quá trình phát triển" [28, 113], "kết hợp hài hòa tăng trởng kinh tế với pháttriển xã hội, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc nhằm tạo đợcchuyển biến rõ về thực hiện tiến bộ và cô
Trang 1mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XX là thế kỷ phát triển với một tốc độ vô cùng lớn Nhân loại
đã từng chứng kiến những thành tựu thần kỳ trong sự PTKT; đồng thời,cũng đã chứng kiến sự "bùng nổ" của những vấn đề xã hội Lịch sử đã ghinhận những thành tựu đó, đã cảnh báo nhiều quốc gia, kể cả những quốc giaphát triển, lẫn những quốc gia kém phát triển trong việc xác lập mô hìnhphát triển Một trong những bài học nổi bật là bài học về giải quyết mốiquan hệ giữa PTKT và phát triển xã hội
Kết hợp PTKT với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội là một nộidung cơ bản trong đờng lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam Đó mộtmặt là kết quả của việc quán triệt đờng lối nhất quán của Đảng: giải phóngdân tộc phải kết hợp chặt chẽ với giải phóng xã hội và giải phóng con ngời.Mặt khác, là kết quả của những bài học kinh nghiệm rút ra từ nhiều nớcphát triển và đang phát triển Việc thực hiện đờng lối đó đã đem lại nhữngthành tựu to lớn, kinh tế tăng trởng nhanh, đời sống vật chất của phần lớnnhân dân đợc cải thiện và đồng thời giải quyết đợc nhiều VĐXH bức xúc,xác lập và củng cố từng bớc sự ổn định chính trị - xã hội, tạo ra những tiền
đề để đa đất nớc chuyển sang một thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH Tuy nhiên, trong quá trình chuyển nền kinh tế từ cơ chế tập trung baocấp sang cơ chế thị trờng theo định hớng XHCN, bên cạnh những tác độngtích cực, thì những tác động tiêu cực của kinh tế thị trờng và của sự TTKT
đối với các VĐXH cũng đặt ra gay gắt
Trớc yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, việc tìm kiếm mô hình và lựachọn phơng án phát triển đang là vấn đề đặt ra cho quá trình CNH, HĐH
đất nớc theo định hớng XHCN Đảng ta đã khẳng định: "TTKT phải gắnliền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bớc đi và trong suốt
Trang 2quá trình phát triển" [28, 113], "kết hợp hài hòa tăng trởng kinh tế với pháttriển xã hội, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc nhằm tạo đợcchuyển biến rõ về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội" [28, 33].
Trong điều kiện hơn 76% dân c sống ở nông thôn, sự nghiệp CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, nông thônvăn minh, là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, nhng đồng thời cũng rất khó khăn,phức tạp Nhiều vấn đề bức bách đang đặt ra cần phải giải quyết để pháttriển toàn diện nông thôn cả về kinh tế và xã hội Đặc biệt, đối với các tỉnhBTB là một trong ba khu vực còn nhiều khó khăn nhất trong cả nớc, có nhữngnét đặc thù riêng về kinh tế, văn hóa, xã hội và con ngời Điều đó đòi hỏitrong quá trình cả nớc giải quyết mối quan hệ giữa PTKT với giải quyết cácVĐXH, các tỉnh BTB phải có sự tìm tòi, sáng tạo phù hợp với hoàn cảnh có
tính đặc thù của vùng Với ý nghĩa đó, chúng tôi chọn đề tài: "Mối quan hệ
giữa sự phát triển kinh tế và việc giải quyết các vấn đề xã hội ở vùng nông thôn các tỉnh Bắc Trung Bộ trong công cuộc đổi mới ở nớc ta hiện nay" làm đề tài luận án chính là nhằm góp phần đáp ứng đòi hỏi đó.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Về vấn đề quan hệ giữa PTKT và phát triển xã hội, giữa TTKT vàcông bằng xã hội, đã từng thu hút sự chú ý của các nhà lãnh đạo, quản lý,của giới lý luận trong và ngoài nớc Đã có nhiều công trình nghiên cứu vềnhững VĐXH trong nền kinh tế thị trờng, từ các góc độ và các lĩnh vựckhác nhau Nhiều tác giả đã đề cập đến mặt trái của cơ chế thị trờng trongquá trình phát triển xã hội, sự cần thiết phải giải quyết các VĐXH để đảm
bảo sự phát triển bền vững Chẳng hạn:"Kinh tế thị trờng và những VĐXH" (Viện Thông tin Khoa học xã hội, xuất bản năm 1997); "CNXH cũng có thể
áp dụng kinh tế thị trờng" của tập thể các nhà khoa học Trung Quốc (Nxb CTQG, H, 1996); "Những vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trờng"
(Viện Thông tin Khoa học xã hội, H, 1996)
Trang 3Một số công trình đã đi vào phân tích nội dung của CSXH, sự cầnthiết phải đổi mới CSXH, đã xác định đợc một số vấn đề cơ bản trong mốiquan hệ giữa đổi mới CSKT và đổi mới CSXH Một số công trình khác đãnghiên cứu thực tiễn TTKT và công bằng xã hội ở các nớc châu á và bớc
đầu đã rút ra những kinh nghiệm Với những công trình tiêu biểu: Đề tài
KX-07-13 "Về một số động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay"
do GS Lê Hữu Tầng chủ nhiệm; Đề tài KX-04 "CSXH, một số vấn đề lý luận và thực tiễn", PGS.PTS Bùi Đình Thanh chủ nhiệm; PGS.PTS Hoàng Chí Bảo (chủ biên) "Một số vấn đề về CSXH ở nớc ta hiện nay" (Nxb CTQG, H, 1993); GS Phạm Xuân Nam "Đổi mới CSXH luận cứ và giải pháp" (Nxb CTQG, H, 1997); PGS.PTS Đỗ Nguyên Phơng "Về sự phân tầng xã hội ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay" (Chơng trình KX 07-05, H, 1994); GS.TS Nguyễn Duy Quý (chủ biên) "Những vấn đề lý luận về CNXH và con đờng đi lên CNXH ở Việt Nam" (Nxb CTQG, H, 1998); PGS.PTS Nguyễn Trọng Chuẩn "Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới CSKT và đổi mới CSXH" (Tạp chí triết học tháng 6-1996); PGS.PTS Nguyễn
Đức Bách, Lê Văn Yên, Nhị Lê "Một số vấn đề về định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" (Nxb Lao động, H, 1998); PTS Lê Bộ Lĩnh (chủ biên)
"TTKT và công bằng xã hội ở một số nớc châu á và Việt Nam" (Nxb CTQG, H, 1998); PGS.PTS Lê Văn Sang, PTS Kim Ngọc "TTKT và công bằng xã hội ở Nhật Bản giai đoạn thần kỳ và Việt Nam thời kỳ đổi mới" (Nxb CTQG, H, 1999) Gần đây nhất, luận án tiến sĩ "Quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và phát triển các quan hệ xã hội lành mạnh ở nớc ta hiện nay"
của tác giả Nguyễn Thị Thanh đã trình bày mối quan hệ giữa TTKT và pháttriển các quan hệ xã hội lành mạnh và bớc đầu đã nêu ra một số phơng hớngcơ bản để tăng cờng sự kết hợp đó ở nớc ta
Trên lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, ở nớc ngoài cũng nh ở nớc
ta có nhiều công trình nghiên cứu tùy theo đặc trng của từng ngành khoahọc Vấn đề đợc nhiều công trình tập trung nghiên cứu: Vai trò của nông
Trang 4nghiệp, nông thôn; CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, thực hiện CSXH ởnông thôn; xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm Và đã
đề xuất nhiều giải pháp thiết thực nhằm giải quyết những vấn đề đang đặt
ra ở nông thôn Đáng chú ý là các công trình "40 năm kinh nghiệm Đài Loan" (Nxb Đà Nẵng, 1994); Công ty ADUKI "Vấn đề nghèo ở Việt Nam" (Nxb CTQG, H, 1996); GS Nguyễn Điền "CNH nông nghiệp, nông thôn các nớc châu á và Việt Nam" (Nxb CTQG, Hà Nội, 1997); PGS Bùi Đình Thanh, PGS Nguyễn Hữu Dũng, PTS Phan Đỗ Nhật Tân "CSXH nông thôn Việt Nam" (Nxb CTQG, H, 1996); GS Phan Đại Doãn "Quản lý xã hội nông thôn nớc ta hiện nay - Một số vấn đề và giải pháp" (Nxb CTQG, H, 1996); PGS PTS Nguyễn Đức Bách "Những lợi ích kinh tế - xã hội tác động
đến lòng tin của nông dân và con đờng xã hội chủ nghĩa" (Tạp chí nghiên cứu
lý luận số 2-1992) Điển hình nhất là chơng trình khoa học cấp nhà nớc
KX-08 "Phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn", gồm 12 đề tài nhánh đã tập
trung nghiên cứu một cách toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn, đã đề xuấtnhiều giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề đang đặt ra ở nông thôn vàxây dựng nông thôn Việt Nam theo định hớng xã hội chủ nghĩa
Đối với khu vực BTB, cũng đã có một số công trình, một số cuộc
hội thảo về phát triển kinh tế - xã hội của vùng và của các tỉnh nh: "Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng BTB" (Viện quy hoạch đô thị
nông thôn, Bộ Xây dựng, H, 1996); PGS.TS Lê Đình Thắng, PTS Nguyễn
Thanh Hiền "Xóa đói giảm nghèo ở vùng khu IV cũ" (Nxb Nông nghiệp, H, 1995); PGS.PTS Nguyễn Sinh Cúc "Phân hóa giàu nghèo ở các tỉnh miền Trung" (Tạp chí Cộng sản, số 22-1996); Chơng trình khoa học: "Con ngời Nghệ An trớc yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH" (Sở Khoa học Công nghệ
và Môi trờng, Vinh, 1998)
Tuy vậy, dới góc độ chính trị - xã hội vẫn cha có một công trìnhkhoa học nào nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống vấn đề quan hệgiữa PTKT và giải quyết các VĐXH Đặc biệt, nghiên cứu mối quan hệ
Trang 5đó ở một vùng nông thôn có tính đặc thù nh BTB thì còn bỏ ngỏ Vì vậy,chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này với lòng mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựngchiến lợc phát triển kinh tế - xã hội nông thôn BTB theo định hớng xã hộichủ nghĩa.
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Mục đích
Luận án góp phần làm rõ về mặt lý luận mối quan hệ giữa sự PTKT
và việc giải quyết các VĐXH Trên cơ sở đó và trên cơ sở thực tiễn BTB
đ-ợc khảo sát, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm kết hợp giữa PTKT vàgiải quyết các VĐXH ở vùng nông thôn BTB trong sự nghiệp CNH, HĐH đấtnớc theo mục tiêu: "Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh"
3.2 Nhiệm vụ
Luận án tập trung giải quyết các vấn đề chủ yếu sau:
- Làm rõ tính biện chứng giữa PTKT và giải quyết các VĐXH trongchiến lợc phát triển kinh tế - xã hội
- Phân tích thực trạng, xu hớng vận động của mối quan hệ giữaPTKT và giải quyết các VĐXH trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn BTB
- Kiến nghị một số giải pháp chủ yếu nhằm kết hợp đúng đắn giữaPTKT và giải quyết các VĐXH ở nông thôn các tỉnh BTB hiện nay
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa PTKT và giải
quyết các VĐXH và tìm ra những giải pháp chủ yếu để thực hiện mối quan hệ này trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội ở vùng nông thôn
Trang 6các tỉnh BTB, gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế.
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Luận án đợc thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đờng lối của Đảng và Nhà nớc
-ta về phát triển kinh tế - xã hội, về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
- Luận án đợc nghiên cứu trên cơ sở khảo sát thực tiễn tình hìnhkinh tế - xã hội vùng nông thôn BTB và có kế thừa một số kết quả thu đợccủa các công trình khác có liên quan, nhất là những thực tiễn về kinh tế,chính trị, xã hội và những tác động qua lại giữa các vấn đề đó
4.2 Phơng pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phơng pháp luận triết học Mác - Lênin, có chú ý
đến những đặc thù về mặt phơng pháp của chủ nghĩa xã hội khoa học trongquá trình tiếp cận, khảo sát, đánh giá, đặc biệt là khai thác những khía cạnhchính trị - xã hội của đề tài Trong đó phơng pháp kết hợp lôgic với lịch sử,
điều tra xã hội học; so sánh, phân tích, tổng hợp là những phơng pháp chủ
đạo đợc áp dụng trong luận án
5 Đóng góp về khoa học của luận án
- Dới góc độ chính trị - xã hội, luận án lý giải rõ hơn mối quan hệgiữa PTKT và giải quyết các VĐXH Trên cơ sở đó, tìm ra giới hạn hợp lý
để giải quyết mối quan hệ đó trong quá trình CNH, HĐH, nông nghiệp,nông thôn nớc ta
- Từ thực trạng kinh tế, xã hội, căn cứ vào tiềm năng và mục tiêuphát triển kinh tế - xã hội của vùng BTB, đề xuất một số giải pháp chủ yếunhằm kết hợp giữa PTKT và giải quyết các VĐXH, đẩy nhanh quá trình CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn vùng BTB theo định hớng xã hội chủ nghĩa
Trang 76 ý nghĩa thực tiễn của luận án
- ở một mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận án có thể
sử dụng làm t liệu tham khảo trong việc hoạch định, thực thi, chính sáchphát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn các tỉnh vùng BTB và các vùng nôngthôn khác, đặc biệt trong giai đoạn đầu của quá trình CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn
- Luận án cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảngdạy và nghiên cứu một số chuyên đề của chủ nghĩa xã hội khoa học nh: thời
kỳ quá độ; liên minh công-nông-trí thức; vấn đề nhân tố con ngời
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận án gồm 3 chơng với 7tiết và danh mục các tài liệu tham khảo
Trang 8Tăng trởng kinh tế và phát triển kinh tế
Tăng trởng kinh tế (TTKT): Khái niệm tăng trởng (growth) nói
chung đợc dùng để chỉ sự lớn lên, tăng thêm, mở rộng về quy mô của mộthiện tợng hay một "hệ thống" nào đó Trong tiếng Việt, đôi khi ngời ta còndùng khái niệm "tăng", "sự gia tăng" để chỉ sự tăng trởng
Sự gia tăng về kinh tế, trên thực tế ngời ta thờng hay thay bằng thuật ngữ tăng trởng kinh tế.
Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy khái niệm TTKT có nhiều cáchtiếp cận khác nhau TTKT là "sự gia tăng sản lợng thực tế của một nền kinh tếtheo thời gian" [81, 74]; là "sự thay đổi về lợng các kích thớc vật chất của sảnxuất và kinh doanh" [56, 29]; là "sự tăng lên của sản lợng hàng hóa và dịch vụtrong một nớc do sự tăng lên của thu nhập quốc dân và sản phẩm bình quân đầungời" [7, 174]; là "mức tăng quy mô và tốc độ sản phẩm" [70, 200]
Từ những quan điểm khác nhau về TTKT có thể rút ra điểm chung:
TTKT là khái niệm diễn tả động thái của nền kinh tế, chỉ rõ sự biến đổi ngày càng lớn lên về lợng của nền kinh tế.
Nh vậy, có thể coi "TTKT" là "sự tăng thêm (hay gia tăng) về quymô sản lợng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Đó là kết quả của
Trang 9tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ trong nền kinh tế tạo ra" [86, 8].
Để biểu thị sự TTKT, ngời ta thờng dùng mức tăng thêm của tổngsản phẩm quốc nội (GDP) Mức tăng đó thờng đợc tính trên toàn bộ nềnkinh tế hay tính theo bình quân đầu ngời trong một năm Ngày nay, trớc sựphát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ hiện đại, để đáp ứng sự pháttriển nhanh của nền kinh tế, ngời ta có thể rút ngắn việc so sánh kết quảkinh tế lại nửa năm, một quý, một tháng, thậm chí hàng ngày, tùy theo lĩnhvực quản lý kinh tế Sự TTKT đợc so sánh theo các thời điểm liên tục trongmột giai đoạn nhất định, sẽ cho ta khái niệm tốc độ TTKT Đó là sự tăngthêm sản lợng nhanh hay chậm so với thời điểm gốc
Các lý thuyết về TTKT, cho đến nay đa số cho rằng, các yếu tố chắcchắn giữ vai trò quan trọng đối với sự tăng trởng: số lợng và chất lợngnguồn nhân lực; số lợng và chất lợng nguồn tài nguyên; mức độ tích lũyvốn và sự đổi mới công nghệ Ngoài những yếu tố đó, đối với các nớc đangphát triển, TTKT có đợc thuận lợi và nhanh chóng hay không còn phụ thuộcvào các điều kiện: sự ổn định về chính trị, xã hội; xây dựng đợc hệ thốngpháp luật ngày càng hoàn thiện; cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội tốt (giao thông,thông tin, giáo dục, y tế ); đặc điểm văn hóa - xã hội (truyền thống văn hóa, xãhội, tính cách ); cũng nh vị trí địa lý của quốc gia
Phát triển kinh tế (PTKT)
Theo GS Phạm Xuân Nam: "Tăng trởng là sự thay đổi về lợng các kích thớc vật chất của sản xuất, kinh doanh Còn phát triển là sự thay đổi
về chất của nền kinh tế tạo cơ sở cho một trạng thái xã hội tiến bộ, công
bằng và văn minh hơn" [56, 29] Quan điểm này coi TTKT là sự thay đổi
về lợng, còn PTKT là sự biến đổi về chất của nền kinh tế, tạo cơ sở thúc đẩy
sự tiến bộ về mọi mặt của xã hội
GS Ewayne Nafziger cho rằng: "PTKT nói đến sự TTKT kèm theo
Trang 10những thay đổi về phân phối sản lợng, về cơ cấu kinh tế Những thay đổi
này có thể bao gồm việc nâng cao mức của cải vật chất của một nửa dân cnghèo hơn; một sự giảm sút về tỷ phần của nông nghiệp trong GNP và sựgia tăng tơng ứng tỷ phần trong GNP của công nghiệp, tài chính, xây dựng
và quản lý nhà nớc, một sự gia tăng về giáo dục và kỹ năng của lực lợnglao động, và những tiến bộ kỹ thuật đáng kể đợc tạo ra trong nền kinh tế"[30, 28] Quan điểm này coi PTKT là TTKT kèm theo sự thay đổi vềphân phối và cơ cấu kinh tế theo hớng tiến bộ
Tập thể các nhà khoa học thuộc trờng Đại học kinh tế quốc dântrong cuốn "Kinh tế phát triển" do PGS PTS Vũ Thị Ngọc Phùng chủ biên
đa ra định nghĩa: "PTKT có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến)
về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồmcả sự tăng thêm về quy mô sản lợng (tăng trởng) và sự tiến bộ về cơ cấukinh tế - xã hội" [86, 9]
Nh vậy, PTKT là một phạm trù kinh tế - xã hội rộng lớn Việc đa ra
đợc một định nghĩa chính xác đang còn có sự khác nhau trong quan niệmcủa nhiều tác giả Chúng tôi cho rằng, định nghĩa của các nhà khoa học tr-ờng Đại học kinh tế quốc dân đã phản ánh đợc nội dung cơ bản của kháiniệm "PTKT":
- Trớc hết, PTKT bao gồm cả sự thay đổi về khối lợng của cải vật
chất, dịch vụ và sự biến đổi tiến bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội
Thứ hai: Tăng thêm quy mô sản lợng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế
-xã hội là hai mặt có mối quan hệ vừa phụ thuộc vừa độc lập tơng đối của ợng và chất
l Thứ ba: Sự phát triển là một quy luật tiến hóa, song nó chịu tác động
của nhiều yếu tố, trong đó nhân tố nội tại nền kinh tế có ý nghĩa quyết định
- Thứ t, PTKT phản ánh sự vận động của nền kinh tế từ trạng thái
Trang 11thấp lên trạng thái cao hơn cả về số lợng và chất lợng.
Hiện nay, khái niệm PTKT đợc đặt trong mối quan hệ với phát triểnxã hội, bảo vệ môi trờng, hợp thành nội dung của "Phát triển bền vững" Đólà: "Sự phát triển kinh tế - xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lýtài nguyên và bảo vệ môi trờng, nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ con ngờihiện nay và không ảnh hởng bất lợi đối với các thế hệ tơng lai trong việcthỏa mãn những nhu cầu của họ" [1, 3] Trong đó PTKT vừa quyết định quátrình phát triển xã hội và bảo vệ môi trờng, vừa bị chi phối bởi quá trình đó
Qua sự phân tích trên cho thấy, TTKT và PTKT là hai khái niệm vừa
có tính độc lập, vừa có mối liên hệ với nhau Khái niệm PTKT rộng hơnkhái niệm TTKT PTKT bao hàm cả TTKT, và cả sự đổi mới về cơ cấu kinh
tế theo hớng tăng tỷ trọng trong công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng nôngnghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân; tăng dân số thành thị, giảm dân sốnông thôn; đổi mới cơ cấu tiêu dùng; trình độ văn hóa, giáo dục, y tế đợccải thiện, Nh vậy, PTKT trong nó đã bao hàm cả những mặt xã hội, và cả
sự đổi mới về cơ cấu kinh tế theo hớng các thành phần kinh tế Đảng ta chủtrơng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hớngXHCN, chính là khẳng định vấn đề đó trong nội dung của PTKT Đặc điểmcủa kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta là: mọi thành phần kinh tế
đều bình đẳng trớc pháp luật; nền kinh tế ấy lấy kinh tế nhà nớc làm chủ
đạo; lấy việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, vănminh làm mục tiêu Qua nội dung đó cho thấy, PTKT theo định hớngXHCN ở nớc ta liên quan tới cả kiến trúc thợng tầng lẫn cơ sở hạ tầng, liênquan tới cả quan hệ sản xuất lẫn lực lợng sản xuất Điều này khẳng định,không thể có sự PTKT thuần túy tách khỏi việc giải quyết các VĐXH SựPTKT theo nghĩa đó, không chỉ vì mục đích kinh tế, mà hơn thế nữa phải vìmục đích xã hội
TTKT chủ yếu đặc trng biến đổi về lợng, trong khi PTKT chủ yếu
Trang 12đặc trng biến đổi về chất của nền kinh tế, TTKT là điều kiện, tiền đề chophát triển Bởi vì, nền kinh tế có tăng trởng thì mới có khả năng tăng ngânsách nhà nớc, tăng thu nhập cho dân c Nhờ có TTKT, nhà nớc mới có thểtăng đầu t cho giáo dục, xây dựng cơ sở hạ tầng, có điều kiện để giải quyếtcác VĐXH TTKT là điều kiện cần để làm thay đổi mọi mặt của đời sốngxã hội và tác động trực tiếp đến sự hình thành cơ cấu kinh tế TTKT là điềukiện, tiền đề cho phát triển, nhng bản thân nó chỉ là một đại lợng khônghoàn hảo của sự tiến bộ TTKT có thể thúc đẩy phát triển xã hội nhng tự nókhông dẫn đến tiến bộ xã hội Bởi vì, khi nói tới tiến bộ xã hội, có nghĩa là
đề cập đến mặt chất lợng của phát triển xã hội, mà điều này lại lệ thuộc vàochế độ xã hội, vào quan niệm giá trị và hệ thống giá trị Một nền kinh tế cótăng trởng, nhng nếu lấy lợi nhuận làm mục tiêu duy nhất, mà xem nhẹ yếu
tố xã hội, thì không thể xem đó là sự tăng trởng mang tính tích cực, tiến bộ
Về mặt lý thuyết, có thể cho rằng có sự phát triển nhng không có tăng trởngtrong trờng hợp GNP đầu ngời không tăng, nhng thực hiện công bằng xãhội tốt hơn, giảm bớt những lãng phí để đem lại những nhu cầu có ích chonhân dân Tuy nhiên, trên thực tế, "khó dẫn ra đợc những ví dụ về sự pháttriển nh vậy và thờng thì tăng trởng và phát triển đi đôi với nhau" [32, 8]
Nh vậy, nếu xét từ góc độ triết học thì TTKT và PTKT là hai kháiniệm có điểm giống nhau, nhng không hoàn toàn đồng nhất Điểm giốngnhau là cả hai đều nói lên sự chuyển dịch năng động, vợt khỏi trạng thái trì trệ,
dẫm chân tại chỗ Điểm khác nhau là một bên nói lên sự chuyển dịch về số ợng, còn một bên nói lên tính định hớng, chất lợng của sự chuyển dịch đó.
Phát triển xã hội
Trong quan điểm duy vật biện chứng, "phát triển là một phạm trùtriết học dùng để khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ
đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn" [35, 227]
Chủ nghĩa Mác nghiên cứu vấn đề phát triển một cách khoa học và
Trang 13toàn diện trên cơ sở kế thừa hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng của ghen Phát triển trong chủ nghĩa Mác đợc hiểu là một trờng hợp đặc biệtcủa sự vận động, là thuộc tính phổ biến của vật chất, là nguyên lý phổ biến
Hê-và là nguyên tắc nhận thức có vai trò to lớn trong việc giải thích lịch sử, tựnhiên, xã hội và nhận thức của con ngời
Dới góc độ triết học mà xem xét, thì trong lĩnh vực xã hội, "sự pháttriển biểu hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội để tiến tớimức độ ngày càng cao trong sự nghiệp giải phóng con ngời" [35, 227] Sựphát triển trong đời sống xã hội không diễn ra một cách giản đơn, thẳng tắp,
mà đó là kết quả sự tác động biện chứng, phức tạp của nhiều quá trình khácnhau, trong đó hoạt động có mục đích của quần chúng nhân dân dựa trênviệc nhận thức các quy luật khách quan của lịch sử có vai trò quan trọngnhất Phát triển trong quan niệm hiện đại, đợc xem xét trên tất cả các yếu tố
từ chính trị, kinh tế, tâm lý đến xã hội, văn hóa, sinh thái, mà trong đó vănhóa ngày càng trở thành động lực và hệ điều chỉnh cho phát triển FrancoisPartant đã chỉ ra năm nhân tố cấu thành sự phát triển: kinh tế, kỹ thuật, xãhội, chính trị, văn hóa Còn Walter W.Rostow chỉ ra bốn nhân tố cấu thành
sự phát triển: kinh tế; không gian xã hội chính trị; không gian nông thôn, đôthị; văn hóa, năng suất luận [6, 25-26] Do đó không thể quy sự phát triểnxã hội chỉ xẩy ra với một trục là trục kinh tế, khoa học - công nghệ và coinhẹ các trục khác, mà phát triển xã hội phải là phát triển toàn diện, là làmtăng tính chỉnh thể của đời sống xã hội
Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, phát triển đợc hiểu "là tạo điều kiệncho con ngời bất kỳ ở đâu cũng có cuộc sống đầy đủ, lành mạnh và lâu dài"[18, 3] Nói cách khác, phát triển "là tăng cờng khả năng làm thỏa mãn cácnhu cầu của con ngời và cải thiện mức sống của con ngời" [18, 224]
Nh vậy, phát triển xã hội là sự vận động tiến lên của xã hội từ thấp
đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện một cách toàn diện cả về kinh tế,
Trang 14chính trị, văn hóa, xã hội nhằm hớng tới các giá trị nhân văn Ông Perez DeCuelzar, nguyên Tổng th ký Liên hợp quốc, trong tuyên bố tại lễ phát độngthập kỷ quốc tế phát triển văn hóa tổ chức tại Pa-ri tháng 1 năm 1983 đãnêu lên một quan điểm đợc xem nh một định nghĩa mới về phát triển, đợcnhiều ngời thừa nhận: Phát triển có nghĩa là thay đổi, nhng sự thay đổikhông phải sẽ tạo nên sự cách biệt mà nó sẽ tạo ra những đặc tính, đặc trngcủa xã hội và cá nhân, đầu tiên và trớc hết là sự thay đổi phải đem lại cuộcsống phồn vinh, có chất lợng đợc mỗi cộng đồng chấp nhận.
Tháng 7 năm 1994, ông Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor
đã tuyên bố tám nội dung cơ bản của phạm trù "phát triển xã hội" [50, 3-4]
- Tạo lập năng lực nội sinh thông qua việc khai thác mọi nguồn lực;cải cách sâu rộng nội dung giáo dục và đào tạo ở mọi cấp; và tuyên truyền,truyền bá tri thức tới mọi miền của quốc gia cũng nh giữa các quốc gia với nhau
- Khắc phục có hiệu quả tình trạng nghèo khổ và bảo đảm cho mọitầng lớp dân c tham gia vào quá trình phát triển xã hội; tôn trọng quyền conngời, xây dựng thái độ khoan dung, phi bạo lực và dân chủ thông qua nềngiáo dục ngay từ cấp học mầm non, thông qua sự hỗ trợ của các tổ chứccông dân cũng nh của các phơng tiện thông tin đại chúng
- Đặt các nhân tố văn hóa vào cấu trúc và chiến lợc phát triển cânbằng; chú trọng đúng mức các điều kiện lịch sử, xã hội và văn hóa của từngquốc gia - Đó là những điều kiện chủ yếu đảm bảo cho một sự phát triển xãhội bền vững
- Thúc đẩy một cách nhìn mới đối với lao động và việc làm phù hợpvới quan niệm hiện đại về cuộc sống tích cực Cuộc sống tích cực không chỉbao hàm hoạt động sản xuất, mà còn cả những hoạt động công dân, hoạt
động giải trí, hoạt động xã hội, văn hóa, khoa học
- Cải thiện chất lợng cuộc sống của c dân nông thôn thông qua hoạt
Trang 15động giáo dục, đào tạo, tăng thu nhập, tăng cờng sản xuất, du lịch văn hóa,
du lịch môi trờng, trợ giúp vật chất, cải thiện điều kiện kết cấu hạ tầng, tăngcờng thông tin
- Xây dựng ý thức bảo vệ môi trờng sinh thái, thúc đẩy sự tham giacủa đông đảo dân c vào việc sử dụng hợp lý và cân bằng các nguồn tàinguyên phục vụ mục tiêu phát triển xã hội bền vững
- Khai thác tốt khoa học và công nghệ nh nhân tố tích cực đối vớimục tiêu phát triển xã hội
- Sử dụng tốt các hệ thống và các thành tựu thông tin hiện đại phục
vụ mục tiêu phát triển xã hội
Nội dung phát triển xã hội đó đã đợc hội nghị thợng đỉnh quốc tế vềphát triển xã hội tổ chức tại Copenhaghen (Đan Mạch) tháng 3 năm 1995chấp nhận
Chính vì vậy, UNDP đã đa ra chỉ số mới cho sự phát triển - HDI(tuổi thọ + tỷ lệ ngời đi học + thu nhập thực tế GDP) để thay thế cho chỉ sốGNP trên một đầu ngời là bớc tiến mới trong quá trình nhận thức về sự pháttriển Nh vậy, theo sự đánh giá của Liên hợp quốc, một quốc gia đợc coi làphát triển, bên cạnh sự TTKT, còn phải đạt những chỉ số chung về mặt xãhội Trong những chỉ số chung đó, chỉ số phát triển con ngời đợc đặt vào vịtrí trung tâm, quan trọng bậc nhất Vì vậy, trong thời đại ngày nay, pháttriển của con ngời, do con ngời và vì con ngời là mục tiêu phấn đấu của mọiquốc gia Bài toán của sự phát triển xã hội hiện đại là làm thế nào để giảiquyết thành công các mâu thuẫn biện chứng giữa TTKT và công bằng xãhội; dân chủ và kỷ cơng ở đây "giải pháp lâu dài là PTKT nhanh, công bằngxã hội hơn và sự tham gia của con ngời nhiều hơn" [89, 3]
Vai trò quyết định của kinh tế đối với phát triển xã hội và giải quyết các VĐXH
Trang 16Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử xem xét xã hội với tínhcách là một hệ thống bao gồm trong đó bốn lĩnh vực cơ bản: lĩnh vực kinh tế,lĩnh vực xã hội, lĩnh vực chính trị, lĩnh vực văn hóa tinh thần của đời sống xãhội, và đã xác định vai trò, vị trí của các yếu tố, chỉ ra các chiều tác động qualại giữa chúng, trên cơ sở đó làm cho cả hệ thống xã hội vận động, biến đổi
và phát triển Trong đó, "Chúng tôi coi những điều kiện kinh tế là cái cuốicùng quyết định sự phát triển lịch sử Sự phát triển về mặt chính trị, phápluật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, là dựa vào sự phát triển kinh tế.Nhng tất cả những sự phát triển đó đều tác động lẫn nhau và cũng tác động
đến cơ sở kinh tế Hoàn toàn không phải điều kiện kinh tế là nguyên nhân duy nhất chủ động, còn mọi thứ khác chỉ có tác dụng thụ động Trái lại, có
sự tác động qua lại trên cơ sở tính tất yếu kinh tế, là một tính tất yếu, xét
đến cùng, bao giờ cũng tự vạch ra con đờng đi của nó" [49, 788]
Sự phát triển của xã hội loài ngời là một quá trình tất yếu, kháchquan tuân theo những quy luật nội tại của nó, xu hớng chung của quá trìnhphát triển đó đợc quy định bởi sự phát triển của lực lợng sản xuất xã hội Xãhội tồn tại và phát triển đợc trớc hết là nhờ sản xuất vật chất Dù đợc xem xéttrong toàn bộ lịch sử của sự hình thành và phát triển xã hội loài ngời nóichung, hay đợc xem xét trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể của các xã hộihiện thực nói riêng, thì sản xuất vật chất vẫn luôn luôn đóng vai trò là cơ sở, lànền tảng của sự tồn tại và phát triển xã hội Ph Ăngghen đã viết: "Chúng ta tựlàm nên lịch sử của chúng ta, nhng trớc hết là với những tiền đề và trongnhững điều kiện nhất định Trong số những tiền đề và điều kiện ấy thì chínhnhững điều kiện kinh tế giữ vai trò quyết định cuối cùng" [49, 727] Và xét
đến cùng, chính "Phơng thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quátrình sinh hoạt xã hội và tinh thần nói chung"
Quan điểm duy vật lịch sử luôn luôn nhấn mạnh vai trò hàng đầucủa trình độ phát triển lực lợng sản xuất và năng suất lao động đối với sựvận động và phát triển của xã hội C.Mác đã đứng ở tầm cao của sự phát
Trang 17triển lịch sử để đánh giá tầm quan trọng của việc phát triển lực lợng sản xuất.
Trớc hết, ông cho rằng, lực lợng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng
nhất trong lịch sử Sự phát triển của lực lợng sản xuất chẳng những là thớc đotrình độ chinh phục tự nhiên của con ngời, mà là tiêu chuẩn để phân biệt cácthời đại trong lịch sử nhân loại "Những thời đại kinh tế khác nhau khôngphải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách
nào, với những t liệu lao động nào" [47, 269] Hai là, ông cho rằng, nguyên
nhân căn bản nhất khiến quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa sẽ bị thay thếbằng quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa là do quan hệ sản xuất t bản chủnghĩa đã trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển hơn nữa của lực lợngsản xuất Nói một cách khác, chỉ khi nào quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩakhông còn tiếp tục dung nạp lực lợng sản xuất đồ sộ nữa thì cái "vỏ ngoài"
ấy của CNTB mới bị phá tung Ba là, C.Mác cho rằng, CNXH phải đợc xây
dựng trên cơ sở lực lợng sản xuất phát triển cao, tạo tiền đề cho một xã hội
"của cải tuôn ra dào dạt", "làm theo năng lực hởng theo nhu cầu"
Khi khẳng định tiến trình phát triển lịch sử của xã hội loài ngời là sựthay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội, C.Mác cho rằng ý nghĩalịch sử, mục tiêu cao cả của sự phát triển và tiến bộ xã hội là phát triển conngời toàn diện, nâng cao năng lực, phẩm giá con ngời, loại trừ ra khỏi cuộcsống con ngời mọi sự "tha hóa", để con ngời đợc sống với cuộc sống đíchthực con ngời, đa "con ngời từ vơng quốc của tất yếu sang vơng quốc của tựdo", làm cho "Con ngời, cuối cùng làm chủ tồn tại xã hội của chính mình,thì cũng do đó mà làm chủ tự nhiên, làm chủ cả bản thân mình, trở thànhngời tự do" [45, 333] Theo C.Mác, đó cũng chính là quá trình mà nhân loại
tự tạo ra những điều kiện, những khả năng do chính mình đem lại sự pháttriển toàn diện, tự do và hài hòa cho mỗi cá nhân con ngời trong cộng đồngxã hội Bởi vậy, mục tiêu cao cả nhất mà mỗi chế độ xã hội tơng lai cần đạttới, là tạo ra "những cá nhân đợc phát triển toàn diện", những con ngời "có
Trang 18khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển toàn diện củamình" Những con ngời toàn diện đó chỉ có thể đợc tạo ra với một tiềm năng
cơ bản là "những lực lợng sản xuất hiện đại đã phát triển" Chỉ khi xã hội
loài ngời đã đạt đến một trình độ phát triển cao về lực lợng sản xuất thì khi
đó " sự phát triển độc đáo và tự do của các cá nhân" mới "không còn là lờinói suông, sự phát triển ấy chính là do mối liên hệ giữa những cá nhân quyết
định, mối liên hệ đợc biểu hiện một phần trong những tiền đề kinh tế, mộtphần trong sự cố kết tất yếu của sự phát triển tự do của tất cả mọi ngời, vàcuối cùng trong tính chất phổ biến của hoạt động của các cá nhân trên cơ sởlực lợng sản xuất hiện có" [43, 644] Nh vậy, phát triển con ngời là trungtâm, là động lực của phát triển và tiến bộ xã hội Song để phát triển con ng-
ời lại phải thực hiện tốt chiến lợc PTKT, đồng thời giải quyết tối u mối quan
hệ giữa PTKT và giải quyết các VĐXH
Qua đó, có thể nói rằng, một khi đã không thừa nhận tính kháchquan, phổ biến của sự phát triển xã hội là nằm trong sự phát triển của lực l -ợng sản xuất, mà lại muốn đi tìm ở các lĩnh vực riêng biệt của đời sống xãhội, thì không thể tránh khỏi rơi vào quan điểm chủ quan, phiến diện, thậmchí duy tâm Và, do đó sẽ không thấy đợc động lực thực sự của sự phát triểnxã hội Tuy nhiên, khi khẳng định sự phát triển của lực lợng sản xuất quyết
định tính khách quan, phổ biến của phát triển xã hội, cần nhớ rằng chỉ xét
đến cùng và xét trên phạm vi lịch sử toàn thế giới thì lực lợng sản xuất mớikhông những là cội nguồn, là nguyên nhân quyết định sự phát triển của xãhội loài ngời, mà nó còn tạo thành cơ sở cho sự thống nhất, cũng nh chomối liên hệ của lịch sử toàn thế giới
Ngày nay, do sự tác động của cách mạng khoa học - kỹ thuật vàcông nghệ hiện đại, loài ngời đang đứng trớc những nguy cơ: chiến tranhhạt nhân, sự phá hủy môi sinh, nạn cạn kiệt tài nguyên , một số học giảphơng Tây đã nói đến "sự tận cùng của lịch sử", "sự cáo chung của nhân
Trang 19loại" Một trong những quan niệm bi quan về sự phát triển xã hội là quanniệm của một số nhà nghiên cứu lý luận trong nhóm "Câu lạc bộ Rô-ma".
Họ cho rằng, mọi sự phát triển của sản xuất đều dẫn đến khủng hoảng, do
đó, cần phải đa sự phát triển của lực lợng sản xuất xuống mức thấp nhấtbằng con số "không", rằng chỉ cần tái sản xuất giản đơn ra con ngời và củacải là có thể giúp cho nhân loại thoát khỏi thảm họa của "ngày tận thế"
Ngợc lại, một số học giả khác nh R.Arôn, G.Can, đặc biệt là nhà xãhội học ngời Mỹ Rôxtâu lại đa ra quan điểm về quyết định luận kỹ thuật,coi kỹ thuật là yếu tố quyết định sự phát triển xã hội và lấy sự tiến bộ kỹthuật làm tiêu chuẩn hàng đầu của tiến bộ xã hội Quan điểm này đợc phổbiến rộng rãi ở nhiều nớc Tây Âu vào những năm 50, 60 với học thuyết về xãhội "hậu công nghiệp" Xuất phát từ quan điểm này, cùng với việc lợi dụngquan điểm của C.Mác về vai trò quyết định của lực lợng sản xuất, Brêdinxkicòn đa ra một quan điểm mang tính cực đoan hơn - quan điểm về sự thaythế cách mạng xã hội bằng cách mạng khoa học kỹ thuật Alvin Toffler đa
ra quan điểm: sự phát triển dựa vào sự tiến triển của các nền văn minh Sựphát triển theo cách nhìn này chia làm ba làn sóng chính: văn minh nôngnghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp Phơng phápphân tích sự phát triển xã hội của Alvin Toffler cũng là một "lát cắt" để xemxét xã hội, chủ yếu dới góc độ khoa học kỹ thuật Tuy vậy, "lát cắt" xã hộitheo kiểu ba làn sóng, chủ yếu về khoa học kỹ thuật vẫn là phiến diện, vì nókhông đề cập tổng thể các quan hệ kinh tế chính trị, t tởng, văn hóa, xã hội,nhất là bỏ qua các hình thái kinh tế - xã hội, trong đó có các quan hệ lực l-ợng sản xuất - quan hệ sản xuất, giai cấp và đấu tranh giai cấp
Ngay sau Cách mạng Tháng Mời thành công, ý thức rất rõ vai trò cơ
sở vật chất - kỹ thuật đối với sự việc xây dựng xã hội mới, V.I Lênin đãsớm nhận thức đợc chức năng nền tảng của đại công nghiệp cơ khí đối vớiCNXH Ngời nhấn mạnh rằng: "Cơ sở vật chất duy nhất của CNXH chỉ có
Trang 20thể là nền đại công nghiệp Một nền đại công nghiệp ở vào trình độ kỹthuật hiện đại" [40, 11] V.I Lênin đã chỉ rõ vai trò lớn lao của kinh tế, củaviệc tăng năng suất lao động, coi đó là cái chủ yếu nhất, cơ bản nhất cho sựthắng lợi của chế độ xã hội mới, Ngời viết "Xét đến cùng, thì năng suất lao
động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ xã hộimới" [38, 25]
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, CNXH là gì? Ngời đặt câu hỏi và trảlời: "Là mọi ngời đợc ăn no, mặc ấm, sung sớng, tự do" [52, 396] là:
"không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trớc
hết là nhân dân lao động" [53, 271] "Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, CNXHtrớc hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọingời có công ăn việc làm, đợc ấm no và sống một đời hạnh phúc" [53, 17].Tóm lại, "CNXH là làm sao cho dân giàu, nớc mạnh" [52, 226] Hồ Chí Minhcho rằng: " tranh đợc tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự
do, độc lập cũng không làm gì" [51, 152] Ngời đòi hỏi, "Chúng ta phải làmsao thực hiện ngay, 1- Làm cho dân có ăn 2- Làm cho dân có mặc 3- Làmcho dân có chỗ ở" [51, 152] Vì vậy, Ngời đặc biệt chăm lo PTKT Ngời chủtrơng vận động bà con nông dân đi vào làm ăn tập thể, chú trọng xây dựng vàPTKT quốc doanh, giải phóng mọi lực lợng sản xuất, làm cho mọi ngời,mọi nhà trở nên giàu có, ích quốc lợi dân "Bác chỉ nói một điểm rất giản
đơn "có thực mới vực đợc đạo" đó là duy vật, đó là gốc của chủ nghĩa Mác Lênin" [52, 420]
-Hiện nay, nền kinh tế thế giới đang có sự chuyển biến to lớn Điều
đó thể hiện vai trò ngày càng tăng của kinh tế đối với đời sống con ng ời, ởmục tiêu PTKT của mọi quốc gia và ở trong tỷ trọng ngày càng lớn của yếu
tố kinh tế trong quan hệ quốc tế Cuộc cách mạng khoa học và công nghệhiện đại đã tạo ra một lợng giá trị cha từng có, một sự thay đổi mà ngời tathờng nói đến dới những tên gọi "thời kỳ hậu công nghiệp"; "làn sóng văn
Trang 21minh thứ ba" Trong hoàn cảnh đó, trên bình diện quốc gia, sự PTKT đãtrở thành mục tiêu chiến lợc số một của mọi quốc gia và hợp tác đã trởthành một phơng thức thực hiện sự phát triển đó.
Việt Nam là một nớc nghèo, về thu nhập vào loại thấp nhất thế giới,lại phải trải qua nhiều năm chiến tranh tàn phá, chịu đựng những hậu quảrất nặng nề PTKT từ lâu đã trở thành vấn đề cấp bách đối với nớc ta, nhng
do những hoàn cảnh và điều kiện lịch sử nhất định, PTKT cha đợc giảiquyết đầy đủ, bị rơi vào hàng thứ yếu Cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội từcuối thập kỷ 70 đầu 80 biểu hiện trớc hết ở tình trạng suy thoái kinh tế, sảnxuất trì trệ, lạm phát phi mã, đời sống của nhân dân gặp khó khăn, thiếu thốn.Công cuộc đổi mới bắt đầu từ năm 1986 Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đãxác định: "Phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòihỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hộikhác, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, coi đó là điều kiệnquan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị" [24, 57]
Sau gần 15 năm thực hiện đờng lối đổi mới, kinh tế tăng trởngnhanh, GDP bình quân hàng năm thời kỳ 1991-1998 đạt trên 8% Trên lĩnhvực nông nghiệp, lơng thực từ chỗ không đủ ăn, đến nay mỗi năm xuất khẩu
từ 2 đến trên 4 triệu tấn gạo, đời sống của đa số dân c đợc tăng lên đáng kể.Thành tựu PTKT đã tạo ra cơ sở vật chất cho quá trình thực hiện CSXH, giảiquyết nhiều VĐXH bức xúc, bớc đầu đáp ứng đợc những yêu cầu cơ bản,lâu dài của đời sống xã hội, văn hóa, tinh thần của nhân dân Hàng ngàn tỷ
đồng đợc huy động vào việc giải quyết những VĐXH cấp bách nh: giải quyếtviệc làm, xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng, đền ơn đáp nghĩa
Có thể nói, nền kinh tế - xã hội nớc ta đã có những biến đổi tích cực, đã ởvào quỹ đạo của sự phát triển nh hiện nay, đó là kết quả của đổi mới t duykinh tế, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và đổi mới các CSKT, kể cả kinh tế
Trang 22đối ngoại, tạo ra một nền kinh tế mở, hội nhập, đồng thời là kết quả nhậnthức mới về biện chứng giữa kinh tế với chính trị và xã hội, giữa CSKT vớiCSXH trong phát triển Nhng nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiềunớc trong khu vực vẫn là thách thức to lớn và gay gắt đối với đất nớc Hơnthế, trong xu thế chung của thời đại, PTKT đã trở thành mục tiêu chiến lợc
số một của mọi quốc gia, trớc sự tác động to lớn của cuộc cách mạng khoahọc và công nghệ hiện đại Vì vậy, trong quá trình đổi mới, phải thấy rằng,mục đích của đổi mới là phát triển, đặc biệt chú ý PTKT; lấy phát triển liêntục, nhanh, hiện đại, bền vững của nền kinh tế làm cơ sở, chỗ dựa cho đổimới các lĩnh vực khác Vấn đề cơ bản nhất trong tiến trình kinh tế Việt Namhiện nay là PTKT phải là thực chất và là nội dung cơ bản, là cái trục xuyênsuốt tiến trình quá độ lên CNXH
Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng và văn minh vừa là mục tiêu,vừa là nội dung của sự phát triển theo định hớng XHCN ở nớc ta Để có dângiàu, nớc mạnh trớc hết phải phát triển sản xuất, phát huy mọi khả năng vàtiềm năng của các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế làm cho kinh
tế phát triển nhanh Muốn giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội, và muốn
động viên đợc tính tích cực của mọi tầng lớp nhân dân, phải có cơ sở vậtchất là PTKT Muốn tăng cờng sức mạnh quốc phòng để bảo vệ chủ quyềnlãnh thổ; muốn xóa đói giảm nghèo, giải quyết các TNXH, phát triển vănhóa, giáo dục, nâng cao dân trí , tất cả đều không thể không dựa vào sứcmạnh của kinh tế Vì thế nhiệm vụ PTKT với tốc độ cao và ổn định phải đ -
ợc coi là nhiệm vụ trọng tâm
Một nớc còn ở tình trạng nghèo nàn và lạc hậu nh nớc ta, trớc hếtcần u tiên cho PTKT Tuy nhiên không phải là sự "u tiên" bằng mọi giá, mà
điều quan trọng là ở chỗ: PTKT không thể không gắn với một chế độ chínhtrị mang tính cách mạng, tiến bộ xã hội và tính nhân văn sâu sắc PTKTkhông thể tách rời tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ
Trang 23môi trờng, CNH phải đi đôi với HĐH Mục tiêu tối cao của sự nghiệp CNH,HĐH là phải hớng tới việc nâng cao chất lợng sống cho mỗi thành viêntrong cộng đồng xã hội Mục tiêu đó chỉ có thể thực hiện đợc khi có sự kếthợp hài hòa giữa PTKT nhanh với việc cải thiện đời sống nhân dân, đảmbảo công bằng và bình đẳng xã hội, đồng thời giải quyết tốt các VĐXH,nâng cao chất lợng môi trờng sống.
Hiện nay, nhiều nớc có mức PTKT cao đang phải đối phó với hàngloạt VĐXH gay gắt: phân hóa giàu nghèo, bất công xã hội, thất nghiệp, sựbăng hoại về đạo đức, nhân phẩm Thực tiễn đó đã đem lại cho chúng tabài học quý báu về sự thống nhất biện chứng giữa nhân tố kinh tế và nhân
tố xã hội trong quá trình phát triển
Nhìn một cách tổng thể, một quá trình phát triển phải bao gồm đầy
đủ ba mục đích: Thứ nhất, các giá trị vật chất đợc đa lên u tiên hàng đầu và trong giá trị vật chất, giá trị kinh tế đợc xem là quan trọng nhất Thứ hai,
bao gồm các giá trị xã hội, chính trị, văn hóa và những chế định có liên
quan Thứ ba, liên quan đến giá trị nội tại của con ngời, làm cho con ngời
trở nên ngời hơn, nhân bản hơn Ba mục đích này không thể tách rời nhau,PTKT, phát triển xã hội sẽ trở nên vô nghĩa, nếu không đi liền với việc pháttriển con ngời PTKT không phải là toàn bộ mục đích của sự phát triển Hơnnữa, xét cho cùng, nó cũng chỉ là phơng tiện để đạt tới mục đích nhân văncao cả, nhng nó là cái cơ bản trên đó một xã hội phát triển đợc tạo dựng Nó
là trung tâm, là cái trục xuyên suốt bớc chuyển cách mạng từ trạng tháichậm phát triển sang trạng thái phát triển và khi đã đạt tới trình độ chínmuồi, thì PTKT làm thay đổi toàn bộ cấu trúc và bộ mặt xã hội ở đây kinh
tế không phải là cái quyết định duy nhất, nhng là cái cơ bản, cái quyết địnhtối hậu cho một trật tự phát triển
1.1.2 Giải quyết tốt các vấn đề xã hội là mục tiêu, động lực của
sự phát triển kinh tế
Trang 24Vấn đề xã hội và chính sách xã hội
Vấn đề xã hội (VĐXH): Theo C.Mác, nghĩa rộng của khái niệm xã
hội là: "Xã hội - cho dù nó có hình thức gì đi nữa - là cái gì? Là sản phẩmcủa sự tác động qua lại giữa những con ngời" [48, 657]
Trên thực tế, cũng có khái niệm "xã hội" theo nghĩa hẹp hơn, ngang
cấp với khái niệm "chính trị", "kinh tế", "văn hóa" Đó là khái niệm "xã hội" phản ánh những quan hệ, những hoạt động, những mặt cụ thể hơn của xã hội
đã, đang và sẽ nẩy sinh một cách khách quan tơng đối độc lập cùng với các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, nó chứa đựng và phản ánh những VĐXH của con ngời, là đối tợng nghiên cứu trực tiếp của CSXH và thực hiện CSXH của quản lý nhà nớc Chúng tôi xem xét VĐXH theo hớng này.
Tuy nhiên, không thể tách biệt một cách rành rọt VĐXH với các vấn
đề kinh tế, chính trị, văn hóa Ví dụ: vấn đề việc làm, nghèo đói, côngbằng , nó đã bao hàm cả VĐXH, kinh tế, chính trị, văn hóa Những vấn đề
đó luôn có liên quan chặt chẽ với kinh tế, chính trị và văn hóa Đồng thời,nếu theo nghĩa rộng thì mọi vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa , đều mangtính xã hội (vì đều là những vấn đề của các quan hệ giữa ngời với ngời)
Từ khi loài ngời bắt đầu sinh sống thành cộng đồng, thì đồng thời nảysinh những quan hệ giữa con ngời với con ngời, giữa con ngời với cộng đồng
và tất yếu cũng từ đó nẩy sinh những VĐXH dù là dới dạng thô sơ nhất Theocác nhà nghiên cứu phơng Tây "vấn đề xã hội" lần đầu tiên đợc đặt ra vàonhững năm 30 của thế kỷ 19, nh là một khó khăn căn bản, nan giải của một xãhội, trong đó sự bền vững bị đe dọa và xã hội lâm vào nguy cơ bị tan rã donhững điều kiện sinh sống của những tác nhân, đồng thời là những nạn nhâncủa cuộc cách mạng công nghiệp Đó là sự bần cùng hóa những ngời lao động,gây nên những căng thẳng xã hội, hậu quả của quá trình CNH dã man
Sau này, khái niệm "vấn đề xã hội" thờng đợc nghiên cứu theo nghĩa
Trang 25hẹp, tơng đối độc lập với các vấn đề kinh tế, chính trị Đối với các nhà
nghiên cứu xã hội học: "Có VĐXH khi những thành viên của một cộng đồng (lớn hay nhỏ) nhận thấy những dấu hiệu hoặc điều kiện có ảnh hởng tác
động hoặc đe dọa đến chất lợng cuộc sống của họ (chất lợng cuộc sống ở
đây hiểu theo nghĩa rộng), và đòi hỏi phải có những biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn hoặc giải quyết tình trạng đó theo hớng có lợi cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng (lớn hoặc nhỏ)" [72, 18-19].
Từ sự phân tích trên, chúng tôi cho rằng, xét trên bình diện chungnhất có "vấn đề xã hội" khi:
- Vấn đề đó có liên quan đến lợi ích của một cộng đồng ngời (lớnhay nhỏ)
- Vấn đề đó phản ánh một khuynh hớng cản trở sự phát triển củamột cộng đồng
- Vấn đề đó tồn tại, đặt ra một cách khách quan trong các mối quan
hệ giữa những con ngời
- Vấn đề đó đòi hỏi phải đợc ngăn chặn, giải quyết, nếu không sẽ
ảnh hởng đến sự tồn tại và phát triển của cộng đồng
Mỗi xã hội, mỗi thời đại đều phải giải quyết những VĐXH do cácxã hội và thời đại trớc để lại, đồng thời phải đối phó với những VĐXH mớinảy sinh trong hiện tại cũng nh tơng lai Có những VĐXH nảy sinh và ảnh h-ởng trực tiếp trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, nhng cũng cónhững VĐXH có ảnh hởng lâu dài, trong nhiều thời kỳ Trong các VĐXH cóloại mang tính toàn cầu nh: sự bùng nổ dân số, HIV, đói nghèo , có loạiVĐXH "gay cấn" hay những "điểm nóng" Về thực chất, những VĐXH "gaycấn" hay những "điểm nóng" thờng là những VĐXH bức xúc, có quy mô và c-ờng độ đạt tới hoặc vợt qua điểm "tới hạn", gây ra những phản ứng hoặchiệu ứng tiêu cực trong xã hội, mà nếu không đợc giải quyết kịp thời sẽ gây
Trang 26nguy hiểm hoặc nguy hại cho xã hội, gây mất an toàn và ổn định xã hội.
ở mỗi nớc, trong những giai đoạn phát triển đều có những VĐXHcần thiết phải giải quyết ở nớc ta, khi bớc vào quá trình xây dựng CNXH,
có hàng loạt VĐXH đặt ra, mà vấn đề nào cũng cấp bách Đại hội VII của
Đảng đã vạch ra ba loại VĐXH ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lênCNXH: "Trớc hết, đó là loại vấn đề do lịch sử và do hậu quả chiến tranh đểlại nh việc chăm sóc, đền ơn, trả nghĩa đối với những ngời có công với nớc,với cách mạng; việc cứu trợ những nạn nhân chiến tranh, những trẻ mồ côi;những bệnh tật và TNXH Thứ hai, đó là loại vấn đề nảy sinh từ nền kinh
tế xã hội lạc hậu, kém phát triển nh thất nghiệp, mức sống thấp, tỷ lệ pháttriển dân số cao, nạn mê tín dị đoan Thứ ba, đó là loại vấn đề mới phátsinh nh những VĐXH liên quan đến việc phát triển nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần, chuyển sang cơ chế thị trờng, giải quyết vấn đề ruộng đất
ở nông thôn, chính sách tiền lơng và bảo hiểm xã hội, việc phân bố lại dân
c, xây dựng các vùng kinh tế mới, việc giảm biên chế các cơ quan và giảmquân số " [24, 143] Đại hội VIII của Đảng đã xác định, trong những nămtrớc mắt, phải giải quyết tốt một số VĐXH: tạo việc làm, thực hiện xóa đóigiảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, bảo hiểm xã hội và các hoạt động từ thiện,
đẩy mạnh công tác dân số kế hoạch hóa gia đình, đẩy lùi các TNXH [28,114-118]
Chính sách xã hội: Để giải quyết các VĐXH, một trong những biện
pháp cơ bản là đề ra các CSXH Tuy nhiên cũng có thể xử lý, điều chỉnh vàgiải quyết các VĐXH bằng sức mạnh của d luận, phong tục, tập quán,truyền thống
ở nớc ta, thuật ngữ "chính sách xã hội" lần đầu tiên đợc sử dụngmột cách phổ biến trong văn kiện Đại hội lần thứ VI của Đảng Cho đếnnay xung quanh khái niệm CSXH đã đợc bàn đến ở nhiều cuộc hội thảo ở
đây, chúng tôi chỉ đơn cử một vài ví dụ trong số rất nhiều khái niệm về
Trang 27CSXH mà các nhà nghiên cứu đa ra:
- Khái niệm "CSXH" của PGS PTS Đặng Cảnh Khanh: "CSXH làmột bộ phận cấu thành trong chính sách chung của một chính Đảng haymột Chính quyền nhà nớc nhất định trong việc quản lý và điều hòa các mốiquan hệ xã hội và cá nhân Nó bao gồm việc giải quyết những vấn đề vềquyền lợi xã hội giữa các giai cấp và từng lớp xã hội phù hợp với bản chấtgiai cấp của Nhà nớc và chính Đảng nói trên" [72, 71-72] Quan điểm này
đã nhấn mạnh tới chủ thể đề ra CSXH và nội dung của CSXH
- Khái niệm "CSXH" của GS Phạm Nh Cơng: "Chúng ta hiểu rằngCSXH trớc hết là một khoa học, CSXH phải là thành tựu của sự nghiên cứucủa khoa học xã hội, trả lời đợc những câu hỏi của cuộc sống ở dạng hoạt
động thực tiễn đặc thù này, CSXH cần phải đợc xem xét nh một lĩnh vựckhoa học đặc thù Bám chắc vào sự vận động của thực tiễn, khoa họcnghiên cứu về CSXH cần phải mạnh dạn trả lời những câu hỏi đang đặt ra
từ thực trạng kinh tế - xã hội nớc ta hiện nay" [17, 39-40] Quan điểm nàynhấn mạnh đến mặt khoa học của CSXH và cho rằng CSXH là sự hòa quyệncủa khoa học và thực tiễn
- Khái niệm "CSXH" của PGS Bùi Đình Thanh: "CSXH là cụ thểhóa và thể chế hóa bằng pháp luật những đờng lối, chủ trơng, những biệnpháp để giải quyết các VĐXH dựa trên những t tởng, quan điểm của nhữngchủ thể lãnh đạo, phù hợp với bản chất chế độ xã hội - chính trị, phản ánhlợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và của từng nhóm xãhội nói riêng nhằm mục đích cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của nhândân" [72, 23] Cùng với nhóm quan điểm này, Từ điển bách khoa Việt Namviết "CSXH - Một bộ phận cấu thành chính sách chung của một chính Đảnghay chính quyền nhà nớc trong việc giải quyết và quản lý các VĐXH.CSXH bao trùm mọi mặt của cuộc sống con ngời, điều kiện lao động và
Trang 28sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp và quan
hệ xã hội Một trong những đặc điểm cơ bản của CSXH là sự thống nhấtbiện chứng của nó với chính sách kinh tế CSXH phải đạt mục đích đemlại đời sống tốt đẹp cho con ngời, mang lại sự công bằng, dân chủ cho mỗicon ngời" [34, 478]
Chúng tôi đồng tình với quan điểm về CSXH của PGS Bùi Đình Thanh,quan điểm này đề cập đến đầy đủ các yếu tố cơ bản hợp thành CSXH nh:
- Chủ thể đặt ra CSXH, tổ chức chính trị lãnh đạo (ở nớc ta là Đảngcộng sản) và Nhà nớc, với sự tham gia của các tổ chức hoạt động xã hội Dovậy, CSXH của mỗi chế độ xã hội phản ánh quan điểm, chủ trơng, phơng h-ớng và biện pháp của giai cấp cầm quyền trong việc giải quyết các VĐXH
- Nội dung của CSXH, bao quát nhiều lĩnh vực hoạt động rộng lớncủa xã hội, "bao trùm mọi mặt của cuộc sống con ngời: điều kiện lao động
và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan
hệ dân tộc " [22, 86]
- Đối tợng của CSXH, là các tầng lớp nhân dân trong xã hội nh:công nhân, nông dân, trí thức, sinh viên, thanh niên, phụ nữ, các dân tộc,cán bộ về hu, thơng binh
- Mục đích CSXH, phụ thuộc vào bản chất chế độ xã hội - chính trịcủa từng nớc Đối với nớc ta, mục đích CSXH là nhằm giải quyết tốt cácVĐXH, đem lại đời sống tốt đẹp cho con ngời, mang lại công bằng, dânchủ cho mỗi con ngời; đặc biệt là những nhu cầu vật chất và tinh thần cóliên quan trực tiếp, thiết thân đến đời sống hàng ngày của mỗi con ngời vàmỗi cộng đồng ngời
Giải quyết tốt các VĐXH là mục tiêu, động lực của sự PTKT theo
định hớng XHCN
Đứng trên góc độ kinh tế học phát triển, những điều kiện bảo đảm
Trang 29cho tăng trởng và PTKT là:
Điều kiện thứ nhất: Sự ổn định chính trị, xã hội đợc coi là điều kiện
tiên quyết Tăng trởng và PTKT đòi hỏi phải có một thể chế chính trị - xãhội ổn định Sự ổn định đó đợc xác lập trớc hết bằng đờng lối phát triểnkinh tế - xã hội đúng đắn, thể hiện đợc ý chí phấn đấu cho mục tiêu: "Dângiàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh", phù hợp với quy luật kháchquan; có khả năng thu hút mọi lực lợng đầu t, khai thác đợc mọi nguồn lựctrong nớc và ngoài nớc
Điều kiện thứ hai: Đầu t phát triển khoa học - công nghệ và có khả
năng ứng dụng công nghệ tiên tiến của thế giới Ngày nay khoa học và côngnghệ không chỉ trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp, là yếu tố cơ bản củaquá trình sản xuất, mà còn là điều kiện của sự tăng trởng và PTKT Do đó,muốn có tăng trởng và PTKT nhất thiết phải đầu t cho giáo dục đào tạo,phát triển khoa học và công nghệ
Điều kiện thứ ba: Tăng trởng kinh tế phải trở thành mục tiêu phấn
đấu của mọi ngời, phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ của toàn dân tộc
Điều kiện thứ t: Trình độ văn hóa của nhân dân và chất lợng đội ngũ
lao động ngày càng nâng cao Xét trên cả hai phơng diện kinh tế và xã hội,con ngời là động lực chủ yếu của quá trình sản xuất, là trung tâm trongchiến lợc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc Vì vậy, trình độvăn hóa của dân c và chất lợng đội ngũ lao động là điều kiện quan trọngbảo đảm nền kinh tế có tăng trởng và phát triển bền vững
Từ sự phân tích trên, dới góc độ chính trị - xã hội, vai trò của việcgiải quyết các VĐXH với t cách là động lực là mục tiêu của sự phát triểnkinh tế - xã hội thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
Một là, giải quyết tốt các VĐXH - một nội dung cơ bản nhất của việc thực hiện định hớng XHCN, góp phần cho nớc ta ổn định và phát triển
Trang 30bền vững.
Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, phát triển kinh tế - xã hội không thể bắt
đầu từ trạng thái khủng hoảng, hỗn loạn Nh một quy luật, các quốc gia saukhi kết thúc chiến tranh, khôi phục sản xuất, củng cố trật tự kỷ cơng trongnớc, thiết lập và phát triển quan hệ ngoại giao với các nớc khác Tất cảnhững công việc cần thiết ấy nhằm mục đích tạo ra sự ổn định xã hội, tạocơ sở vật chất kỹ thuật để triển khai công cuộc phát triển Trên thực tế, mộtxã hội đợc đánh giá là ổn định khi các mặt, các lĩnh vực của nó vận độngtheo một định hớng nhất định, có kỷ cơng trên cơ sở pháp luật, chuẩn mực
đạo đức và các quy phạm xã hội khác mà giai cấp lãnh đạo xã hội đó banhành hoặc thừa nhận, xã hội đó đảm bảo những điều cần thiết cho đời sốngcủa mọi ngời, đảm bảo sự vận động bình thờng các mối quan hệ giữa ngờivới ngời trong cộng đồng xã hội
Trong thời đại ngày nay, ổn định chính trị, t tởng không thể tách rờicác vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa Việc gắn ổn định t tởng, chính trị vớigiải quyết tốt các VĐXH về thực chất mới có thể gọi là ổn định chính trị -xã hội ở nớc ta, ổn định chính trị - xã hội đợc đặc biệt coi trọng, bảo vệ vàgìn giữ trong suốt thời kỳ qua và đã phát huy đợc tính tích cực của nó, trởthành nhân tố quan trọng nhất, mang tính quyết định cho sự thành công củagần 15 năm đổi mới theo định hớng XHCN
Nội dung và đặc trng cơ bản nhất của sự ổn định chính trị - xã hội là
ổn định về bản chất chế độ xã hội thể hiện qua hệ t tởng, lập trờng chính trịgắn với quá trình đổi mới hệ thống chính trị một cách đúng đắn ở nớc ta,
nội dung đó đợc biểu hiện: Thứ nhất, giai cấp công nhân, thông qua đội tiên phong - Đảng Cộng sản lãnh đạo toàn xã hội; Thứ hai, chủ nghĩa Mác -
Lênin, t tởng Hồ Chí Minh là nền tảng t tởng, kim chỉ nam cho hành động
của Đảng; Thứ ba, chỉ có sự ổn định chính trị - xã hội khi tiến hành tốt đổi
Trang 31mới hệ thống chính trị và dân chủ hóa đời sống xã hội Với ý nghĩa đó, ổn định chính trị - xã hội để phát triển bền vững là nộidung căn bản, bao trùm của sự phát triển theo định hớng XHCN ở nớc tahiện nay.
Trong suốt mấy chục năm qua, việc từng bớc đa ra và thực thi nhiềuCSXH đúng đắn, đã giải quyết đợc nhiều VĐXH bức xúc, cấp bách, gópphần to lớn vào việc duy trì và củng cố sự ổn định về chính trị - xã hội,
động viên đợc sức ngời sức của, phát huy đợc chủ nghĩa yêu nớc, tinh thầncách mạng của cả dân tộc Việt Nam - yếu tố quyết định để chúng ta hoànthành công cuộc giải phóng đất nớc, thống nhất Tổ quốc và đi lên CNXH.Trong quá trình đổi mới, Đảng ta xác định mục tiêu của ổn định trong pháttriển: "Mục tiêu ổn định tình hình, giải phóng lực lợng sản xuất không chỉ
là phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật mới mà còn là giảiquyết các VĐXH, từ công ăn việc làm đến đời sống vật chất và văn hóa, bồi d-ỡng sức dân, xây dựng các quan hệ xã hội tốt đẹp, lối sống lành mạnh, thựchiện công bằng xã hội, với ý thức ngời lao động là lực lợng sản xuất lớn nhất,
là chủ thể của xã hội" [22, 15]
Trong gần 15 năm qua, công cuộc đổi mới kinh tế đã đạt đợc nhữngthành tựu quan trọng, tạo ra những tiền đề để đa đất nớc chuyển sang mộtthời kỳ phát triển mới Những kết quả hoạt động kinh tế đã, đang và sẽ đụngchạm đến lợi ích xã hội thiết thực của tất cả những ngời lao động nh việc làm,thu nhập, các loại hình sở hữu t liệu sản xuất: cổ phần, ruộng đất, lao độnglàm thuê , vai trò điều tiết, liên kết xã hội đang tăng lên do cơ cấu xã hội
đang trong quá trình phân hóa, đa dạng theo hớng ngày càng phức tạp hơn, vàhiện thời đã có cả những xu hớng vận động lệch pha, rối loạn, trì trệ, khủnghoảng, nó nh là sự biểu hiện khách quan của quá trình chuyển đổi của nềnkinh tế sang nền kinh tế thị trờng Trong quá trình thực hiện cơ chế thị trờng
đã và đang diễn ra sự chuyển đổi định hớng giá trị, bên cạnh những mặt,
Trang 32những khuynh hớng tiến bộ, đồng thời nó cũng làm nảy sinh những hiện tợng,những mặt tiêu cực: thói vụ lợi, tâm lý thực dụng, các giá trị văn hóa, tinhthần, các truyền thống đạo đức có nguy cơ bị xem nhẹ, bị tầm thờng hóa
Đất nớc ta vừa trải qua cuộc chiến tranh lâu dài, hậu quả để lại hết sức nặngnề: gia đình thơng binh, liệt sĩ, ngời có công với cách mạng, ngời già cô
đơn Từ thực tiễn đó, giải quyết tốt các VĐXH tạo ra sự công bằng và ổn
định đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển đất nớc theo
định hớng XHCN
Việc ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội cho phép chúng
ta có thể khẳng định rằng, hiện nay chúng ta đã từng bớc thiết lập đợc sự ổn
định để bớc vào thời kỳ phát triển mới - đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc Tuynhiên cũng cần tỉnh táo để thấy rằng sự ổn định mà chúng ta đạt đợc chahoàn toàn vững chắc, điều này thể hiện rõ trên lĩnh vực xã hội Với cáchnhìn khách quan, Đảng ta đã vạch ra bốn nguy cơ dẫn đến mất ổn định, đedọa sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nớc hiện nay: Nguy cơ tụt hậu, nguycơ chệch hớng, nguy cơ "diễn biến hòa bình", nguy cơ tham nhũng và cácTNXH khác
Trong giai đoạn CNH, HĐH, để khắc phục bốn nguy cơ này, vấn đề
ổn định luôn luôn đợc đặt ra, nó nằm trong từng bớc đi, từng chính sách,chủ trơng của Đảng và Nhà nớc, không phải chỉ là điều kiện mà còn là nộidung cần đạt đợc Bởi vậy, trong bản thân các chủ trơng, chính sách kinh tếphải tính toán một cách chu đáo đến các VĐXH Bài học rút ra từ thực tiễn
sự nghiệp đổi mới ở nớc ta, không có sự ổn định chính trị - xã hội, khôngthể có sự TTKT đều đặn, liên tục và ở mức tơng đối cao nh 9-10 năm vừa qua, và bài học đó sẽ trở nên sâu sắc gấp bội khi liên hệ vớithực tế phản diện diễn ra ở một số nớc trên thế giới
Hai là, giải quyết tốt các VĐXH chính là trực tiếp phát huy nhân tố con ngời trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Trang 33Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: Sự phát triển của lịch sử loàingời tuân theo những quy luật khách quan, đó là một quá trình lịch sử - tựnhiên Vai trò nhân tố chủ quan là ở chỗ, con ngời nhận thức đợc các quyluật khách quan và bằng hành động thực tiễn biến những khả năng kháchquan đó thành hiện thực, theo những quy luật vốn có của nó Vai trò quyết
định của nhân tố con ngời đã đợc các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác Lênin luận giải trên một cơ sở khoa học và thực tiễn sâu sắc Theo đó, conngời không chỉ là sản phẩm của sự phát triển tự nhiên và xã hội, mà còn làchủ thể tích cực của sự cải biến tự nhiên và xã hội, con ngời vừa là mục tiêuvừa là động lực của sự phát triển
-Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt chân lý trên sát hợp với mọi tìnhhuống, hoàn cảnh Lúc giải quyết những nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểmcủa cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, Ngời thờng nhắc đến châm ngôn:
"dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong" Khibắt tay vào xây dựng CNXH, Ngời nói: "Muốn xây dựng CNXH phải cócon ngời XHCN" Khi suy ngẫm về sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ, Ngờinhắc lại chân lý mà các nhà hiền triết đã tổng kết: "Vì lợi ích mời năm phảitrồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng ngời"
Vai trò quan trọng mang tính quyết định của con ngời đối với sựphát triển kinh tế - xã hội là vấn đề đã đợc khẳng định Những công trìnhnghiên cứu gần đây đều đi đến kết luận rằng, con ngời là vốn quý nhất, làyếu tố quyết định cho mọi quá trình kinh tế - xã hội Thực tiễn lịch sử cũngcho thấy, những quốc gia tiến hành CNH dựa vào khai thác và sử dụng tiềmnăng của yếu tố con ngời thì luôn giữ đợc tốc độ phát triển nhanh và ổn
định nh Nhật Bản và một số nớc ở Đông á Ngợc lại, những quốc gia chỉdựa vào điều kiện tự nhiên hoặc vốn từ bên ngoài nh một số nớc ở Trung
Đông, châu Phi hoặc Mỹ-la tinh thì tốc độ tăng trởng và phát triển chậm,không ổn định
Trang 34Đại hội lần thứ VII của Đảng ta đã đặt con ngời vào vị trí trung tâmcủa chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội, khẳng định con ngời là vốn quýnhất, chăm lo đào tạo, bồi dỡng, giáo dục vì hạnh phúc của con ngời là mụctiêu phấn đấu cao nhất của chế độ chúng ta Trong giai đoạn CNH, HĐH
đất nớc, Đảng ta khẳng định: "Nâng cao dân trí, bồi dỡng và phát huy nguồnlực to lớn của con ngời Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộcCNH, HĐH" [28, 21]
Bản chất con ngời là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Chủ nghĩaMác - Lênin xem xét con ngời với t cách là một thực thể xã hội, chứa đựngtrong bản thân nó quan hệ biện chứng của một phức hợp các nhân tố: tự nhiên
- xã hội; vật chất - tinh thần; cá nhân - cộng đồng; lịch sử - thời đại; kháchquan - chủ quan Do đó, việc nâng cao vai trò nhân tố con ngời đòi hỏi sựtổng hòa những điều kiện, biện pháp: kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, vănhóa Nhng để tạo ra những yếu tố này, để huy động tiềm năng con ngờicần thiết phải có CSXH đúng đắn hớng vào việc giải quyết tốt các VĐXHlàm định hớng phát triển Thiếu hụt một chính sách nh vậy, không có khảnăng đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội Chỉ có thông qua một chiến lợcphát triển kinh tế - xã hội vì sự phát triển phồn vinh của đất nớc và hạnh phúccủa nhân dân, một CSXH lấy con ngời làm trọng tâm, nhằm giải quyết tốt cácVĐXH, mới có thể tích cực hóa đợc nhân tố con ngời Đảng ta khẳng định
"CSXH đúng đắn vì hạnh phúc của nhân dân sẽ là động lực to lớn phát huymọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng CNXH"[23, 13] " Giải quyết tốt các VĐXH sẽ nâng cao chất lợng cuộc sống củanhân dân, mở ra triển vọng phát triển lực lợng sản xuất nhanh hơn và vớichất lợng cao hơn" [25, 26]
Thực hiện CSXH đúng đắn, giải quyết tốt các VĐXH có vai tròngày càng to lớn trong việc phát huy nhân tố con ngời, với tính cách là
động lực của sự phát triển trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thể hiện:
Trang 35- Con ngời là một thực thể xã hội, sống và hoạt động trong xã hội,trong tiến trình phát triển của lịch sử, con ngời bị quy định bởi những mốiquan hệ, đồng thời thông qua hoạt động thực tiễn, con ngời tác động vào xãhội nh là một chủ thể thúc đẩy xã hội tiến lên Nhân tố con ngời đóng vaitrò chủ thể của đời sống xã hội, là một hệ thống giai cấp, tầng lớp tác độngqua lại, giữ địa vị khác nhau và hoạt động của nó bảo đảm sự phát triển xãhội Động lực của lịch sử không phải là những cá nhân riêng lẻ, biệt lập mà
là sức mạnh của cộng đồng ngời (các giai cấp, dân tộc, quốc gia ) Với ýnghĩa đó, giải quyết tốt các VĐXH tạo điều kiện điều chỉnh mối quan hệgiữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, bảo đảm sự tác động qua lại, vận
động của các quan hệ đó theo định hớng và mục tiêu của giai cấp cầmquyền, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển ở nớc ta, quan hệ đó đợc xây dựngtrên nền tảng liên minh công - nông - trí thức, dới sự lãnh đạo của giai cấpcông nhân
- Nội dung cấu thành nhân tố con ngời đợc hiểu nh là những tiêu chí
về số lợng và chất lợng của dân số và lao động Nó nói lên khả năng của conngời, của cộng đồng ngời cần phải đợc khai thác và phát huy trong quá trìnhcải tạo và xây dựng xã hội, mà trớc hết và chủ yếu là số lợng và chất lợng lao
động của con ngời Để phát huy nhân tố con ngời phải tạo ra các điều kiện,môi trờng nhằm kích thích con ngời hoạt động sáng tạo Phát huy nhân tố conngời phải biểu hiện ra ở chất lợng cao của nguồn nhân lực - đó là con ngờiphát triển cao về trí tuệ, cờng tráng về thể chất, phong phú về tinh thần Với ýnghĩa đó, giải quyết tốt các VĐXH tạo ra khả năng và điều kiện để điều chỉnhmức độ phát triển dân số, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng caosức khỏe, trình độ học vấn, trí tuệ của các giai tầng trong xã hội, tạo ra tiềmnăng to lớn cho mọi ngời tham gia vào công cuộc xây dựng xã hội mới
- Nhân tố con ngời là những tiêu chí về nhân cách, phản ánh nhữnggiá trị xã hội trong một điều kiện lịch sử cụ thể Trình độ phát triển của
Trang 36nhân cách đảm bảo cho con ngời thực hiện tốt chức năng xã hội của nó,phản ánh khả năng sáng tạo, tính tích cực của con ngời trong hoạt độngthực tiễn Với ý nghĩa nâng cao vai trò nhân tố con ngời, CSXH khôngnhững nhằm giải quyết tốt các VĐXH mà còn là phơng tiện mạnh mẽ đểnâng cao tính tích cực chính trị - xã hội, tính tích cực lao động của quần chúngnhân dân trong lao động sản xuất, trong việc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế -xã hội Kinh nghiệm trong nhiều thập kỷ xây dựng CNXH đã khẳng định mộtcách đúng đắn rằng: Việc thiếu quan tâm đến phơng diện chính trị - xã hội củasản xuất, của việc chăm lo đời sống ngời lao động sẽ dẫn đến làm giảm sút,làm yếu đi vai trò nhân tố con ngời trong đời sống xã hội nói chung Hậu quả
đó sẽ làm giảm đi sự quan tâm của ngời lao động đến kết quả lao động củamình và gây nên sự trì trệ trong sản xuất Bởi lẽ, điều quan trọng, thậm chí có
ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của xã hội là thái độ của ngời lao
động đối với công việc của mình Trong thời kỳ tiến hành cuộc chiến tranhgiải phóng dân tộc, bằng việc khơi dậy truyền thống yêu nớc, lòng tự hàodân tộc, chúng ta đã phát huy đợc tính tích cực của mỗi ngời dân và cả cộng
đồng Nhờ đó, dân tộc Việt Nam đã làm nên những kỳ tích trong lịch sử và
đã chứng minh đợc yếu tố con ngời Việt Nam Khi chiến tranh kết thúc,việc áp dụng một cách máy móc, giáo điều những kinh nghiệm phát huynhân tố con ngời trong chiến tranh, cùng với việc duy trì quá lâu cơ chế baocấp đã làm mất đi động lực kích thích tính tích cực sáng tạo của ngời lao
động Thay vào đó là tâm lý trông chờ thụ động và thái độ thiếu nhiệt tìnhtrong công việc Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sựkhủng hoảng kinh tế - xã hội ở nớc ta cuối những năm 70 đầu những năm
80 Cơ chế bao cấp ngày nay, tuy cơ bản đã đợc xóa bỏ, song tác phong làmviệc thụ động, bình quân chủ nghĩa, ít chú trọng đến hiệu quả đã trở thành thóiquen khó khắc phục của nhiều ngời, đặc biệt là trong các cơ quan nhà nớc.Vì vậy, vấn đề hết sức cấp bách hiện nay là phải tạo ra đợc thái độ, ý thức
Trang 37làm việc tích cực của mỗi cá nhân, cũng nh toàn xã hội Đây là vấn đề phứctạp, chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố: kinh tế, chính trị, tâm lý - xã hội vàliên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau Trong điều kiện cụ thểcủa nớc ta, để tạo ra tâm lý an tâm, phấn khởi, năng động, tích cực của ngờilao động cần phải giải quyết những nhu cầu chính đáng nh: việc làm và thunhập, công bằng và bình đẳng, tạo cơ hội để phát triển Với ý nghĩa đó,giải quyết tốt các VĐXH có khả năng hình thành ở ngời lao động ý thức giaicấp, ý thức công dân, trách nhiệm xã hội, lối sống mới , tạo nên sự kíchthích mạnh mẽ để ngời lao động tăng năng suất lao động và nâng cao tínhtích cực chính trị - xã hội, đợc xem là nguồn gốc chủ yếu của sự phát triển
và tiến bộ xã hội nói chung và của sự nghiệp xây dựng CNXH nói riêng
1.2 Kết hợp phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình xây dựng nông thôn mới theo định h- ớng XHCN
1.2.1 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội
Trên cơ sở nghiên cứu vấn đề nông dân ở các nớc châu Âu cuối thế
kỷ XIX, C.Mác và Ph Ăngghen đã chỉ cho giai cấp vô sản thấy rằng: " nôngdân đều là một nhân tố rất cơ bản của dân c, của nền sản xuất và của lực l-ợng chính trị" [46, 715] Trong tiến trình phát triển của xã hội, nông nghiệp,nông thôn và nông dân luôn có một vị trí hết sức quan trọng
Có thể nói rằng, có rất nhiều quan điểm về PTKT đã xem sự PTKTcủa khu vực nông nghiệp, nông thôn nh là một bộ phận không thể tách rời
sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung nh: lý thuyết kinh tế của ờng phái nhị nguyên", "lý thuyết về các giai đoạn tăng trởng kinh tế" củaWRostow, quan điểm của trờng phái "phát triển cân đối liên ngành" Điềukhác nhau đáng kể giữa các quan điểm này là ở chỗ, khi thì nông nghiệp, nông
Trang 38"tr-thôn đợc nhấn mạnh ở cơ sở nền tảng chung, nghĩa là giải quyết vấn đề PTKTnói chung phải bắt đầu từ sự nâng cấp khu vực kinh tế này, khi thì xem nó nh
là một trong số những khu vực có ý nghĩa nh một "mũi nhọn" trong xuất khẩunếu điều kiện về lợi thế so sánh mà quan hệ ngoại thơng cho phép
Vị trí đặc biệt của vấn đề nông thôn, nông nghiệp trong khôi phục
và PTKT đợc V.I Lênin nhấn mạnh trong chính sách kinh tế mới (NEP).V.I Lênin đã đề ra t tởng táo bạo: xây dựng CNXH "Phải bắt đầu từ nôngdân phải dùng những biện pháp cấp bách và quan trọng để nâng cao các lựclợng sản xuất của nông dân" [39, 263], coi đó là con đờng tốt nhất để có
"bánh mì và nhiên liệu" V.I Lênin đã nêu ra hàng loạt biện pháp để PTKTcủa nông dân, nông nghiệp, thay chế độ trng thu lơng thực bằng chính sáchthuế lơng thực Với chính sách thuế lơng thực và chính sách tự do trao đổihàng hóa thể hiện sự quan tâm đến lợi ích kinh tế của ngời nông dân, thểhiện sự thay đổi địa vị của ngời nông dân trong xã hội, từ chỗ chủ yếu là
đối tợng cải tạo của cách mạng, sang chỗ là mục tiêu cần đợc đầu t và pháttriển Những chủ trơng đúng đắn của V.I.Lênin bắt đầu từ nông dân, nôngnghiệp đã nhanh chóng khôi phục lại nền kinh tế nớc Nga, tạo cơ sở để thựchiện kế hoạch nổi tiếng - điện khí hóa toàn Nga
Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo quan điểm của V.I.Lêninvào thực tiễn hoàn cảnh Việt Nam trong thời kỳ khôi phục kinh tế ở miềnBắc Một trong những quan điểm hàng đầu và xuyên suốt của Hồ Chí Minh vềnông nghiệp, nông thôn là khẳng định vị trí quan trọng của nông nghiệp trongtổng thể nền kinh tế quốc dân, cũng nh trong sự nghiệp phát triển chung củaxã hội Cơ sở và gốc rễ sâu xa của vấn đề là ở chỗ, Ngời luôn luôn chăm lo
đến đời sống của nhân dân Ngời xác định nhiệm vụ số một trong các nhiệm
vụ quan trọng phải thực hiện ngay là " giải quyết tốt vấn đề ăn (rồi đến vấn
đề mặc và các vấn đề khác) Muốn giải quyết tốt vấn đề ăn thì phải làm thế
nào cho có đầy đủ lơng thực Mà lơng thực là do nông nghiệp sản xuất ra Vì
Trang 39vậy, phát triển nông nghiệp là việc cực kỳ quan trọng" [53, 544] Trên cơ sở
xác định nông nghiệp là nguồn cung cấp lơng thực, nguyên liệu, nguồn xuấtkhẩu quan trọng, nông thôn là một thị trờng to lớn, Hồ Chí Minh đã xác
định nông nghiệp là một mặt trận Mặt trận nông nghiệp không chỉ đơnthuần "thực túc thì binh cờng", mà còn là "hậu phơng thi đua với tiềntuyến" Trên thực tế ở nớc ta mặt trận nông nghiệp đã góp phần to lớn vàothắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đa đất nớc tabớc vào kỷ nguyên hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và CNXH
Thực tiễn những thập kỷ qua cũng đã cho thấy rằng, không có mộtnớc châu á phát triển nào, có tăng trởng nhanh mà không xây dựng trớc hếtmột nền móng phát triển vững vàng ở nông thôn Trung Quốc, Đài Loan, HànQuốc, Thái Lan, Malaixia, đều đã đầu t rất nhiều vào nông thôn và đã đạt đ-
ợc những mức tăng trởng nhanh cả trong nông nghiệp cũng nh toàn bộ nềnkinh tế Vinod Thomas, nhà kinh tế học ngời Mỹ khi đánh giá sự thành côngcủa Đông Nam á đã cho rằng: "Thành công đầu tiên của châu á
là về nông nghiệp Đa số các nớc châu á không thể vợt lên nhanh chóng đến
nh vậy nếu không có sự phát triển của nền nông nghiệp" [94, 100] Chúng tôixin dẫn ra nhận xét khái quát về quan điểm nhìn nhận vấn đề nông nghiệp,nông thôn trong quá trình phát triển của Đài Loan: "Nông nghiệp khôngnhững là một sự nghiệp sản xuất, mà nó là một phơng thức sinh hoạt vàcũng là một hoạt động gìn giữ môi sinh , chính sách nông nghiệp nhằmgiải quyết ba mặt của một vấn đề đó là nông nghiệp, nông dân và nôngthôn Trong tơng lai, tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân sẽngày càng thu nhỏ, nhng nó vẫn là lực lợng chủ yếu quyết định sự ổn địnhcủa kinh tế - xã hội và là yếu tố quan trọng để đảm bảo môi sinh, cân bằngsinh thái Vì thế, vai trò của nó vẫn không hề suy giảm" [67, 112] ở ĐàiLoan, công nghiệp hóa đi lên từ nông nghiệp với phơng châm "lấy nôngnghiệp để nuôi nông nghiệp" Chính phủ Đài Loan đã thực thi chiến lợc: lấy
Trang 40nông nghiệp làm khâu đột phá, tạo tiền đề kinh tế - xã hội cho CNH ĐàiLoan đã "cất cánh và hóa rồng" vì đã chọn đúng tiền đề xuất phát.
Nh vậy, từ những nghiên cứu lý thuyết đến các mô hình thực tế chothấy, hiện nay không thể nói sự phát triển của một quốc gia mà không đặtvấn đề phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn Thông thờng ngời ta chorằng, ở thời kỳ đầu CNH, sự khởi đầu quá trình phát triển bằng nôngnghiệp, đợc đánh giá là phơng thức bảo đảm cho sự phát triển của nhữnggiai đoạn tiếp theo đợc liên tục và lâu bền Ngoài ra, cũng có ý kiến chorằng: vai trò của nông nghiệp, nông thôn không chỉ dừng lại ở phạm vi cơ
sở của công nghiệp ở giai đoạn khởi phát của quá trình CNH, mà trong một
số trờng hợp, nó có thể vẫn là một khu vực có ý nghĩa to lớn và lâu dàitrong toàn bộ quá trình phát triển
Trong Cơng lĩnh đầu tiên, Đảng ta đã khẳng định quan điểm củamình về vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn với khẩu hiệu "độc lậpdân tộc, ngời cày có ruộng" Cuộc cách mạng do Đảng lãnh đạo có nhiệm vụ
"đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến, giao ruộng đất cho nông dân" Sau Cáchmạng Tháng Tám năm 1945, nhất là sau khi miền Bắc giải phóng, Đảng đã
đa vấn đề cải tạo nông nghiệp, nông thôn lên nhiệm vụ hàng đầu Thời kỳ
1960 - 1980 là 20 năm xây dựng mô hình quản lý tập trung, mỗi chủ trơngcủa Đảng và Nhà nớc đều tập trung cho phong trào hợp tác hóa nông nghiệp
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V đã coi "Nông nghiệp là mặt trận hàng đầu"
Quan điểm "coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu" thực sự đợcchuyển biến một cách rõ nét và đi vào cuộc sống từ sau Đại hội VI của
Đảng (1986) Quá trình đổi mới trong những năm vừa qua, thắng lợi trênmặt trận nông nghiệp đã "góp phần quyết định đa nớc ta thoát dần ra khỏikhủng hoảng kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị" [26, 54] Và hiệnnay trong giai đoạn đầu của CNH, HĐH đất nớc, Đảng ta xác định: "Phải