1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Giáo trình Kí sinh trùng

299 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Ký Sinh Trùng
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Ký Sinh Trùng
Thể loại Giáo Trình
Định dạng
Số trang 299
Dung lượng 6,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhân bệnh là gì? Quan điểm khoa học về nguyên nhân bệnh? Nguyên nhân bệnh là yếu tố có hại, khi tác động lên cơ thể sẽ quyết định bệnh phát sinh và các đặc điểm phát triển của bệnh. NNB lan rộng theo 3 con đường: (1) Mô bào: lan từ nơi phát bệnh ra xung quanh (2) Thể dịch: chất tiết theo máu và dịch lympho lan rộng đến các cơ quan khác nhau (3) Thần kinh: lan theo giây thần kinh Quan điểm khoa học về NNB: • NNB có vai trò quyết định, điều kiện gây bệnh phát huy tác dụng của NNB • Yếu tố gây bệnh phải đạt tới một cường độ nhất định mới có thể gây bệnh ð Khi có NNB => bệnh sẽ phát ra trong những điều kiện nhất định; đủ ĐKGB mà không có NNB => không thể phát bệnh. • Trong những điều kiện nhất định NNB có thể trở thành ĐKGB (dinh dưỡng kém là NNB của suy dinh dưỡng; thiếu vitamin là NNB của bệnh thiếu vitamin nhưng lại là ĐKGB của các bệnh do suy giảm miễn dịch). Mối quan hệ nhân quả trong nguyên nhân bệnh học: • Mỗi bệnh đều do 1 nguyên nhân gây ra => nguyên nhân có trước hậu quả. Ngnhân bệnh là gì? Quan điểm khoa học về nguyên nhân bệnh? Nguyên nhân bệnh là yếu tố có hại, khi tác động lên cơ thể sẽ quyết định bệnh phát sinh và các đặc điểm phát triển của bệnh. NNB lan rộng theo 3 con đường: (1) Mô bào: lan từ nơi phát bệnh ra xung quanh (2) Thể dịch: chất tiết theo máu và dịch lympho lan rộng đến các cơ quan khác nhau (3) Thần kinh: lan theo giây thần kinh Quan điểm khoa học về NNB: • NNB có vai trò quyết định, điều kiện gây bệnh phát huy tác dụng của NNB • Yếu tố gây bệnh phải đạt tới một cường độ nhất định mới có thể gây bệnh ð Khi có NNB => bệnh sẽ phát ra trong những điều kiện nhất định; đủ ĐKGB mà không có NNB => không thể phát bệnh. • Trong những điều kiện nhất định NNB có thể trở thành ĐKGB (dinh dưỡng kém là NNB của suy dinh dưỡng; thiếu vitamin là NNB của bệnh thiếu vitamin nhưng lại là ĐKGB của các bệnh do suy giảm miễn dịch). Mối quan hệ nhân quả trong nguyên nhân bệnh học: • Mỗi bệnh đều do 1 nguyên nhân gây ra => nguyên nhân có trước hậu quả. Ngnhân bệnh là gì? Quan điểm khoa học về nguyên nhân bệnh? Nguyên nhân bệnh là yếu tố có hại, khi tác động lên cơ thể sẽ quyết định bệnh phát sinh và các đặc điểm phát triển của bệnh. NNB lan rộng theo 3 con đường: (1) Mô bào: lan từ nơi phát bệnh ra xung quanh (2) Thể dịch: chất tiết theo máu và dịch lympho lan rộng đến các cơ quan khác nhau (3) Thần kinh: lan theo giây thần kinh Quan điểm khoa học về NNB: • NNB có vai trò quyết định, điều kiện gây bệnh phát huy tác dụng của NNB • Yếu tố gây bệnh phải đạt tới một cường độ nhất định mới có thể gây bệnh ð Khi có NNB => bệnh sẽ phát ra trong những điều kiện nhất định; đủ ĐKGB mà không có NNB => không thể phát bệnh. • Trong những điều kiện nhất định NNB có thể trở thành ĐKGB (dinh dưỡng kém là NNB của suy dinh dưỡng; thiếu vitamin là NNB của bệnh thiếu vitamin nhưng lại là ĐKGB của các bệnh do suy giảm miễn dịch). Mối quan hệ nhân quả trong nguyên nhân bệnh học: • Mỗi bệnh đều do 1 nguyên nhân gây ra => nguyên nhân có trước hậu quả. Ngnhân bệnh là gì? Quan điểm khoa học về nguyên nhân bệnh? Nguyên nhân bệnh là yếu tố có hại, khi tác động lên cơ thể sẽ quyết định bệnh phát sinh và các đặc điểm phát triển của bệnh. NNB lan rộng theo 3 con đường: (1) Mô bào: lan từ nơi phát bệnh ra xung quanh (2) Thể dịch: chất tiết theo máu và dịch lympho lan rộng đến các cơ quan khác nhau (3) Thần kinh: lan theo giây thần kinh Quan điểm khoa học về NNB: • NNB có vai trò quyết định, điều kiện gây bệnh phát huy tác dụng của NNB • Yếu tố gây bệnh phải đạt tới một cường độ nhất định mới có thể gây bệnh ð Khi có NNB => bệnh sẽ phát ra trong những điều kiện nhất định; đủ ĐKGB mà không có NNB => không thể phát bệnh. • Trong những điều kiện nhất định NNB có thể trở thành ĐKGB (dinh dưỡng kém là NNB của suy dinh dưỡng; thiếu vitamin là NNB của bệnh thiếu vitamin nhưng lại là ĐKGB của các bệnh do suy giảm miễn dịch). Mối quan hệ nhân quả trong nguyên nhân bệnh học: • Mỗi bệnh đều do 1 nguyên nhân gây ra => nguyên nhân có trước hậu quả. Ngnhân bệnh là gì? Quan điểm khoa học về nguyên nhân bệnh? Nguyên nhân bệnh là yếu tố có hại, khi tác động lên cơ thể sẽ quyết định bệnh phát sinh và các đặc điểm phát triển của bệnh. NNB lan rộng theo 3 con đường: (1) Mô bào: lan từ nơi phát bệnh ra xung quanh (2) Thể dịch: chất tiết theo máu và dịch lympho lan rộng đến các cơ quan khác nhau (3) Thần kinh: lan theo giây thần kinh Quan điểm khoa học về NNB: • NNB có vai trò quyết định, điều kiện gây bệnh phát huy tác dụng của NNB • Yếu tố gây bệnh phải đạt tới một cường độ nhất định mới có thể gây bệnh ð Khi có NNB => bệnh sẽ phát ra trong những điều kiện nhất định; đủ ĐKGB mà không có NNB => không thể phát bệnh. • Trong những điều kiện nhất định NNB có thể trở thành ĐKGB (dinh dưỡng kém là NNB của suy dinh dưỡng; thiếu vitamin là NNB của bệnh thiếu vitamin nhưng lại là ĐKGB của các bệnh do suy giảm miễn dịch). Mối quan hệ nhân quả trong nguyên nhân bệnh học: • Mỗi bệnh đều do 1 nguyên nhân gây ra => nguyên nhân có trước hậu quả. Ngnhân bệnh là gì? Quan điểm khoa học về nguyên nhân bệnh? Nguyên nhân bệnh là yếu tố có hại, khi tác động lên cơ thể sẽ quyết định bệnh phát sinh và các đặc điểm phát triển của bệnh. NNB lan rộng theo 3 con đường: (1) Mô bào: lan từ nơi phát bệnh ra xung quanh (2) Thể dịch: chất tiết theo máu và dịch lympho lan rộng đến các cơ quan khác nhau (3) Thần kinh: lan theo giây thần kinh Quan điểm khoa học về NNB: • NNB có vai trò quyết định, điều kiện gây bệnh phát huy tác dụng của NNB • Yếu tố gây bệnh phải đạt tới một cường độ nhất định mới có thể gây bệnh ð Khi có NNB => bệnh sẽ phát ra trong những điều kiện nhất định; đủ ĐKGB mà không có NNB => không thể phát bệnh. • Trong những điều kiện nhất định NNB có thể trở thành ĐKGB (dinh dưỡng kém là NNB của suy dinh dưỡng; thiếu vitamin là NNB của bệnh thiếu vitamin nhưng lại là ĐKGB của các bệnh do suy giảm miễn dịch). Mối quan hệ nhân quả trong nguyên nhân bệnh học: • Mỗi bệnh đều do 1 nguyên nhân gây ra => nguyên nhân có trước hậu quả. Ngnhân bệnh là gì? Quan điểm khoa học về nguyên nhân bệnh? Nguyên nhân bệnh là yếu tố có hại, khi tác động lên cơ thể sẽ quyết định bệnh phát sinh và các đặc điểm phát triển của bệnh. NNB lan rộng theo 3 con đường: (1) Mô bào: lan từ nơi phát bệnh ra xung quanh (2) Thể dịch: chất tiết theo máu và dịch lympho lan rộng đến các cơ quan khác nhau (3) Thần kinh: lan theo giây thần kinh Quan điểm khoa học về NNB: • NNB có vai trò quyết định, điều kiện gây bệnh phát huy tác dụng của NNB • Yếu tố gây bệnh phải đạt tới một cường độ nhất định mới có thể gây bệnh ð Khi có NNB => bệnh sẽ phát ra trong những điều kiện nhất định; đủ ĐKGB mà không có NNB => không thể phát bệnh. • Trong những điều kiện nhất định NNB có thể trở thành ĐKGB (dinh dưỡng kém là NNB của suy dinh dưỡng; thiếu vitamin là NNB của bệnh thiếu vitamin nhưng lại là ĐKGB của các bệnh do suy giảm miễn dịch). Mối quan hệ nhân quả trong nguyên nhân bệnh học: • Mỗi bệnh đều do 1 nguyên nhân gây ra => nguyên nhân có trước hậu quả. Ng

Trang 1

1

C `Phần thứ nhất ĐẠI CƯƠNG VỀ KÝ SINH TRÙNG THÚ Y

Chương 1 HIỆN TƯỢNG KÝ SINH VÀ KÝ SINH TRÙNG HỌC Mục đích

Giới thiệu hiện tượng sống ký sinh, ký sinh trùng học, đối tượng, nhiệm vụ của

ký sinh trùng học và những thiệt hại do ký sinh trùng gây ra cho động vật và người

Yêu cầu

Nắm được bản chất, định nghĩa của hiện tượng sống ký sinh của sinh vật, nội dung nghiên cứu, nhiệm vụ của môn học, những thiệt hại do ký sinh trùng gây ra cho động vật

và người

1.1 Hiện tượng ký sinh (Parasitos)

Nghiên cứu lịch sử phát triển của sinh vật cho thấy, buổi đầu các sinh vật đều sống tự do Trải qua thời gian dài biến đổi môi trường sống, một số bị tiêu diệt, một số

bị phân hóa, một số vẫn sống tự do, một số dần trở thành sống ký sinh (sống gửi) hoàn toàn hoặc một phần vào sinh vật khác

Xét về bản chất, hiện tượng ký sinh là một trong những hình thức sinh tồn của sinh vật, là hiện tượng phổ biến trong tự nhiên với đặc điểm: cơ thể sinh vật (vật ký sinh) này sống trên hoặc trong cơ thể sinh vật khác (vật chủ) và sử dụng vật chủ như là môi trường sống và nguồn thức ăn đồng thời thường xuyên liên hệ với môi trường bên ngoài thông qua vật chủ của mình Trong đời sống ký sinh, thức ăn mà ký sinh trùng chiếm đoạt rất khác nhau có thể là thức ăn đang tiêu hóa, có thể là sinh chất như máu

Hiện tượng ký sinh được nhà sinh vật V R Echov định nghĩa như sau: Hiện

tượng ký sinh là mối quan hệ tương hỗ phức tạp giữa hai sinh vật, trong đó một sinh vật được gọi là ký sinh trùng, cư trú tạm thời hay vĩnh viễn ở sinh vật khác được gọi là vật chủ, lấy dịch thể, tổ chức của vật chủ làm thức ăn đồng thời gây hại cho vật chủ

1.2 Ký sinh trùng học

- Định nghĩa về ký sinh trùng

Ký sinh trùng là những sinh vật chiếm sinh chất của các sinh vật khác đang sống để tồn tại và phát triển

- Định nghĩa về ký sinh trùng học

Ký sinh trùng học là môn khoa học nghiên cứu về hiện tượng ký sinh, những bệnh do ký sinh trùng gây ra và biện pháp phòng trừ chúng

1.3 Lịch sử phát triển của ký sinh trùng học

a Sơ lược lịch sử phát triển ký sinh trùng học trên Thế giới

Rất khó để khái quát đúng và đủ về lịch sử phát triển của ngành ký sinh trùng trên Thế giới Theo các tài liệu Y văn, lịch sử của ngành ký sinh trùng đã phát triển qua 5 thời kỳ:

- Thời kỳ từ thế kỷ thứ VII về trước

Ở Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Quốc, Ai Cập, các tác giả Aristoe, Hypocrate đã phát hiện và mô tả về giun đũa, sán dây và giun chỉ

- Thế kỷ thứ VIII đến XI

Thời kỳ này đã phát hiện thêm một số loại ký sinh trùng mới Sau khi khi khoa

Trang 2

2

học mổ tử thi ra đời, đã mô tả được bệnh học ký sinh trùng kỹ hơn

- Thời kỳ từ thế kỷ XII đến thế kỷ XIII

Các nhà khoa học đã phát hiện ra nhiều loài ký sinh trùng, mô tả kỹ và phân loại chúng như Linnaeus đưa ra tiêu chuẩn phân loại, Plater mô tả sán dây, Owen định loại giun xoắn, Leeuwenhoek mô tả đơn bào tự do, Busk phân loại sán lá ruột, Rudolphi phân nhóm giun sán

- Thời kỳ đến giữa thế kỷ XX

Thời kỳ này ngành ký sinh trùng có nhiều bước tiến xa trong nghiên cứu về sinh lý, sinh thái và vòng đời của ký sinh trùng

- Thời kỳ nửa sau thế kỷ XX

Những thành tựu của các khoa học mới như siêu cấu trúc, sinh học phân tử, miễn dịch, bệnh lý học, dược lý, dịch tễ, điều trị và phòng bệnh đã khống chế được một số bệnh ký sinh trùng trong thời kỳ này

b Sơ lược lịch sử phát triển của ký sinh trùng học ở Việt Nam

Lịch sử nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam phân chia theo hai giai đoạn:

Clonorchis sinensis ở người Barrois và Noc phát hiện sán lá Fascilopsis buski

Bauche J và Bemard N Tìm thấy giun tròn Oxyspirura mansoni Galliard H và Đặng

Văn Ngữ đã công bố về sán lá ở người và động vật nuôi Joyeux C., Baer J và Gang J phát hiện sán dây ở chim bồ câu

Blanchard, Carougean, Leger M., Yersin, Bodin, Brau, Levenran, Leger, M & Mathis C, Schein, Lagrangei, Larrousse F., Bergeon P , Borel M., Houdemer E., Jacolot Hoàng Tích Trí, Trương Tuấn Ngọc đã đề cập đến các loài đơn bào họ

Trypanosomatidae ký sinh trong máu gia súc, gia cầm, chim thú hoang, bò sát, lưỡng

cư, cá, côn trùng ve, muỗi, ruồi và mòng

- Từ 1955 đến nay

Sau khi đất nước được giải phóng (1954), và thống nhất (1975), đội ngũ các nhà khoa học nghiên cứu về ký sinh trùng hết sức đông đảo chủ yếu là người Việt Nam với nhiều tác giả như Đặng Văn Ngữ, Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, Đoàn Văn Phúc, Bùi Lập, Phạm Văn Khuê, Phan Lục, Phan Địch Lân, Nguyễn Thị Lê, Phan Thế Viêt, Phạm Sĩ Lăng Lương Tố Thu, Lê Thị Mỹ San và sau này là Lê Ngọc Mỹ, Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Thọ, Lương Văn Huấn, Nguyễn Hữu Hưng và một số tác giả khác Trong giai đoạn này với những kỹ thuật, trang thiết bị đầy đủ và hiện đại đã cơ bản khống chế được nhiều bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi và người

1.4 Đối tượng và nội dung nghiên cứu ký sinh trùng

Trong tự nhiên có rất nhiều loài ký sinh trùng ký sinh và gây bệnh cho thực vật, động vật và người Để thuận lợi cho việc nghiên cứu và phòng chống, người ta phân chia ký sinh trùng theo các đối tượng như sau:

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu của ký sinh trùng

- Ký sinh trùng thực vật (Phytoparasite)

Trang 3

3

Ký sinh trùng thực vật là môn học nghiên cứu những ký sinh trùng thuộc giới thực vật và những bệnh do chúng gây ra cho động vật và thực vật như vi khuẩn, virus, nấm Bệnh do chúng gây ra gọi là bệnh truyền nhiễm

- Ký sinh trùng động vật (Zooparasite)

Ký sinh trùng động vật là môn học nghiên cứu những ký sinh trùng thuộc giới động vật và bệnh do chúng gây ra ở động vật và thực vật

Ký sinh trùng động vật gồm: đơn bào, giun sán, động vật chân đốt ký sinh Bệnh do chúng gây ra gọi là bệnh ký sinh trùng (bệnh xâm nhiễm)

Ký sinh trùng học động vật lại phân chia thành các lĩnh vực khác nhau:

Ký sinh trùng thú y;

Ký sinh trùng y học;

Ký sinh trùng thuỷ sản;

Ký sinh trùng nông nghiệp;

Ký sinh trùng lâm nghiệp;

Ký sinh trùng thú y nghiên cứu các ký sinh trùng thuộc giới động vật ký sinh ở vật nuôi, những bệnh do ký sinh trùng gây ra và biện pháp phòng trừ chúng

1.4.2 Nội dung nghiên cứu ký sinh trùng

Nội dung nghiên cứu của ký sinh trùng thú y gồm:

- Nghiên cứu hình thái học:

Nghiên cứu hình thái học ký sinh trùng nhằm phân loại ký sinh trùng Trước đây nghiên cứu hình thái học chủ yếu dựa vào hình thể bên ngoài Ngày nay nghiên cứu hình thể ký sinh trùng trong phân loại còn dựa vào các yếu tố sâu hơn như siêu cấu trúc, nhiễm sắc thể và gen học, sinh lý, sinh hóa, bệnh học giúp phân loại ngày càng chính xác hơn và đã giải quyết được các vấn đề trước đây chưa được làm rõ

- Nghiên cứu sinh lý, sinh hóa và sinh thái:

Những nghiên cứu về sinh lý, sinh hóa, sinh thái giúp hiểu rõ hơn về bản thân của loài ký sinh trùng cũng như tác hại và bệnh do chúng gây ra từ đó đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả hơn

- Nghiên cứu miễn dịch học trong bệnh ký sinh trùng:

Trong những thập niên gần đây, miễn dịch học đã phát triển mạnh mẽ, nhiều thành tựu trong lĩnh vực này đã dược áp dụng vào lĩnh vực ký sinh trùng và đã thu được nhiều kết quả khả quan trong nghiên cứu kháng nguyên chẩn đoán và vacxin phòng bệnh ký sinh trùng như: vacxin cầu trùng, giun phổi ở vật nuôi, vaccin phòng bệnh roi trùng đường máu ở người Nghiên cứu miễn dịch học còn giúp cho phân loại

ký sinh trùng

- Nghiên cứu dịch tễ học bệnh ký sinh trùng:

Ngày nay nhiều lĩnh vực của dich tễ học được áp dụng trong nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng như: dịch tễ học mô tả, dịch tễ học phân tích, dịch tễ học bệnh và nghiên cứu các yếu tố nguy cơ cũng như thiết kế các nghiên cứu

- Nghiên cứu bệnh học:

Hiện nay thành tựu của các ngành hóa sinh, sinh học phân tử, miễn dịch, giải phẫu bệnh lý, dược học, chẩn đoán hình ảnh đang được áp dụng khá phổ biến trong lĩnh vực ký sinh trùng Nhờ những áp dụng tích cực mà nhiều bệnh ký sinh trùng đã được phát hiện nhanh và chính xác

Trang 4

4

- Nghiên cứu điều trị bệnh:

Nghiên cứu điều trị bệnh ký sinh trùng tập trung chủ yếu vào điều trị cá thể và điều trị cho toàn đàn với việc lựa chọn các loại thuốc ít độc cho vật chủ nhưng rất độc với ký sinh trùng và có phổ tác dụng rộng với nhiều loại ký sinh trùng Tích cực tìm và khai thác các loại thuốc có nguồn gốc từ động vật và thực vật vừa ít độc cho vật chủ vừa có giá thành thấp

- Nghiên cứu phòng bệnh

Để phòng bệnh ký sinh trùng có hiệu quả thì cần nghiên cứu áp dụng các thành tựu của khoa học tự nhiên như vật lý, hóa học, đất, môi trường và các thành tựu của thú y và y học cổ truyền cũng như tích cực nghiên cứusản xuất vacxin phòng bệnh

1.5 Quan hệ giữa ký sinh trùng với môn học khác

Môn học ký sinh trùng thú y có liên quan mật thiết với nhiều môn học sau:

- Động vật học

Môn động vật học là cơ sở phục vụ cho môn ký sinh trùng, cung cấp kiến thức

cơ bản để nghiên cứu hình thái, sự tiến hoá và định loại ký sinh trùng, tìm hiểu lịch sử phát dục của ký sinh trùng

- Bệnh lý và Nội khoa

Môn bệnh lý, nội khoa phục vụ cho việc hiểu biết về cơ chế sinh bệnh, chẩn đoán và chữa bệnh ký sinh trùng

- Sinh hóa và Miễn dịch học

Trong điều trị bệnh ký sinh trùng phải dùng thuốc hóa học để tác động làm rối

loạn các quá trình sinh hóa của ký sinh trùng Mặt khác khi ký sinh trùng ký sinh ở vật

chủ chúng làm vật chủ sinh ra kháng thể Vì vậy các kiến thức về sinh hóa và miễn

dịch học rất cần thiết cho chẩn đoán và điều trị bệnh ký sinh trùng

- Dược lý học

Kiến thức của môn dược lý học được áp dụng để phòng trị bệnh ký sinh trùng bằng thuốc hoá học và thuốc thảo mộc (thuốc nam) Xu hướng hiện nay trên Thế giới cũng như ở Việt Nam là cần khai tốt các nguồn thảo dược để điều trị các bệnh ký sinh trùng

- Dịch tễ và Y học

Bệnh truyền nhiễm và bệnh ký sinh trùng ở động vật cũng như ở người có những đặc điểm giống nhau về dịch tễ học, miễn dịch học Hai loại bệnh này lại thường ghép với nhau ở cùng một con vật trong cùng một thời gian Một số bệnh ký sinh trùng có thể lây truyền từ động vật sang người và ngược lại Vì vậy cần phải có kiến thức về dịch tễ học cũng như y học mới có thể phòng chống bệnh ký sinh trùng có hiệu quả

1.6 Thiệt hại do ký sinh trùng gây ra

Một số bệnh ký sinh trùng khi phát sinh có khả năng lây lan mạnh, lưu hành ở từng vùng làm vật nuôi cảm nhiễm nhiều, tỷ lệ chết cao nhất là ở những con non

Thí dụ: bệnh lê dạng trùng ở bò sữa nhập nội, bệnh cầu trùng ở gà và thỏ

Phần lớn bệnh ký sinh trùng gây ra cho gia súc thường âm thầm, dai dẳng, làm vật nuôi chậm sinh trưởng, phát triển, giảm sức đề kháng và dễ mắc các bệnh khác Bệnh ký sinh trùng gây tâm lý chủ quan cho người chăn nuôi Những thiệt hại mà ký sinh trùng gây ra cho vật nuôi thường biểu hiện ở những khía cạnh sau:

Trang 5

5

- Làm giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của vật nuôi:

Ký sinh trùng khi ký sinh đồng nghĩa với vật chủ bị mất dinh dưỡng và sinh chất Mức độ mất dinh dưỡng và sinh chất của vật chủ phụ thuộc vào độ lớn, nhỏ của

ký sinh trùng, số lượng và phương thức chiếm đoạt, tuổi thọ của ký sinh trùng cũng như độc tố do ký sinh trùng tiết ra

Những bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là các bệnh do giun sán gây ra thường làm gia súc giảm sinh trưởng và phát triển, tiêu tốn nhiều thức ăn

Thí dụ: lợn con bị nhiễm giun đũa (Ascaris suum) thì còi cọc, giảm tăng trọng đến 30% Lợn nhiễm sán lá ruột (Fasciolopsis buski) giảm 5,8kg trong 35 ngày so với

lợn không nhiễm sán Gà bị bệnh sán dây, bệnh cầu trùng thì chậm lớn, giảm sản

lượng trứng Trâu bò bị bệnh do trùng roi (Trypanosoma enansi), thì kiệt sức nhanh

chóng, thậm chí dễ bị chết

- Giảm phẩm chất da, lông của vật nuôi:

Cừu khi mắc bệnh ghẻ do Psoroptes spp gây rụng lông, làm giảm sản lượng lông, ảnh hưởng tới ngành công nghiệp dệt len Dòi da Hypoderma bovis thường làm

rách, thủng da bò gây thiệt hại cho ngành thuộc da

- Giảm sản lượng sữa:

Bò bị mắc bệnh dòi da do Hypoderma bovis sản lượng sữa giảm từ 10 - 20%, nhiễm sán lá gan (Fasciola spp.) giảm sản lượng sữa tới 40%

- Giảm khối lượng các sản phẩm khác:

Bệnh ký sinh trùng thường làm giảm phẩm chất thịt hoặc phải tiêu hủy

Thí dụ: thịt lợn, thịt bò nhiễm ấu trùng sán dây (Cysticercus spp) Phủ tạng gia súc nhiễm Echinococcus sp., Fasciola spp phải hủy bỏ Thịt trâu, bò bị nhiễm tiên mao trùng Trypanosoma evansi, thì dai và chứa nhiều nước

- Giảm sức cầy, kéo:

Những gia súc cầy, kéo khi nhiễm ký sinh trùng thì giảm khả năng cầy kéo

- Ghép thêm nhiều bệnh khác:

Thời kỳ ấu trùng ký sinh trùng di hành, thời kỳ ký sinh trùng trưởng thành gây tổn thương cho nhiều khí quan trong cơ thể vật chủ, mở đường cho các bệnh khác phát sinh Khi gia súc mắc bệnh ký sinh trùng thì sức đề kháng giảm, tạo điều kiện cho các bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn, virus có cơ hội xâm nhập và gây bệnh

- Lây truyền bệnh sang người:

Nhiều bệnh ký sinh trùng từ gia súc còn lây truyền sang người như: bệnh sán lá

gan ở trâu bò do Fasciola spp., bệnh sán lá gan nhỏ ở chó, mèo do Chlonorchis

sinensis, bệnh sán lá phổi ở lợn, chó do Paragonimus spp., bệnh giun đầu gai ở lợn do Macracanthorhyncus hyrudinaceus, bệnh gạo lợn, gạo bò, bệnh giun xoắn, một số

bệnh giun móc ở chó do Ancylostoma caninum, giun đũa chó do Toxocara canis Do

đó phòng chống bệnh ký sinh trùng ở gia súc cũng là bảo vệ sức khoẻ cho người

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Bản chất và định nghĩa về hiện tượng ký sinh?

2 Định nghĩa về ký sinh trùng và ký sinh trùng học?

3 Đối tượng và nội dung nghiên cứu của ký sinh trùng là gì?

4 Ký sinh trùng gây thiệt hại cho vật nuôi như thế nào?

Trang 6

6

Trang 7

2.1 Quan hệ giữa các cơ thể sống trong tự nhiên

Trong tự nhiên, các sinh vật luôn quan hệ mật thiết với nhau qua các mối quan

hệ phức tạp bao gồm các hình thức sau:

a Sống tự do

Hiện tượng sống tự do có đặc điểm là mỗi cá thể sinh vật đều có khả năng lấy

thức ăn cho mình từ môi trường bên ngoài

b Sống chung

- Sống chung lưỡng lợi: hiện tượng hai cơ thể sinh vật khác loài chung sống với nhau và cả hai đều cùng có lợi

Thí dụ: mối Tesmit và roi trùng Hypermastigina cộng sinh với nhau, roi trùng

sống trong ruột của mối có men tiêu hóa chất xơ, nhờ đó mà mối hấp thu được dinh dưỡng Mặt khác mối thường xuyên lấy chất xơ vào cơ thể giúp roi trùng luôn có thức

ăn để sống Như vậy trong mối quan hệ này mối và roi trùng đều cùng có lợi

- Sống chung phiếm lợi (Hội sinh): sống chung phiếm lợi là hiện tượng chung sống giữa hai sinh vật, ở đó một sinh vật được lợi còn sinh vật kia không bị tổn hại gì

Thí dụ: mao trùng (Ciliata) bắt buộc phải sống và lấy thức ăn trong ruột già của

ngựa nhưng không làm hại gì cho ngựa, nếu mao trùng ra khỏi ruột ngựa sẽ bị chết Ngược lại, ngựa mang mao trùng nhưng không bị ảnh hưởng gì

- Sống chung nhà trọ (Cộng cư): mối quan hệ giữa hai sinh vật, trong đó sinh vật này lợi dụng sinh vật kia làm nơi ẩn nấp

Thí dụ: cá chép đẻ trứng trong vỏ hến, vỏ hến bảo vệ cá con khi nở ra

- Sống chung ăn thừa: hiện tượng cơ thể sinh vật này lợi dụng thức ăn thừa và chất cặn bã của sinh vât kia để nuôi sống bản thân

Thí dụ: trích trùng thường bám xung quanh hậu môn cá để ăn phân cá

c Sống chung thù địch

- Hiện tượng ăn thịt: Mối quan hệ được hình thành giữa một sinh vật là vật ăn mồi và sinh vật kia là con mồi Trong mối quan hệ này, vật ăn mồi thường to khỏe hơn con mồi

- Hiện tượng ký sinh: Mối quan hệ giữa hai sinh vật, trong đó một sinh vật sống ký sinh ở một sinh vật khác là vật chủ Trong mối quan hệ này, sinh vật ký sinh rất nhỏ bé và yếu hơn nhiều so với vật chủ

Thí dụ: giun sán ký sinh gây bệnh ở súc vật và người

2.2 Nguồn gốc của đời sống ký sinh

Những dẫn liệu hiện đại về hình thái học, phôi sinh học cho thấy, các cơ thể sống tự do là tổ tiên của động vật sống ký sinh Sự chuyển tiếp từ động vật sống tự

do sang sống ký sinh có nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào từng hình thức ký sinh và từng nhóm động vật khác nhau

Trang 8

8

a Nguồn gốc của sinh vật sống ký sinh trên bề mặt vật chủ (Ngoại ký sinh)

Phần lớn ngoại ký sinh được bắt nguồn từ các con đường sau:

- Tăng cường dần mối quan hệ về thức ăn của động vật này với bề mặt của động vật khác Thí dụ: những sán lá ký sinh ở cá bắt nguồn từ hiện tượng hội sinh

- Do chuyển tiếp từ đời sống cố định sang đời sống ký sinh

Trong trường hợp này sinh vật sống trên bề mặt sinh vật khác sử dụng nó như một địa điểm thuận lợi để lấy thức ăn từ môi trường bên ngoài Như vậy bước đầu sinh vật sống cố định đã có liên hệ chặt chẽ với vật chủ Sinh vật đó ngày càng chui sâu vào lớp da của vật chủ để được bảo vệ Nhưng càng chui sâu, mối liên hệ với môi trường bên ngoài càng lỏng lẻo, qua thời gian dài, phần da của vật chủ bao bọc ngoài càng tiêu giảm, chất dịch mô của vật chủ bắt đầu thấm vào vật ký sinh và lâu dần nó trở thành nguồn dinh dưỡng cho sinh vật đó và chúng trở thành vật ký sinh

- Ngoại ký sinh còn bắt nguồn từ sự bám của ấu trùng động vật này vào động vật khác Ấu trùng thường phát triển cơ quan bám như răng, móc để tăng cường mối liên hệ với vật chủ rồi sử dụng dịch mô vật chủ làm nguồn dinh dưỡng và trở thành ngoại ký sinh

Thí dụ: một số loài hai vỏ giống Bivalvia, trai nước ngọt họ Unionnidae phát

tán và trở thành vật ký sinh theo cách này

b Nguồn gốc của sinh vật sống bên trong vật chủ (Nội ký sinh)

Nội ký sinh có nguồn gốc từ ngoại ký sinh bằng cách chuyển dần từ bên ngoài vào bên trong vật chủ qua nhiều cách khác nhau

- Do ngoại ký sinh tiếp tục chui sâu vào bên trong của vật chủ

Thí dụ: mò Demodex spp ký sinh ở tuyến nhờn bao chân lông của chó, lợn, trâu,

bò và người

- Do ngoại ký sinh có sẵn ở vật chủ, qua quá trình biến thái của vật chủ mà ngoại ký sinh sống trong các nội quan và trở thành nội ký sinh

Thí dụ: sán lá đơn chủ Polystoma integerrimum sống ở mang của ấu trùng ếch,

khi ấu trùng biến thái thành ếch trưởng thành, chúng chuyển vào sống trong bàng quang của ếch và trở thành nội ký sinh

- Do kết quả rơi ngẫu nhiên của ấu trùng một số loài động vật vào đường tiêu hóa của động vật khác nhiều lần, ấu trùng thích nghi dần với đời sống trong đường tiêu hóa của vật chủ và trở thành nội ký sinh

Thí dụ: họ giun lươn (Rhabditidae)

- Một số động vật có thói quen đẻ trứng hoặc ấu trùng vào chất hữu cơ mục nát, thối rữa rồi vì lý do nào đó chúng thay đổi đặc điểm sinh học, đẻ trứng hoặc ấu trùng vào các lỗ tự nhiên và vết thương của động vật từ đó ấu trùng chui sâu vào các mô, xoang và trở thành nội ký sinh

Thí dụ: họ ruồi Sarcophaginae

c Nguồn gốc của ký sinh trùng trong máu

Ký sinh trùng ký sinh trong máu động vật được hình thành bởi 2 con đường:

- Bắt nguồn từ động vật ký sinh trong ruột động vật không xương sống

Thí dụ: roi trùng Trypanosoma evansi ở máu trâu, bò, ngựa bắt nguồn từ roi trùng Trypanosoma evansi có ở ruột của mòng (Tabanus spp.) và ruồi trâu (Stomoxyst

spp.)

Trang 9

9

- Bắt nguồn từ động vật ký sinh ở đường tiêu hóa của chính động vật có xương sống đó

Thí dụ: cầu trùng Schellaskia spp sống trong biểu bì ruột của thằn lằn, trải qua

quá trình sinh sản phức tạp tạo ra các bào tử, các bào tử này xâm nhập vào máu và sống ký sinh trong hồng cầu của chính động vật này

2.3 Phương thức sống ký sinh

Trong đời sống ký sinh, tùy từng loại ký sinh trùng mà có những phương thức

ký sinh như sau:

- Ký sinh trùng tùy ý: những động vật sống tự do nhưng ngẫu nhiên gặp vật chủ thích hợp thì chuyển sang đời sống ký sinh và giai đoạn sống ký sinh không phải là bắt buộc

Thí dụ: các loài đỉa

- Ký sinh trùng bắt buộc: những ký sinh trùng bắt buộc phải sống ký sinh ở vật chủ mới tồn tại được dựa vào không gian nơi ở của ký sinh trùng mà người ta phân chia thành

+ Nội ký sinh:

Ký sinh trùng sống bên trong cơ thể vật chủ

Thí dụ: ký sinh trùng sống trong đường tiêu hóa, hô hấp, đường máu của động vật và người

+ Ngoại ký sinh Những ký sinh trùng sống bên ngoài vật chủ

Thí dụ: ve, ghẻ, chấy, rận, muỗi

- Ký sinh trùng vĩnh viễn: ký sinh trùng sống suốt đời trên cơ thể vật chủ

Thí dụ: chấy, rận, ghẻ, giun đũa, sán lá

- Ký sinh trùng tạm thời: ký sinh trùng chỉ sống trong thời gian ngắn trên vật chủ để lấy thức ăn

Thí dụ: ruồi, muỗi hút máu động vật và người

- Ký sinh trùng cố định: ký sinh trùng thường xuyên sống cố định trong vật chủ,

các giai đoạn phát triển của những ký sinh trùng này đều hoàn thành trong cơ thể vật

chủ này hay vật chủ khác Thí dụ: giun xoắn (Trichinella spiralis)

- Ký sinh trùng định kỳ: ký sinh trùng mà một số giai đoạn phát triển nhất định phải hoàn thành ở môi trường bên ngoài Thí dụ: giun đũa, giun tóc

- Ký sinh trùng ngẫu nhiên: Ký sinh trùng bình thường thì sống tự do nhưng khi rơi ngẫu nhiên vào đường tiêu hóa của loài động vật nào đó nhiều lần thì trở thành vật ký sinh Thí dụ: họ giun lươn (Rhabditidae)

- Ký sinh trùng đơn ký: ký sinh trùng chỉ ký sinh trên một loài vật chủ nhất định

Thí dụ: giun đũa (Ascaris suum) chỉ ký sinh ở lợn

- Ký sinh trùng đa ký: ký sinh trùng ký sinh được ở nhiều loài vật chủ khác nhau

Thí dụ: sán lá gan (Fasciola spp.) ký sinh ở trâu, bò, cừu, dê và người

- Ký sinh trùng lạc chủ: ký sinh trùng có thể ký sinh trên vật chủ bất thường

Thí dụ: bình thường người không phải là vật chủ cuối cùng của giun đũa lợn, nhưng cũng có trường hợp người có thể nhiễm giun đũa của lợn

- Hiện tượng bội ký sinh: ký sinh trùng sống ký sinh vào một ký sinh trùng khác

Thí dụ: Lê dạng trùng (Babesia spp.) ký sinh trong ve cứng, Ký sinh trùng sốt rét ký sinh trong muỗi

Để tránh nhầm lẫn trong chẩn đoán bệnh ký sinh trùng cần phân biệt:

Trang 10

10

Ký sinh trùng thật: ký sinh trùng ký sinh và gây bệnh

Ký sinh trùng giả: sinh vật, chất thải nhìn giống ký sinh trùng có trong bệnh phẩm

2.4 Sự thích nghi của ký sinh trùng với đời sống ký sinh

Để thích nghi với đời sống ký sinh, ký sinh trùng có những điểm khác với động

vật cùng nhóm sống tự do

2.4.1 Thích nghi về hình thái của ký sinh trùng

Phương thức ký sinh có ảnh hưởng sâu sắc đến hình thái, cấu tạo của vật ký sinh Trong đó vật ký sinh tạm thời ít chịu ảnh hưởng của phương thức ký sinh nhất,

đa số các trường hợp hình thái của chúng giống các loài cùng nhóm sống tự do Ngược lại, vật ký sinh vĩnh viễn chịu sự biến đổi về hình thái, cấu tạo sâu sắc nhất

Thí dụ: giun sán ký sinh trong đường tiêu hóa của động vật và người

Khi chuyển sang đời sống ký sinh, hình thái của ký sinh trùng khác hẳn so với động vật sống tự do cùng nhóm Ở đời sống ký sinh, ký sinh trùng đã mất đi một số cơ quan, bộ phận đồng thời cũng tạo thêm các cơ quan bộ phận mới

Đối với ngoại ký sinh trùng vĩnh viễn như chấy, rận, cơ thể có xu hướng dẹp theo hướng lưng bụng để khó lăn ra khỏi vật chủ, chân sinh ra vuốt nhọn sắc để bám chắc vào vật chủ Đôi chân thứ ba của bọ chét phát triển to, dài, khỏe để di chuyển nhanh hơn Do đời sống ký sinh vĩnh viễn trên vật chủ mà cánh của những côn trùng này cũng tiêu biến hoàn toàn

Những ký sinh trùng tạm thời như ruồi, muỗi so với loài sống tự do cùng nhóm thì ít biến đổi nhất, chúng chỉ biến đổi phần phụ miệng từ kiểu hút, liếm hút sang các kiểu đốt hút, chích hút để phù hợp với việc hút máu vật chủ

So với ngoại ký sinh trùng, nội ký sinh trùng biến đổi rõ hơn

Các ký sinh trùng ở cơ quan hình ống có xu hướng kéo dài cơ thể và tăng lên về kích thước

2.4.2 Thích nghi về kích thước của ký sinh trùng

Trong đời sống ký sinh, nhiều ký sinh trùng tăng mạnh kích thước như giun đầu

gai trong ruột non lợn dài tới 70cm, sán dây Taenia saginata ở ruột non người dài

hàng chục mét

Ký sinh trùng ở bên trong mô như giun tròn Tetrameres spp phát triển theo

hướng hình khối tròn nhằm tăng bề mặt tiếp xúc với vật chủ

Ký sinh trùng sống trong tế bào có xu hướng giảm kích thước tới nhỏ nhất có thể, cơ thể chúng chỉ vài micro mét (µ)

Thí dụ: biên trùng (Anaplasma spp.), lê dạng trùng (Babesia spp.) trong hồng

cầu bò

2.4.3 Thích nghi về màu sắc của ký sinh trùng

Sự biến đổi về màu sắc của vật ký sinh trong quá trình tiến hóa không rõ ràng Đối với nội ký sinh trùng thường không có sắc tố, màu trắng, vàng hoặc hồng là do mầu thức ăn hoặc mô mỡ của chúng Đối với ngoại ký sinh trùng thì màu sắc của chúng không khác so với loài cùng giống sống tự do

2.4.4 Thích nghi về cấu tạo cơ quan của ký sinh trùng

- Hệ tiêu hóa

Hệ tiêu hóa của ký sinh trùng có sự biến đổi theo 2 hướng:

Trang 11

11

Ruột phân nhánh nhiều hơn và phình rộng để chứa nhiều thức ăn nhiều hơn Một số loài ký sinh ở đường tiêu hóa, khi hút máu của vật chủ còn tiết chất chống đông máu

Thí dụ: giun móc ở chó, người, giun xoăn ký sinh ở dạ múi khế của động vật nhai lại

Một số cơ quan trở thành không cần thiết trong đời sống ký sinh nên dần thoái hóa và mất đi

Tiêu giảm cơ quan tiêu hóa và chuyển sang thẩm thấu dinh dưỡng trên toàn bộ

bề mặt cơ thể

Thí dụ: sán dây, giun đầu gai, nguyên sinh động vật

- Hệ thần kinh và cơ quan cảm giác:

Ký sinh trùng ký sinh ở bên trong cơ thể vật chủ (nội ký sinh) có xu hướng tiêu

giảm một số cơ quan như mắt Dạng ấu trùng Cercaria của sán lá có một mắt để tìm

vật chủ trung gian, dạng trưởng thành thì mắt hoàn toàn tiêu giảm

- Hệ hô hấp:

Ở ngoại ký sinh, hệ hô hấp không có gì thay đổi so với loài sống tự do Đối với nội ký sinh, cơ quan hô hấp tiêu giảm và hô hấp theo kiểu yếm khí tùy tiện

- Cơ quan vận động:

Cơ quan vận động của ký sinh trùng ít nhiều có sự tiêu giảm

Thí dụ: giun nhiều tơ ký sinh thì chân tiêu giảm nhiều so với loài cùng giống sống tự

Thí dụ: sán dây Taenia solium đầu mang 4 giác bám Ở các loài sán lá thường

có giác bám miệng và giác bám bụng

Móc bám gặp ở phần lớn các ký sinh trùng, móc được cấu tạo bằng chất kitin thường ở phần đỉnh đầu, là cơ quan đặc biệt có thể cắm sâu vào tổ chức của vật chủ

Thí dụ: sán lá họ Echinostomatidae và Echinochasmidae có nhiều móc bám ở đầu Sán dây thuộc bộ Cyclophyllidae có nhiều móc bám ở phần đầu, giun đầu gai

Acanthocephala có nhiều móc bám ở vòi

Ở động vật chân đốt móc bám là do sự biến đổi của các phần phụ miệng và ngực tạo thành Thí dụ: hạ khẩu của ve, vòi của muỗi

Những biến đổi về hình thái thể hiện mối quan hệ giữa ký sinh trùng và vật chủ, cũng là mối quan hệ giữa ký sinh trùng với môi trường vì vật chủ là môi trường quan trọng của ký sinh trùng

Những ký sinh trùng tạm thời như muỗi, ruồi không biến đổi nhiều về hình thái

và chức năng so với những loài sống tự do cùng nhóm Sự thay đổi hình thái và chức năng của ký sinh trùng là sự thích nghi với đời sống ký sinh

2.4.5 Thích nghi về sinh sản, biến thái, di chuyển và phát dục của ký sinh trùng

a Sinh sản của ký sinh trùng

Trong đời sống ký sinh, do dinh dưỡng quá đầy đủ, ký sinh trùng luôn sinh sản nhanh, nhiều để phát tán và bảo tồn nòi giống

Trang 12

12

- Tăng số lượng sinh sản

Do sự phát tán của ký sinh trùng vào những vật chủ mới phải trải qua nhiều yếu

tố bất lợi của môi trường, vì vậy ký sinh trùng thường đẻ một số lượng lớn trứng và ấu trùng mới có thể bảo tồn được giống nòi

Thí dụ: giun xoắn Trichinella spp tuy kích thước nhỏ nhưng đẻ tới 10.000 ấu

trùng Giun móc đẻ 20.000 trứng trong một ngày đêm Giun đũa đẻ 200.000 đến

300.000 trứng một ngày đêm Sán lá ruột Fasciolopsis buski đẻ 25.000 trứng mỗi ngày

đêm

Những ký sinh trùng đẻ ít như sán dây Echinococcus spp thì ở giai đoạn ấu

trùng lại có hình thức sinh sản nẩy chồi rất mạnh Khả năng sinh sản cao của ký sinh trùng nhằm bù trừ cho các cơ hội ít sống sót ở môi trường trong quá trình phát triển

- Hình thức sinh sản

Ký sinh trùng có hình thức sinh sản rất phong phú, bao gồm: sinh sản hữu tính,

vô tính, xen kẽ giữa hữu tính và vô tính, cũng có khi con cái sinh sản mà không cần có con đực (xử nữ sinh), cũng có trường hợp ấu trùng cũng sinh sản

- Các giai đoạn có khả năng sinh sản của ký sinh trùng

+ Giai đoạn trưởng thành: hầu hết ký sinh trùng chỉ sinh sản ở giai đoạn trưởng thành Sinh sản của ký sinh trùng thường xảy ra ở 3 trường hợp sau:

Đẻ trứng chưa có phôi thai Thí dụ: trứng sán lá

Đẻ trứng có phôi thai ở các giai đoạn: chưa phân chia, phân chia ít hay nhiều Thí dụ: trứng giun đũa, giun xoăn

Đẻ trứng đã có ấu trùng Thí dụ: giun phổi lợn, trâu, bò

Đẻ ra ấu trùng Thí dụ: giun xoắn Trichinella spiralis

+ Sinh sản ở giai đoạn ấu trùng (phôi tử sinh)

Một số loài giun tròn trong giai đoạn ấu trùng đã có khả năng sinh sản Thí dụ:

ấu trùng giun lươn Strongyloides stercoralis

+ Sinh sản đa phôi Từ một trứng có thể phát triển thành nhiều ấu trùng sau khi sinh sản trong ốc nước ngọt

Thí dụ: sán lá gan Fassciola spp., sán lá ruột lợn Fassciolopsis buski

Sự đa dạng về hình thức sinh sản, sinh sản sớm, nhanh và số lượng nhiều sẽ gây

ra tình trạng ô nhiễm mầm bệnh ở môi trường, tăng khả năng nhiễm và tái nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng cho súc vật và người

b Biến thái của ký sinh trùng

Biến thái của ký sinh trùng là quá trình phát triển từ phôi thai thành dạng trưởng thành Về mặt hình thái, cá thể của các giai đoạn biến thái sau có khi hoàn toàn khác với cá thể ở biến thái trước Ký sinh trùng thường có 2 lần biến thái:

Phôi thai thành ấu trùng

Ấu trùng thành dạng trưởng thành

c Di chuyển của ký sinh trùng

Trong quá trình phát triển có nhiều ký sinh trùng hoàn thành tiến hóa ở một vật chủ, trường hợp này là phát triển trực tiếp Ngược lại cũng nhiều ký sinh trùng bắt buộc phải phát triển qua nhiều vật chủ liên tiếp khác loài, trường hợp này là phát triển gián tiếp Sự phát triển từ vật chủ này sang vật chủ khác gọi là di chuyển (chuyển chủ)

Trang 13

13

Hiện tượng di chuyển của ký sinh trùng có liên quan mật thiết với sự lưu hành của ký sinh trùng Những ký sinh trùng phát triển trực tiếp mang tính truyền nhiễm, ký sinh trùng phát triển gián tiếp cần phải có vật chủ trung gian mới lan truyền được

d Các giai đoạn phát dục của ký sinh trùng

Sự phát dục của ký sinh trùng thể hiện trên những thay đổi về hình thái và những yêu cầu khác nhau đối với các điều kiện môi trường bên ngoài

Thí dụ: trứng giun đũa lợn Ascaris suum phát dục ở môi trường bên ngoài vật chủ

thì cần có những điều kiện nhất định về nhiệt độ, độ ẩm, oxy mới phát triển được tới ấu trùng cảm nhiễm Trứng cảm nhiễm vào ruột lợn, ấu trùng được giải phóng khỏi trứng và

ở hoàn cảnh có oxy tự do trong ruột lợn hình như không thích hợp với ấu trùng nên ấu trùng đã rời bỏ ruột vào hệ tuần hoàn qua gan, tim, phổi, sau đó ấu trùng lại chuyển sang giai đoạn thích nghi với oxy tự do nên nó qua hầu, miệng để trở lại ruột non và tiếp tục phát triển tới giai đoạn trưởng thành

Với giun xoăn Strongylus spp thì các giai đoạn phát dục từ trứng tới ấu trùng

cảm nhiễm diễn ra ở ngoài tự nhiên qua nhiều thời kỳ Ở ngoài tự nhiên, trứng phát triển thành ấu trùng kỳ một, qua hai lần lột xác thành ấu trùng cảm nhiễm Sự phát triển thành dạng trưởng thành được diễn ra trong cơ thể vật chủ cuối cùng là ngựa

Sự phát dục và chuyển dời của sán lá (Trematoda) phức tạp hơn Từ trứng thành ấu trùng lông (miracidium) là một giai đoạn phát dục, từ miracidium thành

sporocyst cũng là giai đoạn phát dục Từ sporocyst thành redia là sự chuyển dời vì có

quá trình sinh sản vô tính Từ redia thành ấu trùng đuôi (cercaria) cũng là sự chuyển dời Từ cercaria tới sán trưởng thành là giai đoạn phát dục Sán trưởng thành bắt đầu

đẻ trứng là sự chuyển dời theo hình thức sinh sản hữu tính

Mỗi loài ký sinh trùng ở mỗi giai đoạn phát dục đều yêu cầu những điều kiện môi trường khác nhau, mặt khác cũng cảm thụ và chống đỡ ở các mức độ khác nhau với các điều kiện của môi trường và các loại thuốc diệt chúng Hiểu rõ các giai đoạn phát dục của ký sinh trùng có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu môi trường sinh sống của ký sinh trùng và đề xuất các biện pháp phòng chống ký sinh trùng

2.5 Đặc điểm sống, phát triển và phân bố của ký sinh trùng

2.5.1 Đặc điểm sống và phát triển của ký sinh trùng

Cũng như các sinh vật khác, đời sống và phát triển của ký sinh trùng có quan hệ mật thiết với môi trường tự nhiên, xã hội và các quần thể sinh vật khác

Trong vật chủ, đời sống của ký sinh trùng ngắn, dài rất khác nhau, có loài chỉ sống một vài tháng như giun kim ở người, có loại như giun đũa, giun tóc, giun móc sống hàng năm Trong cùng loài vật chủ, con non cảm nhiễm nhiều hơn con trưởng thành Vật chủ già, suy dinh dưỡng, ốm yếu cũng mắc bệnh ký sinh trùng nặng hơn những vật chủ đủ dinh dưỡng, khỏe mạnh Trong các cơ quan của cơ thể vật chủ, hệ tiêu hóa, da và máu là những nơi có nhiều loài ký sinh trùng ký sinh Ở bộ máy sinh dục và vú thường ít có ký sinh trùng ký sinh hơn

Một số loài ký sinh trùng ký sinh ở tất cả các cá thể của một loài vật chủ Hầu

hết ngựa, bò hay cừu đều nhiễm giun xoăn; trái lại một số khác như Eustrongylus lại

rất hiếm gặp vì quá trình phát triển của nó cần những điều kiện đặc biệt về nhiệt độ, độ

ẩm, vật chủ trung gian nhất định Những điều kiện này ít khi có đủ ở một vùng

Ở môi trường bên ngoài, trứng, ấu trùng của ký sinh trùng tồn tại và phát triển

Trang 14

14

cũng rất khác nhau tùy theo cấu tạo của trứng và ấu trùng cũng như điều kiện của môi trường Trứng ký sinh trùng có vỏ dầy thì tồn tại lâu hơn trứng có vỏ mỏng Ở môi trường bên ngoài ấu trùng ký sinh trùng thường dễ bị chết hơn trứng

Khoa học ký sinh trùng đã chứng minh rằng, điều kiện môi trường tự nhiên có tác dụng quyết định tới sự tồn tại và phát triển của ký sinh trùng ở môi trường bên ngoài Ở nơi ngập nước lâu ngày thì hầu hết mầm bệnh ký sinh trùng bị chết Thời tiết nắng, khô lâu ngày các ấu trùng ký sinh trùng cũng dễ bị chết

2.5.2 Khu hệ ký sinh trùng và phân bố địa lý của ký sinh trùng

a Khu hệ của ký sinh trùng

Khu hệ ký sinh trùng là thành phần loài ký sinh trùng có ở một vùng hay khu vực nào đó

Trong đời sống ký sinh, ký sinh trùng chịu sự chi phối của hai môi trường đó là vật chủ và môi trường bên ngoài vật chủ Môi trường vật chủ của ký sinh trùng bao gồm các yếu tố chính như tuổi vật chủ, thức ăn và phương thức sống của vật chủ, các quần lạc loài ký sinh và sự di cư của vật chủ Môi trường bên ngoài bao gồm các yếu tố như: số lượng, các quần lạc của sinh vật khác, đời sống xã hội của vật chủ, và sự phân bố địa lý

Điều cần chú ý là sự thay đổi từ các yếu tố môi trường vật chủ và môi trường bên ngoài đều làm thay đổi khu hệ của ký sinh trùng

b Phân bố địa lý của ký sinh trùng

Phân bố địa lý của ký sinh trùng phụ thuộc vào các điều kiện sau:

- Điều kiện khí hậu

Sự phát triển của ký sinh trùng liên quan mật thiết với các yếu tố khí hậu nhất là nhiệt độ và độ ẩm vì ký sinh trùng và vật chủ trung gian của nó cần nhiệt độ và độ ẩm nhất định để phát triển Nắng và mưa nhiều thì các bệnh ký sinh trùng đường máu và sán lá phát triển Hầu hết các mầm bệnh ký sinh trùng phát triển thuận lợi ở môi trường bên ngoài ở nhiệt độ 250C đến 300C Mưa, lũ, lụt, hạn khô đều ảnh hưởng tới

ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng Như vậy, nếu thay đổi nhiệt độ và độ ẩm sẽ ảnh hưởng đến khu hệ ký sinh trùng

Sự di chuyển của động vật cũng làm thay đổi khu hệ của ký sinh trùng

Thí dụ: giun chạc Syngamus trachea phân tán nhờ vào sự di chuyển của chim

hoang dã

- Sinh hoạt của con người

Trang 15

15

Cách cấu trúc khu vực sinh sống của người, tập quán chăn nuôi, tập quán ăn uống, sản xuất, vệ sinh, sự di chuyển, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng, chiến tranh và bất ổn đều ảnh hưởng đến phân bố của ký sinh trùng

và bệnh ký sinh trùng

Thí dụ: ở những nơi người sống thiếu vệ sinh, lại có tập quán ăn thịt, cá chưa nấu

chín làm bệnh sán dây do Taenia spp., sán lá gan do Opisthorchis spp., Clonorchis

sinensis có điều kiện phát triển

Nhìn chung, ký sinh trùng thường phân bố nhiều ở khu vực nóng ẩm và mùa nóng ẩm Vùng ẩm thấp lầy lội ký sinh trùng thường phát triển hơn nơi khô cạn

2.6 Vật chủ, vòng đời và nơi ở của ký sinh trùng

a Định nghĩa về vật chủ của ký sinh trùng

Vật chủ là loài động vật mà ở đó ký sinh trùng sống tạm thời hoặc vĩnh viễn

Niều ký sinh trùng cần phát triển qua nhiều loài vật chủ mới hoàn thành được vòng đời Căn cứ vào đặc điểm phát triển của ký sinh trùng, vật chủ được phân chia thành các loại sau:

Vật chủ cuối cùng: loài động vật, ở đó ký sinh trùng phát triển tới giai đoạn trưởng thành có khả năng sinh sản

Thí dụ: lợn là vật chủ cuối cùng của giun đũa Ascaris suum, sán lá ruột

Fasciolopsis buski Trâu, bò, dê, cừu là vật chủ cuối cùng của sán lá gan Fasciola spp

Vật chủ trung gian: loài động vật, ở đó ấu trùng của ký sinh trùng phát triển từ giai đoạn này tới giai đoạn khác

Thí dụ: ve Rhipicephalus (Boophilus) microplus là vật chủ trung gian để đơn bào Piroplasma bigeminum phát triển qua các giai đoạn khác nhau và truyền từ động

vật này sang động vật khác Lợn là vật chủ trung gian cần thiết cho ấu trùng sán dây ở

người phát triển Ốc Limnaea spp là vật chủ trung gian của sán lá gan Fasciola spp

Vật chủ bổ sung: nhiều loài ký sinh trùng sau khi đã phát triển qua vật chủ trung gian cần phải tiếp tục phát triển qua động vật khác nữa để đạt tới giai đoạn cảm nhiễm Động vật đó được gọi là vật chủ bổ sung

Thí dụ: cá nước ngọt là vật chủ bổ sung của sán lá gan Clonorchis sinensis, cua, tôm nước ngọt là vật chủ bổ sung của sán lá phổi Paragonimus spp ở súc vật và

Vật chủ dự trữ: là loài động vật, ở đó ấu trùng của ký sinh trùng sống nhưng không phát triển gì thêm

Thí dụ: ấu trùng cảm nhiễm của giun thận lợn Stephanurus dentatus sống trong

giun đất mà không phát triển gì thêm, như vậy giun đất là vật chủ dự trữ của giun thận

ở lợn

Vật chủ ngõ cụt: một số ấu trùng của ký sinh trùng xâm nhập vào cơ thể vật chủ không thích hợp, tới một vị trí nào đó thì dừng lại và không phát triển được, chúng có thể bị phân hủy hoặc vẫn sống rất lâu, khi vật chủ ăn thịt các động vật này, nếu là vật chủ cảm thụ

Trang 16

16

với ký sinh trùng thì ký sinh trùng sẽ hoàn thành được vòng đời

Thí dụ: ấu trùng giun móc chó Ancylostoma caninum, giun đũa chó Toxocara

canis khi vào người sẽ gây hội chứng ấu trùng di chuyển (Larva migrans) Ấu trùng

giun xoắn Trichinella spiralis khi vào người và động vật thích hợp, ấu trùng sán dây

do Echinococcus granulosus, ấu trùng giun đũa chó Toxocara canis khi vào cơ thể chó

sẽ phát triển được thành dạng trưởng thành vì khi đó người và chó lại là vật chủ thích hợp của chúng

Vật chủ tạm thời: những loài động vật mà ký sinh trùng chỉ sống trong thời gian ngắn

Thí dụ: muỗi, ruồi hút máu trâu, bò, người trong thời gian ngắn, trường hợp này trâu, bò, người là vật chủ tạm thời

Vật chủ vĩnh viễn: những loài động vật mà ký sinh trùng sống cả cuộc đời ở động vật đó

Thí dụ: ghẻ ở lợn, ấu trùng giun xoắn Trichinella spiralis ở cơ vân động vật ăn

b Vòng đời (Chu kỳ) của ký sinh trùng

Vòng đời của ký sinh trùng là quá trình phát triển của ký sinh trùng từ giai đoạn trứng hoặc ấu trùng tới giai đoạn trưởng thành có khả năng sinh sản

Ký sinh trùng thường phát triển qua ba loại vòng đời:

- Phát triển trực tiếp: là dạng phát triển chỉ cần một vật chủ

Thí dụ: giun đũa Ascaris suum chỉ có một vật chủ là lợn

- Phát triển gián tiếp: là những ký sinh trùng phải phát triển qua hai vật chủ trở lên mới hoàn thành được vòng đời

Thí dụ: sán lá phổi Paragonimus spp., sán lá ruột lợn Fassciolopsis buski, sán máng Schisotoma spp

- Phát triển đặc biệt: dạng vòng đời mà vật chủ cuối cùng và vật chủ trung gian

là một

Thí dụ: giun xoắn Trichinella spiralis

Nghiên cứu vòng đời của ký sinh trùng là rất quan trọng nhằm tăng cường hiểu biết về các đặc điểm sinh học, dịch tễ học giúp cho việc điều trị và đề xuất các biện pháp phòng chống ký sinh trùng

c Địa điểm ký sinh của ký sinh trùng

Ký sinh trùng ký sinh ở mọi cơ quan của cơ thể súc vật và người

Mỗi loài ký sinh trùng có một nơi ký sinh chuyên biệt Tuy nhiên, cũng có những loài ký sinh trùng lại ký sinh ở nhiều nơi khác nhau trong vật chủ Giun sán thường tập trung sống ký sinh ở đường tiêu hoá

Trường hợp ký sinh trùng sống ở khí quan khác khí quan chuyên biệt thì gọi là ký sinh trùng lạc chỗ

Thí dụ: giun đũa Ascaris suum ở ruột non lợn nhưng bất thường gặp ở ống mật

Ở những giai đoạn phát triển khác nhau, ký sinh trùng cũng thường ký sinh ở

Trang 17

17

những nơi khác nhau

Trường hợp gặp ngẫu nhiên ký sinh trùng ở một loài vật chủ khác loài vật chủ chuyên biệt thì gọi là ký sinh trùng lạc chủ

Thí dụ: lợn nhiễm giun đũa Ascaris lumbricoides của người

2.7 Tác động qua lại giữa ký sinh trùng và vật chủ

Do đều là hai sinh vật nên trong đời sống ký sinh, vật chủ và ký sinh trùng luôn

có tác động qua lại lẫn nhau, sự tác động này có thay đổi tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của ký sinh trùng

a Tác động của ký sinh trùng lên vật chủ

Tác động cơ giới:

Đa số ký sinh trùng đều tác động cơ giới lên vật chủ ở cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành, gây ảnh hưởng đến cơ quan mà ký sinh trùng xâm nhập, di hành và nơi ký sinh Ấu trùng một số loài giun tròn vào cơ thể vật chủ có thời kỳ di hành qua các cơ quan tổ chức như: gan, phổi, ruột, tim…gây tổn thương các cơ quan này

Những ký sinh trùng có kích thước lớn như giun đũa, sán dây dễ gây tắc và làm

thủng ruột, sán lá gan Fasciola spp gây tắc ống mật

Nhiều loài ký sinh trùng có giác bám hay móc bám, bám chắc vào nơi ký sinh, gây tổn thương làm xuất huyết, thủng, rách, bong tróc niêm mạc ruột

Ký sinh trùng gây phản ứng viêm cấp tính, mạn tính làm tăng sinh tổ chức liên kết, hóa vôi tạo thành hạt, bọc, thường thấy rõ như gạo lợn, gạo bò, ấu trùng giun xoắn

Một số loài ký sinh trùng còn gây phản ứng dị ứng cho vật chủ như giun đũa, sán lá gan, số khác như rận, ghẻ gây ngứa

Chiếm đoạt dinh dưỡng và sinh chất:

Ký sinh trùng dinh dưỡng bằng cách chiếm đoạt chất dinh dưỡng hoặc sinh chất như máu của vật chủ Tác động này diễn ra thường xuyên, liên tục, làm vật chủ gầy, yếu, giảm khả năng tăng trọng Mức độ mất dinh dưỡng và sinh chất của vật chủ phụ thuộc vào:

Độ lớn hay nhỏ của ký sinh trùng

Số lượng ký sinh trùng nhiều hay ít

Loại dinh dưỡng và sinh chất mà ký sinh trùng chiếm đoạt

Cách thức chiếm đoạt

Tuổi sống của ký sinh trùng trong vật chủ dài hay ngắn

Độc tố và sản vật trao đổi chất của ký sinh trùng gây nhiễm độc cho cơ quan tiêu hóa và cơ quan khác

Đầu độc vật chủ:

Tác động đầu độc của ký sinh trùng là gây hại nhất cho vật chủ Một số ký sinh trùng tiết độc tố, mặt khác còn thải ra các sản phẩm cặn bã làm cho vật chủ bị trúng độc Tác hại của các chất độc này thay đổi tùy giai đoạn (pha) phát triển của ký sinh trùng, ở giai đoạn ấu trùng gây tác hại nhiều hơn ở giai đoạn trưởng thành

Độc tố còn bao gồm cả các chất tiết có khả năng gây viêm, phù, dị ứng, nhiễm độc cục bộ hoặc toàn thân cho vật chủ Độc tố của ký sinh trùng còn làm tan máu, hủy hoại mô tế bào vật chủ Vật chủ hấp thu các độc tố của ký sinh trùng gây ra nhiều rối loạn bệnh lý nhưng thấy rõ nhất là rối loạn về thần kinh như co giật, bại liệt và rối loạn tuần hoàn gây thiếu máu Độc tố còn giết chết các tế bào thực bào của vật chủ

Trang 18

18

Truyền bệnh cho vật chủ:

Một số ngoại ký sinh hút máu vật chủ, đồng thời còn truyền những bệnh có thể gây thành dịch làm chết nhiều vật chủ

Thí dụ: ve truyền bệnh lê dạng trùng cho bò, bọ chét truyền bệnh dịch hạch, muỗi truyền bệnh sốt rét cho người

Ấu trùng ký sinh trùng khi xâm nhập vào vật chủ còn mang theo vi khuẩn, virus từ môi trường ngoài vào gây viêm tại chỗ hoặc di hành vào các cơ quan gây ra các bệnh kế phát

Thay đổi các thành phần và bộ phận khác của cơ thể vật chủ:

Bệnh ký sinh trùng có thể gây các biến chứng làm dị dạng cơ thể như bệnh giun chỉ ở người, bệnh do trùng máu và nội tạng, người bị động kinh khi nhiễm ấu trùng

sán dây Taenia solium, gây áp xe gan khi động vật và người nhiễm ấu trùng sán lá gan

Fassciola spp., giun đũa chui ống mật Bệnh ký sinh trùng còn làm thay đổi các chỉ số

sinh hóa, huyết học thấy rõ trong các bệnh ký sinh trùng đường máu

b Tác động của vật chủ lên ký sinh trùng

Khi bị ký sinh trùng ký sinh, cơ thể vật chủ luôn có phản ứng để hạn chế tác hại

do ký sinh trùng gây ra Phản ứng của vật chủ thường biểu hiện ở các cách thức sau:

Phản ứng tế bào:

Nơi có ký sinh trùng xâm nhập thường có phản ứng viêm và tăng bạch cầu eosin Ngoài ra còn làm biến đổi tổ chức, các tế bào nhiễm trùng to lên tạo thành các ung, nhọt

Phản ứng thực bào:

Khi ký sinh trùng xâm nhập, dưới sự chỉ đạo của hệ thần kinh trung ương, cơ thể vật chủ huy động các tế bào bạch cầu đơn nhân, lympho bào làm nhiệm vụ thực bào

Cơ thể vật chủ còn có khả năng sản sinh ra tế bào bao vây tạo ra tổ chức liên kết giữ ký sinh trùng lại làm cho chúng chết hoặc bị vôi hoá Có khi tế bào bị ký sinh trùng xâm nhập còn thay đổi hình dạng để chống lại ký sinh trùng như trong bệnh sán lá ở phổi, lớp tế bào thượng bì của phế quản biến dạng từ hình trụ sang hình lát nhiều tầng

Phản ứng thể dịch:

Ký sinh trùng xâm nhập làm vật chủ sinh ra kháng thể, có thể gây cho vật chủ tính miễn dịch hoặc trạng thái quá mẫn Giống như các bệnh do vi sinh vật, bệnh do ký sinh trùng và độc tố của chúng tác động vào cơ thể như một kháng nguyên, còn cơ thể thì sinh ra kháng thể để chống lại, tạo nên sức miễn dịch cho cơ thể vật chủ

Cũng có trường hợp ký sinh trùng vào cơ thể, tiết ra độc tố gây trạng thái quá mẫn dẫn đến những phản ứng xấu cho vật chủ khi cảm nhiễm ở lần sau

Thí dụ: những bọc ấu trùng sán dây Echinococcus spp trong xoang bụng bị vỡ,

giải phóng dị ứng nguyên có thể làm gia súc chết

Phản ứng của cơ thể vật chủ đến ký sinh trùng mạnh hay yếu phụ thuộc vào: Loại ký sinh trùng to hay nhỏ, nơi ký sinh, chất tiết và chất thải của ký sinh trùng cũng như tuổi đời của ký sinh trùng trong vật chủ dài hay ngắn Trong đó nơi ký sinh và các chất gây độc do ký sinh trùng tiết ra là quan trọng trong bệnh học ký sinh trùng

Trang 19

19

Số lượng ký sinh trùng ký sinh cũng ảnh hưởng tới dinh dưỡng và sinh chất của vật chủ cũng như khả năng gây biến chứng nhất là những ký sinh trùng kích thước lớn

và số lượng nhiều

2.8 Phân loại ký sinh trùng

Cơ sở khoa học phân loại ký sinh trùng là dựa vào quá trình tiến hóa của giới sinh vật nói chung và cấu tạo của của từng ký sinh trùng nói riêng Phân loại ký sinh trùng có thể dựa vào hình thái đại thể hoặc vi thể, di truyền và siêu cấu trúc của ký sinh trùng

Trong phân loại sinh học, ký sinh trùng được xắp xếp theo thứ bậc như sau: ngành, lớp, bộ, họ, giống, loài và phân loài Ngoài ra còn thêm lớp phụ, bộ phụ

Tất cả các ký sinh trùng thú y đều là ký sinh trùng thuộc giới động vật, hệ thống phân loại đơn giản như sau:

- Động vật đơn bào (Protozoa):

Lớp chân giả (Rhiropoda): đặc điểm của lớp này là sinh chân giả để di chuyển

và bắt mồi Đại diện là các amip đường ruột và ngoài ruột

Lớp trùng roi (Flagellata): cơ thể có từ 1 đến nhiều roi để di chuyển, ký sinh ở

đường tiêu hóa, sinh dục, tiết niệu, máu và nội tạng vật chủ

Lớp tiêm mao (Ciliata): cơ thể có nhiều lông để di chuyển Ký sinh ở đường

tiêu hóa

Lớp bào tử trùng (Sporozoa): gồm các bộ sau sống ký sinh:

Bộ cầu trùng (Coccidiida): ký sinh ở tế bào biểu bì của động vật và

người

Bộ huyết bào tử trùng (Haemosporidia): ký sinh trong các tế bào máu

của động vât và người

Bộ nhục bào tử trùng (Sarcosporidia): ký sinh ở tổ chức cơ và tổ chức

liên kết của các loài động vật có vú

- Động vật đa bào (Eumetazoa):

Lớp giun tròn (Nematoda): cơ thể đơn tính, có 9 bộ phụ ký sinh ở động vật Lớp giun đầu gai (Acanthocephala): bao gồm các họ Oliganthorynesidae và

Polymorphidae Ký sinh ở động vật và người, cơ thể đơn tính

Lớp sán lá (Trematoda): gồm 18 bộ phụ sống ký sinh ở động vật và người Cơ

thể lưỡng tính trừ sán máng là đơn tính

Lớp sán dây (Cestoda): cơ thể lưỡng tính, có 5 bộ ký sinh ở động vật và người

- Động vật chân đốt (Artropoda):

Lớp giáp xác (Crustacae): cơ thể gồm 2 phần là đầu ngực và bụng phân đốt đa

dạng, có 2 đôi râu

Lớp hình nhện (Arachnida): đầu ngực, bụng tạo thành một khối, không có râu Lớp côn trùng (Insecta): cơ thể chia thành 3 phần đầu, ngực và bụng, có 1 đôi râu

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Trong tự nhiên các cơ thể sống quan hệ với nhau thế nào?

2 Ngoại ký sinh, nội ký sinh và ký sinh trùng đường máu bắt nguồn từ đâu?

3 Ký sinh trùng ký sinh theo những phương thức nào?

4 Sự thích nghi của ký sinh trùng với lối sống ký sinh như thế nào?

5 Những loại vật chủ và nơi ở của ký sinh trùng ở động vật và người?

Trang 20

20

6 Những tác động qua lại giữa ký sinh trùng và vật chủ?

Chương 3 BỆNH KÝ SINH TRÙNG Mục đích

Giới thiệu khái niệm, điều kiện phát sinh và diễn biến của bệnh ký sinh trùng, cách gọi tên bệnh ký sinh trùng

3.1 Định nghĩa, điều kiện phát sinh, đặc điểm của bệnh ký sinh trùng

- Định nghĩa bệnh ký sinh trùng:

Bệnh ký sinh trùng là bệnh phát sinh do căn bệnh là ký sinh trùng động vật gồm: giun, sán, động vật chân đốt, động vật đơn bào gây ra

- Điều kiện phát sinh bệnh ký sinh trùng:

Bệnh ký sinh trùng muốn phát sinh và phát triển phải có 3 điều kiện cần và đủ sau đây:

+ Mầm bệnh ký sinh trùng:

Mầm bệnh ký sinh trùng là ký sinh trùng trưởng thành, trứng, bào nang, hoặc ấu trùng của ký sinh trùng có độc lực (giai đoạn cảm nhiễm)

+ Vật chủ của ký sinh trùng:

Vật chủ phải có tính cảm thụ với ký sinh trùng

+ Điều kiện môi trường bên ngoài thích hợp:

Điều kiện môi trường bên ngoài thích hợp gồm: khí hậu, đất, khu hệ động vật, thực vật và các hoạt động của con người Các yếu tố này thúc đẩy mầm bệnh, vật chủ trung gian của ký sinh trùng phát triển đồng thời tạo ra cơ hội cho mầm bệnh tiếp cận được vật chủ mới

Tuổi vật chủ, tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ của vật chủ cũng rất quan trọng có thể làm cho bệnh phát ra được hay không, phát ra ở thể bệnh nặng hay nhẹ?

Ba điều kiện trên là 3 điều kiện cần và đủ để một bệnh ký sinh trùng phát ra, nếu thiếu một trong ba điều kiện đó thì bệnh ký sinh trùng không thể phát ra được

- Diễn biến của ký sinh và bệnh ký sinh trùng

Khi ký sinh trùng xâm nhập vào vật chủ thì vật chủ phản ứng mạnh chống lại

ký sinh trùng và ký sinh trùng cũng thể hiện phản ứng tự vệ để tồn tại Phản ứng qua lại giữa vật chủ và ký sinh trùng có thể xuất hiện các trường hợp sau:

Một số ký sinh trùng bị chết;

Một số ký sinh trùng tồn tại nhưng không phát triển;

Một số ký sinh trùng hoàn thành được vòng đời;

Vật chủ nhiễm ký sinh trùng nhưng không bị bệnh;

Trang 21

21

Vật chủ nhiễm ký sinh trùng nhưng chưa bị bệnh;

Vật chủ bị bệnh nhẹ, bệnh nặng, bị ký sinh trùng gây tử vong;

Thời gian nung bệnh của bệnh ký sinh trùng có khi rất nhanh nhưng cũng có khi chậm hoặc rất chậm Thời gian gây bệnh của ký sinh trùng ở vật chủ có thể ngắn hoặc dài và có khi rất lâu Trên một cơ thể vật chủ trong cùng một cơ quan hoặc ở các

cơ quan khác nhau có thể có vài loại ký sinh trùng cùng ký sinh (đồng ký sinh) Nhiều loại ký sinh trùng còn có khả năng cộng sinh với nhiều vi khuẩn Sự cộng sinh với vi khuẩn làm cho bệnh ký sinh trùng phức tạp và nặng hơn

- Đặc điểm của bệnh ký sinh trùng:

Bệnh ký sinh trùng thường diễn biến từ từ, tuy nhiên cũng có một số bệnh diễn biến nhanh hoặc rất nhanh

Ký sinh trùng thường gây bệnh âm ỉ lâu dài

Bệnh thường có liên quan tới các yếu tố địa lý, khí hậu, đất và nước nên có tính chất vùng nhất định

Bệnh thường gắn chặt với các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, tín ngưỡng và giáo dục của con người

- Thể bệnh của bệnh ký sinh trùng:

Bệnh ký sinh trùng thường phát ra ở các thể bệnh sau:

+ Thể cấp tính

Ấu trùng ký sinh trùng xâm nhập vào cơ thể gây biến hóa cục bộ, đồng thời gây phản ứng toàn thân, nếu ấu trùng có một thời kỳ di hành qua máu và tổ chức như ấu trùng giun đũa, giun móc sẽ gây phản ứng mạnh trong cơ thể vật chủ

Thời kỳ di hành có trao đổi chất, sản phẩm của ký sinh trùng gây ra triệu chứng cấp tính, thường gây viêm cục bộ, rối loạn toàn thân Phản ứng toàn diện của cơ thể vật chủ với ký sinh trùng biểu hiện rõ nhất ở hiện tượng tăng bạch cầu eosin, lâm ba cầu và giảm bạch cầu đa nhân trung tính Một số tổ chức như gan, phổi bị xơ hóa, Những triệu chứng chung như tiêu chảy, giảm cân, ho, co giật dễ xuất hiện

Tác động gây bệnh của ký sinh trùng thay đổi tùy loại ký sinh trùng, số lượng, độc lực của nó và sức chống đỡ của vật chủ Khi ký sinh trùng gặp điều kiện thuận lợi để phát triển và sinh sản, lúc đó chúng có thể gây bệnh rõ rệt ở thể cấp tính, nếu gặp điều kiện bất lợi chúng gây bệnh ở thể mạn tính, khi đó cơ thể vật chủ sinh trạng thái nhiễm ký sinh trùng tiềm tàng hay ẩn tính

Vật chủ mắc bệnh ký sinh trùng thường có nguy cơ ghép thêm những bệnh kết hợp hoặc mắc thêm bệnh khác (bệnh thứ nhiễm) gọi là bệnh kế phát thường làm bệnh

cũ nặng thêm

Trang 22

22

Thí dụ: trâu bò mắc bệnh dịch tả làm cho cầu trùng, lê dạng trùng, tiên mao trùng sẽ có độc lực mạnh hơn, có thể làm con vật chết

- Các yếu tố ảnh hưởng tới bệnh ký sinh trùng:

Vật chủ nhiễm ký sinh trùng phát ra thành bệnh được hay không, mức độ nhẹ hay nặng đều chịu sự chi phối của các yếu tố: kích thước của ký sinh trùng lớn hay nhỏ, vị trí ký sinh, phương thức dinh dưỡng cũng như độc tố và chất thải của ký sinh trùng trong quá trình ký sinh Trong đó nơi ký sinh, độc tố và chất thải của ký trùng là quan trọng nhất

Số lượng ký sinh trùng ký sinh ít hay nhiều cũng ảnh hưởng tới quá trình sinh bệnh do mất dinh dưỡng, sinh chất và gây biến chứng cho vật chủ

Sự di hành của ký sinh trùng trong vật chủ cũng làm bệnh bị biến chứng và lan rộng

Phản ứng phòng vệ của vật chủ chống lại sự ký sinh của ký sinh trùng cũng làm ảnh hưởng tới diễn biến của bệnh Tuy nhiên trong bệnh ký sinh trùng, phản ứng của vật chủ không thể loại bỏ hoàn toàn được ký sinh trùng mà chỉ hạn chế tác hại của ký sinh trùng và thể bệnh

- Tiên lượng bệnh ký sinh trùng:

Mức độ nghiêm trọng của bệnh ký sinh trùng nhiều hay ít phụ thuộc vào các tiêu chí sau:

Tỷ lệ súc vật chết;

Khả năng lây lan, những bệnh truyền trực tiếp từ con vật ốm sang con khỏe là nguy hiểm nhất vì bệnh dễ lan thành dịch Trường hợp khác là ký sinh trùng còn truyền cho vật chủ bệnh ghép cũng làm bệnh nghiêm trọng hơn Thí dụ: ve vừa hút máu lại vừa truyền bệnh lê dạng trùng cho bò;

Số lượng ký sinh trùng ký sinh, khi con vật nhiễm nhiều ký sinh trùng các biến loạn bệnh lý càng nặng, con vật nhiễm ít ký sinh trùng sẽ là những vật mang trùng, là nguồn khuếch tán mầm bệnh cho các con vật khác

3.2 Cách gọi tên bệnh và tên ký sinh trùng

- Cách gọi tên bệnh ký sinh trùng:

Dựa theo hình thái của ký sinh trùng: giun đũa, giun tóc

Theo vật chủ: gạo lợn, gạo bò

Theo vị trí ký sinh: sán lá gan, sán lá phổi, giun dạ dày

Theo triệu chứng, bệnh tích điển hình: bệnh phù chân voi, giun kết hạt

Gọi tên theo khoa học:

Gọi tên bệnh ký sinh trùng theo khoa học là đầy đủ nhất và thống nhất với danh pháp Quốc tế

Để gọi tên bệnh ký sinh trùng theo khoa học thì làm như sau:

Lấy tên giống của ký sinh trùng, bỏ đuôi giống đi và thêm chữ (osis)

Thí dụ: Fasciola → Fasciol + osis = Fasciolosis

Nếu gọi theo họ thì bỏ đuôi họ (ae) và thêm chữ osis,

Thí dụ: Paramphistomatidae → Paramphistomatidosis

- Cách gọi tên ký sinh trùng:

Tên ký sinh trùng được gọi bằng 2 từ La tinh viết nghiêng Từ đầu chỉ tên

Trang 23

23

giống, chữ đầu tên giống phải viết hoa Từ sau chỉ tên loài, chữ đầu tên loài không viết hoa

Thí dụ: Trypanosoma evansi, Ascaris suum…

Nếu ký sinh trùng có phân loài thì viết tên phân loài sau tên loài, có thể thêm hoặc không thêm chữ var trước tên phân loài

Thí dụ: Sarcoptes scabiei suis hoặc Sarcoptes scabiei var suis

Người ta thường thêm tên tác giả đã tìm ra loài đó cũng như niên hiệu đã mô tả loài ký sinh trùng đó vào sau tên loài

Thí dụ: Ascaris lumbricoides Linneus, 1758

Trường hợp phát hiện ra loài ký sinh trùng mới chưa định loại thì sau tên giống viết thêm chữ sp, chưa định loài thì ghi thêm chữ spp và sau chữ sp, spp phải có dấu chấm, cụm chữ viết tắt và dấu chấm không viết hoặc in nghiêng

Thí dụ: khi mổ khám lợn phát hiện ở dạ dầy có loài giun mới thuộc giống

Gathostoma nhưng chưa biết là loài gì thì ghi Gathostoma sp., mổ khám phổi lợn thấy

rất nhiều giun phổi giống Metastrongylus nhưng chưa định loại nên chưa biết là những loài nào, khi đó ghi là Metastrongylus spp

Để viết ngắn gọn tên ký sinh trùng, trong khoa học tên giống có thể được viết tắt nhưng không được viết tắt tên loài

Thí dụ: giun đũa lợn Ascaris suun sẽ viết tắt là A suum

3.3 Miễn dịch ký sinh trùng

a Đặc điểm chung của miễn dịch ký sinh trùng

Cũng như bệnh truyền nhiễm, khi nhiễm ký sinh trùng, vật chủ đều có phản ứng chống lại ký sinh trùng thông qua phản ứng miễn dịch mạnh hay yếu khác nhau, không bền vững hoặc bền vững, không bảo vệ hoặc bảo vệ chống tái nhiễm sau khi vật chủ

đã khỏi bệnh

Miễn dịch ký sinh trùng được hình thành bởi sự kết hợp của kháng nguyên và kháng thể Do cấu tạo, sự phát triển và tác động của ký sinh trùng khá phức tạp, do kích thước của ký sinh trùng lớn và bề mặt của ký sinh trùng chứa nhiều loại kháng nguyên khác nhau nên tính miễn dịch trong bệnh ký sinh trùng thường là tương đối Kháng nguyên

và kháng thể có tính đặc hiệu, kháng nguyên nào thì phát sinh loại kháng thể đó

Vật chủ sinh kháng thể nhằm chống lại một loại ký sinh trùng nhất định Tuy nhiên trong bệnh ký sinh trùng lại có hiện tượng phản ứng miễn dịch theo nhóm vì trên

bề mặt những ký sinh trùng này có những kháng nguyên cấu trúc giống nhau, khi đó kháng thể sẽ chống được kháng nguyên của những ký sinh trùng cùng nhóm

Thí dụ: tính phòng nhiễm của bò chống lại lê dạng trùng do Piroplasma

bigeminum cũng cho con vật tính phòng nhiễm chống lại biên trùng Anaplasma marginale

Huyết thanh miễn dịch ký sinh trùng có đặc tính: ngưng kết, dung giải, kết tủa,

cố định bổ thể, quá mẫn và phản ứng dị ứng

Do huyết thanh chứa những kháng thể đặc hiệu hay những kháng thể nhóm, tương ứng với những kháng nguyên nhất định, nên có thể áp dụng để chẩn đoán huyết thanh học đối với một số bệnh ký sinh trùng ở sâu trong phủ tạng khi không nhìn thấy

được như ấu trùng sán dây Cysticercus, Echinococcus

b,Thành phần chủ yếu của miễn dịch ký sinh trùng

Trang 24

- Kháng thể:

Kháng thể được vật chủ sinh ra sau khi nhiễm ký sinh trùng Kháng thể do hệ thống miễn dịch của cơ thể vật chủ sản sinh ra sau khi tiếp xúc với kháng nguyên của ký sinh trùng Kháng thể dịch thể do các tế bào lympho B và các tương bào biệt hóa từ tế bào lympho B tiết ra

Kháng thể gồm:

Kháng thể hữu hình: các tế bào có khả năng thực bào

Kháng thể dịch thể: gồm các phân tử Immonoglobulin (Ig) IgA, IgG, IgM, YgE, IgD, IgY và có trong huyết thanh của vật chủ

c Các loại miễn dịch ký sinh trùng

Miễn dịch ký sinh trùng bao gồm: miễn dịch tự nhiên, miễn dịch thu được

- Miễn dịch tự nhiên:

Trong tự nhiên có thể có một số cá thể có kháng thể tự nhiên hay hàng rào bảo

vệ như da, niêm mạc, hệ tiêu hóa, nội môi, thân nhiệt, độ pH chống lại hiện tượng ký sinh Tuy nhiên trong lĩnh vực ký sinh trùng rất hiếm miễn dịch tự nhiên Cũng cần phân biệt giữa một sinh vật không phải là vật chủ thích hợp của một loại ký sinh trùng nào đó với vật chủ thích hợp trường hợp này không phải là miễn dịch

- Miễn dịch thu được:

Miễn dịch được tạo ra khi vật chủ qua một quá trình bị ký sinh, bị bệnh nhất là những ký sinh trùng trưởng thành hoặc có giai đoạn sống ký sinh trong mô, trong máu hoặc kháng nguyên của chúng thấm vào mô, máu vật chủ Miễn dịch này làm ảnh hưởng tới quá trình phát triển tới trưởng thành hoặc chu kỳ, khả năng sinh sản của ký sinh trùng hoặc phân hủy ký sinh trùng, loại ký sinh trùng ra khỏi cơ thể vật chủ hoặc chống lại khả năng tái nhiễm của ký sinh trùng (bảo vệ hoàn toàn)

Trong các bệnh ký sinh trùng, miễn dịch không bao giờ tiến tới tiêu diệt toàn bộ

ký sinh trùng, nên còn gọi là miễn dịch không hoàn toàn Trong trạng thái miễn dịch này, những hoạt động phòng ngự của cơ thể vật chủ làm trung hòa các độc tố nhằm ngăn ngừa không cho ký sinh trùng phát triển, hạn chế sự sinh sản hoặc phân hủy và loại ký sinh trùng ra khỏi cơ thể vật chủ hoặc hình thành một thế thăng bằng giữa cơ thể vật chủ và ký sinh trùng

- Miễn dịch chủ động nhân tạo:

Miễn dịch do con người tạo ra cho vật chủ khi tiêm phòng vacxin hay kháng nguyên chết Miễn dịch này khó thực hiện, trừ một số bệnh giun tròn và đơn bào Người ta có thể gây trạng thái phòng nhiễm đối với một số bệnh như: lê dạng trùng, biên trùng bằng cách cho những ve chứa ít ký sinh trùng hút máu bò, hoặc tiêm máu của những con vật đã khỏi bệnh nhưng trong cơ thể vẫn mang một số lượng ít ký sinh trùng độc lực yếu và tiêm vào đuôi, nơi có ít mạch máu, hoặc gây một bệnh thí nghiệm rồi chữa ngay cho con vật khỏi bệnh về phương diện lâm sàng

Trang 25

25

- Miễn dịch bị động nhân tạo:

Miễn dịch tạo ra do tiêm huyết thanh của con vật đã được miễn dịch Trong các bệnh ký sinh trùng, miễn dịch bị động không có tác dụng nên ít được sử dụng trong thực tiễn

Sau khi dùng thuốc trị ký sinh trùng, sức miễn dịch còn được duy trì một thời gian nhất định

Thí dụ: với sán lá gan do Fasciola spp., sức miễn dịch kéo dài được từ 1,5 đến

2 tháng Đối với sán dây Moniezia spp ở cừu được 1-1,5 tháng Nói chung sức miễn

dịch không duy trì được quá 2 tháng

Tính miễn dịch trong bệnh ký sinh trùng chỉ là tương đối và thời gian miễn dịch ngắn Khi vật chủ khỏi bệnh thường rất dễ tái nhiễm với tỷ lệ khá cao

Thí dụ: gia súc sau khi khỏi bệnh giun đũa có thể bị tái nhiễm tới 50% và thời gian miễn dịch không quá hai tháng

Miễn dịch trong các bệnh ký sinh trùng còn là miễn dịch mang trùng Thể hiện

rõ khi gia súc mắc bệnh do đơn bào, sau khi khỏi bệnh, trong cơ thể vật chủ vẫn còn mang một số ít đơn bào có độc lực yếu và tạo tính miễn dịch cho vật chủ

d Phản ứng tự vệ của ký sinh trùng trước miễn dịch của vật chủ

Để sinh tồn, trước hàng rào miễn dịch của vật chủ, ký sinh trùng phản ứng lại bằng nhiều cách:

Ký sinh trùng co cụm, ẩn trong tế bào vật chủ Thí dụ: đơn bào Toxoplasma

gondii

Trung hòa, ức chế miễn dịch của vật chủ Thí dụ: đơn bào Leishmania spp Thay đổi kháng nguyên bề mặt Thí dụ: trùng roi Trypanosoma spp

Bắt chước kháng nguyên của vật chủ Thí dụ: sán máng Schistosoma spp

e Những yếu tố ảnh hưởng tới sức miễn dịch

Giống, loài của vật chủ: những giống, loài động vật khác nhau, sức miễn dịch với ký sinh trùng cũng khác nhau

Thí dụ: sức chống đỡ của người và chuột lang đối với sán dây

Diphyllobothrium latum cũng khác nhau

Tuổi của vật chủ: súc vật ở tuổi trưởng thành thì sức miễn dịch cao hơn súc vật non và súc vật già Tuy nhiên cũng có những súc vật non chống đỡ với ký sinh trùng tốt hơn súc vật trưởng thành và súc vật già

Thí dụ: bệnh lê dạng trùng thường gây chết nhiều bò trưởng thành ít gây chết cho bò non vì hồng cầu bò non tái sinh nhanh chóng thay thế cho những hồng cầu bị lê dạng trùng hủy hoại

Tính biệt: không ảnh hưởng đến sức miễn dịch của cơ thể vật chủ

Thời kỳ sinh sản: bò cái mang thai và bò cái đang cho con bú có sức chống đỡ

ký sinh trùng yếu hơn bò không chửa đẻ

Cùng cảm nhiễm các bệnh do vi khuẩn và bệnh do ký sinh trùng, nếu nhiễm thêm các bệnh khác thì bệnh ký sinh trùng sẽ nặng thêm Tuy nhiên cũng có trường hợp do sự đề kháng của hai loại ký sinh trùng mà cả hai bệnh không thể cũng phát ra một lúc

Thí dụ: người bị nhiễm sán dây Hymenolepis nana lại nhiễm giun đũa Ascaris

lumbricodes thì sán dây dần dần không còn nữa

Trang 26

26

Dinh dưỡng của vật chủ: vật chủ được nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn đầy

đủ cả về chất và lượng sẽ có sức miễn dịch với bệnh ký sinh trùng tốt hơn vật chủ thiếu dinh dưỡng

Trạng thái của cơ thể: súc vật khỏe mạnh miễn dịch với bệnh ký sinh trùng tốt hơn súc vật ốm

Như vậy, tính miễn dịch tự nhiên cũng như miễn dịch thu được trong bệnh ký sinh trùng thay đổi theo hoàn cảnh bên ngoài Chăn nuôi, chăm sóc và phòng bệnh tốt, chế độ dinh dưỡng hợp lý là biện pháp tích cực tăng cường sức miễn dịch của gia súc đối với bệnh ký sinh trùng

g Ứng dụng của miễn dịch ký sinh trùng

Sản xuất kháng nguyên để chẩn đoán bệnh ký sinh trùng

Phân loại và nghiên cứu lịch sử phát dục của ký sinh trùng

Nghiên cứu sản xuất vacxin phòng bệnh ký sinh trùng

3.4 Dịch tễ học bệnh ký sinh trùng và học thuyết về nguồn dịch tự nhiên

a Dịch tễ học bệnh ký sinh trùng

Nghiên cứu dịch tễ học bệnh ký sinh trùng là những nội dung quan trọng nhất trong phòng chống bệnh ký sinh trùng

Nghiên cứu dịch tễ học bệnh ký sinh trùng bao gồm các yếu tố sau:

- Sự phân tán và sức chống đỡ của ký sinh trùng:

Ký sinh trùng thường bài xuất trứng, bào nang, ấu trùng và dạng trưởng thành

ra môi trường bên ngoài qua nước tiểu, phân, đờm, dãi hoặc do vật chủ trung gian, vật môi giới hút máu rồi truyền cho vật chủ khác

Ở môi trường bên ngoài, một số loài ký sinh trùng có sức chống đỡ mạnh với các điều kiện của môi trường

Thí dụ: bào nang Amip đề kháng tốt với lạnh, ấu trùng sán dây Cysticercus spp

có thể sống trong thịt đông lạnh tới 8 tuần Một số loài ký sinh trùng có thể nhịn ăn rất lâu như ve, rệp Tuy nhiên nhiều ký sinh trùng bị lạnh, nóng, ánh sáng, các chất hoá học tiêu diệt nhanh nên có thể lợi dụng những đặc điểm này để phòng chống ký sinh trùng

- Đường xâm nhập của ký sinh trùng vào vật chủ:

Ký sinh trùng xâm nhập vào vật chủ qua nhiều con đường: theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hoá

Thí dụ: trứng giun đũa, giun tóc, nang ấu sán lá đều theo thức ăn, nước uống, rau, cỏ qua miệng vào đường tiêu hoá rồi về nơi ký sinh khác nhau để phát triển tới dạng trưởng thành

- Qua da theo 2 phương thức:

Ấu trùng cảm nhiễm của ký sinh trùng tự động đi qua da để vào bên trong vật

chủ Thí dụ: ấu trùng giun móc Ancylostoma spp., ấu trùng giun thận Stephanurus

Trang 27

27

dentatus

Thông qua vật chủ trung gian và vật môi giới hút máu để xâm nhập vào vật chủ

Thí dụ: ký sinh trùng sốt rét ở người do Plasmodium vivax nhờ muỗi hút máu

mà xâm nhập vào người Trùng roi Trypanosoma evansi nhờ ruồi trâu, mòng hút máu

để xâm nhập vào trâu, bò

Qua tiếp xúc giữa con vật mắc bệnh và con vật khoẻ Thí dụ: ghẻ ngầm

Sarcoptes scabiei lây truyền do sống chung

Qua bào thai Thí dụ: giun đũa Toxocara vitulorum ở bê, nghé, giun đũa chó

Toxocara canis

Qua niêm mạc Thí dụ: trùng roi Trichomonas foetus ở bò truyền từ con bệnh

sang con khỏe qua giao phối

- Động vật cảm thụ:

Động vật cảm thụ là một trong những khâu quan trọng trong dịch tễ học bệnh ký sinh trùng

Tuổi vật chủ: trong bệnh ký sinh trùng, vật chủ ở mọi lứa tuổi đều có cơ hội nhiễm và mắc bệnh ký sinh trùng như nhau

Giới tính vật chủ: nhìn chung thì không có sự khác nhau về nhiễm và mắc bệnh

ký sinh trùng theo giới tính của vật chủ Tuy nhiên ở bệnh giun đũa chó do Toxocara

canis, giun đũa bê nghé do Toxocara vitulorum thì tỷ lệ con cái nhiễm cao hơn con

đực

- Thời tiết, khí hậu

Nhiều giai đoạn của ký sinh trùng tồn tại và phát triển ở môi trường bên ngoài nên chúng chịu tác động rất lớn của yếu tố thời tiết khí hậu Thời tiết và khí hậu có thể làm ký sinh trùng phát triển nhanh hoặc chậm, hay có thể bị tiêu diệt

Ở những vùng khí hậu nhiệt đới, nửa nhiệt đới nóng, ẩm, mưa nhiều, khu hệ ký sinh trùng phong phú và bệnh ký sinh trùng thường phổ biến ở những vùng này

Ở những vùng có mùa rõ rệt, ký sinh trùng và bệnh do chúng gây ra cũng có tính chất mùa rõ rệt do nhiệt độ, độ ẩm ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của ký sinh trùng và vật chủ trung gian của chúng

- Môi trường bên ngoài:

Môi trường bên ngoài bao gồm các yếu tố như đất, nước, không khí, khu hệ động vật, thực vật Môi trường rộng hay hẹp đều ảnh hưởng sâu sắc tới ký sinh trùng

là vật chủ trung gian để chúng hoàn thành vòng đời

Ở độ cao khác nhau so với mặt nước biển, sự phân bố của các loài ký sinh trùng cũng khác nhau Ở vùng núi cao trên 2000m ít thấy bệnh sán lá gan ở trâu bò

Khu hệ thực vật khác nhau cũng ảnh hưởng đến sự phân bố, phát triển các loại côn trùng cũng như giun sán

- Khu hệ động vật: ở những nơi có nhiều loài động vật sinh sống, động vật dễ

nhiễm ký sinh trùng hơn, bệnh cũng dễ phát ra và lưu hành rộng hơn

Trang 28

28

Nguồn dinh dưỡng: đồng cỏ, thức ăn tự nhiên hay thành phần của thức ăn đều ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của bệnh ký sinh trùng

- Sự hoạt động của con người:

Hoạt động của con người có liên quan mật thiết đến dịch tễ học bệnh ký trùng,

có thể làm tăng hoặc giảm tỷ lệ nhiễm và mắc các bệnh ký sinh trùng

Tập quán chăn nuôi, thức ăn, chuồng nuôi, vệ sinh, chăm sóc, vận chuyển, giết

mổ gia súc, gia cầm đều làm ảnh hưởng đến khả năng phân tán, tồn tại và phát triển của bệnh ký sinh trùng Hoạt động của con người có thể làm phát sinh và phát triển những bệnh ký sinh trùng nhất định, kể cả các bệnh từ động vật khác lây truyền sang người

Thí dụ: sử dụng nhà vệ sinh không hợp vệ sinh làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh gạo

ở lợn hoặc tiếp xúc thường xuyên với chó, mèo làm cho người dễ bị nhiễm ấu trùng

giun đũa Tập quán ăn cá sống làm tăng tỷ lệ mắc bệnh sán lá gan do Clonorrchis

sinensis, sán dây Diphyllobuthrium latum ở người

Sự di cư của người và các động vật cũng làm phân tán mầm bệnh ký sinh trùng từ nơi này đến nơi khác

- Điều kiện ảnh hưởng tới sự phát dục của ký sinh trùng:

Điều kiện cần thiết cho sự phát dục của ký sinh trùng là các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, vật chủ trung gian Các yếu tố này đều ảnh hưởng tới tốc độ phát dục của ký sinh trùng Khi nhiệt

độ và độ ẩm thích hợp thì ký sinh trùng phát triển nhanh và ngược lại Gặp vật chủ trung gian thích hợp thì ký sinh trùng mới phát triển được

Thiên địch của ký sinh trùng cũng gây bất lợi cho sự phát triển của ký sinh trùng

Thí dụ: nấm làm hại ấu trùng giun móc Ancylostoma spp nhiều loài gặm nhấm,

chim ăn ve, kiến ăn trứng ve

Mầm bệnh cần có cơ hội thì mới xâm nhập được vào cơ thể vật chủ

Thí dụ: ấu trùng giun móc Ancylostoma spp chui qua da vào cơ thể vật chủ, ấu trùng sán lá ruột lợn Fasciolopsis buski theo các loài cây thủy sinh làm thức ăn để xâm

nhập vào lợn và người

- Động thái của ký sinh trùng:

Quy luật nhiễm theo mùa: nhiều loại ký sinh trùng phát triển có tính quy luật tuân theo mùa, vụ trong năm, có những tháng có tỷ lệ nhiễm cao và ngược lại

Nhiễm theo vùng: ở những vùng trũng thì tỷ lệ nhiễm sán lá cao hơn vùng núi, trung du và ven biển

Nhiễm theo tuổi vật chủ: có những ký sinh trùng nhiễm ở mọi lứa tuổi của vật chủ nhưng có những ký sinh trùng chỉ có ở một độ tuổi nhất định của vật chủ

Thí dụ: bê, nghé có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao hơn trâu, bò trưởng thành Trâu,

bò tuổi càng cao thì tỷ lệ nhiễm sán lá gan Fasciola spp càng cao

Các nghiên cứu nói trên cho thấy, dịch tễ học bệnh ký sinh trùng khác với dịch

tễ học bệnh truyền nhiễm Bệnh do ký sinh trùng thường diễn biến âm thầm, không rõ triệu chứng Bệnh truyền nhiễm thường xảy ra ở thể quá cấp, cấp tính Thời gian diễn biến của bệnh truyền nhiễm thường ngắn còn các bệnh do ký sinh trùng kéo dài và thường ở thể mạn tính

b Học thuyết về nguồn dịch tự nhiên của E N Pavlovsky

Trong tự nhiên, ngay cả ở những nơi hoang vu, chưa có con người thì vẫn tồn

Trang 29

29

tại các loài động vật chân đốt hút máu như ve, muỗi, ruồi, động vật gặm nhấm (chuột), các loài dã thú mang vi khuẩn, virus, ký sinh trùng và chúng đều có thể gây bệnh cho động vật và người

Khái niệm và đặc điểm của nguồn dịch tự nhiên:

Nguồn dịch tự nhiên là hiện tượng tự nhiên, trong đó mầm bệnh, các vật chủ tích trữ mầm bệnh qua các thế hệ và hiện tại tiến hóa không phụ thuộc vào sự chi phối của con người Nguồn dịch tồn tại trong hoàn cảnh tự nhiên trên động vật hoang dã, không hạn định về thời gian

Nguồn dịch tự nhiên tồn tại ở những nơi hoang vu và tuần hoàn trong khu hệ động vật hoang dã trong tự nhiên Người hoặc gia súc mới đến, do chưa thích nghi với điều kiện tự nhiên ở nơi đó nếu cảm nhiễm với bệnh thì bệnh phát ra nặng hơn

Hiện nay đã phát hiện nhiều bệnh có tính chất nguồn dịch tự nhiên như: nhiệt thán, dịch tả lợn, lở mồm long móng, tụ huyết trùng trâu bò, sán lá gan, sán lá phổi, sán máng, các bệnh ký sinh trùng đường máu…

Thành phần của nguồn dịch tự nhiên:

Nguồn dịch tự nhiên hình thành từ 3 thành phần sau:

Động vật tích trữ mầm bệnh: gồm những động vật có xương sống máu nóng và máu lạnh, các loài gặm nhấm, chim ăn sâu, động vật ăn thịt, bò sát,….có tính mẫn cảm với mầm bệnh

Vật gieo truyền mầm bệnh: gồm các động vật chân đốt mang mầm bệnh trong cơ thể, như: ve và côn trùng hút máu

Mầm bệnh: vi khuẩn, virus và ký sinh trùng có thể sống và sinh sản trong hai thành phần nói trên và tuần hoàn giữa hai thành phần đó

Vòng tuần hoàn của bệnh trong nguồn dịch tự nhiên:

Trong thời kỳ bệnh lưu hành cấp tính, có thể thấy mầm bệnh trong vật chủ trung gian và vật môi giới, chúng sẽ truyền mầm bệnh cho vật chủ cuối cùng

Vật chủ trung gian và vật môi giới đóng vai trò gieo rắc mầm bệnh, đồng thời là nơi tốt nhất cho ký sinh trùng phát dục và sinh sản Mầm bệnh còn có thể qua trứng của vật chủ trung gian để truyền cho đời sau

Thí dụ: ve Rhipicephalus (Boophilus) microplus ở bò có thể truyền Piroplasma

bigeninum qua đời sau, ve Argas persicus mang Spichochaeta spp của gà trong 8 năm

mà vẫn giữ nguyên độc lực, ve Ixodes bảo tồn Rickettsia spp trong 4 năm

Ở thời kỳ bệnh gián đoạn thì khó hoặc không tìm thấy mầm bệnh trong vật chủ trung gian và vật môi giới, khi đó mầm bệnh ẩn trong động vật tích trữ

Dịch tễ học nguồn dịch tự nhiên:

Địa hình khác nhau cũng có các nguồn dịch khác nhau Ở vùng giáp ranh, địa hình phức tạp, động vật hoang dã, động vật chân đốt di chuyển không theo quy luật thì tính chất nguồn dịch tự nhiên thành phức tạp Khi địa hình thay đổi thì nguồn dịch cũng thay đổi

Động vật nhỏ ở khu vực hoang hóa đóng vai trò quan trọng trong nguồn dịch tự nhiên Những khu vực sau đây có thể là nguồn dịch tự nhiên cỡ nhỏ:

Hòn núi nhỏ giữa sa mạc, lớp đất giữa hai cồn cát

Dòng sông chết: hai bên bờ sông thường là nơi trú ẩn của các động vật hoang

dã nhỏ như chuột, bò sát, các loài chim, các loài ve và côn trùng

Trang 30

Ở nơi người sinh sống cũng có các nguồn dịch tự nhiên cỡ nhỏ bao gồm các nơi: thành lũy cổ xưa bỏ hoang trong đó có nhiều động vật dã sinh như dơi, chồn, chuột, cầy, cáo, nhím, những loài này thường mang nhiều ve

Đình, chùa bỏ hoang xen kẽ trong khu vực có người sinh sống cũng là những nguồn dịch tự nhiên

Phát hiện nguồn dịch tự nhiên

+ Tìm động vật dã sinh và các loài chân đốt hút máu

+ Nghiên cứu sinh hoạt của động vật hoang dã

+ Xác định được nguồn gốc của bệnh khi bệnh xảy ra

Phòng chống bệnh trong nguồn dịch tự nhiên:

Tùy thuộc vào thời gian cư trú của người khi tiếp cận nguồn dịch tự nhiên

Cư trú tạm thời: phòng hộ cá nhân là chính Mặc áo liền quần màu xẫm, cài chặt cổ áo, ống tay áo Đầu đội mũ lưới để tránh ve và côn trùng tấn công, xoa lên quần áo các loại thuốc xua đuổi côn trùng Nếu ở lại một thời gian ngắn cần chọn nơi đất bằng phẳng ít cây và bụi rậm, xa sông, suối, phát quang các bụi dậm trước khi ở

Cư trú lâu: phòng dịch nơi công cộng là chính, phát quang các bụi cây dậm, san bằng khu vực xung quanh nơi ở, đốt cỏ khô trên mặt đất nhằm xua đuổi chuột, diệt ve

a Chẩn đoán lâm sàng

Quan sát các triệu chứng lâm sàng ở con vật bị bệnh Tuy nhiên trong các bệnh

ký sinh trùng các triệu chứng lâm sàng, đặc điểm dịch tễ học bệnh không đặc thù cho từng bệnh nên phương pháp này chỉ dùng cho dự đoán

b Chẩn đoán xét nghiệm

Thường xét nghiệm phân, nước tiểu, đờm, dịch, máu để tìm các giai đoạn trưởng thành, ấu trùng, trứng và bào nang của ký sinh trùng Phương pháp này cho kết quả chính xác

c Chẩn đoán thí nghiệm

Chỉ dùng khi hai phương pháp trên không thể áp dụng Thường dùng trong chẩn

đoán các ấu trùng sán dây Echinococcus, Cysticercus ở sâu trong nội tạng hoặc bệnh ở

thời kỳ đầu chưa bài xuất mầm bệnh ra môi trường Ngoài ra còn dùng các phương pháp nuôi cấy ký sinh trùng trên môi trường nhân tạo, tiêm truyền cho động vật thí nghiệm, chẩn đoán miễn dịch, huyết thanh học và tế bào học

Trang 31

31

d Chẩn đoán dựa vào dịch tễ học

Do đặc điểm của ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng có liên quan chặt chẽ với môi trường tự nhiên, các yếu tố địa lý, kinh tế và xã hội, các hoạt động của con người nên việc phân tích đánh giá các yếu tố nói trên là quan trọng để chẩn đoán bệnh cho một cá thể và cả quần thể ở một vùng hẹp hoặc rộng lớn

e Các kỹ thuật áp dụng trong chẩn đoán

Trong chẩn đoán bệnh ký sinh trùng có thể áp dụng nhiều kỹ thuật từ đơn giản tới phức tạp Tùy theo tình hình cụ thể để áp dụng kỹ thuật cho phù hợp

Tìm trứng, bào nang, ấu trùng và ký sinh trùng trưởng thành:

Đãi phân súc vật tìm giun sán trưởng thành hoặc đốt sán dây;

Ép mô để tìm ấu trùng giun xoắn, đơn bào trong mô cơ;

Tiêu cơ để tìm ấu trùng giun sán trong thịt gia súc và cua, cá ;

Làm tiêu bản mô cơ tìm ấu trùng giun và nang sán;

Xét nghiệm trực tiếp nhiều loại bệnh phẩm khác nhau, có thể xét nghiệm định tính hoặc định lượng để tìm trứng, ấu trùng và ký sinh trùng trưởng thành sống hoặc

đã chết, có thể xét nghiệm tươi hoặc nhuộm sống hoặc nhuộm khi ký sinh trùng chết

Nuôi cấy phân để tìm ấu trùng giun xoăn, giun móc, đơn bào đường ruột;

Xét nghiệm gián tiếp:

Trong trường hợp không tìm được ký sinh trùng bằng phương pháp xét nghiệm trực tiếp thì phải áp dụng phương pháp chẩn đoán gián tiếp miễn dịch học Để phương pháp chẩn đoán gián tiếp có hiệu quả cao thì cần lưu ý là kháng nguyên chẩn đoán phải tinh khiết và các thiết bị dụng cụ phải chính xác

Các phản ứng gián tiếp thường dùng:

Phản ứng biến thái nội bì: tiêm kháng nguyên chế từ ký sinh trùng vào da con vật để xác định hiện tượng dị ứng quá mẫn như: tiêm kháng nguyên giun đũa, trùng roi đường máu Hiện nay phản ứng này không còn được dùng vì hiệu quả thấp

Phản ứng huyết thanh học: có nhiều kháng nguyên được dùng cho các phản ứng như:

Phản ứng ngưng kết nhanh;

Phản ứng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp hoặc gián tiếp;

Phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch;

Phản ứng kết hợp bổ thể;

Phản ứng ngưng kết gián tiếp Latex;

Phản ứng Elisa;

Kỹ thuật PCR;

Các xét nghiệm phụ trợ khác:

Xét nghiệm số lượng bạch cầu ái toan (dùng chẩn đoán bệnh giun tròn);

Xác định số lượng hồng cầu áp dụng trong một số bệnh ký sinh trùng đường máu;

Tiêm truyền cho động vật thí nghiệm dùng chẩn đoán bệnh tiên mao trùng, lê dạng trùng ở trâu, bò;

Chẩn đoán qua mổ khám:

Mổ khám súc vật chết tìm ký sinh trùng và kiểm tra bệnh tích đại thể;

Mổ khám vật chủ trung gian và vật môi giới như: mổ ve cứng tìm căn bệnh lê

Trang 32

32

dạng trùng, mổ ruồi và mòng tìm trùng roi trong vòi hút của chúng;

3.6 Điều trị bệnh ký sinh trùng

Điều trị bệnh ký sinh trùng phải đạt được 3 yêu cầu:

Phải tiêu diệt ký sinh trùng hoặc tẩy chúng ra khỏi cơ thể vật chủ

Ngăn ngừa vật chủ ốm bị tái nhiễm bằng cách đưa vật chủ ra khỏi nơi có bệnh

Liều lượng thuốc: cần phải đạt độ chính xác theo khối lượng vật chủ

Nơi điều trị: nếu điều trị cho cá thể thì thực hiện tại các nông hộ Nếu điều trị cho đàn thì cần lựa chọn địa điểm tập trung

Liệu trình điều trị: cho vật chủ dùng thuốc một lần hay nhiều lần, trong thời gian bao lâu tùy theo loại bệnh và tính chất của thuốc

Cần xét nghiệm trước khi điều trị

Nhuận tràng và thuốc tẩy: tùy từng bệnh, từng loại thuốc mà có thể phải dùng thuốc gây nhuận tràng cho vật chủ

Điều trị triệu chứng và trợ sức: có những bệnh ký sinh trùng ngoài điều trị đặc hiệu còn phải điều trị triệu chứng như: điều trị thiếu máu (bệnh giun móc ở chó, bệnh

lê dạng trùng, biên trùng ở bò) Trong một số bệnh phải vừa điều trị đặc hiệu kết hợp với trợ sức và chăm sóc hộ lý (bệnh lê dạng trùng ở bò sữa, bệnh tiên mao trùng ở trâu

bò, ngựa) Tuy nhiên nhiều bệnh chỉ cần điều trị đặc hiệu

Xử lý mầm bệnh đào thải sau điều trị: phải thu gom triệt để xác ký sinh trùng (giun sán), phân và rác thải ở nơi điều trị để tiêu độc, tiêu độc nơi điều trị

Kết hợp giữa điều trị với dự phòng: do bệnh ký sinh trùng có khả năng tái nhiễm rất nhanh vì vậy cần phải có dự phòng tốt để vật chủ không bị tái nhiễm

3.7 Phòng chống bệnh ký sinh trùng

Để phòng bệnh ký sinh trùng có hiệu quả, cần căn cứ vào các đặc điểm sinh học của ký sinh trùng và vật chủ, đặc điểm dịch tễ học của bệnh, điều kiện kinh tế xã hội

và môi trường Phòng bệnh ký sinh trùng cần dựa trên các nguyên tắc nhất định

Nguyên tắc phòng bệnh:

Phải phòng bệnh trên quy mô rộng vì hầu hết các bệnh ký sinh trùng rất phổ biến, nhiều vật chủ mắc và dễ lây lan

Phải có kế hoạch phòng chống lâu dài vì bệnh ký sinh trùng thường kéo dài và khả năng tái nhiễm cao

Phòng chống bệnh ký sinh trùng ở gia súc kết hợp chặt với phòng chống bệnh ở người

Các biện pháp phòng chống bệnh:

Diệt ký sinh trùng ở vật nuôi, vật chủ trung gian Diệt ký sinh trùng ở môi trường bên ngoài bằng các biện pháp cơ học, vật lý, hóa học và sinh học;

Cắt đứt vòng đời của ký sinh trùng;

Trang 33

33

Chống ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng ở ngoại cảnh;

Vệ sinh môi trường, môi trường chăn nuôi;

Nâng cao trình độ dân trí;

Phát triển mạng lưới thú y thôn bản;

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Định nghĩa về bệnh ký sinh trùng, các điều kiện làm phát sinh bệnh ký sinh trùng?

2 Đặc điểm và thể bệnh của bệnh ký sinh trùng?

3 Những yếu tố nào gây ảnh hưởng tới bệnh ký sinh trùng, đánh giá bệnh ký sinh trùng theo phương pháp nào?

4 Cách gọi tên ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng?

5 Đặc điểm chung của miễn dịch ký sinh trùng Ý nghĩa của việc hiểu biết về miễn dịch ký sinh trùng?

6 Thành phần và các loại miễn dịch ký sinh trùng?

7 Phản ứng tự vệ của ký sinh trùng trước sức miễn dịch của vật chủ biểu hiện thế nào?

8 Những yếu tố nào gây ảnh hưởng tới sức miễn dịch của vật chủ? Ý nghĩa của hiểu biết về yếu tố ảnh hưởng tới sức miễn dịch của vật chủ?

9 Ứng dụng của miễn dịch trong thực tiễn?

10 Những nội dung cần nghiên cứu dịch tễ học bệnh ký sinh trùng?

11 Địa điểm, thành phần, cơ chế truyền lây và biện pháp phòng chống bệnh nguồn dịch tự nhiên?

12 Các phương pháp chẩn đoán bệnh ký sinh trùng?

13 Nguyên tắc và biện pháp phòng trị bệnh ký sinh trùng?

Phần thứ hai

KÝ SINH TRÙNG CHUYÊN KHOA

Chương 4

Trang 34

Nắm vững đặc điểm hình thái, cấu tạo, sinh học và phân loại đơn bào

Nắm được đặc điểm của bệnh do đơn bào gây ra, các phương pháp cơ bản trong chẩn đoán và phòng trị bệnh do đơn bào

4.1 Đại cương về động vật đơn bào ký sinh

Động vật đơn bào (Protozoa), theo thuyết tiến hóa chúng là những động vật hình thành sớm nhất Trong tiếng Hy Lạp proto nghĩa là đầu tiên, zoa là động vật

Động vật đơn bào là một dạng sống đơn giản, mặc dù cơ thể chỉ có một tế bào, nhưng có khả năng thực hiện đầy đủ các hoạt động sống như một cơ thể đa bào hoàn chỉnh, chúng có thể thu nhận thức ăn, tiêu hóa, tổng hợp, hô hấp, bài tiết, điều hòa ion

và điều hòa áp suất thẩm thấu, chuyển động và sinh sản Đa số các động vật đơn bào sống tự do ngoài môi trường Một số đơn bào thích nghi với đời sống ký sinh ở động vật và người

a Đặc điểm chung của động vật đơn bào ký sinh

Hình thái:

Hình thể của đơn bào có cấu tạo đơn giản và kích thước rất nhỏ, chỉ từ 0,01 – 0,05mm Hình thể của đơn bào thay đổi tùy theo các lớp và các giai đoạn trong vòng đời của chúng

Thí dụ: hình thể của bào nang amip cũng khác dạng trưởng thành

Cấu tạo

Đơn bào là một tế bào với đầy đủ cấu trúc của nó Bên ngoài đơn bào lớp bào tử

trùng (Spororoa), trùng roi (Flagenlata) và trùng lông (Ciliata) thì có màng tế bào bao bọc nhưng đơn bào lớp giả túc (Rhiropoda) thì không có màng bao bọc

Đơn bào ở thể thực vật hoặc thể tự dưỡng thì nguyên sinh chất có hạt mỏng và gồm 2 phần là ngoại nguyên sinh chất mỏng và nội sinh chất dầy hơn

Chức năng của ngoại nguyên sinh chất là chuyển động, tiêu hóa và hô hấp Sự chuyển động của đơn bào là nhờ sự kéo dài của ngoại nguyên sinh chất dưới hình thức

của cơ quan vận động như chân giả của Amip, lông chuyển ở trùng lông (Ciliata), roi

và màng rung động ở trùng roi (Flagenlata) Các đơn bào lớp bào tử trùng (Sporozoa), cầu trùng (Coccidida), đơn bào sốt rét (Plasmodium) không có cơ quan vận động nên

chúng ký sinh cố định trên các tế bào vật chủ

Nội nguyên sinh chất có chức năng dinh dưỡng và sinh sản Trong nội nguyên sinh chất có không bào co bóp làm nhiệm vụ điều chỉnh áp lực thẩm thấu và bài tiết và không bào tiêu hóa giúp dự trữ thức ăn

Nhân của đơn bào có hình tròn hoặc bầu dục, có màng nhân và trung thể ở phần trung tâm Ở một vài loại đơn bào, màng nhân có những hạt nhiễm sắc Ở trùng lông

Balantidium spp có 2 nhân một lớn và một nhỏ nằm gần nhau Ở trùng roi họ Trypanosomidae có nhân lớn nằm giữa cơ thể và nhân nhỏ nằm ở một đầu

Phương thức vận động:

Đơn bào ký sinh vận động theo nhiều cách khác nhau: roi, chân giả và lông

Trang 35

35

chuyển Phương thức vận động của đơn bào có ý nghĩa trong phân loại đơn bào

Tổ chức của đơn bào gồm chất nguyên sinh, hạt, và có khi có màng tế bào Một

số nguyên sinh động vật còn có bào hầu nối liền bào khẩu với túi tiêu hóa, lông tơ hoặc roi hoạt động được nhờ thể gốc

Chất nguyên sinh: thường chia thành 2 lớp, lớp ngoài tương đối dày và thuần nhất, lớp trong là trạng thái hạt

Nhân: có dạng tròn hay bầu dục, có khi dài hoặc cuộn khúc Phần lớn là nhân đơn có khi là nhân kép hay nhiều nhân như trùng roi

Màng tế bào thường không có hoặc lớp ngoài của nguyên sinh chất cứng lại thành một cái vỏ (biểu bì), hoặc bề mặt của nguyên sinh chất không đông đặc lại, nên

cơ thể đơn bào vẫn mềm như một khối nhầy

Ngoài các cấu tạo trên thì đơn bào còn có cơ quan vận động như chân giả, roi, lông tơ Chân giả chỉ thấy ở những đơn bào không có màng tế bào Chân giả là một bộ phận tạm thời, hình dáng và chỗ phát sinh thay đổi; lúc nghỉ thì đơn bào hình tròn, nhẵn, lúc hoạt động thì hình dáng thay đổi Trái lại lông tơ và roi là những phần phụ vĩnh viễn không thay đổi, có hình dáng và vị trí cố định, thường gặp ở đơn bào có màng tế bào Roi là những lông dài, có từ 1-8 roi, vận động nhanh theo kiểu xoắn vặn

Dinh dưỡng:

Đơn bào dinh dưỡng theo các cách sau:

Thẩm thấu chất dinh dưỡng qua màng;

Lấy dinh dưỡng theo kiểu thực bào;

Hấp thu tự nhiên giống như thực vật Kiểu lấy dinh dưỡng này chỉ gặp ở những đơn bào thô sơ vẫn còn chức năng chuyển hóa lục diệp tố;

Thí dụ: đơn bào Suctoria

Hô hấp:

Ở đơn bào ký sinh không có cơ quan biệt hóa, tế bào có thể thu nhận oxy và thải carbonic theo kiểu khuếch tán Đơn bào thô sơ thì có khả năng tiếp thu oxy thông qua tiếp thu carbonic như kiểu thực vật

Bài tiết:

Sự bài tiết của đơn bào được thực hiện bằng không bào co bóp hoặc bằng ống rãnh thoát cỡ nhỏ

Sự tạo thành bào nang:

Trong một số điều kiện khắc nghiệt của môi trường bên ngoài, một số đơn bào chuyển sang dạng bào nang Bào nang có hình tròn hoặc bầu dục và có vỏ dầy bao bọc, tồn tại lâu dài ở môi trường và luôn có khả năng gây nhiễm Khả năng tạo thành bào nang thường thấy ở trùng lông, trùng roi và amip sống ở đường tiêu hóa

Sinh sản của đơn bào:

Ở động vật đơn bào ký sinh, thể hoạt động và thể bào nang đều có khả năng sinh sản

Đơn bào sinh sản theo hai phương thức vô tính và hữu tính, trong đó chủ yếu là sinh sản vô tính

+ Sinh sản vô tính

Thực hiện theo các hình thức: phân đôi theo chiều dọc, thường thấy ở trùng roi

và amip, trùng lông (Balantidium coli) thì phân đôi cắt ngang

Trang 36

Đơn bào lớp Sporozooa như giống Eimeria, Isospora, Toxoplasma đều có khả

năng sinh sản tạo bào tử

b Vòng đời

Vòng đời của đơn bào đường tiêu hóa, đường sinh dục thường đơn giản vì đơn bào không cần vật chủ trung gian trong phát triển vòng đời như trùng lông, trùng roi, amip và cầu trùng

Thí dụ: cầu trùng (Eimeria spp.) ở gà, cầu trùng ở gia súc nhai lại

Các đơn bào ký sinh trong đường máu và tổ chức thì cần vật chủ trung gian hoặc vật môi giới là các côn trùng để hoàn thành vòng đời, chúng là những ký sinh trùng đa

ký chủ

Thí dụ: bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma evansi thấy ở trâu, bò, ngựa, lạc đà,

chó và nhiều loài động vật khác cần vật môi giới là ruồi trâu và mòng để lan truyền

c Phân loại

Đơn bào ký sinh được phân thành 4 lớp như sau:

- Lớp Mao trùng (Ciliata):

Cơ thể có hình dạng ổn định, bên ngoài có nhiều lông nhỏ (tiêm mao) Loài

điển hình ký sinh ở người và gia súc là Balantidium coli

- Lớp Bào tử trùng (Sporozoa):

Cơ thể không có cơ quan vận chuyển, có nhiều hình dạng ở các giai đoạn phát triển Có vỏ bọc ngoài ở giai đoạn bên ngoài vật chủ (bào tử thể) Những loài ký sinh

và gây hại cho gia súc và người gồm:

+ Bộ Cầu trùng (Coccidida):

Cầu trùng ở gà, thỏ, gia súc nhai lại, lợn Ký sinh ở tế bào biểu bì, có dạng hình trứng, hình cầu, trong chứa nhân và nguyên sinh chất có các cơ quan tử Vòng đời phát triển gồm cả sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính Cầu trùng gây hại cho vật nuôi

là Eimeria, Isospora, Toxoplasma, Cryptosporidium

+ Bộ Huyết bào tử trùng (Haemosporidia):

Ký sinh ở hồng cầu, bạch cầu, phát triển cần vật chủ cuối cùng và vật chủ trung gian Ở động vật có xương sống, ký sinh trùng phát triển, sinh sản vô tính Đơn bào ký sinh, phát triển và tiến hành sinh sản hữu tính ở động vật không xương sống và không

có giai đoạn tự do ở môi trường bên ngoài

Thí dụ: lê dạng trùng, biên trùng, leucocytozoon spp

+ Bộ Nhục bào tử trùng (Sarcosporidia):

Ký sinh ở cơ và các tổ chức liên kết của động vật có xương sống Bào tử trùng có vỏ khá cứng Bên trong có những ngăn chứa hình thận trần, có một nhân Trong họ

này chỉ có một giống đáng lưu ý là Sarcocystis gồm các bào tử trùng ký sinh trong tổ

chức cơ và các tổ chức liên kết của dê, cừu, trâu, bò, lợn và ngựa Loài ký sinh phổ

biến ở gia súc là Sarcocystis bovicanis, S bovifelis, S bovilhominis…

Trang 37

37

- Lớp Giả túc (Rhizopoda):

Cơ thể gồm 1 tế bào trần, thường hình thành giả túc để di chuyển và bắt mồi nên hình dạng luôn biến đổi Sinh sản phân đôi, có khi hình thành bào nang Trong lớp này

chỉ có một giống Entamoeba gây bệnh lỵ amip cho người, chó, mèo và bê

- Lớp Trùng roi (Flagellata):

Bao gồm các loại đơn bào có cơ quan vận động là roi, ký sinh trong đường tiêu

hóa gồm giống Giardia, Trichomonas trong đường sinh dục hoặc Trypanosoma,

Leishmania trong hệ tuần hoàn Những trùng roi sống ở đường tuần hoàn trong chu kỳ

phát triển bắt buộc phải đi qua côn trùng

d Đặc điểm của bệnh do đơn bào

Đường xâm nhiễm của đơn bào ký sinh:

Động vật mắc bệnh đơn bào do:

Tiếp xúc trực tiếp giữa con vật khỏe và con vật mắc bệnh Thí dụ: bệnh sảy thai

của bò do Trichomonas truyền qua giao phối

Qua thức ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh Thí dụ: bệnh cầu trùng do Eimeria

Qua đường da do động vật chân đốt là ký chủ trung gian hoặc vật môi giới hút máu

Thí dụ: ruồi trâu truyền bệnh tiên mao trùng Có khi chân đốt đóng vai trò là vật chủ trung gian, đơn bào phát dục đến một giai đoạn nhất định trong vật chủ trung gian, sau đó chúng hút máu và truyền bệnh cho vật chủ Chân đốt còn là vật chủ dự trữ đơn bào trong thời gian dài Thí dụ: ve là vật chủ mang lê dạng trùng trong nhiều tháng và truyền cho nhiều đời sau của nó

Tác động của đơn bào lên vật chủ:

Cũng như các loại ký sinh trùng khác, đơn bào cũng gây những tác hại cơ giới, gây hoại tử tổ chức như cầu trùng, amip Đơn bào còn chiếm đoạt dinh dưỡng từ vật

chủ để phát triển Một số đơn bào còn tiết độc tố đầu độc vật chủ như Sarcocystis…

Mặt khác, đơn bào sinh sản nhanh trong cơ thể, phá hoại nghiêm trọng, nên có thể gây thành dịch, làm gia súc, gia cầm mắc bệnh ở thể cấp tính gây chết nhiều, nhất là những con non

Cơ thể vật chủ cũng chống lại sự tác động của đơn bào bằng phản ứng tế bào (thực bào, phản ứng viêm) và phản ứng dịch thể (sinh kháng thể) Đa số trường hợp,

sự miễn dịch đối với bệnh đơn bào là miễn dịch mang trùng Những con vật mang trùng này có thể bị phát bệnh khi gặp điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi và chúng là nguồn reo rắc bệnh

Phản ứng của cơ thể vật chủ khi bị đơn bào ký sinh:

Vật chủ phản ứng lại đơn bào bằng phản ứng tế bào và phản ứng dịch thể Phản ứng tế bào: là những phản ứng viêm cục bộ và tăng sinh, hoặc phản ứng viêm toàn thân dưới tác động của độc tố do đơn bào tiết ra Phản ứng thấy rõ nhất là tăng sinh bạch cầu eosin, giảm hồng cầu, gây thiếu máu

Phản ứng thể dịch: là phản ứng sinh kháng thể Những kháng thể tích lũy trong

cơ thể gây trạng thái miễn dịch hoặc trạng thái quá mẫn Trong miễn dịch do đơn bào thì ở một số ít bệnh đơn bào bị tiêu diệt hoàn toàn bởi kháng thể, còn đa số các trường hợp đơn bào vẫn còn tồn tại trong cơ thể động vật với một số lượng ít, và cơ thể được miễn dịch trong thời gian ngắn Đây là những động vật mang trùng, là nguồn reo rắc

Trang 38

38

mầm bệnh ra ngoài môi trường hoặc khi điều kiện chăn nuôi kém thì chúng có thể phát bệnh Thí dụ: bệnh tiên mao trùng mạn tính của trâu nuôi ở vùng núi có thể chuyển thành bệnh cấp tính khi chuyển về vùng đồng bằng

e Chẩn đoán bệnh do đơn bào

Nguyên tắc:

Phải tìm thấy căn bệnh mới đủ cơ sở để kết luận

Các phương pháp chẩn đoán:

Soi trực tiếp phân, máu, dịch thể tìm căn bệnh

Phết kính máu, dịch thể nhuộm bằng thuốc nhuộm giemsa tìm căn bệnh

Lấy hạch lâm ba, gan lách hoặc chất chứa ở ruột phết kính nhuộm giemsa, soi dưới kính hiển vi tìm căn bệnh

Tiêm truyền cho động vật thí nghiệm:

Lấy máu con vật nghi mắc bệnh tiêm truyền cho các động vật thí nghiệm là thỏ, mèo, chuột lang, chuột bạch, bê Sau một thời gian, lấy máu con vật thí nghiệm tìm căn bệnh

Làm phản ứng huyết thanh học như: phản ứng ngưng kết, bổ thể kết hợp, kháng thể huỳnh quang và Elisa

Kiểm tra động vật môi giới và vật chủ trung gian tìm căn bệnh

Thí dụ: kiểm tra tuyến nước bọt, mổ dạ dầy ve, vòi hút côn trùng tìm căn bệnh Dựa vào triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đặc trưng như: hiện tượng sốt, màu sắc niêm mạc, nước tiểu, phân

Dựa vào dịch tễ học: đường lan truyền bệnh, vùng bệnh, mùa bệnh, tuổi mắc bệnh của động vật

g Điều trị và phòng bệnh do đơn bào

Điều trị:

Điều trị bằng các loại thuốc hóa học

Điều trị bằng kháng huyết thanh, phương pháp này hiệu quả thấp nên ít dùng

Phòng bệnh đơn bào:

Mục đích là làm cho vật nuôi ít bị chết và ngăn ngừa bệnh lưu hành

Dùng thuốc điều trị dự phòng cho gia súc, gia cầm

Dùng máu của động vật đã khỏi bệnh gây miễn dịch cho động vật cảm thụ Dùng vác xin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Đặc điểm cơ bản của động vật đơn bào ký sinh?

2 Đặc điểm của bệnh do đơn bào gây ra cho động vật?

3 Phương pháp nào chẩn đoán bệnh đơn bào?

4 Biện pháp cơ bản phòng và điều trị bệnh đơn bào?

Trang 39

39

Chương 5 BỆNH DO ĐỘNG VẬT ĐƠN BÀO LỚP TRÙNG ROI GÂY NÊN Mục đích

Giới thiệu đặc điểm cơ bản của lớp trùng roi và một số bệnh do trùng roi gây ra ở vật nuôi

Nắm vững đặc điểm cơ bản của lớp trùng roi gây bệnh ở vật nuôi

Yêu cầu

Hiểu rõ đặc điểm của căn bệnh, vòng đời, dịch tễ học, triệu chứng lâm sàng, bệnh tích, các phương pháp chẩn đoán và biện pháp phòng trị bệnh Bước đầu biết vận dụng những kiến thức để chẩn đoán và phòng chống bệnh trong thực tiễn

5.1 Đặc điểm của lớp trùng roi

Trùng roi là những đơn bào mà cơ thể thường có từ 1 đến 3 roi, cũng có khi nhiều hơn Roi là một phần nguyên sinh chất kéo dài ra và dính vào thể gốc Roi bắt đầu từ phần trên của cơ màng uốn giúp trùng roi di chuyển Một số trùng roi còn có trụ nâng cơ thể Chức năng của roi là vận chuyển và bắt mồi

Trùng roi sinh sản vô tính và hữu tính, sinh sản vô tính theo hình thức phân đôi tạo ra 2 trùng roi mới

Một số chủng loài trùng roi sinh sản hữu tính Khi chuẩn bị sinh sản hữu tính thì tất cả các tế bào đều có khả năng biến thành yếu tố sinh dục và từng đôi yếu tố sinh dục kết hợp lại với nhau Trùng roi có khả năng sinh bào nang ở ngoài môi trường trong điều kiện khắc nghiệt Bào nang trùng roi có hình tròn hoặc bầu dục

Xét về vị trí ký sinh, trùng roi chia làm hai nhóm:

- Nhóm ký sinh trong đường sinh dục và đường tiêu hóa gồm giống

Trichomonas và Giardia

- Nhóm ký sinh trong máu và nội tạng gồm giống Trypanosoma và Leismania Các bệnh do trùng roi gây ra bao gồm: bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma

evansi Trên thế giới gọi là bệnh Surra, ở Việt Nam gọi là bệnh tiên mao trùng, bệnh

này gây thiệt hại nhiều cho trâu và ngựa Ở ngựa còn có trùng roi Trypanosoma

equiperdum gây bệnh tiêm la cho ngựa

Bệnh do Trichomonas foetus ở đường sinh dục của bò, Trichomonas vaginalis ở đường sinh dục của người và bệnh trùng roi thuộc giống Giardia ở đường tiêu hóa của

người, động vật ăn thịt và động vật nhai lại

5.2 Bệnh Tiên mao trùng ở gia súc (Trypanosomosis animalium)

Căn bệnh:

Bệnh do trùng roi Trypanosoma evansi ký sinh trong huyết tương của máu ngựa,

lừa, la, trâu, bò, lạc đà, chó và mèo gây ra

Bệnh truyền qua sinh vật môi giới là những côn trùng thuộc các giống Tabanus,

Stomoxys, Liperosia, Chrysozona

Hình thái, cấu tạo:

Trypanosoma evansi dài 18,00-34,00μm, rộng: 2,50μm, hình thoi, di động được

trong huyết tương nhờ một roi tự do xuất phát từ phía sau thân chạy vòng quanh thân tạo thành một màng rung Có nhân to ở giữa thân và nhân nhỏ (thể gốc phụ) ở một đầu Phần roi tự do ở cuối thân dài 5-6µm Khi nhuộm thuốc giemsa, phần nguyên

Trang 40

40

sinh chất của trùng roi bắt màu xanh nhạt, nhân bắt màu hồng

Hình 5 1 Hình thái, cấu tạo của Tryponosoma evansi

a - Màng, b - Nhân, c - Nhân phụ, d - Màng rung, e - Roi tự d

Vòng đời:

Tryponosoma evansi không có chu kỳ tiến hóa ở côn trùng môi giới Trong vật

chủ cuối cùng chúng sinh sản theo hình thức vô tính, phân đôi theo chiều dọc

Hình 5 2 Vòng đời của Tryponosoma evansi

a - Da vật chủ, b - Mạch quản ngoại vi, c - Roi trùng, d - Côn trùng môi giới (theohttp://www.vetbook.org/wiki/horse/index.php?title=Trypanosoma_spp)

T evansi rất mẫn cảm với chuột nhắt, thỏ và chuột lang nên có thể tiêm truyền

cho các động vật này để chẩn đoán bệnh Mặt khác trùng roi có khả năng sống cận sinh ở nhiệt độ dưới 00C nên dễ dàng lưu giữ chúng để phục vụ cho nghiên cứu

Dịch tễ học:

Bệnh phổ biến ở trâu, bò, ngựa các nước nhiệt đới thuộc châu Phi, châu Á và Nam

Mỹ

Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện từ rất sớm, phổ biến trên trâu, bò, ngựa ở tất

cả các vùng sinh thái khác nhau Mùa phát bệnh thường vào mùa ruồi trâu và mòng hoạt động mạnh Ở Việt Nam, bệnh thường xẩy ra từ tháng 5 đến tháng 9, tuy nhiên cũng đã thấy bệnh phát ra vào vụ đông xuân khi không có vật môi giới truyền bệnh hoạt động

Ngày đăng: 24/03/2022, 11:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5. 1. Hình thái, cấu tạo của Tryponosoma evansi - Giáo trình Kí sinh trùng
Hình 5. 1. Hình thái, cấu tạo của Tryponosoma evansi (Trang 40)
Hình 5.6. Vòng đời Histomonas meleagridis (theo William. J. Foreyt, 2001). - Giáo trình Kí sinh trùng
Hình 5.6. Vòng đời Histomonas meleagridis (theo William. J. Foreyt, 2001) (Trang 45)
Hình 6.2. Vòng đời cuả Piroplasma (Babesia) bigeminum (William. J. Foreyt, 2001). - Giáo trình Kí sinh trùng
Hình 6.2. Vòng đời cuả Piroplasma (Babesia) bigeminum (William. J. Foreyt, 2001) (Trang 50)
Hình 6.3. Bệnh tích bò mắc bệnh lê dạng trùng - Giáo trình Kí sinh trùng
Hình 6.3. Bệnh tích bò mắc bệnh lê dạng trùng (Trang 52)
Hình 6.5. Vòng đời của Theileria spp. - Giáo trình Kí sinh trùng
Hình 6.5. Vòng đời của Theileria spp (Trang 56)
Hình 6.7. Anaplasma marginale ở hồng cầu bò - Giáo trình Kí sinh trùng
Hình 6.7. Anaplasma marginale ở hồng cầu bò (Trang 59)
Hình 6.9. Bò mắc bệnh biên trùng ở thể mạn tính - Giáo trình Kí sinh trùng
Hình 6.9. Bò mắc bệnh biên trùng ở thể mạn tính (Trang 61)
Hình 6.12. Bệnh tích gà mắc bệnh do Leucocytozoon spp. (Nguyễn Văn Thọ, 2012). - Giáo trình Kí sinh trùng
Hình 6.12. Bệnh tích gà mắc bệnh do Leucocytozoon spp. (Nguyễn Văn Thọ, 2012) (Trang 64)
Hình 7.3. Manh tràng gà chứa đầy máu  Hình 7.4. Oocyst của cầu trùng trong phân - Giáo trình Kí sinh trùng
Hình 7.3. Manh tràng gà chứa đầy máu Hình 7.4. Oocyst của cầu trùng trong phân (Trang 71)
Hình 9.3. Vòng đời Ascaris suum. - Giáo trình Kí sinh trùng
Hình 9.3. Vòng đời Ascaris suum (Trang 94)
Hình 9.8. Hình thái, cấu tạo của giun đũa gà (Skrjabin và Schulz, 1937). - Giáo trình Kí sinh trùng
Hình 9.8. Hình thái, cấu tạo của giun đũa gà (Skrjabin và Schulz, 1937) (Trang 101)
Hình 9.16.  Vòng đời của giun đũa ngựa. - Giáo trình Kí sinh trùng
Hình 9.16. Vòng đời của giun đũa ngựa (Trang 108)
Hình 10.5. Hình thái của Trichostrongylus spp. - Giáo trình Kí sinh trùng
Hình 10.5. Hình thái của Trichostrongylus spp (Trang 125)
Hình 10.6. Vòng đời của Trichostrongylus spp.. - Giáo trình Kí sinh trùng
Hình 10.6. Vòng đời của Trichostrongylus spp (Trang 126)
Hình 10.9. Vòng đời Strongylus spp. - Giáo trình Kí sinh trùng
Hình 10.9. Vòng đời Strongylus spp (Trang 129)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w