1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lượng giá giá trị làng cổ Đường Lâm bằng phương pháp chi phí du hành cá nhân và phương pháp định giá ngẫu nhiên

15 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 415,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu định giá giá trị của Làng cổ Đường Lâm là một điều cần thiết, vừa giúp cho người dân bản địa có nguồn thu nhập kinh tế vững chắc, vừa bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa, truyền thống đã tồn tại từ lâu đời tại địa phương.

Trang 1

LƯỢNG GIÁ GIÁ TRỊ LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU HÀNH CÁ NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ NGẪU NHIÊN

Phạm Thị Linh, Nguyễn Thành Đạt

Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội,

144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

Tóm tắt: Làng cổ Đường Lâm được biết đến là một trong năm ngôi làng cổ nhất Việt

Nam, thuộc thị xã Sơn Tây - Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 44km Năm

2006, Làng cổ Đường Lâm trở thành làng cổ đầu tiên được Nhà nước trao bằng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia Nhận thấy giá trị to lớn của làng cổ, nhóm tác giả đã lượng giá giá trị Làng cổ Đường Lâm bằng phương pháp chi phí du hành cá nhân (ITCM) và phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) Giá trị sử dụng và phi sử dụng của Làng cổ lần lượt được đo lường bằng hai phương pháp ITCM, CVM và ước tính tổng giá trị kinh

tế (TEV) của Làng cổ Đường Lâm là khoảng 592,6 tỷ đồng Số liệu này sẽ giúp người dân nhận thức được giá trị các di sản văn hóa tại Làng cổ, có ý thức hơn trong việc phát triển, bảo tồn di sản, tham gia mô hình du lịch cộng đồng Đồng thời, các nhà quản lý

sẽ lựa chọn được chính sách, cơ chế quản lý phù hợp với điều kiện hiện tại của di tích

và phân bổ nguồn lực hợp lý, giúp lưu giữ các di sản tại Làng cổ Đường Lâm

Từ khóa: Làng cổ Đường Lâm, lượng giá, chi phí du hành cá nhân, định giá ngẫu nhiên, tổng giá trị kinh tế

1 GIỚI THIỆU

Giá trị di sản là các giá trị lịch sử, tinh thần, thẩm mỹ, biểu tượng và xã hội của một loại tài sản như công trình kiến trúc, cảnh quan, văn hóa phi vật thể… Di sản không những được coi là nền tảng của nền văn hóa của từng khu vực, đóng một vai trò quan trọng trong chính trị, xã hội, kinh doanh và thế giới quan mà còn đem lại những lợi ích cũng vô cùng lớn cho nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là nhóm ngành du lịch

“Cổ trấn bị lãng quên’’ - Đường Lâm hay “Làng cổ Đường Lâm’’ được biết đến

là một trong 5 ngôi làng cổ nhất Việt Nam, thuộc thị xã Sơn Tây, nằm cách 44 km về

 Tác giả liên hệ: 0986 876 005

Email: linhpt.rces@gmail.com

Trang 2

phía tây của trung tâm thành phố Hà Nội Đây là ngôi làng tiêu biểu đang sở hữu hàng trăm ngôi nhà cổ, với những ngôi nhà có tuổi thọ 300 năm còn tồn tại Vào năm 2005, Làng cổ Đường Lâm trở thành làng cổ đầu tiên cả nước được công nhận là di tích cấp quốc gia Với lợi thế kể trên, Làng cổ Đường Lâm đang triển khai mô hình phát triển

du lịch theo hướng bền vững là du lịch di sản với mục đích vừa bảo tồn được những gì đang có, vừa cải thiện đời sống của người dân Chính quyền thị xã Sơn Tây chú trọng bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa được tuy nhiên chưa thực sự mang lại hiệu quả

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, nhóm nghiên cứu thấy rằng việc nghiên cứu định giá giá trị của Làng cổ Đường Lâm là một điều cần thiết, vừa giúp cho người dân bản địa có nguồn thu nhập kinh tế vững chắc, vừa bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa, truyền thống đã tồn tại từ lâu đời tại địa phương

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan tài liệu về lượng giá di sản

2.1.1 Phương pháp chi phí du hành

Nitanan và cộng sự (2013) đã phát triển mô hình nhu cầu dành riêng cho khách quốc tế đến Kilim Karst Mô hình TCM có mức độ phù hợp thấp nên nghiên cứu đã thay đổi mô hình TCM truyền thống bằng việc chỉnh sửa và sử dụng các biến: chi phí

đi lại chi phí tại chỗ, thời gian tại chỗ, chi phí đến các địa điểm thay thế, chất lượng của địa điểm, mức độ sẵn lòng chi trả (WTP) và các biến nhân khẩu học xã hội (bao gồm

độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, và tổng thu nhập hàng tháng của khách viếng thăm) Jalla và Nandasiri (2015) chứng minh các biến số cá nhân và nhân khẩu học như tuổi tác, tổng thu nhập hàng tháng, giới tính, trình độ học vấn và tình trạng dân cư có ảnh hưởng lớn đến mức độ sẵn lòng chi trả (WTP) trung bình của khách du lịch cho các lợi ích giải trí Mohammadi và cộng sự (2014) nhấn mạnh các biến thời gian, chi phí đi lại, tuổi tác và trình độ học vấn là các biến hiệu quả, tuy nhiên không có mối quan hệ nào giữa số lượng du khách thăm viếng với thu nhập

Trong công trình nghiên cứu của mình Jalla và cộng sự (2015) đã ước tính giá trị kinh tế của hồ Pilikula bằng phương pháp ZTCM thông qua ba loại chi phí là chi phí

Trang 3

đi lại một chiều, chi phí chuyến đi (gồm chi phí vé vào cửa, ăn uống, tham quan và chụp ảnh, chèo thuyền ) và chi phí cơ hội tính từ thu nhập hàng tháng, giá trị được xác định bởi phương pháp CVM thông qua các câu hỏi gợi mở trong bảng khảo sát Cùng quan điểm đó, Jalla và Nandasiri (2015), Christos và cộng sự (2014) cũng cho rằng chi phí

du lịch bao gồm chi phí đi lại, vé vào cổng, ăn ở và chi phí cơ hội tính theo thu nhập Kết quả nghiên cứu của Jalla và cộng sự (2015) cho thấy WTP trung bình được tính từ CVM thấp hơn rất nhiều so với TCM, nguyên nhân được xác định là cách tiếp cận khác nhau giữa hai phương pháp và thông tin cho CVM khó lấy và kém chính xác hơn so với TCM

Trương Thị Cẩm Anh và Nguyễn Viết Đăng (2016) xác định giá trị kinh tế của khu du lịch Thiên Cầm ở tỉnh Hà Tĩnh bằng phương pháp TCM Nghiên cứu đã chỉ ra khoảng cách càng ngắn thì tỷ lệ dân cư của vùng tới thăm điểm du lịch càng cao Tổng chi phí du lịch của du khách có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng và tỷ lệ thuận với khoảng cách Tác giả đã ước lượng hàm cầu du lịch bằng mô hình hàm cầu VR = a + b.TC (trong đó VR là tỷ lệ du khách mỗi vùng, TC là tổng chi phí du lịch), từ đó ước tính được giá trị tiềm năng của khu du lịch, so sánh với giá trị thực tế và đưa ra giải pháp tăng thu nhập, nâng cao giá trị kinh tế khu du lịch Trong nghiên cứu này, chi phí

du lịch bao gồm chi phí đi lại, chi phí ăn uống - nghỉ ngơi, và một số chi phí khác như chi phí mua đồ lưu niệm, vui chơi giải trí… Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu đưa ra quan điểm những chi phí dành cho ăn uống, nghỉ ngơi, mua đồ lưu niệm, vui chơi giải trí đem lại ích lợi riêng cho du khách, nên không tính vào chi phí du hành Pawinee

và cộng sự (2005) cho rằng chi phí du lịch được tính bằng chi phí di chuyển và chi phí hoạt động tại khu du lịch Jalla và Nandasiri (2015) cho rằng chi phí đi lại một chiều được tính từ khoảng cách xuất phát đến địa điểm du lịch và loại phương tiện đã được

sử dụng, thời gian bao gồm cả thời gian di chuyển và thời gian tại địa điểm du lịch, và chi phí thời gian được tính từ tổng thu nhập hàng tháng của du khách Centeno và Prieto (2000) đề xuất rằng có thể tính phần chi phí gia tăng (ví dụ chênh lệch giá bữa ăn ở nhà

và ở nhà hàng) trong chi phí du hành Zhang và cộng sự (2015) cho rằng chi phí lưu trú chỉ nên được tính vào chi phí du hành nếu thời gian lưu trú tại điểm du lịch dài Nghiên cứu của Trương Thị Cẩm Anh và Nguyễn Viết Đăng (2016) cũng chưa chú trọng đến khách du lịch quốc tế mặc dù đối tượng khách du lịch này đang có tiềm năng phát triển

Trang 4

Nghiên cứu của Bùi Đại Dũng và cộng sự (2019) ứng dụng phương pháp chi phí

du hành vùng và hệ số sức mua tương đương (PPP) để định giá di sản Hội An Với phương pháp ZTCM, nhóm nghiên cứu chia vùng theo các châu lục và xác định giá trị khu vực bằng: giá vé thăm quan, chi phí đi lại, chi phí cơ hội thời gian Tuy nhiên một

số công trình khác lại chia vùng theo khoảng cách tính từ khu vực nghiên cứu đến địa điểm xuất phát của du khách Trần Thị Thu Hà và cộng sự (2006) phân vùng theo khoảng cách đến vườn Quốc gia Ba Bể và Hồ Thác Bà Phương pháp ZTCM có nhược điểm là khi áp dụng vào di sản thế giới thì không ước tính được hệ số lợi ích cận biên của khách du lịch để xây dựng đường cầu Vì thế, Bùi Đại Dũng và cộng sự (2019) đã điều chỉnh ZTCM cho phù hợp với hoàn cảnh là sử dụng hệ số PPP để tăng độ chính xác khi xây dựng đường cầu Sau khi điều chỉnh phương pháp, kết quả nghiên cứu đã phản ánh chính xác hơn giá trị của Hội An

2.1.2 Phương pháp định giá ngẫu nhiên

Bằng phương pháp TCM và CVM, Jalla và cộng sự (2015) đã đánh giá được giá trị kinh tế của hồ Pilikula Theo tác giả, CVM được sử dụng để ước tính giá trị kinh tế cho tất cả các loại hệ sinh thái và các dịch vụ môi trường, CVM có thể được sử dụng để ước tính cả giá trị sử dụng và không sử dụng Công trình nghiên cứu đã thông qua phương tiện xác định các yếu tố kinh tế xã hội và nhân khẩu học ảnh hưởng đến thặng

dư tiêu dùng cá nhân/WTP WTP chịu ảnh hưởng của các yếu tố: khoảng cách từ địa điểm xuất phát đến khu du lịch, tuổi của du khách, giới tính, tình trạng hôn nhân, thu nhập hàng tháng, tình trạng học vấn được biểu thị dưới dạng hàm sau: WTP = f (D, A,

G, RS, I, E) Các biến phụ thuộc sẽ thay đổi cho từng loại đối tượng mà đề tài hướng đến, như trong việc đánh giá kinh tế của một quần thể di tích lịch sử tại một nước đang phát triển

Andrea và cộng sự (2011) đã khảo sát mức sẵn lòng quyên góp của người dân cho một tổ chức phi lợi nhuận chịu trách nhiệm bảo tồn di sản này Kết quả cho thấy người dân sẽ sẵn sàng trả một mức khoảng 21,81 đô-la cho công tác bảo tồn Đây là mức giá chung cuối cùng mà một người có thể chi trả, nó phụ thuộc vào các biến gồm

sự yêu thích di sản văn hóa; trải nghiệm của người được phỏng vấn đã đến địa điểm hoặc chưa, số lần đến và tiêu dùng hàng hóa văn hóa Mousumi và cộng sự (2007) cũng

Trang 5

đánh giá một di sản, tuy nhiên thì WTP trong công trình lại phụ thuộc vào nhiều biến hơn của Andrea và cộng sự Tác giả cho rằng thái độ của người trả lời, trình độ học vấn, thu nhập gia đình, tôn giáo, các hiểu biết về địa điểm, số lần đến… là những biến sẽ ảnh hưởng đến WTP Khi sử dụng CVM để tìm ra mức WTP mà người dân tại các địa điểm khác nhau đã được lựa chọn cho một tài sản, José và cộng sự (2014) đã cho thấy rằng các giá trị phi sử dụng có thể không phụ thuộc vào khoảng cách Hay Ponce và cộng sự (2011) thì lại cho thấy khoảng cách từ các nơi đến vị trí của con đập khu vực phía Nam Chile lại ảnh hưởng nhiều đến mức WTP Các nghiên cứu trên cho thấy rằng các giá trị phụ thuộc cho WTP của địa điểm này sẽ có sự thay đổi đối với địa điểm khác và đã cho thấy rằng CVM là phương pháp nổi trội khi đánh giá giá trị phi sử dụng của các tài sản môi trường

2.2 Cơ sở lý luận về di sản, du lịch cộng đồng và tổng giá trị kinh tế

2.2.1 Di sản

Định nghĩa ngắn gọn của UNESCO thì di sản là các di tích, các địa điểm mang giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật Theo vậy, “Làng cổ” mang nghĩa là nơi cư trú của một cộng đồng dân cư đã tồn tại từ lâu đời, nơi đây chứa đựng và vẫn giữ được nét đẹp truyền thống và có những công trình kiến trúc cổ, có dáng vẻ già nua, rêu phong

2.2.2 Du lịch cộng đồng

Theo định nghĩa của VIRI: “Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung thông qua việc giới thiệu du khách các nét đặc trưng của địa phương (phong cảnh, văn hóa )”

2.2.3 Tổng giá trị kinh tế

Theo lý thuyết kinh tế, tổng giá trị kinh tế (TEV) của các yếu tố tài nguyên môi trường là tổng giá trị sử dụng và phi sử dụng của tài nguyên môi trường đó

Khái niệm về tổng giá trị kinh tế - TEV vào cuối thế kỷ XX do trường London cung cấp trong trường hợp chủ đề là môi trường được trình bày ở Hình 1

Trang 6

Hình 1 Khái niệm TEV của môi trường

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Tuy nhiên, khi sử dụng khái niệm TEV cho di sản văn hóa, Throsby (2007) đã thay đổi thành phần của giá trị sử dụng và phi sử dụng Đối với giá trị sử dụng, Throsby (2007) cho rằng chỉ có giá trị sử dụng trực tiếp di sản thông qua các dịch vụ, ngoài ra không còn giá trị nào khác Tại giá trị phi sử dụng thì có thêm giá trị tùy chọn

Tổng hợp các quan điểm về tổng giá trị kinh tế, nhóm nghiên cứu đã đưa ra kết luận về cách tính tổng quát TEV của di sản văn hóa như sau:

TEV = UV + NUV (1)

UV = DUV (2) NUV = EV + BV + OP (3) Trong đó:

UV (Use Value): Giá trị sử dụng

NUV (Non-Use Value): Giá trị phi sử dụng

DUV (Direct Use Value): Giá trị sử dụng trực tiếp

EV (Existence Value - EV): Giá trị tồn tại

BV (Bequest Value - BV): Giá trị để lại

OP (Option Value - OP): Giá trị tùy chọn

Trang 7

2.3 Phương pháp nghiên cứu về lượng giá di sản

2.3.1 Phương pháp chi phí du hành

Phương pháp chi phí du hành được dùng để định giá giá trị kinh tế của hàng hóa môi trường thông qua sự sử dụng hàng hóa hay dịch vụ của môi trường, thường là các địa điểm giải trí TCM có ba phương pháp tiếp cận là: ITCM - phương pháp chi phí du hành cá nhân, ZTCM - phương pháp chi phí du hành vùng và RUTCM - chi phí du hành tiện ích ngẫu nhiên, tùy theo tính chất của công trình nghiên cứu thì sẽ chọn được phương pháp phù hợp Trong công trình nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu tập trung vào hai cách tiếp cận chính là ITCM và ZTCM

Phương pháp chi phí du hành vùng (ZTCM) sử dụng biến là số lần đến của du khách từ một vùng trong một khoảng thời gian nhất định Phương pháp này đánh giá giá trị giải trí của địa điểm bằng cách lấy chi phí trung bình nhân tổng số lượt đến của

du khách trong khu vực Tuy nhiên, mỗi du khách sẽ có những đặc điểm khác nhau ảnh hưởng đến chi phí du lịch nên kết quả tính toán có thể không chính xác

Phương pháp chi phí du hành cá nhân (ITCM) là việc sử dụng phương pháp chi phí du hành với biến là số lần đến của du khách trong một khoảng thời gian nhất định

Để áp dụng được ITCM, hai điều kiện thiết yếu cần được đảm bảo là: Địa điểm đó phải

có lượng du khách lớn và mẫu không đồng nhất Phương pháp này cần khảo sát chi tiết

du khách, do đó thời gian thu thập, số lượng dữ liệu cũng lớn hơn và phân tích cũng phức tạp hơn so với ZTCM Tuy nhiên, số liệu từ ITCM thì chính xác hơn ZTCM Công trình nghiên cứu lượng giá giá trị kinh tế của Làng cổ Đường Lâm được sử dụng theo phương pháp này Các bước thực hiện ITCM như ZTCM

2.3.2 Phương pháp định giá ngẫu nhiên

Phương pháp định giá ngẫu nhiên được sử dụng để ước tính giá trị kinh tế cho các loại hàng hóa, dịch vụ của hệ sinh thái và môi trường CVM xác định giá trị của hàng hóa và dịch vụ không được trao đổi trên thị trường, do đó nó không có giá và được

sử dụng chủ yếu cho nhóm giá trị phi sử dụng Mô hình hồi quy có biến phụ thuộc là WTP, các biến độc lập khác như thu nhập, tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn… là các

Trang 8

biến số được thu thập trong quá trình điều tra Vì thế, hàm hồi quy cho WTP sẽ có dạng: WTP = f (thu nhập, tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn…)

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Lượng giá giá trị bằng phương pháp ITCM

Mô hình về các yếu tố tác động đến Tần số - số lần du khách đến thăm quan di sản, sử dụng các biến độc lập lần lượt như sau:

Bảng 1 Bảng tổng hợp các biến độc lập và thang đo cho ITCM

vọng

1 Tổng chi phí du

Logarit (Tổng chi phí du lịch cá

2 Thu nhập cá

3 Mục đích học

tập, công việc HTCV

Biến giả: Bằng 1 khi du khách đến Làng cổ Đường Lâm với mục đích học tập, công việc và bằng 0 khi du khách đến Làng cổ Đường Lâm với mục đích khác

+

4 Yêu thích lịch

Biến giả: Bằng 1 khi du khách là người yêu thích lịch sử văn hóa và bằng 0 khi du khách không phải là người yêu thích lịch sử văn hóa

+

5

Thích hoạt

động chụp ảnh

tại làng cổ

CATLC

Biến giả: Bằng 1 khi du hoạt động

du khách thích nhất tại làng cổ là chụp ảnh và bằng 0 khi hoạt động

du khách thích nhất tại làng cổ không phải là chụp ảnh

+

Trang 9

6 Giới tính GT

Biến giả: Bằng 1 khi giới tính du khách là nam và bằng 0 khi giới tính du khách là nữ

+

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Kết quả mô hình thu được chỉ ra các biến Ln(TCP), CATLC đều có tác động ngược chiều tới biến TS và có dạng:

TS= 3,048 – 0,165*Ln(TCP) – 0,173*CATLC (4) Tiến hành tính giá trị thặng dư cho từng du khách, nhóm nghiên cứu sau khi thử các cách tính khác nhau thì đã sử dụng công thức sau để ước tính giá trị thặng dư cá nhân:

𝐶𝑆 = 0 ∗ 𝑇𝐶𝑃𝑖 − 1 ∗ 𝑇𝐶𝑃𝑖 ∗ (ln(𝑇𝐶𝑃𝑖 − 1)) Trong đó:

0: Hệ số chặn của (4)

1: Hệ số của Ln(TCP)

𝑇𝐶𝑃𝑖: Tổng chi phí của cá nhân thứ i

Thay vào công thức trên nhóm đã tìm ra được giá trị thặng dư trung bình của một

cá nhân là 2,245,241.909 đồng Để tính được tổng giá trị thặng dư của du khách, nhóm

đã ước tính số lượng khách trung bình đến Làng cổ Đường Lâm trong vòng từ 2015 –

2019 là 137,000 người Như vậy sẽ có tổng giá trị thặng dư là:

TCS = Số lượng du khách ∗ CS = 3,076 ∗ 1011 = 307,6 tỷ đồng

Sau khi ước tính giá trị sử dụng của Làng cổ Đường Lâm bằng phương pháp TCM, nhóm đã đưa ra được kết quả là 307,6 tỷ đồng

3.2 Lượng giá giá trị bằng phương pháp CVM

Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến mức độ sẵn lòng chi trả cho việc bảo tồn các di tích lịch sử sử dụng lần lượt các biến độc lập như sau:

Trang 10

Bảng 2 Bảng tổng hợp các biến độc lập và thang đo cho CVM

vọng

2 Tình trạng hôn nhân TTHN Bằng 1 nếu đã kết hôn, bằng

3 Giữ gìn di tích lịch sử GGDTLS

Biến giả: Bằng 1 nếu lý do là giữ gìn di tích lịch sử, bằng 0

là ngược lại

+

Biến giả: Bằng 1 là lý do để lại thế hệ sau, bằng 0 là ngược lại

+

5 Nghiên cứu khoa học NCKH

Biến giả: Bằng 1 nếu mục đích của du khách là NCKH, bằng 0 nếu ngược lại

+

Biến giả: Bằng 1 nếu mục đích của khu khách là TQDL, bằng 0 nếu ngược lại

+

7 Tìm hiểu văn hóa lịch

Biến giả: Bằng 1 nếu là THVHLS và bằng 0 là ngược lại

+

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Kết quả mô hình chỉ ra rằng có 4 biến độc lập Ln(TN), GGDTLS, DLTHS, NCKH có tác động đến mức độ sẵn lòng chi trả để bảo tồn Làng cổ Đường Lâm và có dạng:

Ln(STBT) = 2,969+ 0,414*Ln(TN) + 1,899*GGDTLS + 1,607*DLTHS – 0,821*NCKH

Từ số liệu mẫu khảo sát thu thập được, tính số tiền trung bình các cá nhân sẵn sàng chi trả để bảo tồn Làng cổ Đường Lâm với công thức:

Ngày đăng: 10/03/2022, 09:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A. B. Centeno et al. (2000), "The Travel Cost Method Applied to the Valuation of the Historic and Cultural Heritage of the Castile-León Region of Spain", European Regional Science Association, pp. 1 - 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Travel Cost Method Applied to the Valuation of the Historic and Cultural Heritage of the Castile-León Region of Spain
Tác giả: A. B. Centeno et al
Năm: 2000
2. Andrea Báez-Montenegro et al. (2011), "Inhabitants’ willingness to pay for cultural heritage: a case study in Valdivia, Chile, using contingent valuation", Journal of Applied Economics, vol. 15 (2), p. 235–258 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inhabitants’ willingness to pay for cultural heritage: a case study in Valdivia, Chile, using contingent valuation
Tác giả: Andrea Báez-Montenegro et al
Năm: 2011
3. B. Jacinthe (2000), "La construction sociale du patrimoine gastronomique: l’émergence de terroirs de valorisation”, Tourisme No 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: La construction sociale du patrimoine gastronomique: l’émergence de terroirs de valorisation
Tác giả: B. Jacinthe
Năm: 2000
4. Christos Tourkolias and partners (2015), "Application of the travel cost method for the valuation of the Poseidon temple in Sounio, Greece", Journal of Cultural Heritage, vol. 16 (4), pp. 567 - 574 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Application of the travel cost method for the valuation of the Poseidon temple in Sounio, Greece
Tác giả: Christos Tourkolias and partners
Năm: 2015
5. Christopher M. Fleming (2008), "The recreational value of Lake McKenzie, Fraser Island: An application of the travel cost method", Tourism Management, vol. 29 (06), pp. 1197 - 1205 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The recreational value of Lake McKenzie, Fraser Island: An application of the travel cost method
Tác giả: Christopher M. Fleming
Năm: 2008
7. Fan Zhang et al. (2015), "The recreational value of gold coast beaches, Australia: An application of the travel cost method", Ecosystem Services, vol.11, pp. 106 - 114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The recreational value of gold coast beaches, Australia: An application of the travel cost method
Tác giả: Fan Zhang et al
Năm: 2015
8. Gianluca Grilli et al. (2017), "The: A travel cost method estimation of demand for two destination salmon rivers in Ireland, ESRI Working Paper", The Economic and Social Research Institute (ESRI), Dublin Sách, tạp chí
Tiêu đề: The: A travel cost method estimation of demand for two destination salmon rivers in Ireland, ESRI Working Paper
Tác giả: Gianluca Grilli et al
Năm: 2017
9. J. Armbrecht (2014), "Use value of cultural experiences: A comparison of contingent valuation and travel cost", Tourism Management, vol. 42, p. 141–148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Use value of cultural experiences: A comparison of contingent valuation and travel cost
Tác giả: J. Armbrecht
Năm: 2014
10. Jala and L. Nandagiri (2015), "Evaluation of Economic Value of Pilikula Lake using Travel Cost and Contingent Valuation Methods", Aquatic Procedia 4 (2015), pp. 1315 - 1321 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of Economic Value of Pilikula Lake using Travel Cost and Contingent Valuation Methods
Tác giả: Jala and L. Nandagiri (2015), "Evaluation of Economic Value of Pilikula Lake using Travel Cost and Contingent Valuation Methods", Aquatic Procedia 4
Năm: 2015
11. José Barrena et al. (2014), "Valuing cultural ecosystem services: Agricultural heritage in Chiloé island, southern Chile", Ecosystem Services, pp. 66 - 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Valuing cultural ecosystem services: Agricultural heritage in Chiloé island, southern Chile
Tác giả: José Barrena et al
Năm: 2014
12. K. G. Willis and partners (1991), “An indivisual travel cost method of evaluating forest recreation”, Journal of Agricultural Economics, vol. 42 (1), pp. 33 - 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An indivisual travel cost method of evaluating forest recreation”, "Journal of Agricultural Economics
Tác giả: K. G. Willis and partners
Năm: 1991
13. M. Vecco (2010), “A definition of cultural heritage: From the tangible to the intangible”, Journal of Cultural Heritage, vol. 11 (3), pp. 321 - 324 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A definition of cultural heritage: From the tangible to the intangible”, "Journal of Cultural Heritage
Tác giả: M. Vecco
Năm: 2010
14. Mousumi Dutta et al. (2007), "Untapped demand for heritage: A contingent valuation study of Prinsep Ghat," Tourism Management, vol. 28(1), p. 83–95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Untapped demand for heritage: A contingent valuation study of Prinsep Ghat
Tác giả: Mousumi Dutta et al
Năm: 2007
15. Nitanan Koshy Matthew et al. (2013), "Demand model of international visitors to the Kilim Karst Geoforest Park, Langkawi: Application of ITCM model", Journal of Applied Economics and Business, vol. 1, no. 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Demand model of international visitors to the Kilim Karst Geoforest Park, Langkawi: Application of ITCM model
Tác giả: Nitanan Koshy Matthew et al
Năm: 2013
16. Roberto Ponce et al. (2011), " Estimating the economic value of landscape losses due to flooding by hydropower plants in the Chilean Patagonia ", Water Resources Management, ,vol. 25, p. 2449–2466 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Estimating the economic value of landscape losses due to flooding by hydropower plants in the Chilean Patagonia
Tác giả: Roberto Ponce et al
Năm: 2011
17. S. Mohammadi Limaei et al. (2014), "Economic evaluation of natural forest park using the travel cost method (case study; Masouleh forest park, north of Iran", Journal of Forest Science, p. 254–261 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic evaluation of natural forest park using the travel cost method (case study; Masouleh forest park, north of Iran
Tác giả: S. Mohammadi Limaei et al
Năm: 2014
18. Sindy Menendez Carbo et al. (2020), "The economic value of Malecón 2000 in Guayaquil, Ecuador: An application of the travel cost method", Tourism Management Perspectives Sách, tạp chí
Tiêu đề: The economic value of Malecón 2000 in Guayaquil, Ecuador: An application of the travel cost method
Tác giả: Sindy Menendez Carbo et al
Năm: 2020
19. Valentino Marini Goviglia et al. (2019), “Zonal travel cost approaches to assess recreational wild mushroom picking value: Trade-offs between online and onsite data collection strategies”, Forest Policy and Economics, vol. 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zonal travel cost approaches to assess recreational wild mushroom picking value: Trade-offs between online and onsite data collection strategies"”, Forest Policy and Economics
Tác giả: Valentino Marini Goviglia et al
Năm: 2019

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w