khóa luận, luận văn, chuyên đề, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Trang 2TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
LẠM PHÁT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
Thành viên nhóm 14:
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Cơ chế thị trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự thay đổi củanền kinh tế Việt Nam trong những thập niên gần đây Trong nền kinh tế thịtrường hoạt động đầy sôi nổi và cạnh tranh gay gắt, để thu được lợi nhuận cao
và đứng vững trên thương trường, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệpphải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề mới của nền kinh tế mới Bêncạnh bao vấn đề cần có để kinh doanh còn là những vấn đề nổi cộm khác trongnền kinh tế Điển hình là diễn biến của hai chỉ số lạm phát và tỷ giá hối đoái Liệu rằng giữa hai biến số kinh tế này có mối liên hệ, tác động, ảnh hưởng qua
lại như thế nào Tất cả những vấn đề đó đã thôi thúc chúng em đi vào “Phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái”
Do trình độ và thời gian có hạn, trong quá trình nghiên cứu đề tài chắcchắn còn nhiều thiếu sót, chúng em kính mong sự góp ý chân thành của Thầy cô
để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU……… 1
MỤC LỤC………2
I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI……….3
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài……….……… 3
II MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 2.1 Một số khái niệm định nghĩa cơ bản……….………… 3
2.1.1 Lạm phát……….……… 3
2.1.1.1 Khái niệm về lạm phát……….……… 3
2.1.1.2 Nguyên nhân gây ra lạm phát……… ……… …….4
2.1.1.3 Ảnh hưởng của lạm phát đến nền kinh tế…… ………… ……6
2.1.2 Tỷ giá hối đoái……….……….7
2.1.2.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái ……… …… 7
2.1.2.2 Các loại tỷ giá hối đoái……… ……… … 7
2.1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái………….………….9
2.1.2.4.Tác động lên các ngành kinh tế……….………9
2.3 Mối quan hệ tác động qua lại của tỷ giá hối đoái và lạm phát……….…10
2.3.1 Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến lạm phát……… ……10
2.3.2 Lạm phát tác động tới tỷ giá……….….……… …23
2.4 Các bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái……… … 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO………28
Trang 5I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài:
Lạm phát và tỷ giá hối đoái là hai biến số kinh tế quan trọng của khôngchỉ của một quốc gia nào Lịch sử đã chứng minh sự ảnh hưởng mạnh mẽ củachúng đến sự phát triển kinh tế thế giới Không những lạm phát và tỷ giá hốiđoái có thể tác động đến mọi hoạt động kinh tế mà chúng còn chịu sự tác độngqua lại lẫn nhau Sự tác động này làm cho diễn biến của chúng ngày càng biểuhiện khó lường, gây khó khăn cho công tác kiểm soát vĩ mô nền kinh tế củaChính Phủ
Trước tình hình thế giới có nhiều thay đổi như hiện nay thì vấn đề ổnđịnh nền kinh tế luôn là mục tiêu cấp thiết hàng đầu của các quốc gia Bởi vậy,nắm bắt được quy luật về mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái sẽ giúpcho chính phủ các nước có những chính sách kinh tế phù hợp, tạo nên một sựphát triển kinh tế ổn định và tích cực hơn
II MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI.
2.1 Một số khái niệm định nghĩa cơ bản:
2.1.1 Lạm phát:
2.1.1.1 Khái niệm về lạm phát:
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát
- Nhà kinh tế học Samuelson cho rằng: lạm phát biểu thị sự tăng lên trongmức giá cả chung Theo ông thì lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chiphí tăng- giá bánh mì, dầu xăng, xe ô tô tăng, tiền lương, giá đất, tiền thuê tưliệu sản xuất tăng
-Milton Friedman cho rằng: lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéodài.Còn Mác viết trong bộ tư bản rằng: lạm phát là việc tràn đầy các kênh, cácluồng lưu thông các tờ giấy bạc thừa dẫn đến giá cả tăng vọt Ông cho rằng lạmphát luôn đồng hành cùng với chủ nghĩa tư bản, ngoài việc bóc lột chủ nghĩa tư
Trang 6bản bằng giá trị thặng dư, chủ nghĩa tư bản còn gây ra lạm phát để bóc lột ngườilao động một lần nữa, do lạm phát làm tiền lương thực tế của người lao độnggiảm xuống.
Như vậy mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát nhưng cácnhà kinh tế đều thống nhất “lạm phát là một sự tăng lên của giá cả một cách liên
tục và khi lạm phát xảy ra thì có sự dư thừa tiền trong lưu thông” Tóm lại,, lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá trung bình theo thời gian.
2.1.1.2 Nguyên nhân gây ra lạm phát
- Lạm phát do cầu kéo: lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên
mạnh mẽ tại mức sản lượng đã đạt hoặc vượt quá tiềm năng Biểu hiện rõ nhấtcủa lạm phát cầu kéo là nhu cầu nhập khẩu lương thực trên thị trường thế giớităng, làm giá xuất khẩu tăng (giá xuất khẩu gạo bình quân của nước ta năm 2007tăng trên 15% so với năm 2006) kéo theo cầu về lương thực trong nước cho xuấtkhẩu tăng Trong khi đó, nguồn cung trong nước do tác động của thiên tai, dịchbệnh không thể tăng kịp Tất cả các yếu tố nói trên gây ra lạm phát cầu kéo, đẩygiá một số hàng hoá và dịch vụ, nhất là lương thực thực phẩm tăng theo
- Lạm phát do chi phí đẩy: nếu có một cú sốc về tổng cung (chi phí sản
xuất tăng lên) làm cho đường AS dịch chuyển lên trên dẫn đến giá tăng, sảnlượng giảm Phổ biến nhất là sự tăng của giá xăng, thép… Giá nguyên liệu,nhiên liệu ( đặc biệt là xăng dầu, các sản phẩm hoá dầu, thép và phôi thép…)trên thế giới trong những năm gần đây tăng mạnh Trong điều kiện kinh tế nước
ta phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu ( nhập khẩu chiếm đến 90% GDP ) giánguyên liệu nhập tăng làm tăng giá thị trường trong nước
Trang 7Đồ thị dưới sẽ minh họa cho 2 trường hợp trên.
Hình 2.1 Mô hình tổng cung và tổng cầu
- Lạm phát do cung tiền tăng: Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng
trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so vớitrong nước; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầucủa nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây
ra lạm phát
- Lạm phát do dự kiến: lạm phát do dự kiến là tỷ lệ lạm phát hiện tại mà
mọi người dự kiến nó sẽ tiếp tục trong tương lai Tỷ lệ này thường được đưa vàocác hợp đồng kinh tế, các kế hoạch hay các thoả thuận khác Và chính vì mọingười đều đưa tỷ lệ lạm phát vào các hoạt động của mình nên cuối cùng nó trởthành hiện thực Một ví dụ cụ thể của hiện tượng lạm phát do quán tính là khinền kinh tế có lạm phát cao, mọi người có xu hướng chỉ giữ lại một lượng tiềnmặt tối thiểu để chi tiêu hàng ngày, họ đem tiền đổi lấy các loại tiền mạnh khác,
Trang 8vàng hay các loại hàng hóa để tích trữ giá trị, làm tăng lượng tiền lưu thông trênthị trường, càng làm đồng tiền mất giá và tăng lạm phát.
Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác liên quan đến xuất nhập khẩu,
do thiên tai…
2.1.1.3 Ảnh hưởng của lạm phát đến nền kinh tế:
Lạm phát có lợi không và nó có thể gây ra những tác động gì tới nền kinhtế? Có thể nói lạm phát tác động đến từng cá nhân, từng doanh nghiệp và cảchính phủ Lạm phát có thể làm sụp đổ cả một nền kinh thế vững mạnh cũngnhư có thể giúp cho một nền kinh tế đi lên nếu biết cách kiềm chế và giữ cho nó
ở mức ổn định Nói chung lạm phát có cả điểm mạnh và điểm yếu
- Ảnh hưởng tích cực: lạm phát ở mức độ vừa phải có tác động tích cực
đến sự phát triển của nền kinh tế xã hội Khi lạm phát vừa phải xảy ra nó làmcho đồng nội tệ mất giá nhẹ so với đồng ngoại tệ Đây là một lợi thế để cácdoanh nghiệp đẩy mạnh việc xuât khẩu hàng hóa, tăng thu ngoại hối, khuyếnkhích sản xuất trong nước phát triển…
Lạm phát ở Việt Nam trong những năm qua, dưới sự quản lý vĩ mô củanhà nước đã kiềm chế được lạm phát ở mức 1 con số: năm 2003 là 3%, 2004 là9,5%, 2005 là 8,4%, 2006 là 6%, với mức độ lạm phát như vậy nền kinh tế củanước ta trong những năm qua đã có những bước phát triển đáng kể, tốc độ tăngtrưởng cao
- Ảnh hưởng tiêu cực: bên cạnh những tác động tích cực của lạm phát thì
lạm phát cũng có những tác động không tốt nếu lạm phát ở mức độ quá cao (lạmphát phi mã và siêu lạm phát)
- Ảnh hưởng đến đời sống của các tầng lớp dân cư: Người dân nhất là
những người làm công ăn lương, những hộ nghèo phải chiụ sự tác động trực tiếpnhất của lạm phát trong cơn bão tăng giá Lạm phát cũng làm giảm việc làm chongười dân trong trung và dài hạn Đời sống dân cư ngày càng trở nên khó khăn.Ảnh hưởng đến sự phân phối lại thu nhập và của cải: do tác động của lạm phát
Trang 9làm mất cân đối giữa nợ và tài sản mà những người lao động sống bằng tiềnlương thì tiền lương thực tế giảm trong khi mức giá cả tăng lên làm cho nền kinh
tế suy giảm
- Ảnh hưởng nhiều đến khối doanh nghiệp: Lạm phát cũng gây ra tình
trạng thiếu tiền vì các doanh nghiệp không khai thác được nguồn tín dụng choviệc duy trì sản xuất của mình Do đó, số lượng công việc cho người dân làmcũng giảm thiểu trong trung và dài hạn
- Ảnh hưởng đến lĩnh vực tài chính Nhà nước: lạm phát làm cho nguồn
thu ngân sách Nhà nước ngày càng bị thu hẹp dẫn đến tình trạng bội chi ngânsách ngày càng tăng
2.1.2 Tỷ giá hối đoái:
2.1.2.1 : Khái niệm về tỷ giá hối đoái :
Tỷ giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỷ giá) là sự so sánh về mặt giá cảgiữa hai đồng tiền của hai nước khác nhau Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giácủa một đồng tiền này tính bằng giá của một đồng tiền khác
2.1.2.2 Các loại tỷ giá hối đoái :
- Tỷ giá thả nổi
Chế độ tỷ giá thả nổi hay còn gọi là chế độ tỷ giá linh hoạt là một chế độtrong đó giá trị của một đồng tiền được phép dao động trên thị trường ngoại hối.Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi được gọi là một đồng tiền thả nổi
Nói chung, các nhà kinh tế đều cho rằng, trong phần lớn trường hợp, chế
độ tỷ giá thả nổi tốt hơn chế độ tỷ giá cố định bởi vì tỷ giá thả nổi nhạy với thịtrường ngoại hối Điều này cho phép làm dịu tác động của các cú sốc và chu kỳkinh doanh nước ngoài Thêm vào đó, nó không bóp méo các hoạt động kinh tế
- Tỷ giá cố định
Mặc dù việc thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi sẽ hạn chế khả năngcủa chính phủ trong vận hành một chính sách tiền tệ nội địa độc lập nhằm duy
Trang 10trì ổn định kinh tế trong nước, song trong thực tế, nhiều chính phủ vẫn thích chế
độ tỷ giá hối đoái cố định bởi nó tạo ra sự ổn định Trong lịch sử, từ sau Chiếntranh Thế giới thứ hai đã từng tồn tại hệ thống Bretton Woods cho phép Tây Âu
và Nhật Bản có được tỷ giá cố định so với dollar Mỹ cho đến tận năm 1970 Gầnđây, Trung Quốc, Hong Kong và Malaysia đã rất thành công trong việc duy trì
tỷ giá hối đoái cố định để giữ ổn định kinh tế trong nước Đồng euro hiện naycũng có thể được xem là một chế độ tỷ giá hối đoái cố định giữa các quốc gia
châu Âu tham gia
Nhiều quan điểm cho rằng tỷ giá hối đoái cố định quá cứng nhắc nên chemất những thông tin cần thiết cho thị trường hoạt động đúng hướng Đó là vìđồng tiền không còn thể hiện giá trị thị trường thực của chúng Sự che đậy thôngtin nào tạo ra tính không chắc chắn, kích thích các kẻ đầu cơ "tấn công" cácđồng tiền cố định và nhiều nước sẽ mất sạch cả dự trữ ngoại hối khi cố gắng bảo
vệ đồng tiền của mình chứ không chịu để nó mất giá Thái Lan trong cuộckhủng hoảng tài chính châu Á là một trường hợp như vậy
- Thả nổi có điều tiết
Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết là một chế độ tỷ giá hối đoái nằm giữahai chế độ thả nổi và cố định Mặc dù lý thuyết nói chế độ tỷ giá hối đoái thả nổitốt hơn, nhưng trong thực tế không có một đồng tiền nào được thả nổi hoàn toàn,
vì nó quá bất ổn định Tuy chế độ tỷ giá hối đoái cố định tạo ra sự ổn định, songviệc thực hiện các biện pháp chính sách nhằm giữ cho tỷ giá hối đoái cố địnhtương đối khó khăn và tốn kém, và trên hết là chế độ này làm cho chính sáchtiền tệ trở nên vô hiệu lực Chính vì thế, chỉ một số ít đồng tiền trên thế giới sửdụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định Hầu hết các đồng tiền trên thế giới sử dụngchế độ tỷ giá thả nổi, nhưng chính phủ sẽ can thiệp để tỷ giá không hoàn toànphản ứng theo thị trường
Trang 112.1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái:
Mức chênh lệch lạm phát giữa các quốc gia
Mức độ tăng hay giảm thu nhập quốc dân giữa các nước
Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước
Những dự đoán về tỷ giá hối đoái
Tình trạng cán cân thanh toán quốc tế
Sự can thiệp của chính phủ
o Can thiệp vào thương mại quốc tế
o Can thiệp vào đầu tư quốc tế
o Can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối
Các nhân tố khác: Khủng hoảng kinh tế, xã hội, đình công, thiên tai
2.1.2.4 Tác động lên các ngành kinh tế
- Việc điều chỉnh tỷ giá sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp cócác khoản nợ nước ngoài khi phải thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tỷ giá cuốinăm, trong đó có các doanh nghiệp ngành dịch vụ công cộng, xi măng, vận tảibiển và dầu khí Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp ngành dầu khí và vận tảibiển, có nguồn thu ngoại tệ trực tiếp từ việc bán sản phẩm, cung cấp dịch vụ đầu
ra thì cũng đồng thời được hưởng lợi từ việc thay đổi tỷ giá
- Các doanh nghiệp thuộc một số nhóm ngành như vật liệu cơ bản (thép,nhựa), hàng tiêu dùng (sữa, bánh kẹo), công nghiệp (hóa chất, vận tải kinhdoanh xăng dầu) và dược phẩm phải nhập khẩu phần lớn nguyên vật liệu từnước ngoài và chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước cũng chịu tác động từ việcthay đổi tỷ giá khi chi phí đầu vào gia tăng sẽ phải giải bài toán cân đối giá bánsản phẩm đầu ra sao cho vừa bù đắp được chi phí đầu vào lại vừa đảm bảo giữđược thị phần vàdoanhthu
Trang 12- Trong đó các ngành thủy sản, may mặc, cao su và khoáng sản, cácdoanh nghiệp xuất khẩu có nguồn thu ngoại tệ trực tiếp và có kết hợp sử dụngnguồn nguyên liệu trong nước sẽ được hưởng lợi từ việc điều chỉnh tỷ giá Điềunày được thể hiện trên hai phương diện: giúp tăng tính cạnh tranh cho hàng hóaxuất khẩu, mở rộng thị phần và phần vượt trội thêm mà doanh nghiệp đượchưởng khi các khoản thu ngoại tệ được ghi nhận bằng VND.
2.3 Mối quan hệ tác động qua lại của tỷ giá hối đoái và lạm phát:
Với khái niệm phản thân của mình, George Soros [Giả kim thuật Tài
chính, The Alchemy of Finance, tr.27-45 và 69-80] gợi ý cách suy nghĩ thực tiễn
hơn nhiều
Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát không phải là quan hệ một chiều
mà là quan hệ vòng, tác động qua lại lẫn nhau, không thể coi cái này là nguyênnhân và cái kia là kết quả Ông gọi một quan hệ vòng tự tăng cường lẫn nhaunhư vậy là một vòng ác luẩn quẩn (vicious circle) khi đồng nội tệ mất giá và lạmphát gia tăng và là vòng thiện (benign circle) khi điều ngược lại xảy ra
2.3.1 Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến lạm phát
Chính sách tỷ giá là một bộ phận của chính sách kinh tế, được sử dụngnhư một công cụ hữu hiệu nhằm đạt được mục tiêu ổn định giá cả Để duy trìmột mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết,thì cần phải có một chế độ tỷ giá và hệ thống can thiệp thích hợp… Các kênhtác động của chính sách tỷ giá tới lạm phát Có các kênh tác động của chính sách
tỷ giá tới lạm phát như: (1) Cách tiếp cận tiền tệ, nghiên cứu tác động của tỷ giátới cung cầu tiền tệ, qua đó đánh giá tác động tới lạm phát; (2) cách tiếp cận theotrường phái Keynes nghiên cứu tác động của tỷ giá qua kênh tổng cung- tổngcầu; (3) cách tiếp cận ảnh hưởng của tỷ giá tới lạm phát theo kênh mức giáchung; (4) cách tiếp cận ảnh hưởng của tỷ giá tới lạm phát kỳ vọng Cơ chếtruyền dẫn tác động của chính sách tỷ giá đến lạm phát trong nền kinh tế mởđược mô tả qua sơ đồ sau:
Trang 13Sơ đồ 1 Kênh tác động từ tỷ giá tới lạm phát
Qua sơ đồ, tỷ giá tác động gián tiếp đến lạm phát chủ yếu thông qua cáccon đường như xuất khẩu ròng, cán cân thanh toán, giá hàng hóa nhập khẩu vàđây đều là các mối quan hệ đồng biến Tuy nhiên, việc tác động của tỷ giá đếnlạm phát thông qua cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế thì mọinền kinh tế mở đều tuân theo, nhưng riêng với giá hàng nhập khẩu thì chỉ cónhững quốc gia có tỷ trọng nhập khẩu cao so với GDP mới có tác dụng rõ rệt
- Kênh thứ nhất: Tác động của tỷ giá tới lạm phát qua xuất nhập khẩu
ròng đó là khi đồng nội tệ giảm giá so với đồng tiền nước ngoài, xuất khẩu ròngtăng lên, cán cân thương mại có thể được cải thiện; do xuất khẩu ròng là mộtthành phần của tổng cầu AD, nên khi xuất khẩu ròng tăng, đường AD dịchchuyển lên trên (trong mô hình AD-AS), tác động làm lạm phát gia tăng
- Kênh thứ hai: Tác động của tỷ giá tới lạm phát qua cán cân thanh toán.
Cơ chế truyền dẫn này trải qua hai giai đoạn:
Khi tỷ giá tăng, xuất nhập khẩu ròng sẽ tăng lên, góp phần cải thiện tìnhtrạng cán cân thương mại Mặt khác khi xuất nhập khẩu ròng tăng, đường ISdịch chuyển sang phải (mô hình IS-LM), lãi suất trong nước tăng lên, trong ngắnhạn luồng vốn đổ vào trong nước tăng (nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp)làm cán cân vốn tăng lên, từ đó cán cân thanh toán tổng thể được cải thiện
Khi cán cân thanh toán tổng thể thặng dư, tức là luồng vốn nước ngoài đổvào trong nước tăng lên, lúc này sẽ có hai khả năng xảy ra: (1) NHTW sẽ phải
Trang 14cung ứng thêm tiền để mua ngoại tệ nhằm giữ tỷ giá không bị giảm xuống đểkhuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, mặt khác để tăng cường dự trữngoại hối quốc gia Như vậy, tác động không mong muốn là cung tiền tăng lên,đường LM dịch chuyển sang phải (mô hình IS- LM) làm cân bằng tiền hàngtrong nền kinh tế thay đổi1, lạm phát sẽ tăng lên; (2) nếu NHTW không vì mụctiêu giữ cho đồng bản tệ được định giá thấp để khuyến khích xuất khẩu và giảđịnh rằng dự trữ ngoại hối đã đủ mức cần thiết và không cần tăng thêm, trongtrường hợp cán cân tổng thể thặng dư thì vẫn có một lượng ngoại tệ tăng lêntrong nền kinh tế Với những nước có nền kinh tế bị đôla hóa ở mức độ cao,tổng phương tiện thanh toán của nền kinh tế trong trường hợp này vẫn tăng lên
vì nó bao gồm hai phần là: Tổng phương tiện thanh toán bằng nội tệ và tổngphương tiện thanh toán bằng ngoại tệ Khi tổng phương tiện thanh toán tăng lạigây sức ép lên giá cả và đẩy lạm phát tăng lên
- Kênh thứ ba: Tác động của tỷ giá tới lạm phát qua giá hàng nhập khẩu.
Giá hàng nhập khẩu bị tác động bởi hai thành phần là giá nhập khẩu trên thịtrường thế giới và tỷ giá danh nghĩa Khi tỷ giá danh nghĩa tăng làm giá hàngnhập khẩu tăng và ngược lại2 Hàng nhập khẩu có thể là hàng hóa phục vụ chosản xuất trong nước hoặc phục vụ tiêu dùng Nếu là hàng nhập khẩu phục vụ sảnxuất, khi tỷ giá tăng dẫn đến chi phí các yếu tố đầu vào tăng, sản phẩm đầu racũng phải tăng giá Nếu là hàng nhập khẩu tiêu dùng, khi tỷ giá tăng dẫn đến giácủa hàng hóa tính bằng nội tệ tăng nên cũng là một nguyên nhân gây ra lạmphát Tuy nhiên, ảnh hưởng của giá hàng nhập khẩu đến lạm phát sẽ biểu hiện rõhơn khi quốc gia có tỷ lệ nhập khẩu/GDP lớn, còn với những nước có tỷ lệ nàynhỏ, dẫn truyền từ sự thay đổi của tỷ giá qua giá hàng nhập khẩu đến lạm phát làkhông đáng kể Ngoài ba kênh dẫn truyền trên còn một nhân tố nữa tác động đếnlạm phát kỳ vọng Lãi suất huy động của đồng nội tệ có thể đại diện cho sự kỳvọng về lạm phát do cơ sở để xác định lãi suất huy động là kỳ vọng trung bìnhcủa nhà đầu tư về lạm phát và lãi suất thực dương Việc điều chỉnh tỷ giá liêntục của NHTW có thể khiến cho lãi suất huy động đồng nội tệ tăng cao Điều
Trang 15này sẽ làm giảm lòng tin của dân chúng và nhà đầu tư khi có sự kỳ vọng về giảmgiá đồng nội tệ trong tương lai, gây ra vòng xoáy “lạm phát- tỷ giá”.
Ghi chú : 1 Thông qua phương trình trao đổi tiền hàng của Fisher: M.V=P.Y, trong đó: M là mức cung tiền, V là vòng quay tiền tệ, P là mức giá, Y là sản lượng Khi M tăng, các yếu tố khác không đổi sẽ làm cho P tăng tức là lạm phát tăng lên
2 Ở đây chỉ nghiên cứu tác động của tỷ giá đến lạm phát trong nước, không xem xét tác động của giá hàng hóa thế giới đến lạm phát trong nước
Các yếu tố ảnh hưởng tới các kênh tác động từ tỷ giá tới lạm phát
Thứ nhất, cơ chế điều hành lãi suất: Nếu lãi suất do nhà nước ấn địnhhoặc chịu sự can thiệp mang tính chất hành chính sẽ không phản ánh đúng bảnchất của lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn trên thị trường Như vậy, xemxét kênh dẫn truyền thứ hai, khi đường IS dịch chuyển làm lãi suất tăng lêntrong ngắn hạn, nhưng NHTW lại ấn định lãi suất (không làm thay đổi mức lãisuất trên thị trường) nên không thể thu hút các dòng vốn nước ngoài đổ vàotrong nước, như vậy sẽ không cải thiện được cán cân vốn và từ đó, không cảithiện được cán cân tổng thể
Thứ hai, mức độ di chuyển vốn quốc tế thể hiện khả năng thay thế chonhau giữa tài sản trong nước và tài sản nước ngoài Mức độ di chuyển vốn hoànhảo khi tài sản trong nước và tài sản nước ngoài có thể hoàn toàn thay thế chonhau với chi phí thấp và nhanh chóng Mức độ di chuyển vốn không hoànhảo khi có những rào cản về di chuyển vốn như những quy định pháp luật, chiphí di chuyển vốn cao, thời gian thực hiện di chuyển vốn chậm
Thứ ba, mức độ nhạy cảm của xuất nhập khẩu với tỷ giá Độ nhạy cảmnày thể hiện ở hệ số co giãn xuất, nhập khẩu với tỷ giá Các nhà kinh tế chính trịhọc nổi tiếng Afred Marshall (1842- 1924) và Abba Lerner (1903- 1982) đãchứng minh rằng, việc giảm giá đồng nội tệ chỉ có tác dụng cải thiện cán cânthương mại của một nước nếu nền kinh tế của nước đó thỏa mãn điều kiện là : “
độ co giãn giá của cầu đối với hàng xuất khẩu theo tỷ giá (được tính bằng phần