1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ebook Thuế cá nhân và hộ gia đình: Phần 2

48 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyển Nhượng Bất Động Sản Với Giá Thấp Hơn Giá Mua Có Phải Nộp Thuế Thu Nhập Cá Nhân Không?
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 813,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp tục phần 1, Phần 2 của sách Thuế cá nhân và hộ gia đình được các tác giả phân tích, bình luận dựa trên căn cứ pháp lý về thuế hiện hành như chuyển nhượng bất động sản, giảm trừ gia cảnh khi đóng thuế thu nhập cá nhân, nộp thuế đất sản xuất gạch ngói, ... Các tình huống đều được minh họa bằng những hình ảnh sinh động, giúp người đọc dễ dàng tiếp thu, ghi nhớ nộ dung. Mời các bạn tham khảo!

Trang 1

Đồng thời, theo quy định tại Điều 24 Luật thuế

thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm

2012, 2014, thì công ty khuyến mãi có nghĩa vụ

trích số tiền thuế thu nhập cá nhân trước khi chi

trả thu nhập cho anh H để nộp lại cho Nhà nước

Do đó, việc công ty làm là đúng theo quy định

của pháp luật

13 CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN VỚI GIÁ THẤP HƠN GIÁ MUA CÓ PHẢI NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN KHÔNG?

Tình huống:

Ông H làm công nhân cho Công ty sản xuất

Da giày BT gần 30 năm Trong thời gian này, ông

đã dành dụm được 800 triệu đồng dự định gửi tiết kiệm để dưỡng già Tuy nhiên, tháng 3/2018, ông

H nhận thấy khu vực huyện B nơi ông ở giá nhà, đất có xu hướng tăng lên chóng mặt Cách nhà ông

Trang 2

khoảng 400m có căn nhà cuối năm 2016 bán 1,2 tỷ

đồng, nhưng đến tháng 8/2017, đã bán lại được 2 tỷ

đồng Ông nhẩm tính, với đà tăng giá bất động sản

như trên thì lợi nhuận từ việc mua bán bất động

sản cao gấp mấy lần tiền lãi gửi ngân hàng Vì vậy,

ông quyết định đầu tư vào bất động sản

Sau gần một tháng tìm hiểu, ông được người

bạn giới thiệu có lô đất mặt tiền đường hẻm 5m

trên đường K, thị trấn T, huyện B, diện tích 100m2,

được rao tin chuyển nhượng với giá 800 triệu đồng

Thấy lô đất này hợp túi tiền và được nhiều người

tư vấn là giá đất còn tăng trong thời gian tới, nên

ông quyết định đồng ý chuyển nhượng vào tháng

9/2017 Sau 1 tháng làm các thủ tục, giấy tờ, lô

đất nêu trên đã được sang tên cho ông H Ngay lúc

này, đã có người tìm ông và trả giá 1 tỷ đồng để ông

sang nhượng lô đất đó, nhưng ông chưa đồng ý vì

tin rằng giá sẽ còn tăng

Tuy nhiên, tháng 5/2018, vợ ông phát hiện bị

bệnh ung thư phổi Bác sĩ tư vấn là gia đình cần

có số tiền lớn để chạy chữa cho bà Ông quyết định

rao tin muốn chuyển nhượng lô đất trên Tuy vậy,

lúc này, cơn sốt khu đất trên đã hạ nhiệt Có một

người đồng ý mức chuyển nhượng, nhưng chỉ trả

giá 750 triệu đồng cho lô đất này Vì muốn nhanh

chóng có tiền trị bệnh cho vợ, ông H đành đồng ý

mặc dù biết rằng giá như vậy là thấp hơn lúc ông

mua lô đất trước đó

Khi làm thủ tục sang tên lô đất, cơ quan thuế yêu cầu ông H nộp thuế thu nhập cá nhân cho hoạt động chuyển nhượng bất động sản nêu trên Ông

H không đồng ý vì cho rằng lúc đầu ông phải trả

800 triệu đồng và giờ chuyển nhượng với giá 750 triệu đồng là bị lỗ, nên ông không có thu nhập Vậy trong trường hợp này, ông H có phải nộp thuế thu nhập cá nhân cho hoạt động chuyển nhượng bất động sản không?

Trả lời:

Thu nhập của ông H trong trường hợp trên là thu nhập có được từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản Đây là thu nhập được tính thuế thu nhập

cá nhân theo Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014, vậy nên thu nhập này phải chịu sự điều chỉnh của thuế thu nhập cá nhân

Lập luận của ông H sẽ đúng nếu đối chiếu với các quy định pháp luật thuế áp dụng từ ngày 01/01/2009 đến ngày 31/12/2014 Trong khoảng thời gian này, theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân có 2 cách tính thuế thu nhập cá nhân cho thu nhập có được từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản của cá nhân là1:

1 Tham khảo các Điều 14, 23 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (khi luật này chưa được sửa đổi, bổ sung năm

2012, 2014).

Trang 3

khoảng 400m có căn nhà cuối năm 2016 bán 1,2 tỷ

đồng, nhưng đến tháng 8/2017, đã bán lại được 2 tỷ

đồng Ông nhẩm tính, với đà tăng giá bất động sản

như trên thì lợi nhuận từ việc mua bán bất động

sản cao gấp mấy lần tiền lãi gửi ngân hàng Vì vậy,

ông quyết định đầu tư vào bất động sản

Sau gần một tháng tìm hiểu, ông được người

bạn giới thiệu có lô đất mặt tiền đường hẻm 5m

trên đường K, thị trấn T, huyện B, diện tích 100m2,

được rao tin chuyển nhượng với giá 800 triệu đồng

Thấy lô đất này hợp túi tiền và được nhiều người

tư vấn là giá đất còn tăng trong thời gian tới, nên

ông quyết định đồng ý chuyển nhượng vào tháng

9/2017 Sau 1 tháng làm các thủ tục, giấy tờ, lô

đất nêu trên đã được sang tên cho ông H Ngay lúc

này, đã có người tìm ông và trả giá 1 tỷ đồng để ông

sang nhượng lô đất đó, nhưng ông chưa đồng ý vì

tin rằng giá sẽ còn tăng

Tuy nhiên, tháng 5/2018, vợ ông phát hiện bị

bệnh ung thư phổi Bác sĩ tư vấn là gia đình cần

có số tiền lớn để chạy chữa cho bà Ông quyết định

rao tin muốn chuyển nhượng lô đất trên Tuy vậy,

lúc này, cơn sốt khu đất trên đã hạ nhiệt Có một

người đồng ý mức chuyển nhượng, nhưng chỉ trả

giá 750 triệu đồng cho lô đất này Vì muốn nhanh

chóng có tiền trị bệnh cho vợ, ông H đành đồng ý

mặc dù biết rằng giá như vậy là thấp hơn lúc ông

mua lô đất trước đó

Khi làm thủ tục sang tên lô đất, cơ quan thuế yêu cầu ông H nộp thuế thu nhập cá nhân cho hoạt động chuyển nhượng bất động sản nêu trên Ông

H không đồng ý vì cho rằng lúc đầu ông phải trả

800 triệu đồng và giờ chuyển nhượng với giá 750 triệu đồng là bị lỗ, nên ông không có thu nhập Vậy trong trường hợp này, ông H có phải nộp thuế thu nhập cá nhân cho hoạt động chuyển nhượng bất động sản không?

Trả lời:

Thu nhập của ông H trong trường hợp trên là thu nhập có được từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản Đây là thu nhập được tính thuế thu nhập

cá nhân theo Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014, vậy nên thu nhập này phải chịu sự điều chỉnh của thuế thu nhập cá nhân

Lập luận của ông H sẽ đúng nếu đối chiếu với các quy định pháp luật thuế áp dụng từ ngày 01/01/2009 đến ngày 31/12/2014 Trong khoảng thời gian này, theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân có 2 cách tính thuế thu nhập cá nhân cho thu nhập có được từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản của cá nhân là1:

1 Tham khảo các Điều 14, 23 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (khi luật này chưa được sửa đổi, bổ sung năm

2012, 2014).

Trang 4

Cách 1:

Thuế thu nhập cá nhân = (Giá bán - giá

mua - chi phí liên quan) x 25%

Theo cách tính này, ông H mua 800 triệu

đồng và bán 750 triệu đồng nên không có thêm

thu nhập từ lợi nhuận bán bất động sản và không

phải nộp thuế

Cách 2:

Thuế thu nhập cá nhân = Giá chuyển

nhượng bất động sản x 2%

Theo cách tính này, Nhà nước không quan tâm

đến giá mua trước đây mà chỉ quan tâm, quản lý

phần giá bán bất động sản

Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2015, khoản 6 Điều 2

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về

thuế năm 2014 đã thay đổi cách tính thuế đối với

thu nhập có được từ hoạt động chuyển nhượng bất

động sản như sau: “Thu nhập chịu thuế từ chuyển

nhượng bất động sản được xác định là giá chuyển

nhượng từng lần” Do vậy, lập luận của ông H

trong trường này là chưa chính xác Theo đó, trong

trường hợp này, cách tính thuế thu nhập cá nhân

của ông H như sau:

Thuế thu nhập cá nhân = Giá chuyển

nhượng bất động sản x 2% = 750 triệu đồng x

2% = 15 triệu đồng

Lưu ý: Trường hợp trên hợp đồng chuyển

nhượng không ghi giá đất hoặc giá đất trên hợp

đồng chuyển nhượng thấp hơn giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định thì giá chuyển nhượng đất

là giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượng theo quy định của pháp luật về đất đai

Trang 5

Cách 1:

Thuế thu nhập cá nhân = (Giá bán - giá

mua - chi phí liên quan) x 25%

Theo cách tính này, ông H mua 800 triệu

đồng và bán 750 triệu đồng nên không có thêm

thu nhập từ lợi nhuận bán bất động sản và không

phải nộp thuế

Cách 2:

Thuế thu nhập cá nhân = Giá chuyển

nhượng bất động sản x 2%

Theo cách tính này, Nhà nước không quan tâm

đến giá mua trước đây mà chỉ quan tâm, quản lý

phần giá bán bất động sản

Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2015, khoản 6 Điều 2

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về

thuế năm 2014 đã thay đổi cách tính thuế đối với

thu nhập có được từ hoạt động chuyển nhượng bất

động sản như sau: “Thu nhập chịu thuế từ chuyển

nhượng bất động sản được xác định là giá chuyển

nhượng từng lần” Do vậy, lập luận của ông H

trong trường này là chưa chính xác Theo đó, trong

trường hợp này, cách tính thuế thu nhập cá nhân

của ông H như sau:

Thuế thu nhập cá nhân = Giá chuyển

nhượng bất động sản x 2% = 750 triệu đồng x

2% = 15 triệu đồng

Lưu ý: Trường hợp trên hợp đồng chuyển

nhượng không ghi giá đất hoặc giá đất trên hợp

đồng chuyển nhượng thấp hơn giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định thì giá chuyển nhượng đất

là giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượng theo quy định của pháp luật về đất đai

Trang 6

14 TÀI SẢN CÓ ĐƯỢC KHI LY HÔN CÓ CHỊU

THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN KHÔNG?

một nền đất diện tích 150m2 trên đường Q, còn gia đình chị D cho 500 triệu đồng để xây nhà và làm vốn kinh doanh Hai vợ chồng anh C dành ra 250 triệu đồng để xây trên đó một căn nhà nhỏ và mở tiệm tạp hóa kinh doanh Sau 4 năm chí thú làm

ăn, hai vợ chồng đã mở rộng tiệm tạp hóa thành đại lý phân phối mặt hàng sữa các loại cho toàn thị trấn

Tuy nhiên, từ ngày có chút tài chính, anh C đã không còn quan tâm nhiều đến vợ nữa vì chị D chỉ biết buôn bán và lo con cái, không chịu chăm sóc mình, lại không sinh được con trai cho anh C Anh

C ngày càng mải mê chơi bời, buông thả bản thân

C sau đó tán tỉnh và gặp gỡ L, một cô gái 19 tuổi

C đồng ý cấp dưỡng cho L mỗi tháng 20 triệu

và một số sinh hoạt phí phát sinh khác L trở thành

“bà nhỏ”, ngày càng được C chiều chuộng hơn khi L mang thai và được xác định là con trai thì L thay đổi hẳn Cô không cam chịu thân phận “bà nhỏ” mà muốn có danh phận rõ ràng

C quyết định nộp đơn ly dị để dễ dàng đến với L

và chính thức chăm lo cho con trai của mình.Tại Tòa khi giải quyết ly hôn, C và D đã thỏa thuận chia cho D căn nhà trước đây được tạo lập

từ tiền hai bên cho và 2 tỷ đồng tiền mặt, còn C

sẽ nhận 2 tỷ đồng cùng với lô đất trên đường quốc

lộ Tuy nhiên, lô đất trên đường quốc lộ lại do chị

D đứng tên nên khi chia thì chị D đã làm thủ tục

Tình huống:

C và D là cặp đôi “thanh mai, trúc mã” trong

thị trấn B, huyện H, tỉnh Đ Tháng 6/2013, C và D

nên vợ, nên chồng Để tạo điều kiện cho vợ chồng

C và D làm ăn sinh sống, gia đình anh C đã cho họ

Trang 7

14 TÀI SẢN CÓ ĐƯỢC KHI LY HÔN CÓ CHỊU

THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN KHÔNG?

một nền đất diện tích 150m2 trên đường Q, còn gia đình chị D cho 500 triệu đồng để xây nhà và làm vốn kinh doanh Hai vợ chồng anh C dành ra 250 triệu đồng để xây trên đó một căn nhà nhỏ và mở tiệm tạp hóa kinh doanh Sau 4 năm chí thú làm

ăn, hai vợ chồng đã mở rộng tiệm tạp hóa thành đại lý phân phối mặt hàng sữa các loại cho toàn thị trấn

Tuy nhiên, từ ngày có chút tài chính, anh C đã không còn quan tâm nhiều đến vợ nữa vì chị D chỉ biết buôn bán và lo con cái, không chịu chăm sóc mình, lại không sinh được con trai cho anh C Anh

C ngày càng mải mê chơi bời, buông thả bản thân

C sau đó tán tỉnh và gặp gỡ L, một cô gái 19 tuổi

C đồng ý cấp dưỡng cho L mỗi tháng 20 triệu

và một số sinh hoạt phí phát sinh khác L trở thành

“bà nhỏ”, ngày càng được C chiều chuộng hơn khi L mang thai và được xác định là con trai thì L thay đổi hẳn Cô không cam chịu thân phận “bà nhỏ” mà muốn có danh phận rõ ràng

C quyết định nộp đơn ly dị để dễ dàng đến với L

và chính thức chăm lo cho con trai của mình.Tại Tòa khi giải quyết ly hôn, C và D đã thỏa thuận chia cho D căn nhà trước đây được tạo lập

từ tiền hai bên cho và 2 tỷ đồng tiền mặt, còn C

sẽ nhận 2 tỷ đồng cùng với lô đất trên đường quốc

lộ Tuy nhiên, lô đất trên đường quốc lộ lại do chị

D đứng tên nên khi chia thì chị D đã làm thủ tục

Tình huống:

C và D là cặp đôi “thanh mai, trúc mã” trong

thị trấn B, huyện H, tỉnh Đ Tháng 6/2013, C và D

nên vợ, nên chồng Để tạo điều kiện cho vợ chồng

C và D làm ăn sinh sống, gia đình anh C đã cho họ

Trang 8

chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh C Vậy

khi làm thủ tục này, anh C có phải nộp thuế thu

nhập cá nhân không?

Trả lời:

Theo quy định của pháp Luật thuế thu nhập

cá nhân, chị D chuyển nhượng quyền sử dụng đất

sang cho anh C thì hoạt động này sẽ làm phát

sinh thu nhập phải chịu thuế thu nhập cá nhân

Tuy nhiên, về bản chất, việc chị D chuyển nhượng

quyền sử dụng đất từ chị D sang cho anh C không

phải là hành vi mua, bán chuyển nhượng đất phát

sinh lợi nhuận, mà là hoạt động chuyển nhượng

đất để thực hiện thỏa thuận khi ly hôn đối với tài

sản chung của vợ và chồng Vậy nên, theo điểm a

khoản 1 Điều 3 Thông tư số 111/2013/TT-BTC thì:

“Trường hợp bất động sản (bao gồm cả nhà ở hình

thành trong tương lai, công trình xây dựng hình

thành trong tương lai theo quy định pháp luật về

kinh doanh bất động sản) do vợ hoặc chồng tạo lập

trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản

chung của vợ chồng, khi ly hôn được phân chia

theo thỏa thuận hoặc do tòa án phán quyết thì việc

phân chia tài sản này thuộc diện được miễn thuế”

Do vậy, trong trường hợp này, anh C không phải

thực hiện việc nộp thuế thu nhập cá nhân

15 GIẢM TRỪ GIA CẢNH KHI TÍNH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Tình huống:

Anh X đang là Giám đốc của một công ty cổ phần tại Việt Nam, có mức lương ổn định là 30 triệu đồng/tháng Hiện nay, anh X đang phụng dưỡng mẹ già 80 tuổi và nuôi 2 con còn nhỏ (3 tuổi

và 15 tuổi) Vợ anh X chỉ ở nhà chăm sóc mẹ và 2 con nên không có thu nhập Ngày 10/12/2017, khi

Trang 9

chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh C Vậy

khi làm thủ tục này, anh C có phải nộp thuế thu

nhập cá nhân không?

Trả lời:

Theo quy định của pháp Luật thuế thu nhập

cá nhân, chị D chuyển nhượng quyền sử dụng đất

sang cho anh C thì hoạt động này sẽ làm phát

sinh thu nhập phải chịu thuế thu nhập cá nhân

Tuy nhiên, về bản chất, việc chị D chuyển nhượng

quyền sử dụng đất từ chị D sang cho anh C không

phải là hành vi mua, bán chuyển nhượng đất phát

sinh lợi nhuận, mà là hoạt động chuyển nhượng

đất để thực hiện thỏa thuận khi ly hôn đối với tài

sản chung của vợ và chồng Vậy nên, theo điểm a

khoản 1 Điều 3 Thông tư số 111/2013/TT-BTC thì:

“Trường hợp bất động sản (bao gồm cả nhà ở hình

thành trong tương lai, công trình xây dựng hình

thành trong tương lai theo quy định pháp luật về

kinh doanh bất động sản) do vợ hoặc chồng tạo lập

trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản

chung của vợ chồng, khi ly hôn được phân chia

theo thỏa thuận hoặc do tòa án phán quyết thì việc

phân chia tài sản này thuộc diện được miễn thuế”

Do vậy, trong trường hợp này, anh C không phải

thực hiện việc nộp thuế thu nhập cá nhân

15 GIẢM TRỪ GIA CẢNH KHI TÍNH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Tình huống:

Anh X đang là Giám đốc của một công ty cổ phần tại Việt Nam, có mức lương ổn định là 30 triệu đồng/tháng Hiện nay, anh X đang phụng dưỡng mẹ già 80 tuổi và nuôi 2 con còn nhỏ (3 tuổi

và 15 tuổi) Vợ anh X chỉ ở nhà chăm sóc mẹ và 2 con nên không có thu nhập Ngày 10/12/2017, khi

Trang 10

bộ phận nhân sự của công ty thực hiện quyết toán

thuế thu nhập cá nhân cho anh X thì chỉ xác định

mẹ và 2 con của anh X là người phụ thuộc để thực

hiện thủ tục giảm trừ gia cảnh cho anh X Anh X

thắc mắc thì nhân viên phòng nhân sự trả lời rằng,

mặc dù vợ anh X không có thu nhập nhưng vẫn

trong độ tuổi lao động, không bị khuyết tật, không

bị mất khả năng lao động nên không phải là người

phụ thuộc của anh X Anh X cho rằng việc trả lời

trên là chưa đúng, vì việc vợ anh không đi làm là

do phải lo chăm sóc mẹ già và con nhỏ chứ không

phải là không muốn đi làm Vì vậy, việc vợ anh

phải phụ thuộc vào anh là hoàn toàn đúng

Vậy khi tính thuế thu nhập cá nhân, anh X sẽ

được giảm trừ gia cảnh như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 19 Luật thuế thu nhập

cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012,

2014 và Điều 12 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP thì

giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập

chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ

tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá

Theo quy định hiện hành, người phụ thuộc bao gồm:

- Con (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con riêng của vợ, con riêng của chồng) dưới 18 tuổi;

- Con (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con riêng của vợ, con riêng của chồng) từ 18 tuổi trở lên

bị khuyết tật không có khả năng lao động;

- Con (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con riêng của vợ, con riêng của chồng) đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề,

kể cả con từ 18 tuổi trở lên đang học bậc học phổ thông mà không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức thu nhập 1 triệu đồng/tháng;

- Người ngoài độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật nhưng bị khuyết tật không có khả năng lao động mà không

có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng không vượt quá mức thu nhập 1 triệu đồng/tháng, bao gồm: Vợ hoặc chồng của người nộp thuế; Cha đẻ, mẹ đẻ, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ nuôi hợp pháp, cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng) của người nộp thuế; Cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng

Trang 11

bộ phận nhân sự của công ty thực hiện quyết toán

thuế thu nhập cá nhân cho anh X thì chỉ xác định

mẹ và 2 con của anh X là người phụ thuộc để thực

hiện thủ tục giảm trừ gia cảnh cho anh X Anh X

thắc mắc thì nhân viên phòng nhân sự trả lời rằng,

mặc dù vợ anh X không có thu nhập nhưng vẫn

trong độ tuổi lao động, không bị khuyết tật, không

bị mất khả năng lao động nên không phải là người

phụ thuộc của anh X Anh X cho rằng việc trả lời

trên là chưa đúng, vì việc vợ anh không đi làm là

do phải lo chăm sóc mẹ già và con nhỏ chứ không

phải là không muốn đi làm Vì vậy, việc vợ anh

phải phụ thuộc vào anh là hoàn toàn đúng

Vậy khi tính thuế thu nhập cá nhân, anh X sẽ

được giảm trừ gia cảnh như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 19 Luật thuế thu nhập

cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012,

2014 và Điều 12 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP thì

giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập

chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ

tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá

Theo quy định hiện hành, người phụ thuộc bao gồm:

- Con (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con riêng của vợ, con riêng của chồng) dưới 18 tuổi;

- Con (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con riêng của vợ, con riêng của chồng) từ 18 tuổi trở lên

bị khuyết tật không có khả năng lao động;

- Con (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con riêng của vợ, con riêng của chồng) đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề,

kể cả con từ 18 tuổi trở lên đang học bậc học phổ thông mà không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức thu nhập 1 triệu đồng/tháng;

- Người ngoài độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật nhưng bị khuyết tật không có khả năng lao động mà không

có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng không vượt quá mức thu nhập 1 triệu đồng/tháng, bao gồm: Vợ hoặc chồng của người nộp thuế; Cha đẻ, mẹ đẻ, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ nuôi hợp pháp, cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng) của người nộp thuế; Cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng

Trang 12

Như vậy, trường hợp của anh X vẫn được giảm

trừ gia cảnh, cụ thể như sau:

- Giảm trừ cho bản thân người nộp thuế: 9

triệu đồng/tháng

- Giảm trừ cho người phụ thuộc:

+ Mẹ (80 tuổi): Trường hợp này do anh X chưa

nêu rõ về mức thu nhập của mẹ anh nên chưa đủ cơ

sở để xác định mẹ anh có phải là người phụ thuộc

của anh hay không Bởi vì, cho dù bà đã ngoài độ

tuổi lao động, nhưng nếu có thu nhập trên 1 triệu

đồng/tháng thì bà vẫn không được coi là người phụ

thuộc của anh X

+ Hai con (3 tuổi và 15 tuổi): Do con anh X đang

dưới 18 tuổi nên vẫn có thể là người phụ thuộc của

anh X

+ Vợ: Trường hợp này cũng chưa rõ các thông

tin nên rất khó xác định vợ anh X có phải là người

phụ thuộc của anh hay không Bởi vì, dù vợ của

anh không có thu nhập, nhưng nếu vợ anh vẫn còn

trong độ tuổi lao động, không bị tàn tật dẫn đến

không có khả năng lao động thì vẫn không được coi

là người phụ thuộc của anh X Vợ anh chỉ được coi

là người phụ thuộc khi mặc dù còn trong độ tuổi lao

động nhưng bị tàn tật, không có khả năng lao động

và không có thu nhập vượt quá mức quy định hiện

nay là 1 triệu đồng/tháng

16 XÁC ĐỊNH THU NHẬP ĐƯỢC GIẢM TRỪ GIA CẢNH ĐỐI VỚI CÁ NHÂN CÓ NHIỀU

KHOẢN THU NHẬP

Tình huống:

Hiện nay, anh Đ đang làm Trưởng phòng kiểm định chất lượng sản phẩm của một doanh nghiệp với mức lương 20 triệu đồng/tháng Bên cạnh đó, anh Đ còn góp vốn với một số người bạn thành lập 2 công ty trồng cà phê và tiêu Sau mỗi năm, anh

Đ được trả lợi nhuận khoảng 300 triệu đồng từ 2 công ty này Anh Đ có được giảm trừ gia cảnh khi

Trang 13

Như vậy, trường hợp của anh X vẫn được giảm

trừ gia cảnh, cụ thể như sau:

- Giảm trừ cho bản thân người nộp thuế: 9

triệu đồng/tháng

- Giảm trừ cho người phụ thuộc:

+ Mẹ (80 tuổi): Trường hợp này do anh X chưa

nêu rõ về mức thu nhập của mẹ anh nên chưa đủ cơ

sở để xác định mẹ anh có phải là người phụ thuộc

của anh hay không Bởi vì, cho dù bà đã ngoài độ

tuổi lao động, nhưng nếu có thu nhập trên 1 triệu

đồng/tháng thì bà vẫn không được coi là người phụ

thuộc của anh X

+ Hai con (3 tuổi và 15 tuổi): Do con anh X đang

dưới 18 tuổi nên vẫn có thể là người phụ thuộc của

anh X

+ Vợ: Trường hợp này cũng chưa rõ các thông

tin nên rất khó xác định vợ anh X có phải là người

phụ thuộc của anh hay không Bởi vì, dù vợ của

anh không có thu nhập, nhưng nếu vợ anh vẫn còn

trong độ tuổi lao động, không bị tàn tật dẫn đến

không có khả năng lao động thì vẫn không được coi

là người phụ thuộc của anh X Vợ anh chỉ được coi

là người phụ thuộc khi mặc dù còn trong độ tuổi lao

động nhưng bị tàn tật, không có khả năng lao động

và không có thu nhập vượt quá mức quy định hiện

nay là 1 triệu đồng/tháng

16 XÁC ĐỊNH THU NHẬP ĐƯỢC GIẢM TRỪ GIA CẢNH ĐỐI VỚI CÁ NHÂN CÓ NHIỀU

KHOẢN THU NHẬP

Tình huống:

Hiện nay, anh Đ đang làm Trưởng phòng kiểm định chất lượng sản phẩm của một doanh nghiệp với mức lương 20 triệu đồng/tháng Bên cạnh đó, anh Đ còn góp vốn với một số người bạn thành lập 2 công ty trồng cà phê và tiêu Sau mỗi năm, anh

Đ được trả lợi nhuận khoảng 300 triệu đồng từ 2 công ty này Anh Đ có được giảm trừ gia cảnh khi

Trang 14

nộp thuế thu nhập cá nhân không? Nếu có thì mức

giảm trừ gia cảnh được tính như thế nào?

Trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 19 Luật thuế thu

nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012,

2014 và Điều 12 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, thì

trong trường hợp này, anh Đ có hai khoản thu nhập

là thu nhập từ tiền lương của trưởng phòng và thu

nhập từ việc đầu tư vốn vào 2 công ty Tuy nhiên,

khi tính giảm trừ gia cảnh thì pháp luật hiện hành

chỉ cho phép giảm trừ gia cảnh đối với thu nhập từ

tiền lương Còn thu nhập từ đầu tư vốn vào công ty

thì không được giảm trừ gia cảnh

Do tình huống trên không trình bày cụ thể

hoàn cảnh gia đình anh Đ nên chỉ có thể xác định

thu nhập giảm trừ của anh Đ cơ bản như sau:

- Giảm trừ gia cảnh cho bản thân anh Đ là: 9

triệu đồng/tháng

- Ngoài ra, tùy thuộc vào trường hợp cụ thể của

gia đình anh Đ, ví dụ: nếu anh Đ có con, cha, mẹ, vợ

(chồng) và có các chủ thể khác thỏa mãn các điều

kiện tại Điều 19 Luật thuế thu nhập cá nhân năm

2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014, Điều 12

Nghị định số 65/2013/NĐ-CP thì sẽ được giảm trừ

cho mỗi người là 3,6 triệu/tháng mà không bị giới

hạn người phụ thuộc

17 XÁC ĐỊNH NGƯỜI CÓ NGHĨA VỤ NỘP THUẾ

SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP TRONG TRƯỜNG HỢP CHƯA CÓ GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Tình huống:

Tháng 12/2017, vợ chồng anh T được chuyển nhượng 1 mảnh đất diện tích 100m2 ở tại trung tâm thành phố R, tỉnh K Hợp đồng chuyển nhượng đã được công chứng theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, do bên chuyển nhượng đất cho gia đình anh T

Trang 15

nộp thuế thu nhập cá nhân không? Nếu có thì mức

giảm trừ gia cảnh được tính như thế nào?

Trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 19 Luật thuế thu

nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012,

2014 và Điều 12 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, thì

trong trường hợp này, anh Đ có hai khoản thu nhập

là thu nhập từ tiền lương của trưởng phòng và thu

nhập từ việc đầu tư vốn vào 2 công ty Tuy nhiên,

khi tính giảm trừ gia cảnh thì pháp luật hiện hành

chỉ cho phép giảm trừ gia cảnh đối với thu nhập từ

tiền lương Còn thu nhập từ đầu tư vốn vào công ty

thì không được giảm trừ gia cảnh

Do tình huống trên không trình bày cụ thể

hoàn cảnh gia đình anh Đ nên chỉ có thể xác định

thu nhập giảm trừ của anh Đ cơ bản như sau:

- Giảm trừ gia cảnh cho bản thân anh Đ là: 9

triệu đồng/tháng

- Ngoài ra, tùy thuộc vào trường hợp cụ thể của

gia đình anh Đ, ví dụ: nếu anh Đ có con, cha, mẹ, vợ

(chồng) và có các chủ thể khác thỏa mãn các điều

kiện tại Điều 19 Luật thuế thu nhập cá nhân năm

2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014, Điều 12

Nghị định số 65/2013/NĐ-CP thì sẽ được giảm trừ

cho mỗi người là 3,6 triệu/tháng mà không bị giới

hạn người phụ thuộc

17 XÁC ĐỊNH NGƯỜI CÓ NGHĨA VỤ NỘP THUẾ

SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP TRONG TRƯỜNG HỢP CHƯA CÓ GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Tình huống:

Tháng 12/2017, vợ chồng anh T được chuyển nhượng 1 mảnh đất diện tích 100m2 ở tại trung tâm thành phố R, tỉnh K Hợp đồng chuyển nhượng đã được công chứng theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, do bên chuyển nhượng đất cho gia đình anh T

Trang 16

phải ra nước ngoài trong vòng 6 tháng nên anh Đ

chưa làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất Vậy khi sử dụng mảnh đất này

vợ chồng anh Đ có phải nộp thuế sử dụng đất phi

nông nghiệp không?

Trả lời:

Theo quy định Điều 4 Luật thuế sử dụng đất

phi nông nghiệp năm 2010 và Điều 3 Thông tư

số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài

chính hướng dẫn về thuế sử dụng đất phi nông

nghiệp thì thông thường, người nộp thuế là tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất thuộc

đối tượng chịu thuế quy định

Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt thì

người nộp thuế được xác định như sau:

Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa

được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

(sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) thì người

đang sử dụng đất là người nộp thuế

Người nộp thuế trong một số trường hợp cụ thể

được quy định như sau:

- Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất để

thực hiện dự án đầu tư thì người thuê đất ở là

người nộp thuế;

- Trường hợp người có quyền sử dụng đất cho

thuê đất theo hợp đồng thì người nộp thuế được

xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng Trường hợp trong hợp đồng không có thỏa thuận về người nộp thuế thì người có quyền sử dụng đất là người nộp thuế;

- Trường hợp đất đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng đang có tranh chấp, thì trước khi tranh chấp được giải quyết, người đang sử dụng đất là người nộp thuế Việc nộp thuế không phải là căn

cứ để giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất;

- Trường hợp nhiều người cùng có quyền sử dụng một thửa đất thì người nộp thuế là người đại diện hợp pháp của những người cùng có quyền sử dụng thửa đất đó;

- Trường hợp người có quyền sử dụng đất góp vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng đất mà hình thành pháp nhân mới có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 Luật thuế

sử dụng đất phi nông nghiệp thì pháp nhân mới là người nộp thuế

Như vậy, căn cứ theo các quy định pháp luật nêu trên, trong trường hợp này, gia đình anh T tuy chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng là người thực tế đang sử dụng mảnh đất đó thì gia đình anh Đ vẫn là người nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Trang 17

phải ra nước ngoài trong vòng 6 tháng nên anh Đ

chưa làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất Vậy khi sử dụng mảnh đất này

vợ chồng anh Đ có phải nộp thuế sử dụng đất phi

nông nghiệp không?

Trả lời:

Theo quy định Điều 4 Luật thuế sử dụng đất

phi nông nghiệp năm 2010 và Điều 3 Thông tư

số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài

chính hướng dẫn về thuế sử dụng đất phi nông

nghiệp thì thông thường, người nộp thuế là tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất thuộc

đối tượng chịu thuế quy định

Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt thì

người nộp thuế được xác định như sau:

Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa

được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

(sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) thì người

đang sử dụng đất là người nộp thuế

Người nộp thuế trong một số trường hợp cụ thể

được quy định như sau:

- Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất để

thực hiện dự án đầu tư thì người thuê đất ở là

người nộp thuế;

- Trường hợp người có quyền sử dụng đất cho

thuê đất theo hợp đồng thì người nộp thuế được

xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng Trường hợp trong hợp đồng không có thỏa thuận về người nộp thuế thì người có quyền sử dụng đất là người nộp thuế;

- Trường hợp đất đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng đang có tranh chấp, thì trước khi tranh chấp được giải quyết, người đang sử dụng đất là người nộp thuế Việc nộp thuế không phải là căn

cứ để giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất;

- Trường hợp nhiều người cùng có quyền sử dụng một thửa đất thì người nộp thuế là người đại diện hợp pháp của những người cùng có quyền sử dụng thửa đất đó;

- Trường hợp người có quyền sử dụng đất góp vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng đất mà hình thành pháp nhân mới có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 Luật thuế

sử dụng đất phi nông nghiệp thì pháp nhân mới là người nộp thuế

Như vậy, căn cứ theo các quy định pháp luật nêu trên, trong trường hợp này, gia đình anh T tuy chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng là người thực tế đang sử dụng mảnh đất đó thì gia đình anh Đ vẫn là người nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Trang 18

18 ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP CÓ TRANH CHẤP

sử dụng hợp pháp của ông B hay không?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật thuế

sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010 và khoản 3 Điều 3 Thông tư số 153/2011/TT-BTC, thì người nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là: Người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền

sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010

Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) thì người đang sử dụng đất là người nộp thuế

Người nộp thuế trong một số trường hợp cụ thể được quy định như sau:

Tình huống:

Chị A có một mảnh đất đã được cấp Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất, nhưng do không có nhu

cầu sử dụng nên vẫn để không hơn 5 năm qua Chỗ

ở của chị A hiện nay cũng cách xa vị trí mảnh đất

đó, nên chị cũng không lui tới trông coi Gần đây,

chị phát hiện ông B ở gần đó đã chiếm dụng mảnh

đất này để làm nơi kinh doanh vật liệu xây dựng

Trang 19

18 ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP CÓ TRANH CHẤP

sử dụng hợp pháp của ông B hay không?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật thuế

sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010 và khoản 3 Điều 3 Thông tư số 153/2011/TT-BTC, thì người nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là: Người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền

sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010

Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) thì người đang sử dụng đất là người nộp thuế

Người nộp thuế trong một số trường hợp cụ thể được quy định như sau:

Tình huống:

Chị A có một mảnh đất đã được cấp Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất, nhưng do không có nhu

cầu sử dụng nên vẫn để không hơn 5 năm qua Chỗ

ở của chị A hiện nay cũng cách xa vị trí mảnh đất

đó, nên chị cũng không lui tới trông coi Gần đây,

chị phát hiện ông B ở gần đó đã chiếm dụng mảnh

đất này để làm nơi kinh doanh vật liệu xây dựng

Trang 20

- Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất để

thực hiện dự án đầu tư thì người thuê đất ở là

người nộp thuế;

- Trường hợp người có quyền sử dụng đất cho

thuê đất theo hợp đồng thì người nộp thuế được

xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng Trường

hợp trong hợp đồng không có thỏa thuận về người

nộp thuế thì người có quyền sử dụng đất là người

nộp thuế;

- Trường hợp đất đã được cấp Giấy chứng nhận

nhưng đang có tranh chấp thì trước khi tranh chấp

được giải quyết, người đang sử dụng đất là người

nộp thuế Việc nộp thuế không phải là căn cứ để

giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất;

- Trường hợp nhiều người cùng có quyền sử

dụng một thửa đất thì người nộp thuế là người đại

diện hợp pháp của những người cùng có quyền sử

dụng thửa đất đó;

- Trường hợp người có quyền sử dụng đất góp

vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng đất mà hình

thành pháp nhân mới có quyền sử dụng đất thuộc

đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 Luật thuế

sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010 thì pháp

nhân mới là người nộp thuế

Như vậy, trường hợp của chị A thuộc trường

hợp đất đã được cấp Giấy chứng nhận, nhưng đang

có tranh chấp, thì theo quy định của pháp luật hiện

hành, trước khi tranh chấp được giải quyết, người

đang sử dụng đất, tức ông B (đang sử dụng đất để kinh doanh vật liệu xây dựng) phải có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Quy định này thể hiện rõ nét bản chất của thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là tập trung vào hành vi sử dụng đất Theo đó, các chủ thể có hành vi sử dụng đất, được hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất phải có nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cho dù hành vi sử dụng này có hợp pháp hay không hợp pháp Việc điều tiết thuế đối với các chủ thể này không đồng nghĩa với việc Nhà nước thừa nhận tính hợp pháp của hành vi sử dụng mà chỉ nhằm bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước, sự công bằng đối với các đối tượng nộp thuế và thực hiện quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất phi nông nghiệp

Trang 21

- Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất để

thực hiện dự án đầu tư thì người thuê đất ở là

người nộp thuế;

- Trường hợp người có quyền sử dụng đất cho

thuê đất theo hợp đồng thì người nộp thuế được

xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng Trường

hợp trong hợp đồng không có thỏa thuận về người

nộp thuế thì người có quyền sử dụng đất là người

nộp thuế;

- Trường hợp đất đã được cấp Giấy chứng nhận

nhưng đang có tranh chấp thì trước khi tranh chấp

được giải quyết, người đang sử dụng đất là người

nộp thuế Việc nộp thuế không phải là căn cứ để

giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất;

- Trường hợp nhiều người cùng có quyền sử

dụng một thửa đất thì người nộp thuế là người đại

diện hợp pháp của những người cùng có quyền sử

dụng thửa đất đó;

- Trường hợp người có quyền sử dụng đất góp

vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng đất mà hình

thành pháp nhân mới có quyền sử dụng đất thuộc

đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 Luật thuế

sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010 thì pháp

nhân mới là người nộp thuế

Như vậy, trường hợp của chị A thuộc trường

hợp đất đã được cấp Giấy chứng nhận, nhưng đang

có tranh chấp, thì theo quy định của pháp luật hiện

hành, trước khi tranh chấp được giải quyết, người

đang sử dụng đất, tức ông B (đang sử dụng đất để kinh doanh vật liệu xây dựng) phải có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Quy định này thể hiện rõ nét bản chất của thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là tập trung vào hành vi sử dụng đất Theo đó, các chủ thể có hành vi sử dụng đất, được hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất phải có nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cho dù hành vi sử dụng này có hợp pháp hay không hợp pháp Việc điều tiết thuế đối với các chủ thể này không đồng nghĩa với việc Nhà nước thừa nhận tính hợp pháp của hành vi sử dụng mà chỉ nhằm bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước, sự công bằng đối với các đối tượng nộp thuế và thực hiện quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất phi nông nghiệp

Trang 22

19 ĐẤT NHÀ THỜ HỌ CÓ PHẢI NỘP THUẾ

SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP KHÔNG?

đất của dòng họ để tiện bề nhang khói và cũng là

để quét dọn, trông coi nhà thờ họ Gia đình anh L

đã xây một căn nhà trên diện tích 100m2 và 150m2

còn lại sử dụng để trồng rau, nuôi gà

Suốt một thời gian dài, việc sử dụng mảnh đất trên của gia đình anh L diễn ra bình thường và không thấy có bất kỳ yêu cầu nào về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Tuy nhiên, vừa qua Chi cục thuế của huyện đã yêu cầu gia đình anh kê khai

và nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với phần diện tích 500m2 nói trên Vậy trong trường hợp này, gia đình anh L có phải nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hay không? Và nếu có thì phải nộp thuế cho phần diện tích đất nào?

Trả lời:

Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là loại thuế thu vào hành vi sử dụng đất phi nông nghiệp của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình

Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010, đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được xem là đất phi nông nghiệp sử dụng không vào mục đích kinh doanh nên thuộc đối tượng không chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại khoản 5 Điều 3 Nghị định số 53/2011/NĐ-CP ngày 01/7/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

Tình huống:

Đất của dòng họ Phùng của gia đình anh L là

do nhiều đời trước để lại với mục đích xây dựng

nhà thờ họ phục vụ cho việc nhang khói thờ cúng tổ

tiên, có diện tích là 500m2 (được ghi chép lại trong

cuốn gia phả thừa kế của dòng họ bằng chữ Hán từ

năm 1526) Trong đó, diện tích xây dựng nhà thờ

họ là 250m2 Diện tích còn lại được giao cho người

có nhiệm vụ quản lý, trông coi nhà thờ của họ Cha

anh L là trưởng họ đời thứ 12 nên được phép ở trên

Trang 23

19 ĐẤT NHÀ THỜ HỌ CÓ PHẢI NỘP THUẾ

SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP KHÔNG?

đất của dòng họ để tiện bề nhang khói và cũng là

để quét dọn, trông coi nhà thờ họ Gia đình anh L

đã xây một căn nhà trên diện tích 100m2 và 150m2

còn lại sử dụng để trồng rau, nuôi gà

Suốt một thời gian dài, việc sử dụng mảnh đất trên của gia đình anh L diễn ra bình thường và không thấy có bất kỳ yêu cầu nào về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Tuy nhiên, vừa qua Chi cục thuế của huyện đã yêu cầu gia đình anh kê khai

và nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với phần diện tích 500m2 nói trên Vậy trong trường hợp này, gia đình anh L có phải nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hay không? Và nếu có thì phải nộp thuế cho phần diện tích đất nào?

Trả lời:

Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là loại thuế thu vào hành vi sử dụng đất phi nông nghiệp của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình

Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010, đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được xem là đất phi nông nghiệp sử dụng không vào mục đích kinh doanh nên thuộc đối tượng không chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại khoản 5 Điều 3 Nghị định số 53/2011/NĐ-CP ngày 01/7/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

Tình huống:

Đất của dòng họ Phùng của gia đình anh L là

do nhiều đời trước để lại với mục đích xây dựng

nhà thờ họ phục vụ cho việc nhang khói thờ cúng tổ

tiên, có diện tích là 500m2 (được ghi chép lại trong

cuốn gia phả thừa kế của dòng họ bằng chữ Hán từ

năm 1526) Trong đó, diện tích xây dựng nhà thờ

họ là 250m2 Diện tích còn lại được giao cho người

có nhiệm vụ quản lý, trông coi nhà thờ của họ Cha

anh L là trưởng họ đời thứ 12 nên được phép ở trên

Trang 24

một số điều của Luật thuế sử dụng đất phi nông

nghiệp thì chỉ phần diện tích đất có các công trình

xây dựng nói trên mới thuộc trường hợp không chịu

thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Người nộp thuế đăng ký, khai, tính và nộp

thuế tại cơ quan thuế huyện, quận, thị xã, thành

phố thuộc tỉnh hoặc khai thuế, nộp thuế tại cơ

quan, cá nhân được cơ quan thuế ủy quyền theo

quy định của pháp luật (gọi chung là cơ quan thuế

cấp huyện) nơi có quyền sử dụng đất

Cách tính:

Số thuế phải nộp (đồng) = Số thuế

phát sinh (đồng) - Số thuế được miễn,

giảm (đồng) (nếu có)

Số thuế phát sinh (đồng) = Diện tích đất

tính thuế (m 2 ) x Giá của 1m 2 (đồng/m 2 ) x

Thuế suất (%)

Trong đó:

+ Giá của 1m2 đất tính thuế là giá đất theo mục

đích sử dụng của thửa đất tính thuế do Ủy ban

nhân dân cấp tỉnh quy định và được ổn định theo

chu kỳ 5 năm, kể từ ngày 01/01/2012

+ Thuế suất:

Bậc

thuế Diện tích đất tính thuế (m 2 )

Thuế suất (%)

1 Diện tích trong hạn mức 0,03

Bậc thuế Diện tích đất tính thuế (m 2 )

Thuế suất (%)

2 Phần diện tích vượt không quá

sử dụng đất phi nông nghiệp và vẫn phải nộp thuế theo quy định của pháp luật

Ngày đăng: 19/04/2022, 10:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w