khóa luận, luận văn, chuyên đề, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1Nhận xét
Trang 2
Mục lục
I Lạm phát
1 Khái niệm lạm phát.
2 Lạm phát được tính như thế nào.
3 Chỉ số đo lường lạm phát.
4 Các nguyên nhân gây ra lạm phát.
II Bội chi ngân sách
1 Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước.
2 Phân loại bội chi.
3 Nguyên nhân gây ra bội chi NSNN
4 Các giải pháp xử lý bội chi NSNN
III Mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách.
IV Kết luận
Trang 3I- LẠM PHÁT
1 Khái niệm lạm phát
Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là
sự phá giá đồng tiền nội tệ so với các loại tiền tệ khác
Lạm phát nói chung có thể được hiểu là việc giá cả các hàng hóa tăng lên so với mức giá thời điểm trước (vật giá leo thang) Cần phải hiểu việc tăng giá ở đây là gia tăng chung của hầu hết các hàng hóa và dịch vụ, chứ không phải tăng giá một hàng hóa cá biệt Khi giá trị của hàng hóa và dịch
vụ tăng lên, đồng nghĩa với sức mua của đồng tiền giảm đi Khi đó, với cùng một lượng tiền nhưng người tiêu thụ mua được ít hàng hóa hơn so với trước đó
Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là
sự phá giá đồng tiền nội tệ so với các loại tiền tệ khác
Lạm phát cũng có thể là do khối lượng tiền lưu hành trong xã hội tăng lên khi Chính phủ không quản lý được khối lượng tiền lưu hành, hoặc là do Chính phủ phát hành thêm tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách Trong khi đó,
số lượng hàng hóa xã hội sản xuất ra vẫn không tăng, dẫn đến thừa tiền Khi thừa tiền sẽ kích thích người tiêu dùng tăng sức mua (tăng cầu) khiến giá cả tăng vọt, có khi đưa đến siêu lạm phát
Lạm phát cũng có thể do tác động của yếu tố bên ngoài, do dòng tiền nước ngoài đổ vào trong nước nhiều dẫn đến thừa tiền, hoặc do giá của một
số mặt hàng thiết yếu nào đó trên thế giới tăng, chẳng hạn như giá dầu thô tăng, dẫn đến các nước có nhập khẩu dầu sẽ tăng giá điện, cước phí vận chuyển hàng hóa cũng tăng Điện và cước phí vận chuyển là những chi phí đầu vào chủ yếu của tất cả các ngành hàng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, dẫn đến giá thành sản phẩm tăng theo
Lạm phát có thể do nhiều nguyên nhân tác động khác nhau, kể cả chính sách tăng lương của Chính phủ cũng có thể góp phần tác động đến lạm phát, vì khi tăng lương, người lao động thu nhập được nhiều tiền hơn và mạnh tay chi tiêu, mua sắm, cầu vượt cung Ngay cả trong trường hợp các nhà sản xuất, phân phối và bán lẻ đua nhau khuyến mãi, kích cầu làm cho thị trường tăng sức mua, tạo ra đòn bẫy cầu tăng vượt cung, dẫn đến thị trường
tự điều tiết tăng giá góp phần gây ra lạm phát, nhất là thời điểm giáp tết
Tóm lại, lạm phát xảy ra khi xuất hiện sự gia tăng mặt bằng chung về giá cả hàng hóa Trong mỗi giai đoạn có thể có giá mặt hàng này tăng, mặt hàng kia giảm, nhưng nếu mức giá chung tăng, ta có lạm phát Nếu mức giá
Trang 4chung giảm, ta có giảm phát Nếu chỉ có một vài mặt hàng chẳng hạn như giá đường, hay giá gạo tăng một cách đơn lẻ thì không có nghĩa là lạm phát,
mà đơn giản chỉ là một sự mất cân đối tạm thời giữa cung và cầu trong ngắn hạn Khi lạm phát xảy ra, giá trị của đồng tiền bị sụt giảm
2 Lạm phát được tính như thế nào?
Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế, thông thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh…
Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa
ra một chỉ số giá cả đo mức giá cả trung bình, là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm mức tăng của chỉ số này
Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát vì giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện Tuy nhiên, thước đo lạm phát phổ biến nhất chính là chỉ số giá tiêu dùng CPI (consumer price index) là chỉ số đo giá cả của một số lượng lớn các loại hàng hóa và dịch vụ, bao gồm thực phẩm, lương thực, chi trả cho các dịch vụ y tế , được mua bởi "người tiêu dùng thông thường"
3 Chỉ số đo lường lạm phát
1 Hệ số giảm phát GDP (GDP deflator) được tính trên cơ sở so sánh giá trị GDP tính theo giá hiện hành và GDP tính theo giá kỳ trước Nghĩa là
đo lường mức tăng và giảm giá trên tất cả các loại hàng hoá dịch vụ tính trong GDP
2 Chỉ số giá tiêu dùng hay chỉ số giá cả CPI: được tính theo bình quân gia quyền của một nhóm các hàng hóa thiết yếu
Ở Việt Nam, giá nhóm hàng lương thực, vàng, đô la là nhóm có trọng
số lớn Chỉ số này không phản ánh sự biến động giá chung, nhưng nó phản ánh biến động giá cả ảnh hưởng nhiều nhất đến đời sống, tiêu dùng
Khi nói tốc độ lạm phát, nguời ta cũng thường dùng chỉ số này Khi nền kinh
tế có lạm phát, nếu không do nguyên nhân tác động từ nước ngoài, hay một thay đổi lớn về cung (thừa) sản phẩm, thì nó thể hiện cầu hàng hóa lớn hơn cung hàng hóa Việc duy trì cầu hàng hóa lớn hơn cung hàng hóa ở một mức
độ vừa phải, do đó, lạm phát ở mức vừa phải, là cần thiết để kích thích sản xuất, giúp cho việc tiêu thụ hàng hóa tốt hơn và tạo lợi nhuận cần thiết cho
Trang 5các doanh nghiệp đầu tư nâng cao công nghệ, mở rộng sản xuất Nếu nền kinh tế sa vào giảm phát, nghĩa là sẽ bị thừa cung, thừa ứ hàng hóa, gây ra tình trạng đình đốn, thua lỗ ở các doanh nghiệp
4 Các nguyên nhân gây ra lạm phát
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, trong đó "lạm phát do cầu kéo" và "lạm phát do chi phí đẩy" được coi là hai thủ phạm chính
Cân đối thu chi là điều không thể tránh khỏi khi xảy ra lạm phát
Lạm phát do cầu kéo:
Khi nhu cầu của thị trường về một mặt hàng nào đó tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hóa trên thị trường Lạm phát do sự tăng lên về cầu (nhu cầu tiêu dùng của thị trường tăng) được gọi là “lạm phát do cầu kéo”
Lạm phát do chi phí đẩy:
Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp chắc chắn cũng tăng lên, vì thế mà giá thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận và thế là mức giá chung của toàn thể nền kinh
tế cũng sẽ tăng được gọi là “lạm phát do chi phí đẩy”
Lạm phát do cơ cấu:
Với ngành kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tăng dần tiền công
“danh nghĩa” cho người lao động Nhưng cũng có những nhóm ngành kinh doanh không hiệu quả, doanh nghiệp cũng theo xu thế đó buộc phải tăng tiền công cho người lao động Nhưng vì những doanh nghiệp này kinh doanh kém hiệu quả, nên khi phải tăng tiền công cho người lao động, các doanh nghiệp này buộc phải tăng giá thành sản phẩm để đảm bảo mức lợi nhuận và làm phát sinh lạm phát
Lạm phát do cầu thay đổi:
Khi thị trường giảm nhu cầu tiêu thụ về một mặt hàng nào đó, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm, như giá điện ở Việt Nam), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát
Trang 6Lạm phát do xuất khẩu:
Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung (thị trường tiêu thụ lượng hàng nhiều hơn cung cấp), khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu khiến lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm (hút hàng trong nước) khiến tổng cung trong nước thấp hơn tổng cầu Khi tổng cung và tổng cầu mất cân bằng sẽ nảy sinh lạm phát
Lạm phát do nhập khẩu:
Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng (do thuế nhập khẩu tăng hoặc do giá
cả trên thế giới tăng) thì giá bán sản phẩm đó trong nước sẽ phải tăng lên Khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát
Lạm phát tiền tệ:
Khi cung lượng tiền lưu hành trong nước tăng, chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát
II BỘI CHI NGÂN SÁCH
1 Khái niệm
Thâm hụt ngân sách nhà nước, hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước, là tình trạng khi tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu "không mang tính hoàn trả" của ngân sách nhà nước
Bảng: Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm
A Thu thường xuyên (thuế, phí, lệ phí)
B Thu về vốn (bán tài sản nhà nước)
C Bù đắp thâm hụt
– Lấy từ nguồn dự trữ
Vay thuần (= vay mới – trả nợ gốc)
D Chi thường xuyên
F Cho vay thuần (= cho vay mới – thu nợ gốc)
A + B +C = D + E + F
Công thức tính bội chi NSNN của một năm sẽ như sau: Bội chi NSNN = Tổng chi – Tổng thu = (D + E + F) – (A + B) = C
Trang 72 Phân loại
Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm
xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,
Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu
kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên
3 Nguyên nhân gây ra bội chi ngân sách nhà nước
Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi
là bội chi cơ cấu
Nguyên nhân thứ hai là tác động của chu kỳ kinh doanh Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ
Các nguyên nhân khách quan:
Do nền kinh tế suy thoái mang tính chu kỳ
Thiên tai, tình hình bất ổn chính trị
Các nguyên nhân chủ quan:
Do quản lý và điều hành NS bất hợp lý
Do nhà nước chủ động sử dụng bội chi NSNN như một cụ sắc bén của chính sách tài khoá
Do cách đo lường bội chi
4 Các giải pháp xử lý bội chi NSNN
Vấn đề thiếu hụt ngân sách thường làm đau đầu các chính trị gia giữa một bên là phát triển bền vững, duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế với một bên là nguồn lực có hạn Đòi hỏi các chính trị gia phải lựa chọn để phù
Trang 8hợp với yêu cầu phát triển thực tế và sự phát triển trong tương lai Từ sự lựa chọn đó họ đưa ra mức bội chi “hợp lý”, bảo đảm nhu cầu tài trợ cho chi tiêu cũng như đầu tư phát triển kinh tế, đồng thời bảo đảm cho nợ quốc gia ở mức hợp lý Bội chi NSNN được hiểu một cách chung nhất là sự vượt trội về chi tiêu so với tiền thu được trong năm tài khóa hoặc thâm hụt NSNN do sự
cố ý của chính phủ tạo ra nhằm thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô Có nhiều cách để chính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách như tăng thu từ thuế, phí, lệ phí; giảm chi ngân sách; vay nợ trong nước, vay nợ nước ngoài; phát hành tiền để bù đắp chi tiêu;… Sử dụng phương cách nào, nguồn nào tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia
Bội chi NSNN tác động đến kinh tế vĩ mô phụ thuộc nhiều vào các giải pháp nhằm bù đắp bội chi NSNN Mỗi giải pháp bù đắp đều làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô Về cơ bản, các quốc gia trên thế giới thường sử dụng các giải pháp chủ yếu nhằm xử lý bội chi NSNN như sau:
Thứ nhất: Nhà nước phát hành thêm tiền Việc xử lý bội chi NSNN có thể thông qua việc nhà nước phát hành thêm tiền và đưa ra lưu thông Tuy nhiên, giải pháp này sẽ gây ra lạm phát nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bội chi NSNN Đặc biệt, khi nguyên nhân bội chi NSNN là do thiếu hụt các nguồn vốn đối ứng để đầu tư cho phát triển gây
“tăng trưởng nóng” và không cân đối với khả năng tài chính của quốc gia
Thứ hai: Vay nợ cả trong và ngoài nước Để bù đắp thâm hụt NSNN, nhà nước có thể vay nợ nước ngoài và trong nước Việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ kéo theo vấn đề phụ thuộc nước ngoài cả về chính trị lẫn kinh
tế và làm giảm dự trữ ngoại hối quá nhiều khi trả nợ, làm cạn dự trữ quốc gia sẽ dẫn đến khủng hoảng tỷ giá Vay nợ trong nước sẽ làm tăng lãi suất,
và cái vòng nợ – trả lãi – bội chi sẽ làm tăng mạnh các khoản nợ công chúng
và kéo theo gánh nặng chi trả của NSNN cho các thời kỳ sau…
Thứ ba: Tăng các khoản thu, đặc biệt là thuế Việc tăng các khoản thu, đặc biệt là thuế có thể sẽ bù đắp sự thâm hụt NSNN và giảm bội chi NSNN Tuy nhiên, đây không phải là giải pháp cơ bản để xử lý bội chi NSNN, bởi
vì nếu tăng thuế không hợp lý sẽ dẫn đến làm giá cả hàng hóa tăng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân, nghiêm trọng hơn sẽ triệt tiêu động lực của các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất kinh doanh và làm mất đi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đối với các nước trong khu vực
và trên thế giới
Thứ tư: Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên
từ NSNN Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế, nhưng vô cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi xảy ra bội chi NSNN và xuất hiện lạm phát Triệt
để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chỉ đầu tư vào những dự án
Trang 9mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư Mặt khác, bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoản chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết
Thứ năm: Tăng cường vai trò quản lý nhà nước nhằm bình ổn giá cả,
ổn định chính sách vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế Để thực hiện vai trò của mình, nhà nước sử dụng một hệ thống chính sách và công cụ quản lý vĩ mô để điều khiển, tác động vào đời sống kinh tế – xã hội, nhằm giải quyết các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội, nhất là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn môi trường v.v Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi lạm phát là một vấn nạn của các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với quản lý NSNN nói chung và xử lý bội chi NSNN nói riêng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết
III MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ BỘI CHI NGÂN SÁCH.
Để thấy rõ hơn mối quan hệ giữa bội chi ngân sách nhà nước với lạm phát ta xem xét trường hợp sau, một giai đoạn điển hình của sự tác động bội chi NSNN đến lạm phát
Giai đoạn trước năm 1986, tình hình tài chính nước ta trong tình trạng yếu kém, thu không đủ chi thường xuyên, thâm hụt NSNN cao quá mức, chi tiêu Chính phủ chủ yếu nhờ vào sự viện trợ của nước ngoài là chính Đến giai đoạn từ năm 1986-1990, trước tình hình khó khăn về kinh tế và chính trị, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đã cắt giảm dần viện trợ của họ cho nước ta Trước tình hình khó khăn đó, Đảng ta tiến hành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có định hướng XHCN Với những bước đi chập chững ban đầu, chính sách tài chính đã có đổi mới một bước Tuy nhiên, thu NSNN càng không đủ chi và bù đắp thâm hụt NSNN không chỉ phải vay trong và ngoài nước mà còn phải lấy từ nguồn tiền phát hành
Chính yếu kém về NSNN nêu trên, là một yếu tố quan trọng gây nên lạm phát trong thập kỉ 80 của thế kỉ XX Chi NSNN đã tăng cao tới mức bùng nổ
ở trong những năm 1985-1988, đã gây ra thâm hụt NSNN trầm trọng vì không có sự tăng lên tương ứng về số thu Giai đoạn từ năm 1986 – 1990, khi mà tỷ lệ tích luỹ nội bộ nền kinh tế rất thấp (có thể nói là không đáng kể), làm không đủ ăn thì tỷ lệ chi đầu tư phát triển như ở đồ thị 1 là quá lớn
Trang 10và nguồn bự đắp cho thõm hụt NSNN lại chủ yếu do tiền phỏt hành thỡ lạm phỏt cao là điều khú trỏnh khỏi
Đồ thị 1: Tổng bội chi NSNN và tiền phỏt hành để bự đắp bội chi NSNN (1985 – 1990)
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trong thời gian 5 năm 1986 – 1990, 59,7% mức thõm hụt này được hệ thống Ngõn hàng thanh toỏn bằng cỏch phỏt hành tiền Năm 1984, phỏt hành tiền
để bự đắp thõm hụt ngõn sỏch là 0,4 tỷ đồng, năm 1985: 9,3 tỷ đồng, năm 1986: 22,9 tỷ đồng, năm 1987: 89,1 tỷ đồng, năm 1988: 450 tỷ đồng, năm 1989: 1655 tỷ đồng và năm 1990 là 1200 tỷ đồng Số cũn lại được bự đắp bằng cỏc khoản vay nợ và viện trợ của nước ngoài (so với bội chi, khoản vay
và viện trợ năm 1984 là 71,3%, năm 1985 là 40,8%, năm 1986: 38,4%, năm 1987: 32,1%, năm 1988: 32,6%, năm 1989: 24,9%, năm 1990 là 46,7%) và một số nhỏ do cỏc khoản thu từ bỏn cụng trỏi trong nước
Mặc dự cú nhiều cố gắng đỏng kể trong năm 1989, nhưng tỡnh trạng thiếu hụt NSNN vẫn trầm trọng Tổng chi đó tăng gấp đụi so với năm 1988, một phần do lạm phỏt chuyển từ năm 1988 sang và đó làm tăng giỏ đỏng kể một số mặt hàng và dịch vụ thiết yếu do Nhà nước cung cấp Tất cả những phõn tớch ở trờn cho thấy, cú nhiều nguyờn nhõn gõy ra lạm phỏt cao trong giai đoạn từ năm 1986-1990, trong đú cú việc bự đắp thõm hụt NSNN bằng
sự phỏt hành tiền như ở đồ thị 1
Bước vào giai đoạn từ năm 1991-1995, tỡnh hỡnh đất nước đó cú nhiều chuyển biến tớch cực, sản xuất và lưu thụng hàng hoỏ đó cú động lực mới, tỡnh trạng thiếu lương thực đó được giải quyết căn bản, lạm phỏt siờu mó đó được đẩy lựi, nhưng lạm phỏt cao vẫn cũn Cơ cấu chi NSNN đó dần dần thay đổi theo hướng tớch cực Nguồn thu trong nước đó đủ cho chi thường xuyờn, tỡnh trạng đi vay hoặc dựa vào phỏt hành cho chi thường xuyờn đó
0 500 1000 1500 2000 2500
1986 1987 1988 1989 1990
Tiền phát hành đề bù đáp bội chi NSNN Thâm hụt NSNN