ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐỀ TÀI 17 Chứng cứ và việc sử dụng chứng cứ trong tố tụng cạnh tranh Những vấn đề lý luận và thực tiễn A Mở đầu Tố tụng cạnh tranh là một nội dung cơ bản của pháp luậ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỀ TÀI 17: Chứng cứ và việc sử dụng chứng cứ trong tố tụng
cạnh tranh Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Trang 2A Mở đầu
Tố tụng cạnh tranh là một nội dung cơ bản của pháp luật cạnh tranh, là thiếtchế đảm bảo sự thực thi Luật Cạnh tranh và góp phần không nhỏ đưa phápluật vào cuộc sống Đó là hoạt động của cơ quan tổ chức cá nhân theo trình
tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh theo quy định của pháp luật Vàtrong tố tụng cạnh tranh, chứng cứ đóng vai trò rất quan trọng Chứng cứ lànhững gì có thật, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi
vi phạm pháp luật về cạnh tranh, doanh nghiệp có hành vi vi phạm và nhữngtình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ việc cạnh tranh.là phươngtiện để chứng minh tội phạm, người phạm tội và dùng để xác định nhữngtình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án, cho nên nó xuấthiện cùng với cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm không chỉ trong luậthình sự mà còn thể hiện rõ trong luật cạnh tranh Chế định chứng cứ có vị trí,vai trò rất quan trọng Thực tiễn, việc áp dụng và thực hiện đúng chế địnhnày sẽ bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được tiếnhành khách quan, chính xác, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng,chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp củacác tổ chức, các công dân Song, xét về mặt lý luận, xung quanh chế địnhchứng cứ trong tố tụng cạnh tranh còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí tráingược nhau
Pháp luật cạnh tranh quy định những tình tiết, sự kiện ngoài những tình tiết,
sự kiện đáp ứng được yêu cầu không phải chứng minh trong xử lý vụ việccạnh tranh cần thu thập chứng cứ để chứng minh Chứng cứ cần thu thập phụthuộc vào từng vụ việc cụ thể trên cơ sở xem xét hành vi cạnh tranh bất hợppháp là gì, chủ thể vi phạm là ai, chủ thể có thỏa mãn điều kiện luật định haykhông, mức độ của hành vi vi phạm và trách nhiệm pháp lý như thế nào.Trên cơ sở đó mà chứng cứ cần thu thập trong các vụ việc cạnh tranh thườngbao gồm: chứng cứ về hành vi, chứng cứ xác định chủ thể và điều kiện chủ
Trang 3thể, chứng cứ xác minh thị trường, và chứng cứ xác định trách nhiệm pháplý.
B Nội dung
I Khái quát chung về tố tụng cạnh tranh, chứng cứ trong tố tụng cạnh tranh
1 Khái niệm tố tụng cạnh tranh:
Theo quy định tại Khoản 8 Điều 4 Luật Cạnh tranh 2018 khái niệm Tốtụng cạnh tranh được quy định cụ thể như sau:
“Tố tụng cạnh tranh là hoạt động điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh và giảiquyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh theo trình tự, thủ tục quyđịnh tại Luật Cạnh tranh 2018.”
Tố tụng cạnh tranh là thuật ngữ mới xuất hiện trong đời sống pháp lí ở ViệtNam,được sử dụng tại Luật cạnh tranh năm 2004 và tiếp tực ghi nhận tạiLuật cạnh tranh năm 2018 Tố tụng cạnh tranh thực chất bao gồm thẩmquyền và thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, đó là một trong các nội dung
cơ bản và quan trọng của pháp luật cạnh tranh ở các quốc gia trên thế giới
1 Đặc trưng cơ bản của tố tụng cạnh tranh:
- Thứ nhất, tố tụng cạnh tranh được áp dụng để giải quyết vụ việc cạnhtranh.Theo Luật cạnh tranh, vụ việc cạnh tranh là vụ việc có dấu hiệu viphạm pháp luật về cạnh tranh bị điều tra, xử lí theo quy định của Luậtcạnh tranh, bao gồm vụ việc hạn chể cạnh tranh, vụ việc vi phạm quyđịnh về tập trung kinh tể và vụ việc cạnh tranh không lành mạnh
Tố tụng cạnh tranh sẽ được áp dụng đối với những vụ việc đáp ứng hai điềukiện cần và đủ sau:
+ Một là vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh
+ Hai là bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều tra, xử lí theo quy định củaLuật cạnh tranh
Trang 4- Thứ hai, tố tụng cạnh tranh áp dụng cho các loại hành vi vi phạm pháp luậtcạnh tranh có bản chất không giống nhau, đó là hành vi hạn chế cạnh tranh,tập trung kinh tế và hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Đặc điểm này thể hiện sự khác biệt của tố tụng cạnh tranh ở Việt Nam so với
tố tụng cạnh tranh của nhiều quốc gia trên thế giới Pháp luật của nhiều quốcgia trện thể giới quy định tách bạch hoạt động tổ tụng liên quan đến hành vicạnh tranh không lành mạnh được giải quyết theo phương thức tố tụng toà án(thuộc bản chất tố tụng dân sự) chứ không thuộc tố tụng cạnh tranh như phápluật cạnh tranh Việt Nam.Tuy nhiên, do bản chất của hành vi hạn chế cạnhtranh, tập trung kinh tế và hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác nhaunên trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến các nhómhành vi này không hoàn toàn giống nhau
- Thứ ba, tố tụng cạnh tranh được tiến hành bởi các cơ quan hành pháp
Tố tụng cạnh tranh được tiến hành bởi các cơ quan hành pháp (không đượctiến hành bởi toà án), thông qua hoạt động của người tiến hành tố tụng cạnhtranh, bao gồm: Chủ tịch ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Chủ tịch Hội đồng xử
lí vụ việc hạn chế cạnh ttanh, thành viên Hội đồng xử lí vụ việc hạn chế cạnhtranh, thành viên Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lí vụ việc cạnhtranh, thủ trưởng cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh, điều tra viên vụ việccạnh ưanh và thư kí phiên điều trần
- Thứ tư, tố tụng cạnh tranh được áp dụng không nhất thiết phải dựa vàođơn khiếu nại của bên có liên quan mà có thể được thực hiện bởi quyếtđịnh hành chính của cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền
Thẩm quyền tiến hành tố tụng cạnh ttanh được khởi đầu bằng quyết địnhđiều tra của Thủ trưởng Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh đối với hành vihạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế và hành vi cạnh tranh không lành mạnh,ựong đó hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế thường xâm phạm đếnlợi ích của tập thể, xã hội, xâm phạm tới cấu trúc thị trường Ngoài hồ sơkhiếu nại vụ việc cạnh tranh đã được thụ lí, cơ sở pháp lí để Cơ quan điều tra
Trang 5vụ việc cạnh tranh quyết định điều tra còn có thể là hành vi có dấu hiệu viphạm pháp luật cạnh tranh mà ủy ban Cạnh tranh Quốc gia tự phát hiện Bởivậy, khi ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạmPháp luật cạnh ttanh, Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh có thể tự mìnhquyết định điều tra mà không cần có đơn khiếu nại của bên liên quan.
2 Chủ thể của tố tụng cạnh tranh:
Chủ thể tham gia tố tụng cạnh tranh là những tổ chức, cá nhân có quyền
và nghĩa vụ tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh, bao gồm:
Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh, bao gồm: Cơ quan quản lý cạnh tranh
và Hội đồng cạnh tranh
Người tiến hành tố tụng cạnh tranh, bao gồm: Thành viên hội đồng cạnhtranh, thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, điều tra viên và thư ký phiênđiều trần
Người tham gia tố tụng cạnh tranh bao gồm: Bên khiếu nại, bên bị điềutra, Luật sư; người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan
3 Chứng cứ trong tố tụng cạnh tranh
* Khái niệm: Theo điều 56 Luật cạnh tranh 2018, chứng cứ là những gì có thật,
được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi vi phạm pháp luật
về cạnh tranh, doanh nghiệp có hành vi vi phạm và những tình tiết khác có ýnghĩa trong việc giải quyết vụ việc cạnh tranh
* Thuộc tính của chứng cứ: Về cơ bản khái niệm chứng cứ khá giống với khái
niệm chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hànhchính Cũng giống như các loại chứng cứ đó, chứng cứ trong cạnh tranh phảiđảm bảo các thuộc tính vốn có gồm tính khách quan, tính liên quan và tính hợppháp
- Tính khách quan: Chứng cứ được dùng là những tài liệu, sự kiện có thật, phảnánh trung thực những tình tiết của vụ việc cạnh tranh, không bị xuyên tạc, bóp
Trang 6méo theo ý chí chủ quan của con người.Tính khách quan đòi hỏi bản thân cácnguồn thông tin này phải có thật, không phụ thuộc vào khả năng con người cónhận biết chúng hay không Những thông tin, tài liệu làm chứng cứ tồn tạikhách quan trước khi có cuộc điều tra mà không phải là mới được tạo ra mộtcách giả tạo nhằm phục vụ cho một mục đích nào đó Những chứng cứ này cũngphải đảm bảo tính chất gốc mà không thể làm lại hay mô phỏng lại, những gì làsuy đoán, tưởng tượng, không có thật thì không phải là chứng cứ.
- Tính liên quan: Chứng cứ có tính liên quan bởi chứng cứ được tòa dựa vào
để giải quyết vụ việc cạnh tranh Nó đòi hỏi những thông tin, tài liệu làm chứng
cứ phải có mối liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến vụ việc cạnh tranh, là cơ sở
để xác định sự tồn tại hay không tồn tại của những vấn đề cần chứng minh, làyếu tố cần thiết đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc cạnh tranh
- Tính hợp pháp: đòi hỏi những thông tin, tài liệu làm chứng cứ phải được thu
thập, kiểm tra, đánh giá theo đúng quy định của pháp luật cạnh tranh, tức là phảiđược thu thập một cách hợp pháp Trong quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh,các chủ thể chứng minh phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về chứng
cứ Đối với những gì không được rút ra từ các nguồn do pháp luật quy định,không được thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng theo đúng quy định củapháp luật thì không được coi là chứng cứ, không được sử dụng giải quyết vụviệc cạnh tranh
Trong quá trình điều tra xử lý các cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền như cơquan cạnh tranh, hội đồng cạnh tranh, hội đồng xử lý, các điều tra viên và thànhviên hội đồng xử lý có nghĩa vụ phải xem xét, đánh giá các thuộc tính củachứng cứ để quyết định việc sử dụng chứng cứ
⇨ Đánh giá chứng cứ trong luật cạnh tranh: Theo Điều 24 Nghị định
35/2020/NĐ-CP (Có hiệu lực từ 15/05/2020) được quy định như sau:
Trang 71 Việc đánh giá chứng cứ phải đầy đủ, khách quan, toàn diện và chínhxác.
2 Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranhphải đánh giá từng chứng cứ, sự liên quan giữa các chứng cứ và khẳngđịnh giá trị pháp lý của từng chứng cứ
Có thể nói đánh giá chứng cứ là hoạt động tư duy lôgíc được tiến hành dựa trên
cơ sở các quy định của pháp luật và ý thức pháp luật Mục đích của việc đánhgiá chứng cứ nhằm:(1) xác định tính xác thực, độ tin cậy và giá trị của chứng
cứ, (2) xác định khả năng sử dụng của từng chứng cứ, (3) xác định tính chất, ýnghĩa và mức độ liên quan giữa các chứng cứ, (4) xác định giá trị của từngchứng cứ trong việc chứng minh làm sáng tỏ sự việc, và (5) xác định hướng sửdụng tiếp theo Để đạt được điều đó cần thực hiện so sánh, đối chiếu giữa cácchứng cứ đã thu thập được với các tình tiết của vụ việc để xem xét tính phù hợphay mâu thuẫn Việc xác định tính phù hợp hoặc mâu thuẫn giữa các chứng cứtrong cùng một vụ việc nhằm làm căn cứ, cơ sở để quyết định việc tiếp tục điềutra, thu thập thêm chứng cứ mới
Yêu cầu đầu tiên của việc đánh giá chứng cứ là cần xác định tính có thật, kháchquan của từng chứng cứ Sau khi xác định tính xác thực, việc tiếp theo là xemxét giá trị chứng minh của từng chứng cứ Tức là xác định xem chứng cứ đó liênquan và có khả năng làm rõ được những tình tiết nào trong vụ việc, chứng minhđược những nội dung gì và có đủ cơ sở để đưa ra kết luận cuối cùng về nội dung
đó hay không Vì vậy, đánh giá và xác định giá trị chứng minh của chứng cứ cóvai trò rất quan trọng
Ngoài ra, khi đánh giá chứng cứ cũng phải xem xét giá trị pháp lý hay tính hợppháp của từng chứng cứ Chứng cứ phải được phản ánh từ các nguồn do phápluật thừa nhận và được thu thập bằng các biện pháp phù hợp với các quy địnhcủa pháp luật Cho dù có đủ thuộc tính khách quan và liên quan nhưng nguồn và
Trang 8biện pháp thu thập thông tin, tài liệu không phù hợp với quy định của pháp luậtthì không thể được dùng làm chứng cứ.
II Xác định nguồn gốc chứng cứ trong tố tụng cạnh tranh, vai trò của chứng cứ Phân loại.
● Nguồn gốc của chứng cứ trong tố tụng cạnh tranh:
Theo Khoản 2, Điều 56 Luật cạnh tranh 2018 và Điều 76, Nghị định 116/2005/NĐ-CP hướng dẫn Luật Cạnh tranh, chứng cứ được xác định từ các nguồn gồmvật chứng; lời khai của người làm chứng và giải trình của các tổ chức, cá nhânliên quan; các tài liệu hoặc biên bản, kết luận giám định
- Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện vi phạm, tiền và
những vật khác có giá trị chứng minh cho hành vi vi phạm Vậtchứng dùng làm chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc
- Lời khai của người làm chứng, giải trình của tổ chức, cá nhân liên quan
được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi
âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình và các thiết bị ghi âm, ghi hình khác kèmtheo văn bản xác nhận về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó,hoặc khai bằng lời tại phiên điều trần
- Tài liệu gốc, bản sao tài liệu gốc, bản dịch tài liệu gốc được công chứng,
chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp,xác nhận được coi là chứng cứ nếu là tài liệu đọc được nội dung
Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hànhtheo đúng thủ tục do pháp luật quy định
Có thể nói điều tra cạnh tranh là hoạt động mang tính đặc thù nên chứng cứtrong cạnh tranh cũng có điểm khác biệt Thứ nhất, trong các vụ việc cạnh tranhvật chứng thường xuất hiện ít hơn các dạng chứng cứ khác Thứ hai, thực tiễncho thấy chứng cứ được sử dụng trong các vụ việc cạnh tranh không bị giới hạnbởi các nguồn chứng cứ quy định tại Điều 76 trên đây Trong nhiều vụ việccạnh tranh đòi hỏi phải xác định thị trường liên quan, xác minh thị phần, thịphần kết hợp của các doanh nghiệp trên thị trường liên quan để xác định hành vi
vi phạm hoặc xác định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường Trong trường hợp
đó, các thông tin trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như doanh thu,doanh số được sử dụng làm chứng cứ để xác định thị phần, thị phần kết hợp hayxác định vị trí của doanh nghiệp
● Vai trò của chứng cứ trong tố tụng cạnh tranh:
Trang 9Trong thực tế, tính hợp pháp của chứng cứ được xác định thông qua hoạtđộng chứng minh được toà án và tất cả người tham gia tố tụng thực hiện vàtuân thủ Những thông tin, chứng cứ thu thập được là căn cứ đầy đủ nhấtgiúp quá trình tố tụng cạnh tranh phản bác một phần hay toàn bộ quan điểmcủa bên đối lập, khẳng định quan điểm của mình nhằm bảo vệ quyền lợi củathân chủ Đó có thể là điều kiện chứng minh bị can vô tội hoặc chứng minhhành vi phạm tội của bị can không đến mức nguy hiểm như tài liệu trong hồ
sơ thể hiện
− Chứng cứ là cơ sở duy nhất, là phương tiện duy nhất để chứng minh trong
tố tụng cạnh tranh Khi giải quyết tố tụng cạnh tranh, trong quá trình thựchiện các hoạt động tố tụng, cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án cầnxác minh những sự việc có liên quan đến tội đang được tiến hành xemxét, cần phải khẳng định được rằng tội đã xảy ra, xác định được người cụthể đã thực hiện tội và họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện.Tất cả các sự kiện và tình tiết của vụ án phải phù hợp với hiện thực kháchquan Để làm được điều đó, cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa vào chứng
cứ Thông qua chứng cứ, kiểm sát viên thực hành quyền công tố trước toà
án đưa ra lời buộc tội đối với bị cáo, còn người bào chữa và thân chủ của
họ có thể bác bỏ lời buộc tội hoặc đưa ra những tình tiết giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự của bị cáo
− Việc nghiên cứu, xác định các sự kiện, tình tiết của vụ án được tiến hànhtrên cơ sở của các chứng cứ và chỉ bằng cách dựa vào các chứng cứmớilàm sáng tỏ được những vấn đề cần chứng minh tronh tố tụng cạnhtranh
− Thông qua việc phát hiện chứng cứ, xem xét và ghi nhận chứng cứ về mặt
tố tụng, kiểm tra tính xác thực của chứng cứ, đánh giá chứng cứ, cơ quantiến hành tố tụng có thể nghiên cứu đầy đủ và toàn diện các tình tiết của
Trang 10vụ án, xác định sự phù hợp của chúng với hiện thực từ đó tìm ra chân lýkhách quan.
− Quá trình chứng minh thực chất và nói chung là quá trình giải quyếtchứng cứ, mọi giai đoạn của tố tụng hình sự đều được mở ra và kết thúc
từ vấn đề chứng cứ, xuất phát từ chứng cứ
● Những loại chứng cứ cần thu thập trong điều tra
cạnh tranh (phân loại):
− Chứng cứ cần thu thập phụ thuộc vào từng vụ việc cụ thể trên cơ sở xemxét hành vi cạnh tranh bất hợp pháp là gì, chủ thể vi phạm là ai, chủ thể
có thỏa mãn điều kiện luật định hay không, mức độ của hành vi vi phạm
và trách nhiệm pháp lý như thế nào Trên cơ sở đó mà chứng cứ cần thuthập trong các vụ việc cạnh tranh thường bao gồm chứng cứ về hành vi,chứng cứ xác định chủ thể và điều kiện chủ thể, chứng cứ xác minh thịtrường, và chứng cứ xác định trách nhiệm pháp lý
− Chứng cứ về hành vi là những chứng cứ được dùng để chứng minh hành
vi vi phạm hoặc không vi phạm các quy định của pháp luật cạnh tranhcủa một đối tượng chủ thể nhất định Thu thập chứng cứ chứng minhhành vi là yêu cầu bắt buộc đầu tiên đối với điều tra viên trong quá trìnhđiều tra Việc có thu thập được chứng cứ chứng minh hành vi hay không
sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả điều tra và quyết định sự thành công củatoàn bộ quá trình điều tra Chứng cứ chứng minh hành vi cũng là cơ sở đểđiều tra viên đưa ra quyết định về việc tiếp tục hoặc dừng việc điều tranếu không muốn tiêu tốn vô ích các nguồn lực
− Chứng cứ xác định chủ thể và điều kiện chủ thể rất phong phú và đa dạngbao gồm các loại thông tin, tài liệu chứng minh cho sự tồn tại thực sự củacác chủ thể là đối tượng điều tra trong vụ việc cạnh tranh, chứng minhcho sự tham gia hay liên quan của những đối tượng này vào các hành vi
vi phạm, chứng minh cho mức thị phần chiếm giữ hoặc thị phần kết hợp
Trang 11của nhóm doanh nghiệp trong những vụ việc đòi hỏi phải xác định cáctiêu chí thị phần nhằm xác định tính hợp pháphay bất hợp pháp của hành
vi Các chứng cứ xác định chủ thể và điều kiện chủ thể cũng đóng vai trò
vô cùng quan trọng trong các vụ việc cạnh tranh bởi chỉ khi xác địnhđược chính xác những chủ thể có hành vi vi phạm theo đúng quy định củapháp luật cạnh tranh thì mới có khả năng áp dụng được các biện pháp xử
lý đúng đắn và phù hợp để đảm bảo và tăng cường tính khả thi của phápluật cạnh tranh
− Chứng cứ xác minh thị trường là những chứng cứ được sử dụng để xácđịnh thị trường liên quan trong những vụ việc cạnh tranh đòi hỏi phải xácđịnh thị trường liên quan Chứng cứ xác minh thị trường thường bao gồmrất nhiều loại khác nhau như các thông tin, tài liệu nhằm xác định đặctính, mục đích sử dụng, giá cả của hàng hoá hay dịch vụ hay các thông tinnhằm khoanh vùng các khu vực địa lý liên quan nằm trong phạm vi haykhuôn khổ của cuộc điều tra
− Chứng cứ xác định trách nhiệm pháp lý là những chứng cứ làm cơ sở choviệc đưa ra một biện pháp xử lý phù hợp nhất đảm bảo sự tương xứng vớitính chất và mức độ của hành vi vi phạm
Khi thực hiện việc thu thập các loại chứng cứ trên đây các điều tra viêncần lưu ý chỉ được sử dụng các biện pháp và tuân theo đúng trình tự, thủ tục luậtđịnh Không được làm sai lệch hồ sơ tài liệu, cố tình bỏ ra ngoài hồ sơ nhữngchứng cứ quan trọng, thêm bớt hoặc sửa chữa hồ sơ tài liệu hay chứng cứ làmảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ việc cạnh tranh Việc thu thậpchứng cứ cũng cần phải được thực hiện một cách kịp thời, nhanh chóng và đầyđủ
III Vấn đề chứng cứ điện tử trong các vụ việc cạnh tranh Thời hạn công bố và sử dụng chứng cứ, giao nộp chứng cứ.
Trang 12● Vấn đề chứng cứ điện tử trong các vụ việc cạnh tranh:
Cùng với sự phát triển của công nghệ và khoa học máy tính cùng với những tínhnăng ưu việt đã thúc đẩy việc áp dụng rộng khắp công nghệ và khoa học nàytrong kinh doanh Vì vậy, rất nhiều loại thông tin, tài liệu, số liệu hay kết quảkinh doanh cũng như nhiều giao dịch giữa các chủ thể kinh doanh trên thịtrường được lưu giữ ở dạng dữ liệu điện tử Và trong nhiều trường hợp nhữngthông tin, tài liệu được lưu giữ ở dạng điện tử này trở thành những chứng cứquan trọng trong các vụ việc cạnh tranh Do vậy, có thể khái quát chứng cứ điện
tử là những chứng cứ được lưu giữ dưới dạng tín hiệu điện tử trong máy tínhhoặc trong các thiết bị có bộ nhớ kỹ thuật số
Nhằm đáp ứng những điều kiện phát triển mới, pháp luật Việt Nam đã quy định
và công nhận giá trị của chứng cứ điện tử Luật giao dịch điện tử năm 2005 quyđịnh như sau:
- Công nhận giá trị pháp lý của thông điệp điện tử bằng việc quy
định thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lýchỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu (điều 11)
- Luật này cũng quy định trường hợp thông điệp điện tử có giá trị như văn
bản, theo đó trường hợp pháp luật yêu cầu thông tin phải được thể hiệnbằng văn bản thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu cầu này nếuthông tin chứa trong thông điệp dữ liệu đó có thể truy cập và sử dụngđược để tham chiếu khi cần thiết (điều 12)
- Quy định thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc, theo đó thông điệp dữ
liệu có giá trị như bản gốc khi đáp ứng được các điều kiện gồm nội dungcủa thông điệp dữ liệu được bảo đảm toàn vẹn kể từ khi được khởi tạo lầnđầu tiên dưới dạng một thông điệp dữ liệu hoàn chỉnh (Nội dung củathông điệp dữ liệu được xem là toàn vẹn khi nội dung đó chưa bị thayđổi, trừ những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữhoặc hiển thị thông điệp dữ liệu); nội dung của thông điệp dữ liệu có thểtruy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết (Điều 13)
- Đặc biệt Luật này khẳng định thông điệp dữ liệu có giá trị làm chứng cứ,
theo đó thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị dùng làm chứng cứchỉ vì đó là một thông điệp dữ liệu Giá trị chứng cứ của thông điệp dữliệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, lưu trữhoặc truyền gửi thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tínhtoàn vẹn của thông điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo và cácyếu tố phù hợp khác (Điều 14)
Trang 13Thực tiễn trong điều tra cạnh tranh ở nhiều nước trên thế giới cho thấy chứng cứđiện tử ngày càng xuất hiện nhiều theo sự phát triển của khoa học công nghệ Vìvậy, hoạt động điều tra cạnh tranh cũng cần điều chỉnh linh động để thích ứngvới sự phát triển đó Sự xuất hiện ngày càng nhiều của các dạng chứng cứ điện
tử trong các vụ việc cạnh tranh đòi hỏi các điều tra viên phải không ngừng nângcao kỹ năng và trình độ để có thể đáp ứng được yêu cầu đặt ra khi thực hiệnviệc thu thập và xử lý chứng cứ điện tử trong quá trình điều tra các vụ việc cạnhtranh Đây cũng là đòi hỏi cấp thiết của các điều tra viên trong cơ quan cạnhtranh hiện nay Liên quan đến chứng cứ điện tử trong các vụ việc cạnh tranhhiện nay có rất nhiều vấn đề được đặt ra và phải có hướng giải quyết đó là vấn
đề thu thập các thông tin, chứng cứ điện tử như thế nào, việc chuyển hóa cácchứng cứ điện tử đó như thế nào để có thể sử dụng chúng trong quá trình tố tụngcạnh tranh
● Thời hạn công bố và sử dụng chứng cứ, giao nộp chứng cứ:
Trong điều tra cạnh tranh bên cạnh việc thu thập thì cơ quan cạnh tranh cũng bịyêu cầu phải công bố và sử dụng chứng cứ
a) Chứng cứ thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật;
b) Chứng cứ liên quan tới thuần phong mỹ tục, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinhdoanh, bí mật cá nhân theo yêu cầu chính đáng của người tham gia tố tụng cạnhtranh
3 Trường hợp cần thiết, Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Cơ quan điềutra vụ việc cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh có quyềncông bố và sử dụng công khai một số, một phần hoặc toàn bộ chứng cứ vào thờiđiểm thích hợp cho việc điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh