ÂAÛI HOAÛC ÂAÌ NÀÔNG HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CHUNG NGUỒN CHUYÊN ĐỀ NGHỀ LUẬT VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC; NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG VÀ VIỆN DẪN ÁN LỆ Bài tập Phân biệt Án lệ và Án mẫu Nhóm V Giảng viên giảng dạy TS GVCC Đỗ Thị Ngọc Tuyết Hà Nội – 2022 MỤC LỤC 1I Khái niệm 11 1 Khái niệm án lệ 11 2 Khái niệm về án mẫu 1II Phân biệt Án lệ và Án mẫu 12 1 Điểm giống nhau giữa Án lệ và Án mẫu 22 2 Điểm khác biệt giữa án lệ và án mẫu 22 2 1 Về cơ sở hình thành 32 2 2 Về cơ sở áp dụng 32 2 3.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHOA ĐÀO TẠO CHUNG NGUỒN
CHUYÊN ĐỀ NGHỀ LUẬT VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC;
NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG VÀ VIỆN DẪN ÁN LỆ
Bài tập: Phân biệt Án lệ và Án mẫu
Nhóm V
Giảng viên giảng dạy: TS.GVCC Đỗ Thị Ngọc Tuyết
Trang 2Hà Nội – 2022
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
I Khái niệm 1
1.1 Khái niệm án lệ 1
1.2 Khái niệm về án mẫu 1
II Phân biệt Án lệ và Án mẫu 1
2.1 Điểm giống nhau giữa Án lệ và Án mẫu 1
2.2 Điểm khác biệt giữa án lệ và án mẫu 2
2.2.1 Về cơ sở hình thành 2
2.2.2 Về cơ sở áp dụng 3
2.2.3 Về thừa nhận pháp luật 3
III Thực tiễn thi hành Án lệ và Án mẫu 4
3.2.Một số kiến nghị 4
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 4I Khái niệm
1.1 Khái niệm án lệ
Tại Việt Nam, án lệ không phải là một thuật ngữ mới xuất hiện, tuy nhiên xuất hiện ở thời điểm nào thì còn nhiều tranh cãi Có quan điểm cho rằng án lệ đã xuất hiện ở Việt Nam từ thời kì phong kiến và tồn tại dưới dạng các phán quyết, sắc, chiếu.1 Có quan điểm lại cho rằng không có bằng chứng rõ ràng về lý luận của việc
áp dụng án lệ trong pháp luật phong kiến
Trong thời gian trở lại đây, án lệ mới lần đầu tiên được Bộ Chính Trị đề cập trong Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 Tuy nhiên án lệ chỉ được thực sự coi là nguồn chính thức ở Việt Nam tính từ ngày 28 tháng 10 năm
2015, khi Hội đồng thẩm phán Tòa Án nhân dân tối cao ban hành quyết định số 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ Cách hiểu về
án lệ được quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP như sau: “Án lệ
là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa Án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa Án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa Án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa Án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử” Và đây chính là cơ sở pháp lý rõ ràng,
cụ thể cho việc xây dựng và áp dụng án lệ
1.2 Khái niệm về án mẫu
Trong khoa học pháp lý Việt Nam, khái niệm “án mẫu” hầu như rất ít được
đề cập, thuật ngữ “án mẫu” có thể hiểu một cách chung nhất là những bản án mẫu mực, được xây dựng trên cơ sở pháp luật chặt chẽ, mà khi đó có những tình huống,
vụ án, hành vi vi phạm tương tự thì Tòa Án phải đưa ra các phán quyết tương tự.2
II Phân biệt Án lệ và Án mẫu
2.1 Điểm giống nhau giữa Án lệ và Án mẫu
Án lệ và án mẫu tuy là hai khái niệm riêng biệt nhưng vẫn tồn tại những điểm tương đồng như sau:
- Cơ sở hình thành: Cả án lệ và án mẫu đều được hình thành từ phán quyết
của Tòa Án trong quá trình xét xử những vụ việc cụ thể của đời sống thực tế và được thông qua theo trình tự, thủ tục pháp lý nhất định
- Tính khuôn mẫu: án lệ và án mẫu đều là những bản án, những quyết định
của Tòa Án có tính chuẩn mực, tính tham khảo cao, được lấy “làm mẫu” đề các Tòa
Án tham khảo khi xét xử các vụ việc có tính chất tương tự
- Tính áp dụng bắt buộc chung: Điểm tương đồng lớn nhất chính là trong các
điều kiện tương tự thì Tòa Án đều phải áp dụng các án lệ, án mẫu đã được hình thành, có hiệu lực Sự áp dụng này có hiệu lực trên phạm vi cả nước Tuy nhiên việc
áp dụng không phải là bắt buộc tuyệt đối, do công việc xét xử cần tính độc lập nên việc áp dụng hay không áp dụng phụ thuộc vào hội đồng thẩm phán của vụ việc đó, tránh việc áp dụng máy móc, cứng nhắc, thiếu linh hoạt
1 Dương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Thủy, Vấn đề áp dụng án lệ ở Việt Nam, Tạp chí luật học số 05/2009, Tr.39
2 Cao Việt Thăng (2011), Án lệ và án mẫu - những khả năng áp dụng ở nước ta hiện nay, Nghiên cứu lập
pháp, 10, 18-21.
Trang 5- Tính bổ trợ: Án lệ, án mẫu luôn gắn với vụ việc cụ thể và đã được giải
quyết trên thực tế, vì vậy cả hai đều mang tính bổ trợ cho công tác xét xử, giúp việc
áp dụng pháp luật, áp dụng tương tự pháp luật thuận lợi hơn trong quá trình xử lý những vụ việc có tính chất tương tự sau này
- Vai trò: Án lệ, án mẫu góp phần bảo vệ tốt nhất quyền công dân và bảo đảm
sự bình đẳng trước pháp luật Nâng cao năng lực xét xử và tính độc lập của thẩm phán Đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện tại
và bảo đảm khả năng dự đoán của người dân
- Cuối cùng cả án lệ và án mẫu đều không phải nguồn pháp luật chính của hệ
thống pháp luật Việt Nam
2.2 Điểm khác biệt giữa án lệ và án mẫu.
Như đã phân tích ở trên, điểm giống nhau giữa án lệ và án mẫu chính là trong các điều kiện tương tự thì Tòa Án đều phải đưa ra những phán quyết chung được coi là chuẩn mực và các phán quyết đó được thừa nhận như những giá trị bắt buộc chung Điều này sẽ dễ gây ra nhầm lẫn nếu không phân tích các đặc điểm của
án lệ và án mẫu một cách rõ ràng hơn Về cơ bản, án lệ và án mẫu có những đặc điểm khác biệt như sau:
2.2.1 Về cơ sở hình thành
Theo Điều 1 của nghị quyết số 04/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa Án
nhân dân tối cao thì “ Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa Án về một vụ việc cụ thể” Có thể nói, cơ sở hình
thành án lệ là những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật Khi có những khiếm khuyết trong hệ thống pháp luật, Tòa Án sẽ viện dẫn những căn cứ pháp lý được coi
là hợp lý để đưa ra một phán quyết mang tính đột phá và bản án này sẽ được Hội đồng thẩm phán Tòa Án nhân dân tối cao thảo luận, biểu quyết và thông qua, cuối cùng sẽ được công bố là án lệ để áp dụng cho các trường hợp tương tự Những lập luận trong án lệ là những lập luận để giải thích cho những vấn đề pháp luật còn nhiều cách hiểu khác nhau, có nhiều cách giải thích, áp dụng khác nhau hoặc thậm chí là những lập luận để giải quyết vấn đề pháp luật mới mà chưa có pháp luật điều chỉnh
Như đã đề cập ở trên, khái niệm “án mẫu” hầu như rất ít khi được đề cập,
tuy nhiên trên thực tế có rất nhiều người sử dụng thuật ngữ này và hiểu chúng đồng
nhất với khái niệm “án lệ” Thuật ngữ “án mẫu” có thể được hiểu một cách chung
nhất là những bản án mẫu mực được xây dựng trên cơ sở pháp luật vững chắc Có thể thấy rằng án lệ chỉ là những lập luận, phán quyết trong bản án chứ không phải là toàn bộ bản án như án mẫu Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể tách rời án lệ và toàn văn bản án với nhau Việc hiểu án lệ là án mẫu là sai về bản chất Có thể cả bản
án không hay nhưng trong bản án lại có một vài lập luận hay thì vẫn có thể được hội đồng thẩm phán công nhận là án lệ
2
Trang 62.2.2 Về cơ sở áp dụng
Đối với án lệ, khi xét xử, thẩm phán, hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án
lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, đảm bảo các vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp
lý giống nhau được giải quyết như nhau Trường hợp vụ việc có tình huống pháp lý tương tự nhau nhưng Tòa Án không áp dụng án lệ thì phải nêu rõ lý do trong bản
án, quyết định của bản án Thông thường, án lệ chỉ xuất hiện khi có một sự kiện pháp lý mới nảy sinh mà chưa có những quy phạm pháp luật nào điều chỉnh cụ thể
về lĩnh vực đó hoặc các xung đột pháp luật mà có dẫn chiếu rõ ràng Việc nghiên cứu và áp dụng án lệ là hoạt động bắt buộc đối với Thẩm phán và Hội thẩm, dùng
để giải quyết vụ việc khi chưa có văn bản hướng dẫn
Về án mẫu, khi một bản án được coi là án mẫu thì Tòa Án tối cao sẽ chuyển
đến các Tòa Án cấp dưới để làm nguồn tham khảo và các Tòa Án cấp dưới coi đó là những bản án mẫu để xét xử những vụ án tương tự Ví dụ tội “Vô ý làm chết người” được quy định tại Điều 128 Bộ Luật hình sự 2015 thì “Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”, theo đó khoảng cách giữa mức thấp nhất và cao nhất của khung hình phạt là khá rộng Chính vì thế, có Hội đồng xét xử tuyên bị cáo với mức án mức thấp nhất của khung hình phạt là cải tạo không giam giữ; có Hội đồng xét xử tuyên mức án là
05 năm tù Vì thế án mẫu được chọn lọc nhằm tránh tình trạng tuy có cùng dấu hiệu pháp lý, cùng tình tiết nhưng Tòa Án lại tuyên ra những bản án khác nhau
2.2.3 Về thừa nhận pháp luật
Trong hệ thống pháp luật Common Law, án lệ là nguồn luật quan trọng nhất Theo đó Án lệ được công nhận là một nguồn pháp luật Tuy nhiên, việc áp dụng nguồn án lệ cần dựa trên hai yếu tố: Phân tích bối cảnh của án lệ so với vụ việc cần giải quyết và việc tìm kiếm lý do để quyết định Khi áp dụng án lệ, thẩm phán cần căn cứ vào “căn cứ của phán quyết”, tức là bộ phận gồm những nhận định quan trọng để đi đến kết luận, chứ không phải là phần bình luận của thẩm phán Còn Án mẫu, thì chưa có văn bản chính thức nào thừa nhận
Có thể nói điểm khác biệt căn bản nhất giữa án lệ và án mẫu là: án lệ là một trường hợp Tòa Án sáng tạo pháp luật (với các vấn đề pháp luật mới) hay giải thích pháp luật (với các vấn đề đã được pháp luật quy định nhưng còn chưa rõ ràng) thì
án mẫu lại được hình thành trong trường hợp pháp luật đã hết sức rõ ràng Đồng thời, khác với án mẫu thì án lệ được chọn theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định ; nếu như án lệ có giá trị bắt buộc hoặc tham khảo thì án mẫu hầu như chỉ có giá trị tham khảo, bởi với tính chất là hướng dẫn thì việc sử dụng án mẫu sẽ vi phạm nguyên tắc “ Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập, chỉ tuân theo pháp luật”
Như vậy, án lệ và án mẫu là hai khái niệm khác biệt và không thể giống nhau
3
Trang 7III Thực tiễn thi hành Án lệ và Án mẫu
3.1 Thực tiễn thực thi và Án mẫu
Đối với Án lệ, xét dưới góc độ thực tiễn, việc áp dụng án lệ trong việc giải
quyết vụ việc của Tòa Án ở Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều ưu điểm như vụ án được diễn ra nhanh chóng, hiệu quả
Dù đã xây dựng được những nguyên tắc nhất định trong áp dụng án lệ song đây vẫn là một lĩnh vực còn rất mới mẻ trong đời sống pháp lý Việt Nam Chúng ta chưa có kinh nghiệm thực tế về áp dụng án lệ mà chủ yếu là tham khảo kinh nghiệm một số nước trên thế giới để lựa chọn hướng đi phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam Xét một cách khách quan, vai trò của án lệ chưa được thể hiện hết là nguồn bổ trợ trong hệ thống nguồn luật
Đối với Án mẫu, trên thực tế tại Việt Nam, không có khái niệm án mẫu trong
xét xử, bởi thẩm phán luôn độc lập trong tư duy, xét xử và chỉ tuân theo pháp luật Hơn nữa, thực tiễn đa dạng phong phú nên việc chọn lọc, ban hành án mẫu nhằm đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật trong hệ thống Tòa Án khi xét
xử là một điều thực sự khó khăn Do đó, tại điểm c Khoản 22 Luật tổ chức Tòa Án
nhân dân năm 2014 chỉ có cụm từ “án lệ” mà không có “án mẫu” Trong lý luận của
các nhà làm luật, việc xây dựng những khung hình phạt có mức dao động cao là có
lý do chính đáng Xuất phát từ lý thuyết cũng như thực tế, có thể thấy rằng, dù có cùng một hành vi nhưng có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau sẽ dẫn đến việc xét xử đi đến những kết quả khác nhau (chẳng hạn như yếu tố về nhân thân, về hoàn cảnh, về thái độ…)
3.2 Một số kiến nghị
Thứ nhất, cần thống nhất cách hiểu về “án lệ”, “án mẫu” và “tình huống
pháp lý tương tự” Để đảm bảo tính khách quan, khoa học, việc xác định “tình huống pháp lý tương tự”, hiểu về “án lệ”, “án mẫu” cần được áp dụng một cách cụ thể, chặt chẽ và có sự hướng dẫn cần thiết Để áp dụng được nguyên tắc này, thẩm phán phải xác định được đâu là “tình tiết chính” và thế nào là “tương tự”; quy định
cụ thể thế nào là “án mẫu”
Thứ hai, việc xây dựng án lệ cần đảm bảo tính hệ thống, cần phát triển án lệ
thành 3 loại để áp dụng, để giải thích luật và bản án mẫu Qua quá trình xét xử, số lượng án lệ sẽ ngày càng gia tăng, để dễ dàng cho việc tìm kiếm thì ngay từ đầu phải có sự sắp xếp và lưu trữ một cách khoa học các bản án Có rất nhiều cách để hệ thống lại các bản án lệ lưu trữ theo thời gian xét xử, theo cấp tòa, theo loại vụ việc
Án lệ cần được phát triển theo giá trị thành: Án lệ để áp dụng, án lệ để giải thích luật, và các bản án mẫu để thẩm phán có thể tham khảo
Thứ ba, đổi mới công tác đào tạo thẩm phán để nâng cao chất lượng của án
lệ Để có được những án lệ có giá trị, cần đổi mới công tác đào tạo, xây dựng một
mô hình đào tạo thẩm phán thích hợp, bảo đảm các thẩm phán có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay./
4
Trang 8DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Án lệ, áp dụng án lệ trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam, của PGS.TS Nguyễn Minh Tuấn - Giảng viên cao cấp, Khoa Luật, Đại học Quốc gia
Hà Nội và ThS Lê Minh Thúy - Giảng viên Khoa Lý luận chính trị Luật, Đại học Hồng Đức
2 Án lệ và vai trò của án lệ trong hoạt động xét xử của Tòa Án của Th.S
Lê Văn Sua Theo Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp
3 Cao Việt Thăng (2011), Án lệ và án mẫu - những khả năng áp dụng ở nước ta hiện nay, Nghiên cứu lập pháp, 10, 18-21
4 Một số vấn đề về áp dụng án lệ, tập quán và lẽ công bằng ở Việt Nam hiện nay, theo Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp
5 Tổng hợp 43 án lệ của Việt Nam hiện hành, theo Cổng thông tin điện
tử Bộ Tư pháp
Ví Dụ tham khảo các nguồn:
1 Áp dụng án lệ trong chương trình đào tạo cán bộ tư pháp ở Việt, ThS Trần Ngọc Thúy (Trường Đại học Luật - Đại học Huế)
2 Án lệ ở Anh quốc: lịch sử, khái niệm nguyên tắc và cơ chế thực hiện,
Nguyễn Đức Lam, Văn phòng Quốc hội
3 Án lệ Việt Nam và án lệ nước ngoài khác nhau như thế nào? Theo Thư viện Pháp luật
4 Án lệ Việt Nam, Trang điện tử về Án lệ - Tòa Án nhân dân tối cao
5 Điều kiện để một bản án trở thành án lệ