên khi không nhất trí với một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Công thương trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định được ký Trong thời hạn 30 ngày, trường hợp đặc biệt được gia hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, Bộ trưởng Bộ Công thương có trách nhiệm giải quyết theo thẩm quyền Khi không nhất trí với việc giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Công thương, các bên có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định giải quyết khiếu nại
1.3.3 Thành phần tham gia tố tụng cạnh tranh
1.3.3.1 Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh
Cục quản lý cạnh tranh ra đời theo quy định của Luật Cạnh tranh, do Chính phủ quyết định thành lập và quy định tổ chức, bộ máy Cục quản lý cạnh tranh biên chế gồm Cục trưởng và các Phó Cục trưởng, các Ban giúp việc, các đơn vị trực thuộc và tổ chức sự nghiệp Cục trưởng Cục quản lý cạnh tranh do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm Điều tra viên do Bộ trưởng Bộ Công thương bổ nhiệm là người có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, khách quan; có trình độ cử nhân luật hoặc cử nhân kinh tế, tài chính; có kinh nghiệm tối thiểu 5 năm trong lĩnh vực chuyên ngành; được đào tạo, bồi dưỡng về
Trang 33chuyên môn, nghiệp vụ điều tra Ban điều tra và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của Cục quản lý cạnh tranh có trách nhiệm điều tra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh, xử lý, xử phạt các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Căn cứ Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03/12/2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ và cơ quan ngang Bộ, Cục quản lý cạnh tranh trong hệ thống cơ quan hành pháp của Việt Nam có vị trí tương đương với một Tổng Cục thuộc Bộ Theo Điều 7 Luật Cạnh tranh, Cục Quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công thương thuộc hệ thống cơ quan hành pháp Cục Quản lý cạnh tranh do Chính phủ quyết định thành lập và quy định tổ chức, bộ máy, chức năng, nhiệm vụ; hoạt động dưới
sự quản lý của Bộ trưởng Bộ Công thương Cục trưởng Cục quản lý cạnh tranh do Bộ trưởng Bộ Công thương đề xuất Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm Bộ trưởng Bộ Công thương có nghĩa vụ giải quyết các khiếu nại quyết định giải quyết vụ việc cạnh tranh không lành mạnh của Cục Quản lý cạnh tranh
Có lẽ, không thể tìm thấy ở cơ quan nào trong bộ máy nhà nước Việt Nam lại hội đủ, toàn diện và có sự giao thoa của ba cơ quan: Cơ quan điều tra,
cơ quan tư pháp, cơ quan hành chính Trường hợp Cục Quản lý cạnh tranh tự khởi xướng vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, Cục Quản lý cạnh tranh mang thêm một chức năng là cơ quan công tố Cục Quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ điều tra các hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh; đối với các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ và quyền hạn ra quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh Tính chất cơ quan hành chính của Cục Quản lý cạnh tranh thể hiện rõ nét qua địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức, cách thức hoạt động của Cục Quản lý cạnh tranh: Là Cục thuộc Bộ Công thương, hoạt động theo chế độ thủ trưởng, hoạt động trên cơ sở các quyết định hành chính
Trang 34Sơ đồ 1.1: Cơ cấu quản lý của Cục quản lý cạnh tranh
Nguồn: Tỏc giả tự tổng hợp
1.3.3.2 Người tham gia tố tụng cạnh tranh
Người tham gia tố tụng cạnh tranh theo Điều 64 Luật Cạnh tranh gồm: Bờn khiếu nại, bờn bị điều tra, Luật sư, người làm chứng, người giỏm định,
Ban Giám sát
và quản lý cạnh tranh
Ban Bảo vệ ng-ời tiêu dùng
Ban Xử lý chống bán phá giá,
chống trợ cấp
tự vệ
Ban Hợp tác quốc tế
Trung tâm thông tin cạnh tranh
Hồ Chí Minh
Văn phòng đại diện thành phố
Đà Nẵng
Trang 35người phiên dịch, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Người tham gia
tố tụng cạnh tranh phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan quản lý cạnh tranh Thành phần người tham gia tố tụng cạnh tranh phụ thuộc vào tính chất của từng vụ việc cụ thể mà khác nhau
Bên khiếu nại Bên khiếu nại tham gia vào quá trình tố tụng cạnh tranh có quyền và nghĩa vụ sau: Cung cấp chứng cứ; ủy quyền cho Luật sư; yêu cầu mời người làm chứng, trưng cầu giám định, áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính và chịu trách nhiệm với yêu cầu đó; kiến nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định
Bên bị điều tra Bên bị điều tra có các quyền đầy đủ như bên khiếu nại ngoại trừ quyền đề nghị áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính, bởi lẽ, theo
tư duy của nhà làm luật, quyền lợi của bên bị điều tra đang không bị xâm hại
Luật sư Luật sư là người có đủ điều kiện tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư và được bên khiếu nại, bên bị điều tra ủy quyền đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
Theo quy định của Luật Luật sư được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007, Luật sư là người có các điều kiện sau:
Tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật (tốt nghiệp Đại học Luật hoặc Khoa Luật tại các trường Đại học);
Có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư do Học Viện Tư pháp thuộc Bộ Tư pháp và Tổ chức luật sư toàn quốc hoặc do cơ sở đào tạo nghề luật sư của nước ngoài cấp được Bộ trưởng Bộ Tư pháp công nhận;
Có Chứng chỉ hành nghề luật sư được Bộ Tư pháp công nhận đáp ứng
đủ tiêu chuẩn về chuyên môn (có Bằng Cử nhân Luật, đã qua đào tạo nghề luật
sư, tập sự hành nghề luật sư), về đạo đức và có khả năng hành nghề luật sư;
Là thành viên của Đoàn luật sư tại một Văn phòng luật sư hoặc Công
ty luật hợp danh
Trang 36Người làm chứng Người làm chứng là người có năng lực hành vi dân
sự, biết được các tình tiết có liên quan đến vụ việc cạnh tranh; được cơ quan quản lý cạnh tranh triệu tập theo đề nghị của các bên liên quan hoặc của điều tra viên Khi tham gia vào quá trình tố tụng cạnh tranh, người làm chứng có nghĩa vụ khai báo trung thực, được từ chối khai báo trong trường hợp việc khai báo liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật đời tư hoặc bất lợi cho người thân thích Người làm chứng trong tố tụng cạnh tranh có quyền được nghỉ việc trong thời gian Cơ quan quản lý cạnh tranh triệu tập hoặc lấy lời khai nếu làm việc trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hưởng các khoản phí đi lại và phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về nội dung mình đã cung cấp
Người giám định Người giám định là người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực cần giám định được Cơ quan quản lý cạnh tranh trưng cầu theo đề nghị của các bên hoặc của điều tra viên Giám định có thể được tiến hành dưới hai hình thức: Cá nhân hoặc tập thể Người giám định có quyền đọc các tài liệu, đặt câu hỏi với người tham gia tố tụng liên quan đến đối tượng cần giám định để phục vụ cho công tác giám định, và có nghĩa vụ đảm bảo bí mật Người giám định có nghĩa vụ báo cáo bằng văn bản kết quả giám định
Người phiên dịch Người phiên dịch là người có khả năng dịch từ ngôn ngữ khác ra tiếng Việt Người phiên dịch cũng có thể hiểu là người hiểu được những dấu hiệu của người câm, người điếc
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là người có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng cạnh tranh với bên khiếu nại hoặc bên bị điều tra Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng khi họ tự đề nghị hoặc được bên khiếu nại, bên điều tra hoặc Cơ quan quản lý cạnh tranh đề nghị Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong trường hợp này được hiểu là người tham gia hoặc người bị tác động bởi hành vi cạnh tranh không lành mạnh Họ không là bên khiếu nại cũng không là bên bị điều tra Nếu họ chỉ có quyền lợi thì họ có
Trang 37quyền và nghĩa vụ của bên khiếu nại Nếu họ chỉ có nghĩa vụ thì họ có quyền
và nghĩa vụ của bên bị điều tra Như vậy, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khi tham gia tố tụng đóng vai trò như một nhân chứng để chứng minh sự tồn tại của hành vi cạnh tranh không lành mạnh Đồng thời, đảm bảo sự tham gia của họ, cũng có nghĩa đã tạo thêm hiệu lực cho pháp luật cạnh tranh Bởi
lẽ, bất kỳ người nào thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh đều bị xử
lý và mọi chủ thể khi bị xâm phạm bởi hành vi cạnh tranh không lành mạnh đều được bảo vệ
1.3.4 Các giai đoạn tố tụng cạnh tranh
1.3.4.1 Thụ lý hồ sơ khiếu nại
Giai đoạn thụ lý hồ sơ khiếu nại là giai đoạn không nhất thiết có trong tất cả các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh Điều 59 Luật Cạnh tranh quy định về việc thụ lý hồ sơ khiếu nại Theo đó, thụ lý hồ sơ khiếu nại là một trong những điều kiện khởi nguồn để bắt đầu quá trình tố tụng cạnh tranh Vụ việc cạnh tranh không lành mạnh có thể được khởi xướng từ hai nguồn: Cơ quan quản lý cạnh tranh hoặc tổ chức, cá nhân có quyền và lợi ích hợp pháp
bị xâm phạm bởi vi hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Thụ lý hồ sơ khiếu nại đối với Cục quản lý cạnh tranh gồm hai giai đoạn: Tiếp nhận hồ sơ khiếu nại và thông báo về việc thụ lý hồ sơ khiếu nại Trong thời hạn 07 ngày kiểm tra đơn khiếu nại, tùy thuộc vào kết quả kiểm tra, Cơ quan quản lý cạnh tranh có thể ra các quyết định:
Yêu cầu bên khiếu nại bổ sung hồ sơ trong thời hạn 30 ngày Trong trường hợp cần thiết, có thể gia hạn một lần nhưng không quá 15 ngày, nếu hồ
sơ khiếu nại không có đầy đủ đơn và chứng cứ
Trả lại hồ sơ khiếu nại nếu hành vị bị khiếu nại đã hết thời hiệu khiếu nại, hoặc vụ việc không thuộc thẩm quyền của Cơ quan quản lý cạnh tranh hoặc bên khiếu nại không bổ sung hồ sơ khiếu nại theo yêu cầu và thời gian quy định
Trang 38Thụ lý hồ sơ khiếu nại và thông báo ngay cho bên bị khiếu nại biết khi
hồ sơ khiếu nại đầy đủ và hợp pháp
Bên khiếu nại có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí cho việc xử lý vụ việc cạnh tranh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo thụ lý
hồ sơ khiếu nại
1.3.4.2 Điều tra sơ bộ
Điều kiện bắt buộc để bước vào giai đoạn điều tra sơ bộ là quyết định của Thủ trưởng Cơ quan quản lý cạnh tranh Chủ thể của giai đoạn tố tụng này là Cơ quan quản lý cạnh tranh Điều tra sơ bộ gồm các bước tuần tự: Phân công điều tra viên, hoàn thành điều tra sơ bộ và kiến nghị Thủ trưởng Cơ quan quản lý cạnh tranh xử lý kết quả điều tra trong thời hạn 30 ngày Hoạt động chính và cốt yếu của giai đoạn này là điều tra vụ việc được đề cập trong
hồ sơ khiếu nại hoặc theo phát hiện của Cơ quan quản lý cạnh tranh, để từ đó xác định có hay không dấu hiệu vi phạm quy định của pháp luật cạnh tranh Dấu hiệu vi phạm ở đây được hiểu là những chứng cứ xác thực minh chứng cho sự tồn tại của hành vi vi phạm Trong trường hợp không phát hiện ra dấu hiệu vi phạm, Thủ trưởng Cơ quan quản lý cạnh tranh ra quyết định đình chỉ điều tra
Trang 39Trưng cầu giám định do các bên hoặc điều tra viên kiến nghị và do Thủ trưởng Cơ quan quản lý cạnh tranh quyết định
Các biện pháp ngăn chặn hành chính do bên khiếu nại hoặc điều tra viên kiến nghị và do Thủ trưởng Cơ quan quản lý cạnh tranh quyết định
Tại giai đoạn này, mỗi hoạt động của điều tra viên đều phải được ghi lại rõ ràng dưới hình thức biên bản Biên bản phải nêu đầy đủ các nội dung: Thời gian, địa điểm, người tiến hành điều tra, bên bị điều tra, nội dung điều tra, khiếu nại, yêu cầu của bên bị điều tra Đây là yếu tố mang tính chất đặc thù của tố tụng cạnh tranh khi điều tra viên không chỉ điều tra vụ việc mà còn lắng nghe và ghi nhận quan điểm của bên bị điều tra; có thể hiểu, việc ghi nhận như một hình thức gián tiếp của việc phản tố và tranh tụng giữa bên bị khiếu nại và bên khiếu nại Trên cơ sở các biên bản điều tra, điều tra viên có thể xác định một cách có căn cứ rằng bên bị điều tra có hay không có đã hoặc đang thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Trường hợp vụ việc cạnh tranh có dấu hiệu phạm tội Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu hình phạt, điều tra viên kiến nghị với Thủ trưởng
Cơ quan quản lý cạnh tranh xem xét chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền
Và trong trường hợp, cơ quan có thẩm quyền khi thấy không có căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì phải trả lại cho Cơ quan quản lý cạnh tranh tiếp tục điều tra Thời hạn điều tra trong trường hợp này được tính lại từ ngày nhận lại hồ
sơ
Khi kết thúc quá trình điều tra, Luật Cạnh tranh không có điều khoản quy định về việc báo cáo đối với vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, tuy nhiên có thể hiểu theo quy định của cơ quan hành chính, điều tra viên phải chuyển báo cáo cùng toàn bộ hồ sơ vụ việc lên Cục trưởng Cục quản lý cạnh tranh Báo cáo bao gồm: Tóm tắt vụ việc, các tình tiết và chứng cứ được xác minh, đề xuất biện pháp xử lý
1.3.4.4 Thời hạn, thời hiệu
Trang 40Thời hiệu dân sự ra đời do sự hữu hạn, nhu cầu tự thân của đời sống con người, là thành tựu của nền văn minh nhân loại và không chỉ tồn tại riêng
có ở bất cứ quốc gia nào Thời hiệu quy định việc kiện tụng không thể được hành xử vô hạn định mà cần phải được thực hiện trong thời gian pháp định Theo nguyên tắc tự do ý chí, thời hiệu được coi như một suy đoán có tính mặc nhiên về mặt ý chí của chủ thể đối với quyền lợi Luật suy đoán rằng người có quyền lợi đã từ bỏ tố quyền nếu họ không hành động trong thời hạn họ có thể thực hiện nó mặc dù không có bất kỳ trở ngại nào cản trở, người có nghĩa vụ đương nhiên được giải thoát khỏi nghĩa vụ Xét về mặt xã hội, thời hiệu là phương tiện nhằm ổn định, bảo vệ các các quan hệ xã hội hiện hữu khỏi các quan hệ xã hội đã hết thời hiệu, có thể gây nên những xáo trộn, thiệt hại cho nền kinh tế Về mặt pháp lý, nếu người có quyền để vụ việc trôi qua quá lâu mới thực hiện việc kiện thì người có nghĩa vụ sẽ ở thế bất lợi và khó có thể đưa ra chứng cứ để biện hộ cho mình Như vậy, vấn đề thời hiệu sẽ làm chấm dứt tố quyền hay chấm dứt nghĩa vụ tồn tại? Theo Thuyết thủ tục, thời hiệu chỉ làm chấm dứt tố quyền tại cơ quan tiến hành tố tụng mà không chấm dứt nghĩa vụ; khi đó, thời hiệu là căn cứ để vô hiệu quyền khởi kiện Theo Thuyết thực thể, thời hiệu chấm dứt tố quyền và chấm dứt quyền lợi Trên cơ sở truyền thống, lịch sử, văn hóa, xã hội, quan niệm pháp lý của mỗi quốc gia, khái niệm và quy định thời hiệu trên cơ sở cái chung đã có những nét riêng biệt
Lịch sử pháp luật Việt Nam, vấn đề thời hiệu đã được quy định từ rất sớm Dưới các vương triều phong kiến, thời hiệu chú trọng đến vấn đề ruộng đất Tháng Giêng năm Đại Định thứ ba (1142), vua Lý Anh Tông (1128-1175) khi ban hành quy định về việc kiện tụng và chuộc lại ruộng đất đã quy định thời hạn để chuộc lại ruộng đất Năm 1299, vua Trần Anh Tông có chiếu định rằng ai đã bán ruộng đất và gia nhân làm nô tỳ trong hai năm 1290, 1291 thì cho chuộc về, để quá hạn năm 1299 thì không cho chuộc Triều Lê, Bộ luật Hồng Đức tại Điều 387 định rằng, đối với những ruộng đất cầm mà chủ ruộng xin chuộc thì phải trong niên hạn Thời kỳ Pháp thuộc, do chịu nhiều ảnh