Các quy định của Luật đã thể hiện được những tư tưởng chủ đạo về điều chỉnh hoạt động cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phù hợp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÙI HƯNG NGUYÊN
TỐ TỤNG CẠNH TRANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM –
SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA NHẬT BẢN
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Đình Vinh
HÀ NỘI - 2010
Trang 2Tôi đã hoàn thành cuốn luận văn này khi mà trong tôi vẫn đầy ắp những hứng thú khám phá tri thức pháp luật ở một miền đất, nơi tôi chưa có dịp được đặt chân đến, đó là Nhật Bản Với tôi, đây là thứ quan trọng nhất mà tôi gặt hái được cùng với những kiến thức mà các thầy cô ở trường Đại học Luật Hà Nội đã truyền dạy Để có được điều đó, tôi vô cùng biết ơn TS Lê Đình Vinh, người thầy, người bạn lớn của tôi đã không chỉ tận tình hướng dẫn mà còn gieo vào lòng tôi lòng ham muốn tìm tòi để vươn xa hơn tới chân trời khoa học Tôi cũng muốn gửi cuốn luận văn này tới những người thân yêu của tôi như là lời tri ân vì
sự động viên, khuyến khích và ủng hộ của họ dành cho tôi trong suốt thời gian vừa qua
Hải Phòng, tháng 12 năm 2010
Tác giả
Bùi Hưng Nguyên
Trang 3MỤC LỤC
Chương I Những vấn đề lý luận về cạnh tranh và tố tụng
cạnh tranh
8
1.1.1 Nguồn gốc và bản chất của cạnh tranh 8
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của cạnh tranh và nhu cầu điều tiết hoạt
động cạnh tranh
10
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật cạnh tranh 11
1.3.2 Mô hình tố tụng cạnh tranh theo pháp luật của Hoa Kỳ,
EU và Nhật Bản
15
Chương II Nội dung cơ bản của pháp luật về tố tụng cạnh
tranh ở Việt Nam – So sánh với pháp luật cạnh tranh của
tố tụng cạnh tranh của Việt Nam và pháp luật tố tụng
cạnh tranh của Nhật Bản
42
Trang 42.2.2 Về trình tự, thủ tục xử lý vụ việc cạnh tranh 47
Chương III Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tố
tụng cạnh tranh Việt Nam từ kinh nghiệm pháp luật cạnh
tranh của Nhật Bản
61
3.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật tố tụng
cạnh tranh của Việt Nam theo kinh nghiệm pháp luật
cạnh tranh của Nhật Bản
61
3.1.1 Sự tương đồng giữa Việt Nam và Nhật Bản 61
3.1.2 Những lợi ích của việc hoàn thiện pháp luật tố tụng
cạnh tranh của Việt Nam theo kinh nghiệm pháp luật
cạnh tranh của Nhật Bản
66
3.2.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, chức năng, thẩm quyền của
cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh
Trang 5AMA: Luật Chống độc quyền tư nhân và duy trì thương mại công
bằng Nhật Bản
EC: Cộng đồng Châu Âu
EU: Liên minh Châu Âu
JFTC: Hội đồng Thương mại công bằng Nhật Bản
OECD: Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế
UNCTAD: Tổ chức Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc
UNDP: Chương trình phát triển Liên hợp quốc
VCAD: Cục quản lý cạnh tranh Việt Nam
VCC: Hội đồng cạnh tranh Việt Nam
WB: Ngân hàng thế giới
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu Đề tài
Luật Cạnh tranh được Quốc hội thông qua ngày 03/12/2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2005 Cùng với hàng loạt đạo luật quan trong khác được ban hành và có hiệu lực tại thời điểm đó, như Bộ luật dân sự, Luật doanh nghiệp, Luật thương mại, Luật đầu tư, Luật sở hữu trí tuệ, Luật giao dịch điện tử… Luật Cạnh tranh đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật về kinh tế thị trường định hướng XHCN phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Với 6 chương, 123 điều, Luật Cạnh tranh năm 2005 được đánh giá là một đạo luật có phạm vi điều chỉnh khá rộng, bao quát hầu hết các khía cạnh của pháp luật về cạnh tranh Các quy định của Luật đã thể hiện được những tư tưởng chủ đạo về điều chỉnh hoạt động cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của nước ta và tâm lý kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp
Để thực thi Luật Cạnh tranh, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản dưới luật, trong đó có Nghị định số 05/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh và Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh Đây
là hai cơ quan có nhiệm vụ đảm bảo cho Luật Cạnh tranh được tôn trọng và thực hiện một cách hiệu quả Cùng với việc thiết lập mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh, trình tự, thủ tục điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh (tố tụng cạnh tranh) cũng được quy định khá đầy đủ trong các văn bản nói trên
Tuy nhiên, kể từ khi Luật Cạnh tranh có hiệu lực thi hành đến nay, có rất ít
vụ việc cạnh tranh được điêu tra, xử lý Trong khi đó, các hành vi cạnh tranh
Trang 7không lành mạnh và các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đang diễn ra hàng ngày hàng giờ, dưới những hình thức và với mức độ ngày càng tinh vi hơn, gây bức xúc cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính, làm thiệt hại đến lợi ích của nền kinh tế và toàn xã hội
Thực trạng trên đây đang đặt ra hàng loạt vấn đề về lý luận và thực tiễn cần phải luận giải Phải chăng thủ tục tố tụng cạnh tranh được quy định trong Luật cạnh tranh còn lạc lõng với cuộc sống? Hay mô hình hệ thống cơ quan quản lý cạnh tranh được thiết kế còn sơ cứng, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế
và thực tiễn Việt Nam? Hay thói quen và tâm lý của các nhà kinh doanh nước ta chưa sẵn sàng cho việc sử dụng cơ chế tố tụng cạnh tranh trong ứng xử trên thương trường? Hay các cơ quan tố tụng cạnh tranh chưa thực thi tốt chức năng
“tài phán” của mình trong lĩnh vực cạnh tranh?
Yêu cầu về quản lý nhà nước trong lĩnh vực cạnh tranh đang đặt yêu cầu phải đổi mới và nâng cao hiệu quả của tố tụng cạnh tranh, làm cho thiết chế pháp luật quan trọng này thực sự đi vào cuộc sống Đây là đòi hỏi không chỉ với các cơ quan xây dựng và thực thi pháp luật mà còn với cả giới nghiên cứu, học thuật Thông qua các công trình nghiên cứu, các học giả, các nhà nghiên cứu phải góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn để trả lời những câu hỏi trên đây, cùng với việc tham chiếu kinh nghiệm pháp luật về xây dựng,
tổ chức và vận hành mô hình cơ quan tố tụng cạnh tranh của các nước trên thế giới, nhất là từ các nước phát triển, để đề xuất một mô hình tố tụng cạnh tranh phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
hiện nay Với lý do đó, việc nghiên cứu Đề tài: “Tố tụng cạnh tranh theo pháp
luật Việt Nam – So sánh với pháp luật cạnh tranh của Nhật Bản” là hết sức
cần thiết
Việc lựa chọn hệ thống pháp luật cạnh tranh của Nhật Bản để so sánh là
dụng ý của người viết, xuất phát từ những lý do sau đây: một là, Luật Cạnh
tranh của Việt Nam đã được soạn thảo và ban hành trên cơ sở học hỏi rất nhiều
Trang 8quy định từ pháp luật cạnh tranh các nước tiên tiến trên thế giới, trong đó có
Nhật Bản; hai là, Nhật Bản và Việt Nam tuy ở trình độ phát triển khác nhau
nhưng có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, địa lý, kinh tế, truyền thống dân tộc, đạo đức, phong tục tập quán…, do vậy, về triết lý và văn hóa pháp lý cũng
có nhiều điểm có thể chia sẻ, học hỏi lẫn nhau; ba là, hệ thống pháp luật cạnh
tranh của Nhật Bản ra đời và phát triển từ năm 1947 và được giới luật học coi là một trong ba trụ cột pháp luật cạnh tranh thế giới (cùng với Mỹ và EU) Vì vậy, những kinh nghiệm về pháp luật cạnh tranh nói chung, về mô hình cơ quan tố tụng cạnh tranh nói riêng, rất đáng để Việt Nam tham khảo, học tập
2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến Đề tài
Cùng với sự phát triển của pháp luật cạnh tranh các nước trên thế giới, việc nghiên cứu về lĩnh vực pháp luật cạnh tranh đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả Trong số các tài liệu chuyên khảo về lĩnh vực pháp luật cạnh tranh nước ngoài du nhập vào Việt Nam, có các tác phẩm như: “South Asia Watch on Trade, Economics and Enviroment, Competition Policy in Small Economics”,
“Competition Law - Anti-trust and Policy in Global market Insight”, Informal Professional, Lund 2005; “Competition Law in the WTO: The Rationable for a Framework Agreement”, Anterpen : Intersentia ; Wien : NWV Neuer Wissenschaftlicher Verlag ; Berlin : BWV Berliner Wissenschafts-Verlag của Roland Weinrauch (2004); “Introduction to Japanese Antimonopoly Law”, Yuhikaku, Mitsuo Matsushita và John D.David (1990)… Các tác phẩm được dịch ra tiếng Việt có liên quan đến pháp luật cạnh tranh trong khuôn khổ hợp tác giữa Bộ Công thương và WB, OECD, UNDP, UNCTAD gồm: “Luật Cạnh tranh Canada và bình luận”, “Khuôn khổ pháp lý đa phương điều chỉnh hoạt động cạnh tranh và luật cạnh tranh một số nước và vùng lãnh thổ”, “Khuôn khổ cho việc xây dựng và thực thi luật và chính sách cạnh tranh”
Tại Việt Nam, vấn đề cạnh tranh, chống cạnh tranh không lành mạnh và chống độc quyền đã thu hút được sự quan tâm và bàn thảo của nhiều chuyên gia
Trang 9kinh tế, pháp luật, các nhà quản lý và doanh nghiệp Đáng lưu ý là “Chuyên đề
về cạnh tranh, chống cạnh tranh bất hợp pháp và kiểm soát độc quyền” của Viện Khoa học pháp lý, xuất bản năm 1996; “Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, xuất bản năm 2001; “Chuyên khảo luật kinh tế” của tác giả Phạm Duy Nghĩa, xuất bản năm 2001, với phần viết về “Chính sách và pháp luật cạnh tranh trong kinh doanh”; “Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh” thuộc Dự án hoàn thiện môi trường kinh doanh VIE/97/016 năm 2002; Chuyên đề “Nghiên cứu tiêu chí đánh giá tính bất hợp pháp của các-ten trong luật cạnh tranh Hoa Kỳ, Cộng đồng Châu Âu, Nhật Bản và một số bình luận về Luật Cạnh tranh của Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Cương, viết năm 2004; “Bình luận khoa học Luật Cạnh tranh” của tác giả Lê Hoàng Oanh, xuất bản năm 2005; Luận án tiến sĩ của Đặng
Vũ Huân về “Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam”, viết năm 2003; Luận văn Thạc sĩ của Phan Thị Vân Hồng
“Độc quyền và pháp luật về kiểm soát độc quyền ở Việt Nam hiện nay”, viết năm 2005; Luận văn Thạc sĩ của Trần Thị Bảo Ánh về “Một số vấn đề pháp lý
về tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh Việt Nam”, viết năm 2006; Luận văn thạc sĩ của Đồng Ngọc Dám về “Kiểm soát thoả thuận hạn chế cạnh tranh - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, viết năm 2007; Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Kim Phượng “Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,
vị trí độc quyền theo luật cạnh tranh của Việt Nam”, viết năm 2007…
Bên cạnh đó, nhiều tác giả đã đăng các bài viết có liên quan đến pháp luật cạnh tranh, tố tụng cạnh tranh trên các tạp chí chuyên ngành, như “Mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam” của các tác giả Dương Đăng Huệ và Nguyễn Hữu Huyên đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 01/2004;
“Một số quy định về tố tụng cạnh tranh theo Luật cạnh tranh Việt Nam” của các tác giả Nguyễn Như Phát và Lê Anh Tuấn đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 01/2006; “Điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh” của tác giả Nguyễn Hữu
Trang 10Huyên đăng trên Tạp chí Luật học số 06/2006; … Tuy nhiên, chưa có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu dưới góc độ so sánh giữa tố tụng cạnh tranh theo pháp luật Việt Nam với pháp luật của một quốc gia khác để tìm ra điểm hợp lý
có thể áp dụng phù hợp trong điều kiện của Việt Nam Do đó, Đề tài do học viên lựa chọn không trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã được nghiên cứu trước đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài
Ngoài nghiên cứu một cách hệ thống về lý luận cạnh tranh, tố tụng cạnh tranh nói chung và tố tụng cạnh tranh theo pháp luật Việt Nam và Nhật Bản nói riêng, luận văn đặc biệt chú trọng vào việc so sánh giữa tố tụng cạnh tranh theo pháp luật Việt Nam và tố tụng cạnh tranh theo pháp luật của Nhật Bản, trên cơ
sở quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề cạnh tranh, đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về tố tụng cạnh tranh
Với mục đích nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ cụ thể của luận văn là:
- Nghiên cứu về lý luận cạnh tranh nói chung, tố tụng cạnh tranh nói riêng,
từ đó có cái nhìn bao quát về tố tụng cạnh tranh trong một chỉnh thể với hệ thống pháp luật hiện tại cả về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
- So sánh và phân tích điểm khác biệt trong tố tụng cạnh tranh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật của Nhật Bản, trong đó đánh giá một cách toàn diện những khác biệt của hai hệ thống pháp luật về tố tụng cạnh tranh
Trên cơ sở hai nhiệm vụ trên, luận văn đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện
tố tụng cạnh tranh theo pháp luật Việt Nam phù hợp với yêu cầu thực tiễn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề tài
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là các điểm khác biệt trong quy định pháp luật về tố tụng cạnh tranh của Việt Nam và Nhật Bản đặt trong mối quan hệ với các quy định pháp luật về nội dung tương ứng và các quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh
Trang 11Tiếp cận vấn đề tố tụng cạnh tranh dưới góc độ một đề tài khoa học, vì vậy, phạm vi nghiên cứu của Đề tài là so sánh, những yếu tố khác biệt căn bản
cả về lý luận và thực tiễn giữa tố tụng cạnh tranh theo pháp luật Việt Nam và tố tụng cạnh tranh theo pháp luật Nhật Bản, có phân tích và chú trọng về thực tiễn
áp dụng để đưa ra đề xuất hoàn thiện pháp luật về tố tụng cạnh tranh ở Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về thương mại nói riêng, trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO
Trong quá trình nghiên cứu Đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu của ngành khoa học xã hội và nhân văn là Phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử Bên cạnh đó, tác giả còn chú trọng sử dụng các phương pháp bổ trợ như: phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, v.v… khi phân tích, so sánh pháp luật về tố tụng cạnh tranh của Việt Nam và Nhật Bản để làm sáng tỏ mục đích, yêu cầu của đề tài và đem lại kết quả nghiên cứu tốt nhất
Đề tài được thực hiện chủ yếu từ phương diên lý luận và luật thực định Tuy nhiên, để tăng tính thuyết phục của luận văn, tác giả đã đưa ra một số số liệu và các vụ việc cụ thể trong lĩnh vực pháp luật cạnh tranh của Việt Nam và Nhật Bản để minh họa cho các phân tích, lập luận của mình Các số liệu này được thu thập từ các nguồn sẵn có đã được công bố mà không phải là kết quả của các hoạt động nghiên cứu, khảo sát riêng của tác giả
6 Những kết quả nghiên cứu mới của Đề tài
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống về
tố tụng cạnh tranh theo pháp luật Việt Nam trong mối liên hệ so sánh với pháp
Trang 12luật tố tụng cạnh tranh của Nhật Bản Qua Đề tài, tác giả đã phân tích, kiến giải một cách khá đầy đủ về những điểm khác biệt giữa hai hệ thống pháp luật, từ đó tìm ra câu trả lời cho nguyên nhân của sự không phù hợp về chức năng, thẩm quyền của cơ quan tố tụng cạnh tranh, trình tự, thủ tục tố tụng cạnh tranh, tính khả thi của các quy định nội dung của pháp luật cạnh tranh Việt Nam Trên cơ
sở so sánh hai hệ thống pháp luật, tác giả đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp bước đầu nhằm góp phần hoàn thiện chế định pháp luật về tố tụng cạnh tranh ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ cái viết tắt, Luận văn được chia làm 3 chương như sau:
Chương I Những vấn đề lý luận về cạnh tranh và tố tụng cạnh tranh
Chương II Nội dung cơ bản của pháp luật về tố tụng cạnh tranh ở Việt Nam – So sánh với pháp luật cạnh tranh của Nhật Bản
Chương III Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng cạnh tranh Việt Nam từ kinh nghiệm pháp luật cạnh tranh của Nhật Bản
Nội dung của các Chương được trình bày lần lượt dưới đây
Trang 13CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ
TỐ TỤNG CẠNH TRANH
1.1 Khái quát về cạnh tranh
1.1.1 Nguồn gốc và bản chất của cạnh tranh
Dưới góc độ kinh tế học, cạnh tranh được hiểu là nỗ lực của những người bán hàng, cung ứng dịch vụ nhằm thu hút khách hàng về phía mình nhằm mục đích tăng doanh thu, thị phần, qua đó gia tăng lợi nhuận Cạnh tranh được thực hiện thông qua việc tạo ra những khác biệt về giá cả, chất lượng, mẫu mã hàng hóa, dịch vụ giữa những người bán hàng, cung cấp dịch vụ mà khách hàng có thể phân biệt được
Cạnh tranh là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, nơi các hoạt động sản xuất, kinh doanh được điều tiết bởi quy luật cung – cầu, nơi quyền tự
do kinh doanh của các chủ thể được tôn trọng triệt để Về bản chất, cạnh tranh
có ý nghĩa và tác dụng tích cực, nhất là đối với những hành vi cạnh tranh lành mạnh và được kiểm soát bởi nhà nước Cạnh tranh là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp, thương nhân không ngừng cải tiến, sáng tạo trong quản lý, kinh doanh để hàng hóa, dịch vụ của họ luôn giữ được ưu thế trên thị trường Nhờ có cạnh tranh mà người tiêu dùng luôn được hưởng lợi từ các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt nhất, với giá cả phù hợp nhất
Ở góc độ vĩ mô, cạnh tranh đóng vai trò điều tiết quan hệ cung - cầu hàng hóa, dịch vụ trên thị trường Khi cung lớn hơn cầu thì cạnh tranh sẽ làm cho giá
cả hàng hóa, dịch vụ giảm xuống Khi đó, chỉ những doanh nghiệp lớn, có sức mạnh về công nghệ, phương thức quản lý mới có thể hạ được giá bán để thể tồn
Trang 14tại Ngược lại, khi cầu lớn hơn cung, giá cả hàng hóa, dịch vụ sẽ tăng lên, đồng nghĩa với việc thu được nhiều lợi nhuận Khi đó sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp sẽ đầu tư mở rộng và nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh Cứ như vậy, cạnh tranh trở thành một cuộc chiến không ngừng mà ở đó có những doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh nhờ biết tạo dựng được lợi thế cạnh tranh, nhưng cũng có nhiều doanh nghiệp bị phá sản do thua lỗ, làm ăn không hiệu quả Nhờ vậy mà các nguồn lực xã hội luôn luôn được luân chuyển và sử dụng một cách triệt để nhất [7, tr.34-35]
1.1.2 Phân loại cạnh tranh
Cạnh tranh là một hiện tượng phức tạp, có thể được nhận diện từ nhiều góc
độ Vì vậy, có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại cạnh tranh
Dựa vào mục đích, tính chất của cạnh tranh, có thể chia thành: Cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh lành mạnh là những hành vi cạnh tranh được tiến hành dưới những hình thức phù hợp với pháp luật và các chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh, do đó, không làm xâm hại đến lợi ích của các chủ thể khác
Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cạnh tranh được tiến hành bằng những thủ đoạn vượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật và các chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh, xâm hại đến lợi ích của các đối thủ cạnh tranh, lợi ích của người tiêu dùng và xã hội
Dựa vào tính chất và mức độ can thiệp của công quyền vào đời sống kinh
tế, có thể chia thành: cạnh tranh tự do và cạnh tranh có điều tiết
Cạnh tranh tự do là những hoạt động cạnh tranh diễn ra theo những quy luật khách quan của thị trường mà không có sự can thiệp của bàn tay nhà nước Nói cách khác, chính thị trường với các quy luật tự nhiên, vốn có của nó là động lực dẫn dắt hành vi của các đối thủ cạnh tranh
Trang 15Cạnh tranh có điều tiết những hoạt động cạnh tranh diễn ra trên thị trường nhưng có sự điều tiết của nhà nước thông qua pháp luât và các công cụ kiểm soát cạnh tranh, nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia thị trường, lợi ích người tiêu dùng và của toàn xã hội
Dựa vào cơ cấu doanh nghiệp và mức độ tập trung trong một ngành, một lĩnh vực kinh tế, có thể chia thành: cạnh tranh hoàn hảo và cạnh trong không hoàn hảo
Cạnh tranh hoàn hảo là trạng thái cạnh tranh mà trong đó lợi ích của các chủ thể cạnh tranh được điều tiết hài hòa bởi các quy luật thị trường và do vậy không có sự xung đột nào dẫn đến hạn chế hoặc triệt tiêu cạnh tranh
Cạnh tranh không hoàn hảo là trạng thái cạnh tranh, do vậy luôn xuất hiện những hành vi và thủ đoạn phản cạnh tranh Biểu hiện cực đoan nhất của trạng thái cạnh tranh không hoàn hảo là tình trạng độc quyền
1.1.3 Nhu cầu điều tiết hoạt động cạnh tranh
Như trên đã đề cập, cạnh tranh về bản chất có rất nhiều ý nghĩa tích cực Nếu được kiểm soát và điều tiết hiệu quả, cạnh tranh giữ vai trò vô cùng quan trọng và là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng, tiến bộ về xã hội
Ngược lại, cạnh tranh tự do mà không có sự điều tiết sẽ dẫn đến tự phát, xung đột lợi ích và xuất hiện cách hành vi phản cạnh tranh, thâm chí triệt tiêu cạnh tranh Xu hướng thường thấy của cạnh tranh tự do là sự xuất hiện của các hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh và độc quyền
Những hiện tượng kể trên sẽ làm méo mó bản chất của cạnh tranh cũng như làm triệt tiêu vaỉ trò của cạnh tranh với tư cách là động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia Khiến cho các nguồn lực của xã hội không được sử dụng, khai thác một cách hiệu quả nhất
Trang 16Để phát huy những lợi thế và hạn chế những măt trái của cạnh tranh, vai trò của điều tiết của nhà nước đối với hoạt động này là vô cùng quan trọng và cần thiết Sự điều tiết của nhà nước sẽ góp phần giảm thiểu những hành vi cản trở hoặc triệt tiêu sự cạnh tranh, làm cho hoạt động cạnh tranh diễn ra lành mạnh trong khuôn khổ pháp luật, phù hợp với các chuẩn mực đạo đức kinh doanh, đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên liên quan, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển
Tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà cách thức và mức độ can thiệp của nhà nước vào hoạt động cạnh tranh có thể khác nhau Xong về cơ bản, ở hầu hết các nước, nhà nước thường sử dụng những công cụ chủ yếu như: (i) Chính sách thuế; (ii) Kiểm soát giá cả; (iii) Điều chỉnh độc quyền; (iv) Quốc hữu hoá; (v) Ban hành và thực thi pháp luật về cạnh tranh, v.v… để điều tiết hoat động cạnh tranh Trong những biện pháp kể trên, việc ban hành và thực thi có hiệu quả hệ thống pháp luật về cạnh tranh là biện pháp quan trọng hàng đầu Thông qua pháp luật cạnh tranh, nhà nước thiết lập hành lang pháp lý cho các hoạt động cạnh tranh diễn ra một cách lành mạnh, đồng thời đặt
ra những chế tài nghiêm khắc nhằm hạn chế những hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, các hành vi độc quyền trên thị trường.[18, tr.310-312]
1.2 Khái quát về pháp luật cạnh tranh
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật cạnh tranh
Pháp luật cạnh tranh là hệ thống các chế định, quy phạm do nhà nước ban hành để điều chỉnh các hành vi cạnh tranh Pháp luật cạnh tranh đưa ra các biện pháp ngăn ngừa và xử lý các hành vi cạnh tranh trái pháp luật, đạo đức xã hội và tập quán kinh doanh của các doanh nghiệp Thông qua đó góp phần bảo đảm sự cạnh tranh tự do và lành mạnh, tạo lập môi trường pháp lý an toàn cho các doanh nghiệp hoạt động
Trang 17Những chế định, quy phạm của luật cạnh tranh có thể tìm thấy trong rất nhiều đạo luật thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, song chủ yếu được quy định trong Luật cạnh tranh Pháp luật cạnh tranh có thiên hướng là luật tư, vì nó
góp phần bảo đảo thực hiện hiện quyền tự do kinh doanh của các chủ thể được pháp luật công nhận Tuy nhiên, khi một doanh nghiệp thực hiện để những hành vi cạnh tranh trái pháp luật, đạo đức xã hội và tập quán kinh doanh thì trong nhiều trường hợp phải dùng “luật công” để điều chỉnh, như việc áp dụng các chế tài hành chính (phạt hành chính, cưỡng chế chia tách, giải thể doanh nghiệp…) hoặc các chế tài hình sự (phạt tiền hoặc phạt tù…) mà không cần phải
có yếu tố gây thiệt hại cho một doanh nghiệp cụ thể và có yêu cầu của doanh nghiệp đó Do vậy, pháp luật cạnh tranh vừa có những yếu tố của luật tư, nhưng vừa cũng có những yếu tố của luật công
1.2.2 Cấu trúc của pháp luật cạnh tranh
Theo thông lệ, pháp luật về cạnh tranh được chia làm hai bộ phận: pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh
Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh điều chỉnh các hành vi của các đối thủ cạnh tranh nhằm vào đối thủ cạnh tranh khác hiện hữu, các hành vi
đó vi phạm pháp luật hoặc trrái với đạo đức, tập quán kinh doanh, đã và sẽ gây tổn hại cho đối thủ cạnh tranh để tìm cho mình lợi thế hoặc mối lợi bất chính [18, tr 318-319] Nhìn chung, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh điều chỉnh các hành vi xâm hại đến lợi ích của đối thủ cạnh tranh như: ngăn cản các đối thủ khác trong quá trình cạnh tranh, dèm pha và bôi nhọ đối thủ, đánh cắp bí mật kinh doanh của đối thủ cạnh tranh, sản xuất hoặc cho lưu hành hàng giả…và điều chỉnh các hành vi xâm phạm đến lợi ích của khách hàng như: can thiệp vào quyền tự do quyết định của khách hàng, khuyến mãi trong trường hợp bị pháp luật cạnh tranh cấm, quảng cáo sai lệch…
Trang 18Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh là lĩnh vực pháp luật cạnh tranh điều chỉnh các hành vi ngăn cản và dẫn đến thủ tiêu cạnh tranh (như thỏa thuận nhằm hạn chế cạnh tranh – cartel, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, tập trung kinh tế) Các hành vi này không trực tiếp xâm phạm đến lợi ích của các đối thủ cạnh tranh, nhưng lại gây ra hậu quả gián tiếp cho nền kinh tế và
xã hội vì nó làm méo mó sự vận hành bình thường của thị trường, triệt tiêu động lực của sự phát triển
Để điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh của các nước thường sử dụng các nguyên tắc cấm đoán [18, tr.328-329] Chẳng hạn, đối vơi cartel, pháp luật cạnh tranh châu Âu (EU’s Competition Law) nghiêm cấm các thoả thuận của các doanh nghiệp gây ảnh hưởng xấu đến thị trường chung châu Âu, thị trường các nước thành viên, làm ngăn cản, bóp méo cạnh tranh gồm: (i) Trực tiếp hoặc gián tiếp ấn định giá mua hoặc bán hoặc bất kỳ điều kiện thương mại nào khác; (ii) Giới hạn hoặc điều tiết quá trình sản xuất, thị trường, việc phát triển công nghệ hoặc đầu tư; (iii) Phân chia thị phần hoặc nguồn cung; (iv) Áp đặt các điều kiện không giống nhau đối với các đối tác khác nhau nhằm đặt họ vào vị thế bất lợi; (v) Đưa ra các điều khoản của hợp đồng dẫn tới việc đối tác phải thay đổi các nghĩa vụ khác không liên quan đến đối tượng của hợp đồng Luật pháp châu Âu cũng ghi nhận rõ, tất cả các điều khoản đó đều là vô hiệu, trừ những trường hợp đặc biệt nhằm cải thiện quá trình sản xuất hoặc phân phối hàng hoá hoặc thúc đẩy việc áp dụng công nghệ hoặc thúc đẩy phát triển kinh tế…
Còn đối với hành vi độc quyền, Luật chống Tờ rớt (Anti- trust) của Hoa
Kỳ đưa ra hai nguyên tắc cơ bản để xử lý, đó là nguyên tắc tuyệt đối rule), nghĩa là sẽ bị cấm tuyệt đối trong một số trường hợp độc quyền nhất định
(per-se-và nguyên tắc hợp lý (the rule of reason), nghĩa là trong những trường hợp khác
sẽ có sự linh hoạt trong việc áp dụng pháp luật để xem xét vấn đề độc quyền Sự linh hoạt ở đây là việc xem xét tổng thể giữa yếu tố hiệu quả kinh doanh và tính hợp lý Nguyên tắc tuyệt đối được áp dụng cho các trường hợp như cartel
Trang 19nghiêm trọng (hard-core cartel): ấn định giá (price fixing), thông thầu (bid digging)… Các trường hợp còn lại sẽ áp dụng nguyên tắc hợp lý [15, tr.789]
1.3 Khái quát về tố tụng cạnh tranh
1.3.1 Khái niệm tố tụng cạnh tranh
Tố tụng cạnh tranh là một bộ phận của các hoạt động hành chính – kinh tế liên quan đến cạnh tranh và thực thi Luật cạnh tranh Khoản 9, Điều 3 Luật Cạnh tranh của Việt Nam năm 2004 đưa ra khái niệm về tố tụng cạnh tranh như
sau: “Tố tụng cạnh tranh là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo trình
tự, thủ tục giải quyết, xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định của Luật này”
Như vậy, theo luật pháp Việt Nam, tố tụng cạnh tranh đồng nghĩa với trình tự, thủ tục xem xét giải quyết, xử lý một vụ việc cạnh tranh Tại Khoản 8 Điều 3
Luật Cạnh tranh quy định: “Vụ việc cạnh tranh là vụ việc có dấu hiệu vi phạm
quy định của Luật này bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật”
Từ các định nghĩa trên, có thể thấy Luật Cạnh tranh của Việt Nam đã loại
bỏ nhiều hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh ra khỏi phạm vi khái niệm tố tụng cạnh tranh, như các hoạt động nhằm xác định thị trường liên quan, xác định thị phần, thị phần kết hợp… hoặc các thủ tục đề nghị xin hưởng miễn trừ theo quy định của pháp luật cạnh tranh
Điều 74 Luật Cạnh tranh cũng quy định rõ cơ quan có thẩm quyền xử lý vụ
việc cạnh tranh:“Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh bao gồm cơ quan quản
lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh” Điều 75 quy định về người tiến hành tố
tụng cạnh tranh: “Người tiến hành tố tụng cạnh tranh bao gồm thành viên Hội
đồng cạnh tranh, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, điều tra viên và thư
ký phiên điều trần”
Khác với Việt Nam, các nước có truyền thống về luật cạnh tranh lâu đời như Mỹ, EU và Nhật Bản không đưa ra khái niệm thế nào là tố tụng cạnh tranh,
Trang 20mà bằng kỹ thuật lập pháp xác định nội hàm của nó thông qua các trình tự, thủ tục cụ thể Luật cạnh tranh của Nhật Bản (AMA) quy định thủ tục tố tụng cạnh tranh từ Điều 45 đến Điều 70-22 mục 2, Chương VII trong đó, thay vì đưa ra khái niệm tố tụng cạnh tranh, Luật mô tả cụ thể tiến trình, thủ tục xem xét, xử lý
vụ việc cạnh tranh Điều 45 AMA quy định: “i) Bất kỳ người nào, khi phát hiện
có hành vi vi phạm luật này, có thể báo cáo sự việc cho JFTC và yêu cầu cơ quan này có những biện pháp tương ứng để xử lý hành vi đó; ii) JFTC, trên cơ
sở báo cáo nêu trên, tiến hành các bước điều tra cần thiết liên quan; iii) JFTC quyết định đưa ra hoặc không đưa ra các biện pháp tương ứng liên quan đến vụ việc như báo cáo đã nêu, sau đó phải gửi thông báo tới cá nhân nêu trên; iv) JFTC có thể tự mình đưa ra các biện pháp tương ứng trong trường hợp có hành
vi vi phạm luật này hoặc các trường hợp theo quy định về tình huống độc quyền [30]
1.3.2 Mô hình tố tụng cạnh tranh theo pháp luật của Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản
Để nhìn rõ hơn về những đặc thù của mô hình tố tụng cạnh tranh theo pháp luật Việt Nam, cần tìm hiểu và đối chiếu với mô hình tố tụng cạnh tranh của các nước có truyền thống lâu đời về phát triển kinh tế thị trường cũng như xây dựng
và thực thi pháp luật cạnh tranh
Mỹ, Nhật Bản và EU vốn là ba trụ cột trong nền kinh tế thế giới Kinh nghiệm phát triển kinh tế và thiếp lập thể chế pháp lý cho nền kinh tế thị trường của những nước này đã được nhiều nước học tập Một trong số đó phải kể đến kinh nghiệm xây dựng pháp luật cạnh tranh và kinh nghiệm xây dựng và vận hành mô hình tố tụng cạnh tranh
a Tố tụng cạnh tranh theo pháp luật của Hoa Kỳ
Với hình thức cấu trúc nhà nước liên bang, Hoa Kỳ luôn có hai hệ thống pháp luật cùng tồn tại, đó là hệ thống pháp luật liên bang và hệ thống pháp luật
Trang 21của các tiểu bang Pháp luật cạnh tranh nói chung, mô hình tố tụng cạnh tranh nói riêng của Hoa Kỳ cũng không nằm ngoài thông lệ đó
Ở cấp độ liên bang, pháp luật Hoa Kỳ trao quyền thực thi luật chống Rớt cho hai cơ quan: Ban Chống độc quyền thuộc Bộ Tư pháp (The Antitrust Division of the Department of Justice – DOJ) và Uỷ ban Thương mại Liên bang (The Federal Trade Commission – FTC) Chức năng, thẩm quyền của hai cơ quan này được đánh giá là có nhiều điểm chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn với nhau Tuy nhiên, những người ủng hộ hệ thống “quyền lực song song” này lại cho rằng, chính điều đó làm tăng tính cạnh tranh giữa các cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh, từ đó làm tăng tính khả thi của pháp luật
Tờ-Theo quy định của Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code), DOJ chịu trách nhiệm chính trong việc thực thi luật cạnh tranh Cơ quan này đảm trách các vụ việc cạnh tranh theo trình tự tố tụng hình
sự theo đạo luật Sherman Ngoài ra, DOJ còn chịu trách nhiệm thực thi các khía cạnh phi hình sự trong các quy định của đạo luật Sherman về cấm hạn chế cạnh tranh, cấm độc quyền và các quy định tại đạo luật Clayton về cấm sáp nhập, cấm trong một số trường hợp nhất định một cá nhân là thành viên hội đồng quản trị của các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau và các quy định có liên quan khác
Nhằm tăng cường việc thực hiện pháp luật cạnh tranh và hiệu quả của tố tụng cạnh tranh DOJ đã ban hành chính sách khoan hồng, theo đó việc miễn trừ
sẽ được áp dụng đối với doanh nghiệp đầu tiên nếu đáp ứng được các điều kiện của chính sách khoan hồng Chính sách này được áp dụng một thời gian khá dài tại Hoa Kỳ và đã chứng tỏ hiệu quả của nó đối với việc chống Tờ-rớt
Bên cạnh DOJ, FTC cũng là cơ quan được trao quyền thực thi pháp luật cạnh tranh bắt đầu từ những năm 1910 với tư cách là một uỷ ban độc lập nhằm thực thi các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trong đó có việc thực thi pháp luật cạnh tranh được quy định tại đạo luật về Ủy ban Thương mại liên
Trang 22bang (The Federal Trade Commission Act) Chức năng, thẩm quyền của FTC giới hạn ở việc thực thi các khía cạnh phi hình sự trong các điều cấm của đạo luật Sherman và đạo luật Clayton, bao gồm cả một số điều cấm liên quan đến phân biệt về giá nhằm hạn chế cạnh tranh được quy định tại đạo luật Robinson-Patman và là chủ thể chủ đạo thực thi các quy định về bảo vệ người tiêu dùng và các quy định có liên quan đến chống độc quyền khác
Ở cấp độ tiểu bang, ngoài việc có luật riêng của từng bang về chống độc quyền, chính quyền các bang được phép viện dẫn và thay mặt chính quyền Liên bang trong việc áp dụng pháp luật cạnh tranh của Liên bang đối với các vụ việc xảy ra trong phạm vi bang đó Tuy nhiên, chính quyền bang không được áp dụng pháp luật cạnh tranh của Liên bang đối với những vụ việc cạnh tranh theo thủ tục tố tụng hình sự
Bộ máy nhà nước Hoa Kỳ được xây dựng dựa trên học thuyết “tam quyền phân lập” Do vậy, hệ thống toà án liên bang Hoa Kỳ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho pháp luật cạnh tranh được thực thi Không giống như hệ thống các cơ quan hành pháp khi thực thi pháp luật cạnh tranh, hệ thống toàn án liên bang và toà án của các bang không phải là hệ thống “quyền lực song song” mà là một hệ thống thống nhất Hệ thống toà án liên bang chia ra làm mười một vùng, mỗi vùng có một hệ thống các án lệ của riêng mình Toà án các bang không có thẩm quyền xem xét các khiếu nại liên quan đến việc thực thi luật cạnh tranh liên bang mà chỉ có quyền xem xét các khiếu nại liên quan đến việc thực thi pháp luật cạnh tranh của bang mình
b Mô hình tố tụng cạnh tranh theo pháp luật của EU
Khác với Hoa Kỳ, pháp luật cạnh tranh của EU ra đời sau pháp luật cạnh tranh của các nước thành viên Do đó, mô hình tố tụng cạnh tranh theo pháp luật cạnh tranh của EU cũng có nhiều điểm khác biệt
Trang 23Theo Hiệp định về thành lập Cộng đồng Châu Âu (Treaty Establishing The European Community, Nov.1., 1997), tại các Điều 81 và 82 (tương ứng với Điều
85 và 86 của Hiệp định Roma cũ), pháp luật cạnh tranh châu Âu do một uỷ ban
có tên gọi là Directorate General for Competition (DG) chịu trách nhiệm thi hành và đảm bảo thực hiện DG là cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh trong việc xử lý các vụ việc cạnh tranh của EU theo pháp luật cạnh tranh EU Trong quá trình hình thành và phát triển, DG đã xử lý nhiều vụ việc cạnh tranh, đặc biệt là các vụ cartel Không chỉ dừng lại trong phạm vi nội bộ EU, DG cũng đã
xử lý một số vụ việc cạnh tranh có liên quan đến cartel được thực hiện ngoài lãnh thổ của EU Điển hình của các vụ việc mà DG đã thực hiện là vụ sáp nhập của Sony và BMG, sáp nhập của General Electric và Honeywell, các vụ việc liên quan đến độc quyền của Apple.Inc, Microsoft…
Pháp luật cạnh tranh của EU cũng được các nước: Bỉ, Pháp, Đức, Hy-Lạp,
Ý, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha viện dẫn như luật của quốc gia bên cạnh luật quốc nội khi tiến hành xử lý vụ việc cạnh tranh tại quốc gia mình
Nhằm khuyến khích việc tự giác và hợp tác của các bên trong quá trình điều tra các vụ việc cạnh tranh, đặc biệt là các vụ việc có liên quan đến cartel,
EU đã ban hành chính sách khoan hồng Chính sách này có hiệu lực trong phạm
vi cả cấp độ EU và cấp độ từng quốc gia thành viên Để được hưởng chính sách khoan hồng, một doanh nghiệp tham gia cartel chưa bị điều tra, phải là doanh nghiệp đầu tiên đăng ký với cơ quan xử lý vụ việc cạnh tranh bằng việc cung cấp thông tin có giá trị đủ để cơ quan đó mở cuộc điều tra các doanh nghiệp được cho là đã tham gia vào cartel Nếu cơ quan xử lý vụ việc cạnh tranh đã có
đủ thông tin để có thể mở cuộc điều tra hoặc đã có doanh nghiệp khai báo trước, thì doanh nghiệp đó phải cung cấp chứng cứ để cơ quan xử lý vụ việc cạnh tranh chứng minh được có sự tồn tại của cartel Ngoài ra, các doanh nghiệp có thể được giảm chế tài căn cứ vào chứng cứ doanh nghiệp đó cung cấp có giá trị bổ sung cho nguồn chứng cứ cơ quan chức năng đã có hay không theo các mức độ:
Trang 24Doanh nghiệp đầu tiên sẽ được giảm từ 30 đến 50% chế tài, doanh nghiệp thứ hai sẽ là 20 đến 30% và doanh nghiệp cuối cùng được giảm tối đa là 20%
Theo pháp luật cạnh tranh của EU, Toà án Châu Âu (The European Court
of Justice – ECJ) cũng có quyền tài phán đối với cả các quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của DG ECJ không có thẩm quyền thụ lý các kháng cáo bản án về việc xử lý vụ việc cạnh tranh của toà án các quốc gia thành viên Các cá nhân không có quyền yêu cầu ECJ giải quyết vụ việc cạnh tranh khi cho rằng quyền lợi của mình bị xâm phạm Tuy nhiên, ECJ thường đảm trách việc giải thích phương thức xử lý các vụ việc cạnh tranh theo pháp luật cạnh tranh EU cho Toà
án các quốc gia thành viên như một gợi ý để thống nhất cách thức giải quyết trong EU Toà án tại các quốc gia thành viên thường áp dụng cách giải thích theo ECJ trong tố tụng cạnh tranh tại quốc gia mình
Thực tiễn cho thấy, các vụ việc cạnh tranh theo trình tự tố tụng cạnh tranh
do DG và toà án châu Âu thụ lý thường là các vụ việc của các quốc gia thành viên hoặc vụ việc xảy ra trên phạm vi nhiều quốc gia thành viên hoặc mở rộng
ra ngoài phạm vi EU
c Mô hình tố tụng cạnh tranh theo pháp luật của Nhật Bản
Là quốc gia đi sau so với Hoa Kỳ và EU, Nhật Bản đã học hỏi và rút kinh nghiệm từ mô hình của Hoa Kỳ và EU để xây dựng mô hình tố tụng cạnh tranh riêng của mình
Năm 1947, dưới sự bảo trợ của Hoa Kỳ, Nhật Bản đã ban hành AMA trên
cơ sở kế thừa các giá trị pháp lý của Đạo Luật Chống Tờ Rớt của Hoa Kỳ Đây
là đạo luật cạnh tranh đầu tiên của Châu Á AMA sau đó đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1953, 1977, 2002 và 2005 [17]
Để thực thi AMA, JFTC được thành lập Về cơ bản, JFTC được trao tất cả các thẩm quyền trong phạm vi có thể và có tính độc lập tối đa để đảm bảo AMA được tôn trọng thực hiện Theo quy định của AMA, JFTC được toàn quyền điều
Trang 25tra, tổ chức phiên điều trần đối với vụ việc cạnh tranh Bên cạnh đó, JFTC có thẩm quyền xử lý vụ việc cạnh tranh theo cả thủ tục tố tụng hình sự và phi hình
sự
Nếu các bên không đồng ý với phán quyết của JFTC thì có thể kiện ra toà
để giải quyết tiếp vụ việc Toà Thượng thẩm Tokyo sẽ là cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc canh tranh Trong trường hợp này, theo quy định của Luật Giải quyết vụ án hành chính (Administrative Case Litigation Act-Act No.139), JFTC sẽ trở thành bị đơn và ngay lập tức phải chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc cạnh tranh cho Toà án xem xét [30]
Để khuyến khích việc thực thi AMA, JFTC đã học hỏi kinh nghiệm về chính sách khoan hồng của Mỹ và EU để có chính sách khoan hồng phù hợp với điều kiện của Nhật Bản Từ khi được ban hành cho đến nay, chính sách này đã
và đang tỏ ra khá hiệu quả trong việc phát giác các vi phạm pháp luật cạnh tranh (Chi tiết sẽ được trình bày ở Chương II)
Trang 26CHƯƠNG II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỐ TỤNG CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM - SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT
CẠNH TRANH CỦA NHẬT BẢN
2.1 Nội dung cơ bản của pháp luật tố tụng cạnh tranh ở Việt Nam
2.1.1 Các quy định về cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh
Trong quá trình soạn thảo Luật Cạnh tranh, một vấn đề được tranh luận khá nhiều là tên gọi và mô hình tổ chức cơ quan tố tụng cạnh tranh ở Việt Nam Tuy có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này, nhưng tập trung vào hai phương
án chính
Phương án 1: Thành lập cơ quan ngang bộ về quản lý cạnh tranh, trong đó
có thẩm quyền tiến hành tố tụng cạnh tranh Với đặc điểm của Việt Nam, các bộ trong Chính phủ đang là cơ quan chủ quản đối với nhiều doanh nghiệp nhà nước, do đó phương án này được cho là sẽ đảm bảo tính độc lập của cơ quan thực thi luật cạnh tranh đối với các bộ ngành Tiếng nói của cơ quan này sẽ có trọng lượng hơn về các vấn đề liên quan đến cạnh tranh Tuy nhiên, điểm bất lợi của phương án này là gây ra sự cồng kềnh cho bộ máy nhà nước trong bối cảnh chúng ta đang đẩy mạnh cải cách hành chính Ngoài ra, có nhiều ý kiến cho rằng, ở giai đoạn đầu chuyển đổi, nền kinh tế còn quy mô nhỏ, các hành vi cần quản lý như sáp nhập để thống lĩnh thị trường, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh còn ít, chưa cần thiết phải có một cơ quan quản lý chuyên trách cấp bộ
Phương án 2: Thành lập Cục quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công thương
Ưu điểm của phương án này là dễ thực hiện, không làm phát sinh đầu mối cơ quan thuộc chính phủ, phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính Song, từ thực tiễn quản lý nhà nước ở nước ta cho thấy, việc đảm bảo tính độc lập trong hoạt
Trang 27động của một đơn vị cấp cục thuộc Bộ là rất khó khi Bộ Công thương đang trực tiếp quản lý nhiều doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn [5]
Khi thảo luận và thông qua Luật Cạnh tranh 2005, cá nhà làm luật đã lựa chọn phương án trao thẩm quyền thực thi Luật Cạnh tranh cho hai cơ quan song hành, đó là Hội đồng Cạnh tranh và Cơ quan quản lý cạnh tranh Phương án này được coi là sự dung hoà của hai phương án nêu trên, với hy vọng sẽ tách bạch được hoạt động quản lý hành chính và hoạt động tài phán trong quản lý nhà nước về cạnh tranh Nhưng liệu đây có phải là phương án tối ưu hay chưa? Quá trình triển khai vận hành hai mô hình này như thế nào và kết quả ra sao? Có đáp ứng được kỳ vọng hay không? Để trả lời những câu hỏi này, chúng ta lần lượt xem xét từng mô hình
a Hội đồng Cạnh tranh
Điều 53 Luật Cạnh tranh quy định: “Hội đồng cạnh tranh là cơ quan do
Chính phủ thành lập” Hội đồng Cạnh tranh có từ mười một đến mười lăm
thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công thương Thủ tướng Chính phủ cũng bổ nhiệm, miễn nhiệm Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh trong số thành viên của Hội đồng cạnh tranh trên cơ sở
đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công thương Nhiệm kỳ của các thành viên là năm năm và có thể được bổ nhiệm lại
Về chức năng nhiệm vụ, Luật quy định, Hội đồng cạnh tranh có nhiệm vụ
tổ chức xử lý, giải quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của Luật Cạnh tranh
Khi xem xét các quy định trong Luật Cạnh tranh về địa vị pháp lý, chức năng nhiệm vụ của Hội đồng Cạnh tranh, có thể thấy nổi lên hai vấn đề sau:
Thứ nhất, Luật chỉ quy định một cách chung chung rằng Hội đồng Cạnh tranh là cơ quan do Chính phủ thành lập mà không quy định rõ nó là cơ quan của Chính phủ hay trực thuộc bộ, ngành nào và do đó Luật cũng không đề cập
Trang 28trực tiếp tới tính chất độc lập về mặt tổ chức của Hội đồng Cạnh tranh? Điều 80 của Luật chỉ quy định tính độc lập trong hoạt động tố tụng của Hội đồng xử lý
vụ việc cạnh tranh, một thiết chế được thành lập bởi Hội đồng Cạnh tranh Nhưng, kinh nghiệm thực tiễn ở nước ta cho thấy, nếu một cơ quan không có sự độc lập về mặt tổ chức, nhân sự, bộ máy thì cũng rất khó độc lập trong hoạt động
Thứ hai, tính chất chuyên trách hay kiêm nhiệm của các thành viên Hội đồng cạnh tranh cũng không được Luật Cạnh tranh quy định cụ thể
Những vấn đề trên đã được cụ thể hóa bởi các văn bản dưới luật hướng dẫn Luật Cạnh trạnh, đặc biệt là Nghị định số 05/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng Cạnh tranh Điều 1 của Nghị định khẳng định Hội đồng cạnh tranh có tư cách pháp nhân, có con dấu hình Quốc huy và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật
Điều 2 của Nghị định quy định rõ vị trí, chức năng của VCC như sau: “Hội
đồng cạnh tranh là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước độc lập, có chức năng
xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh” Như vậy, VCC được thành lập với tư
cách là cơ quan có chức năng, nhiệm vụ cụ thể mà không phải là hội đồng tư vấn cho Chính phủ hoặc cho Bộ Công thương
Tính chất độc lập còn được thể hiện thông qua các nhiệm vụ, quyền hạn của VCC được quy định tại Điều 3, gồm: 1) Tổ chức xử lý các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của pháp luật; 2) Thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh để giải quyết một vụ việc cạnh tranh cụ thể; 3) Yêu cầu các tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ được giao; 4) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn hành chính sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ việc cạnh tranh theo quy định của pháp luật; 5) Giải quyết khiếu nại đối với các
vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của
Trang 29pháp luật; 6) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
Về cơ cấu tổ chức, VCC có Chủ tịch VCC và các thành viên VCC có từ mười một đến mười lăm người do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công thương theo nhiệm kỳ là năm năm và có thể được bổ nhiệm lại Hiện tại số thành viên VCC là mười một người Ngoài ra, VCC còn có Ban Thư ký VCC, là bộ máy giúp việc chuyên nghiệp cho VCC khi thực thi nhiệm vụ được quy định tại điều 4 của Nghị định trên
Tuy nhiên, xung quanh vấn đề tính chất độc lập của VCC, nhiều quy định tại các văn bản dưới luật vẫn còn gây ra không ít băn khoăn
Thứ nhất, về kinh phí hoạt động, Điều 1 của Nghị định số 05/2006/NĐ-CP quy định: “Kinh phí hoạt động của Hội đồng cạnh tranh do ngân sách nhà nước đảm bảo và được bố trí theo dự toán ngân sách hàng năm của Bộ Thương mại” Như vậy, mặc dù có tư cách độc lập, nhưng kinh phí hoạt động của VCC tùy thuộc vào sự bố trí của Bộ Công thương
Thứ hai, về bộ máy giúp việc cho VCC, tại Nghị định 05/2006/NĐ-CP đã quy định: “Giúp việc cho Hội đồng cạnh tranh có Ban Thư ký Hội đồng cạnh tranh Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Ban Thư ký Hội đồng cạnh tranh do Bộ trưởng Bộ Thương mại quy định” Tại Quyết định số 1128/QĐ-BCT ngày 05/3/2009 của Bộ Công thương về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ
chức của Ban thư ký Hội đồng cạnh tranh đã được quy định trong điều 1: “Ban
Thư ký Hội đồng cạnh tranh (sau đây gọi là Ban Thư ký) là đơn vị thuộc Bộ Công Thương có chức năng giúp Hội đồng cạnh tranh trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng theo quy định tại Nghị định số 05/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh” Như vậy, Bộ máy giúp việc cho VCC do Bộ Công thương chi phối cả về mặt con người và tổ chức
Trang 30Ngoài ra, trong quá trình xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh, VCC phải hoàn toàn dựa vào kết quả điều tra do cơ quan quản lý cạnh tranh, là thực thể thứ hai bên cạnh VCC có thẩm quyền thực thi Luật cạnh tranh, chuyển báo cáo điều tra cùng toàn bộ hồ sơ vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh đến cho VCC theo quy định tại điều 93 Luật Cạnh tranh, mà không thể tự mình tiến hành điều tra được Tại điều 1 Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh đã giao nhiệm vụ cho Cục Quản lý cạnh tranh đóng vai trò là cơ quan quản
lý cạnh tranh Đây là tổ chức trực thuộc Bộ Công thương có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Công thương thực hiện quản lý nhà nước nhiều lĩnh vực khác nhau có liên quan đến thương mại, trong đó có vấn đề cạnh tranh Tính chất chính xác, khách quan của các quyết định xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh của VCC phụ thuộc phần lớn vào kết quả làm việc, năng lực chuyên môn của đội ngũ công chức
có liên quan của Bộ Công thương mà VCC không thể xem xét vụ việc từ khi bắt đầu giai đoạn điều tra vụ việc cạnh tranh có liên quan đến các hành vi hạn chế cạnh tranh thuộc thẩm quyền của mình
Như vậy, với ngân sách, bộ máy giúp việc, các kết quả điều tra vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh đều phải phụ thuộc vào Bộ Công thương Với thực tế này, tính chất độc lập của VCC khó mà được đảm bảo như tinh thần của Nghị định số 05/2006/NĐ-CP
Về tính chuyên nghiệp của các thành viên VCC, Điều 53 Luật Cạnh tranh quy định vể tiêu chuẩn chuyên môn, tư cách đạo đức, kinh nghiệm công tác mà các thành viên VCC phải có gồm: a) Có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, khách quan, có tinh thần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; b) Có trình độ cử nhân luật hoặc cử nhân kinh tế, tài chính; c) Có thời gian công tác thực tế ít nhất là chín năm thuộc một trong các lĩnh vực quy định tại điểm b; d) Có khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao Ngoài quy định vừa nêu, trong Luật Cạnh tranh và Nghị định số 05/2006/NĐ-CP đều không hề đề cập đến việc các thành viên của VCC làm nhiệm vụ chuyên trách hay kiêm nhiệm, bao nhiêu phần trăm trong số
Trang 31thành viên đó là chuyên trách và bao nhiêu thành viên là kiêm nhiệm Điều này chỉ được gián tiếp quy định tại Quy chế tổ chức và hoạt động của VCC ban hành kèm theo Quyết định số 01/QĐ-HĐCT của Hội đồng Cạnh tranh ngày 15/01/2009 được phê duyệt bởi Quyết định số 0293/QĐ-BCT ngày 15/01/2009 của Bộ Công thương Tại Khoản 5 Điều 2 của Quy chế trên về nguyên tắc hoạt động đã ghi nhận: “Cơ quan có cán bộ được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm làm thành viên của Hội đồng cạnh tranh phải đảm bảo thời gian để thành viên đó tham gia hoạt động và hoàn thành tốt công việc của Hội đồng cạnh tranh Khi thành viên được Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh cử tham gia Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, cơ quan chủ quản hạn chế giao công việc trong giai đoạn này cho thành viên đó cho đến khi Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh hoàn thành nhiệm vụ” Quy định này có thể được hiểu là:
- Toàn bộ thành viên của VCC đều làm nhiệm vụ kiêm nhiệm và nhiệm vụ khi là thành viên tại VCC không phải là công việc chính của họ Thực tiễn, trong các Quyết định bổ nhiệm các cá nhân làm thành viên VCC của Thủ tướng Chính phủ, toàn bộ các thành viên VCC đều là cán bộ chủ chốt đến từ các Bộ Công thương, Bộ Tư pháp và nhiều bộ ngành khác
- Quy định này không có giá trị bắt buộc các bộ ngành khác phải tuân theo
vì thang bậc giá trị pháp lý của nó được giới hạn bởi quyết định của Bộ Công thương Việc các Bộ, cơ quan ngang bộ khác có cán bộ là thành viên VCC có đảm bảo thời gian, hạn chế giao việc cho cán bộ của họ để các cá nhân này tham gia vào công việc của VCC hay không hoàn toàn phụ thuộc vào công việc chính của cá nhân đó và công việc chung của bộ chủ quản
Như vậy, với việc phân tích nêu trên về mức độ độc lập của VCC và tính chất chuyên nghiệp của các thành viên VCC, tác giả cho rằng, thực tế việc tổ chức và hoạt động của VCC chỉ ngang tầm như một Hội đồng tư vấn một lĩnh vực cụ thể nào đó cho Chính phủ mà không thể đáp ứng kỳ vọng của cộng đồng
Trang 32doanh nghiệp, trong đó VCC sẽ là người đóng vai trò trung tâm trong việc thực thi có hiệu quả Luật Cạnh tranh
Theo số liệu do VCC công bố, kể từ khi thành lập cho đến tháng 4/2009, VCC mới tiến hành thành công được một phiên điều trần kín để xử lý vụ việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh của Công ty Xăng dầu hàng không (Vinapco), là công ty con của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines - VNA) Hiện Vinapco là đơn vị duy nhất tại Việt Nam cung cấp mặt hàng xăng dầu cho các hàng hàng không Diễn biến vụ việc như sau:
Ngày 01/4/2008, Vinapco đã có hành vi đơn phương ngừng cung cấp xăng cho máy bay của Hãng hàng không Pacific Airlines Lý do được Vinapco đưa ra
là do không đạt được thoả thuận về giá với Pacific Airlines Sau khi được VCAD tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ sang cho VCC Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh đã xác định Vinapco đã vi phạm Luật Cạnh tranh tại khoản 2 và khoản 3 điều 14 về các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm Theo đó, Vinapco bị xử phạt tiền với mức là 3,37 tỉ đồng (tương đương với 0,05% doanh thu năm 2007, trong khi mức phạt tối đa có thể lên đến 10% doanh thu) và Hội đồng kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền tách Vinapco ra khỏi Vietnam Airlines nhằm thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh Ngay sau đó, Vinapco đã gửi khiếu nại tới VCC về kết quả xử lý vụ việc cạnh tranh
Cùng với các động thái phản đối từ phía VNA về đề nghị tách Vinapco ra khỏi VNA, ngay trước thời điểm VCC tổ chức nhóm họp để xem két khiếu nại của Vinapco, Vinapco lại có hành động tương tự đối với hãng hàng không Indochina Airlines khi đề xuất với Cục Hàng không dân dụng về việc không cung cấp xăng cho các chuyến bay của Indochina Airlines với lý do hãng này nợ
11 tỉ đồng tiền nhiên liệu Tuy nhiên, đề xuất của họ đã bị Cục Hàng không dân dụng Việt Nam bác bỏ bằng văn bản
Sau khi xem xét khiếu nại của Vinapco, VCC đã nhất trí thông qua mức phạt không thay đổi so với phiên điều trần đã diễn ra trước đó Tuy nhiên, VCC
Trang 33đã rút lại kiến nghị tách Vinapco khỏi VNA như đề xuất ban đầu với lý do sự tách biệt này có thể làm phá vỡ hệ thống vận hành của VNA.VCC đề nghị cấp phép cho Công ty cổ phần nhiên liệu bay (PJF) của Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam được cung cấp nhiên liệu cho các hãng hàng không nước ngoài và trong nước để hạn chế sự độc quyền của Vinapco
Vụ việc nêu trên chưa phải là vụ việc duy nhất về hạn chế cạnh tranh đã xảy ra trong quãng thời gian VCC được thành lập và đi vào hoạt động Riêng trong năm 2008, đã xuất hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh liên quan đến hạn chế cạnh tranh mà VCC chưa thể xử lý được vì VCAD không chuyển hồ sơ để tổ chức phiên điều trần, điển hình là thoả thuận của các hiệp hội nghề nghiệp như: các doanh nghiệp trong Hiệp hội bảo hiểm cùng thoả thuận về việc tăng giá một số loại sản phẩm bảo hiểm, các doanh nghiệp trong Hiệp hội thép đồng loạt tăng giá thép trong nước, nhiều ngân hàng thương mại trong Hiệp hội ngân hàng cùng nhau ký thoả thuận về việc ấn định trần lãi suất… nhằm hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thành viên [11]
b Cục Quản lý cạnh tranh
Điều 1 Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh như sau:
“1 Cục Quản lý cạnh tranh là tổ chức trực thuộc Bộ Thương mại có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Thương mại thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; phối hợp với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng trong việc đối phó với các vụ kiện trong thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ
Cục Quản lý cạnh tranh có tên giao dịch viết bằng tiếng Anh: Vietnam Competition Administration Department, viết tắt là VCAD
Trang 342 Cục Quản lý cạnh tranh có tư cách pháp nhân, có con dấu hình Quốc huy, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, được sử dụng con dấu riêng để giao dịch theo quy định của pháp luật Kinh phí hoạt động của Cục Quản lý cạnh tranh do ngân sách nhà nước cấp”
Như vậy, VCAD là cơ quan tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Công thương trong nhiều lĩnh vực liên quan đến thương mại và quản lý nhà nước về cạnh tranh chỉ là một trong những lĩnh vực được giao
Về nhiệm vụ, quyền hạn, Điều 2 Nghị định số 06/2006/NĐ-CP giao cho VCAD thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể gồm mười bốn đầu mối công việc thường xuyên và các công việc khác do Bộ trưởng Bộ Công thương giao Trong lĩnh vực cạnh tranh, VCAD có những quyền và nghĩa vụ sau: a) Thụ lý, tổ chức điều tra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh để Hội đồng cạnh tranh
xử lý theo quy định của pháp luật; b) Tổ chức điều tra xử lý đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh khác theo quy định của pháp luật; c) Thẩm định hồ
sơ đề nghị hưởng miễn trừ theo các quy định của pháp luật để trình Bộ trưởng
Bộ Thương mại quyết định hoặc trình Thủ trướng Chính phủ quyết định; d) Kiểm soát quá trình tập trung kinh tế; đ) Xây dựng, quản lý hệ thống thông tin
về các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, các doanh nghiệp độc quyền,
về quy tắc cạnh tranh trong hiệp hội, về các trường hợp miễn trừ
Để thực thi các nhiệm vụ nói trên, VCAD có cơ cấu tổ chức và bộ máy giúp việc được quy định tại Nghị định số 06/2006/NĐ-CP gồm:
Về lãnh đạo Cục, VCAD có Cục trưởng và một số Phó Cục trưởng Cục trưởng VCAD do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của
Trang 35Bộ trưởng Bộ Công thương Cục trưởng VCAD chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Công thương về toàn bộ hoạt động của VCAD
Các Phó Cục trưởng, lãnh đạo Văn phòng đại diện của Cục do Bộ trưởng
Bộ Công thương bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Cục trưởng Cục Quản
lý cạnh tranh và chịu trách nhiệm trước Cục trưởng về lĩnh vực công tác được phân công (Điều 4)
Về bộ máy giúp việc của VCAD gồm: Ban Điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh, Ban Giám sát và quản lý cạnh tranh, Ban Điều tra và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Ban Bảo vệ người tiêu dùng, Ban Xử lý chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ, Ban Hợp tác quốc tế, Văn phòng; các tổ chức sự nghiệp trực thuộc gồm: Trung tâm thông tin và Trung tâm đào tạo điều tra viên; các đơn vị khác trực thuộc VCAD, bao gồm các văn phòng đại diện của VCAD tại
Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh (Điều 3)
Như vậy, qua các quy định trên đây cho thấy tính chất chuyên trách và mức độ chuyên nghiệp của VCAD cao hơn so với VCC VCAD là một đơn vị trực thuộc Bộ Công thương, Cục trưởng VCAD có toàn quyền trong việc chỉ đạo, điều hành và chịu trách nhiệm trước Bộ trrưởng Bộ Công thương trong mọi hoạt động của các thành viên trong bộ máy VCAD để thực thi nhiệm vụ, từ cơ sở vật chất, tài chính, quản lý cán bộ công chức, bộ máy giúp việc… Ngoài ra, các thành viên VCAD đều là những cán bộ, công chức làm việc chuyên trách
Từ khi thành lập cho đến hết năm 2008, VCAD mới tiến hành điều tra, xử
lý được 16 vụ việc cạnh tranh Trong đó, VCAD chủ yếu tập trung xử lý các doanh nghiệp vi phạm pháp luật cạnh tranh với hành vi vi phạm là khá rõ ràng, tình tiết không phức tạp, như các vụ việc liên quan đến bán hàng đa cấp (08 vụ) Một số vụ việc điển hình đã được VCAD điều tra và xử lý gồm: Vụ việc Công
ty TNHH Tân Hy Vọng bị phạt 140 triệu đồng về hành vi đưa thông tin sai lệch
về sản phẩm và từ chối mua lại sản phẩm được bán theo phương thức bán hàng
đa cấp; Vụ Công ty TNHH Noni Vina bị xử phạt 100 triệu đồng về hành vi
Trang 36quảng cáo sai lệch và bán hàng đa cấp bất chính; Vụ Công ty TNHH Hằng Thuận bị phạt 140 triệu đồng về hành vi bán hành đa cấp bất chính… Số vụ việc còn lại có liên quan đến nhóm hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, chỉ dẫn gây nhầm lẫn, gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác thì có đến 06 vụ là đình chỉ điều tra do không phát hiện được hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh hoặc trả lại hồ sơ do đương sự không bổ sung được
hồ sơ trong thời hạn quy định [4]
Có một thực tế là hầu hết các doanh nghiệp vi phạm đã được VCAD xử lý trong thời gian vừa qua là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, chiếm thị phần còn khiêm tốn mà chưa phải là các doanh nghiệp lớn, các Hiệp hội, các tổng công ty, tập đoàn kinh tế của Việt Nam hoặc các tập đoàn nước ngoài có mặt tại thị trường Việt Nam Trong năm 2008, đã có một số Hiệp hội vi phạm Luật cạnh tranh bằng hành vi thoả thuận ấn định giá hàng hoá dịch vụ trực tiếp hoặc gián tiếp (vi phạm khoản 1, điều 8 Luật Cạnh tranh) nhưng chưa được VCAD xử lý thích đáng Có thể kể ra đây một số vụ việc điển hình:
- Tháng 3/2008, nhiều thành viên của Hiệp hội Ngân hàng đã cùng nhau ký vào thỏa thuận ấn định trần lãi suất huy động Mặc dù Không một văn bản nào hoặc một cơ quan nào cho phép việc quy định trần nhưng VCAD đã không xử lý việc này Sự việc chỉ kết thúc cho đến khi đích thân Thủ tướng phải có văn bản yêu cầu bãi bỏ thoả thuận trên
- Tháng 10/2008, Hiệp hội Thép đã có thoả thuận giữa các doanh nghiệp thành viên về việc ấn định giá bán thép trên thị trường Việt Nam Tuy nhiên, động thái của VCAD mới dừng lại ở việc tìm hiểu sơ bộ và không có kết luận cụ thể về vấn đề này
- Tháng 11/2008, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thoả thuận với sự đồng ý (cùng ký vào văn bản) của 16 doanh nghiệp thành viên là nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ, thống nhất nâng mức phí bảo hiểm tiêu chuẩn (bảo hiểm vật chất) xe ô tô từ 1,3%/năm lên 1,56%/năm (chưa tính 10% thuế giá trị gia
Trang 37tăng) Năm mức phí bảo hiểm khác cho các loại xe cơ giới cũng đồng loạt được tăng theo và được áp dụng ngay từ tháng 10/2008 Sự việc này vấp phải phản ứng dữ dội từ phía người tiêu dùng, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải Điều trớ trêu là việc vi phạm pháp luật cạnh tranh của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam là khá rõ ràng khi họ lý giải sự tồn tại của thoả thuận “nhằm hạn chế tình trạng cạnh tranh gay gắt trong bối cảnh tỷ lệ bồi thường cao, kinh doanh bảo hiểm có dấu hiệu không có lãi hoặc lãi không đáng kể” [11]
Tóm lại, trong quãng thời gian hơn ba năm kể từ khi được thành lập, VCC
và VCAD đã ít nhiều thể hiện được tiếng nói của mình trong đời sống kinh doanh Tuy nhiên, chưa thể nói hai cơ quan này đã đảm đương tốt vai trò giữ cho Luật Cạnh tranh với tư cách là “bản hiến pháp của thị trường” được tôn trọng và thực thi hiệu quả
Theo chúng tôi, thực trạng trên bắt nguồn từ một số nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, VCC và VCAD được thành lập và hoạt động trong bối cảnh là
cơ quan nhà nước đảm trách lĩnh vực hoàn toàn mới đối với cả cộng đồng doanh nghiệp và các nhà quản lý Do đó, việc chưa thể thích nghi và phát huy tốt vai trò của mình là điều có thể hiểu được
Thứ hai, các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của VCC và VCAD chưa
thực sự tạo hành lang pháp lý cho hai cơ quan này thực hiện đúng nhiệm vụ như
nó được kỳ vọng Với hai cơ chế làm việc còn khá ít mối liên hệ mật thiết với nhau khi xử lý vụ việc cạnh tranh, trong đó ngoài việc VCAD có nhiệm vụ báo cáo điều tra sau khi kết thúc điều tra cùng với việc chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh đến VCC, chưa có giải pháp hiệu quả để VCC và VCAD có được sự tương tác cần thiết thể hiện sự gắn kết linh hoạt, qua đó có thể tạo nên tiếng nói chung, thống nhất, độc lập về mặt chuyên môn và đủ mạnh về mặt quyền lực giữa hai cơ quan này Điều này dẫn đến việc rất khó cho các cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh trong việc bảo vệ được quan điểm
Trang 38của mình và đưa ra được chế tài đủ sức răn đe các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật cạnh tranh, trước sức ép từ nhiều phía
Thứ ba, do đặc thù của cơ chế kinh tế ở nước ta chi phối Theo nhận định
của TS Lê Đăng Doanh, chống độc quyền ở Việt Nam phức tạp hơn nhiều so với các quốc gia khác, vì các công ty có được vị trí độc quyền không từ quá trình cạnh tranh, mà do sự ủng hộ của Nhà nước, và việc chống độc quyền được đến mức nào thì còn tùy thuộc các cơ quan quản lý nhà nước có muốn “đụng” đến những doanh nghiệp mà lâu nay họ thường ủng hộ hay không [3]
Với những lý do nêu trên, theo quan điểm của chúng tôi, trong bối cảnh kinh tế
xã hội và trình độ quản lý kinh tế hiện tại, việc đưa ra mô hình hai cơ quan độc lập với nhau cùng thực thi Luật Cạnh tranh không những không giúp cho hai cơ quan này phát huy được các ưu điểm của từng cơ quan và có sự phối hợp tốt với nhau, mà trong chừng mực nào đó còn làm hạn chế, thậm chí triệt tiêu năng lực đáng lẽ phải có của chúng trong việc đảm bảo cho pháp luật cạnh tranh thực thi có hiệu quả
2.1.2 Trình tự, thủ tục tố tụng cạnh tranh
Khoản 9 Điều 3 Luật Cạnh tranh định nghĩa: “Tố tụng cạnh tranh là hoạt
động của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo trình tự, thủ tục giải quyết, xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định của Luật này” Như vậy tố tụng cạnh tranh theo
quy định của Luật cạnh tranh không bao gồm các thủ tục miễn trừ trong các trường hợp hạn chế cạnh tranh được luật cho phép Trình tự, thủ tục tố tụng cạnh tranh do đó sẽ trải qua các bước và căn cứ như sau:
a Các căn cứ để tiến hành điều tra sơ bộ
Theo Điều 86 Luật Cạnh tranh, có hai căn cứ để cơ quan tố tụng cạnh tranh tiến hành điều tra sơ bộ vụ việc cạnh tranh, đó là:
- Hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh đã được cơ quan quản lý cạnh tranh thụ lý
Trang 39Điều 58 Luật Cạnh tranh quy định: “bất kỳ tổ chức, cá nhân nào cho rằng
quyền lợi của mình bị xâm hại do hành vi vi phạm quy định của pháp luật cạnh tranh có quyền khiếu nại đến cơ quan quản lý cạnh tranh” trong thời hiệu hai
năm kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện Việc khiếu nại được thực hiện bằng việc gửi hồ sơ khiếu nại cho VCAD Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ khiếu nại, VCAD
có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho bên khiếu nại về việc thụ lý hồ sơ và bên khiếu nại phải nộp tiền tạm ứng chi phí cho việc xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định
- VCAD tự phát hiện có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh Trong trường hợp này, VCAD có thể tự tiến hành điều tra sơ bộ vụ việc mà không cần phải đợi có khiếu nại của bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào Thời hiệu
để VACD tự tiến hành điều tra vụ việc cạnh tranh là hai năm, kể từ ngày hành vi
có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện
b Điều tra hành chính và điều tra hình sự trong tố tụng cạnh tranh
- Điều tra sơ bộ:
Thủ tục điều tra sơ bộ do các điều tra viên của VCAD tiến hành trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra sơ bộ Trong thời hạn đó, các điều tra viên phải hoàn thành thủ tục điều tra tra sơ bộ và kiến nghị Thủ trưởng VCAD ra quyết định đình chỉ điều tra hoặc điều tra chính thức
Trong quá trình điều tra và tham gia tố tụng cạnh tranh, điều tra viên có các quyền sau: i) Yêu cầu tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin cần thiết
và các tài liệu có liên quan đến vụ việc cạnh tranh; ii) Yêu cầu bên bị điều tra cung cấp tài liệu, giải trình liên quan đến vụ việc bị điều tra; iii) Kiến nghị Thủ trưởng VCAD trưng cầu giám định; iv) Kiến nghị Thủ trưởng VCAD áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính liên quan đến vụ việc cạnh tranh
Trang 40Tương ứng với các quyền nêu trên, điều tra viên phải tuân theo các nghĩa
vụ sau: i) Tống đạt quyết định điều tra của Thủ trưởng VCAD cho bên bị điều tra; ii) Giữ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp; iii) Bảo quản tài liệu đã được cung cấp; iv) Tiến hành điều tra vụ việc cạnh tranh theo phân công của Thủ trưởng VCAD; v) Làm báo cáo điều tra sau khi kết thúc điều tra sơ bộ, điều tra chính thức vụ việc cạnh tranh; vi) Chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng VCAD và trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Căn cứ vào kết quả điều tra sơ bộ và kiến nghị của điều tra viên, Thủ trưởng VCAD ra một trong các quyết định sau đây: 1) Đình chỉ điều tra nếu kết quả điều tra sơ bộ cho thấy không có hành vi vi phạm quy định của Luật này; 2) Điều tra chính thức nếu kết quả điều tra sơ bộ cho thấy có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh
- Điều tra chính thức:
Đối với vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, thời hạn điều tra chính thức
là chín mươi ngày, kể từ ngày có quyết định; trường hợp cần thiết, thời hạn này
có thể được Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh gia hạn, nhưng không quá sáu mươi ngày;
Đối với vụ việc thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền hoặc tập trung kinh tế, thời hạn điều tra chính thức là 180 ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra; trường hợp cần thiết, thời hạn này có thể được Thủ trưởng VCAD gia hạn, nhưng không quá hai lần, mỗi lần không quá 60 ngày;
Việc gia hạn thời hạn điều tra phải được điều tra viên thông báo đến tất cả các bên liên quan trong thời hạn chậm nhất là 7 ngày làm việc trước ngày hết hạn điều tra (Điều 90 Luật cạnh tranh)