1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Giáo trình Ký sinh trùng (Nghề Dịch vụ thú y Trung cấp)

102 10 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Ký sinh trùng (Nghề Dịch vụ thú y Trung cấp)
Trường học Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp
Chuyên ngành Dịch vụ thú y
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 883,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Định nghĩa ký sinh (11)
  • 1.2. Các hiện tượng sinh học (11)
  • 2. Hệ thống phân loại và danh pháp (12)
    • 2.1 Ngành giun dẹp (phylum Plathelminthes) (14)
    • 2.2 Ngành giun tròn (phylum Nemathelminthes) (14)
    • 2.3 Ngành giun đầu gai (phylum Acanthocephales) (14)
  • 3. Đường xâm nhập và truyền lây của ký sinh trùng (14)
    • 3.1. Đường xâm nhập (15)
    • 3.2. Đường truyền lây (15)
  • BÀI 1 (16)
    • 1. Đại cương sán lá (16)
      • 1.1. Đặc điểm hình thái (16)
      • 1.2. Vòng đời (18)
      • 1.3. Phân loại (19)
    • 2. Bệnh sán lá ở loài nhai lại (19)
      • 2.1 Căn bệ nh, ký ch ủ (19)
      • 2.2. D ị ch t ễ, cơ chế sinh b ệ nh (20)
      • 2.3 Tri ệ u ch ứ ng, b ệ nh tích (21)
      • 2.4. Ch ẩn đoán (22)
      • 2.5. Điề u tr ị , phòng b ệ nh (22)
    • 3. B ệ nh sán lá ở heo (23)
      • 3.1. Căn b ệ nh, ký ch ủ (23)
      • 3.2. D ị ch t ễ, cơ chế sinh b ệ nh (24)
      • 3.3. Tri ệ u ch ứ ng, b ệ nh tích (25)
      • 3.4. Ch ẩn đoán (25)
      • 3.5. Điề u tr ị , phòng b ệ nh (25)
    • 4. B ệ nh sán lá ở loài ăn thị t (25)
      • 4.1. Căn bệ nh, ký ch ủ (25)
      • 4.2. D ị ch t ễ, cơ chế sinh b ệ nh (26)
      • 4.3. Tri ệ u ch ứ ng, b ệ nh tích (26)
      • 4.4. Chẩn đoán (26)
      • 4.5. Điề u tr ị , phòng b ệ nh (26)
    • 5. B ệ nh sán lá ở gia c ầ m (27)
      • 5.1. Căn bệnh, ký chủ (27)
      • 5.2. D ị ch t ễ, cơ chế sinh b ệ nh (28)
      • 5.3. Tri ệ u ch ứ ng, b ệ nh tích (28)
      • 5.4. Ch ẩn đoán (29)
      • 5.5. Điề u tr ị , phòng b ệ nh (29)
    • 6. Thựchành (29)
  • BÀI 2 (32)
    • 1. Đại cương (32)
      • 1.1. Đặc điể m hình thái (32)
      • 1.2 Vòng đờ i (34)
      • 1.3. Phân lo ạ i (36)
    • 2. B ệ nh sán dây loài nhai l ạ i (37)
      • 2.1. Căn bệ nh, ký ch ủ (37)
      • 2.2. Dịch tễ, cơ chế sinh bệnh (38)
      • 2.3. Tri ệ u ch ứ ng, b ệ nh tích (38)
    • 3. B ệ nh sán dây ở thú ăn thị t (39)
      • 3.1. Căn bệ nh, ký ch ủ (39)
      • 3.2. Dịch tễ, cơ chế sinh bệnh (39)
      • 3.5. Điều trị, phòng bệnh (40)
    • 4. B ệ nh sán dây ở gia c ầ m (40)
      • 4.4. Ch ẩn đoán (42)
    • 5. B ệ nh do ấ u trùng sán dây (43)
      • 5.1. Bệnh gạo heo (43)
      • 5.2. B ệ nh g ạ o bò (45)
    • 6. Thực hành (47)
  • BÀI 3 (50)
    • 1.2. Vòng đờ i (52)
    • 2. B ệ nh g iun đũa bê nghé (53)
      • 2.1. Căn bệnh, vòng đờ i (53)
      • 2.5. Phòng, tr ị b ệ nh (55)
    • 3. B ệ nh giun đũa heo (56)
      • 3.1. Căn bệnh, vòng đờ i (56)
      • 3.5. Phòng, tr ị b ệ nh (58)
    • 4. B ệ nh g iun đũa ở loài ăn thị t (59)
      • 4.2. Dịch tễ, cơ chế sinh bệnh (60)
      • 4.5. Phòng, trị bệnh (61)
    • 5. B ệnh giun đũa gà (61)
      • 5.1. Căn bệnh, vòng đờ i (61)
      • 5.5. Phòng, tr ị b ệ nh (63)
  • BÀI 4 (65)
    • 1. Phân b ộ ve ký sinh (66)
      • 1.1. Họ ve cứng (Ixodidae) (66)
      • 1.2. Họ ve mềm (67)
    • 2. Phân b ộ gh ẻ (68)
      • 2.1. B ệ nh gh ẻ ở heo (69)
      • 2.2. B ệ nh gh ẻ ở chó mèo (70)
      • 2.3. B ệ nh gh ẻ ở gia c ầ m (71)
    • 3. Phân b ộ Mò (Thrombidoidae) (71)
      • 3.1. H ọ Mò bao lông(Demodicidae) (71)
      • 3.2. B ệ nh Demodex ở chó (71)
    • 4. Th ự c hành (73)
  • BÀI 5 (74)
    • 1. B ộ r ậ n (74)
    • 2. B ộ b ọ chét (75)
    • 3. Bộ hai cánh (ruồi trâu, muỗi, mòng, giòi da (0)
      • 3.1. Ruồi trâu (77)
      • 3.2. Muỗi (78)
      • 3.3. Mòng (79)
      • 3.4. Giòi da và tủy sống (80)
  • BÀI 6 (83)
    • 1. B ệ nh tiên mao trùng (83)
      • 1.1 Căn bệnh, động lực và phương thức truyền bệnh (83)
      • 1.2. D ị ch t ễ (84)
      • 1.3 Tri ệ u ch ứ ng, b ệ nh tích (85)
      • 1.4. Ch ẩn đoán (85)
      • 1.5. Phòng, điề u tr ị b ệ nh (86)
    • 2. B ệ nh lê d ạ ng trùng (86)
      • 2.1. Căn bệnh, độ ng l ực và phương thứ c truy ề n b ệ nh (86)
      • 2.2. D ị ch t ễ (88)
      • 2.3. Triệu chứng, bệnh tích (88)
    • 3. Bệnh thê lê trùng (90)
      • 3.1. Căn bệ nh, chu trình sinh h ọ c (90)
      • 3.2. D ị ch t ễ (90)
    • 4. B ệ nh biên trùng (91)
      • 4.1. Căn bệ nh, chu trình sinh h ọ c (91)
      • 4.2. D ị ch t ễ (92)
      • 4.5. Phòng, tr ị b ệ nh (93)
    • 5. B ệ nh c ầ u trùng gà, th ỏ , bê nghé (93)
      • 5.1. B ệ nh c ầ u trùng gà (93)
      • 5.2. B ệ nh c ầ u trùng th ỏ (97)
      • 5.3. Bệnh cầu trùng bê, nghé (99)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (102)

Nội dung

-Tính chất của môn học: Là môn học chuyên môn quan trọng cung cấp các kiến thức một các đầy đủ và có hệ thống về ký sinh trùng học, về hình thái của các loài ký sinh trùng, về những thiệ

Định nghĩa ký sinh

- Ký sinh trùng học (Parasitology): là khoa học về ký sinh vật.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

- Các sinh vật sống bám vào ký chủ và ký sinh vật có thể là động vật hay thực vật.

Các hiện tượng sinh học

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Hợp tác giữa các sinh vật là hình thức tương tác có lợi, trong đó hai loài sinh vật cùng sống chung và mang lại lợi ích cho nhau Ví dụ điển hình là mối quan hệ giữa cua biển và bọt biển, cua giúp bọt biển di chuyển tìm thức ăn, trong khi bọt biển giúp cua tránh các kẻ thù dễ dàng hơn.

Là hiện tượng chung sống giữa 2 sinh vật, một sinh vật có lợi, sinh vật kia cũng không có hại

Ví dụ : cá nhỏ ép sát mình vào đầu cá lớn nhờ đó mà vận chuyển kiếm thức ăn.

Ký sinh là mối liên hệ giữa hai sinh vật, trong đó một sinh vật gọi là ký sinh tạm thời hoặc sinh vật thường xuyên sống trong cơ thể của sinh vật chủ Mối quan hệ này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của vật chủ và đem lại lợi ích cho ký sinh Hiểu rõ về ký sinh giúp nhận biết các tác nhân gây bệnh và cách phòng tránh hiệu quả.

Ký sinh trùng sống bằng cách lấy thể dịch và tổ chức tế bào của vật chủ làm thức ăn, gây ra nhiều tác động tiêu cực đối với sức khỏe của vật chủ Quá trình này không chỉ làm suy giảm chức năng sinh lý của vật chủ mà còn dẫn đến các bệnh lý nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh thái và đời sống của sinh vật chủ Do đó, ký sinh trùng đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh học, nhưng lại gây hại rõ rệt cho vật chủ về mặt sinh học và sức khỏe.

Hệ thống phân loại và danh pháp

Ngành giun dẹp (phylum Plathelminthes)

Giun dẹp là các động vật không xương sống thuộc ngành Platyhelminthes, có cơ thể dẹp theo chiều lưng bụng và đối xứng hai bên Chúng bao gồm các loại như sán lông, sán lá và sán dây, không có khoang cơ thể cũng như hệ tuần hoàn và cơ quan hô hấp chuyên dụng Để thích nghi, giun dẹp có cơ thể dẹp để dễ dàng tiếp nhận oxy và dinh dưỡng qua quá trình khuếch tán Giác bám trên cơ thể giun dẹp rất phát triển, giúp chúng bám chắc vào vật chủ và tránh bị đẩy ra khỏi môi trường sống.

Theo phân loại động vật học truyền thống Platyhelminthes được chia thành Turbellaria, hầu hết không ký sinh, và ba lớp toàn ký sinh là Cestoda,

Trematoda và Monogenea là hai nhóm giun dẹp, tuy nhiên, phân loại này hiện nay đang bị phản đối do Turbellaria được chứng minh không phải là đơn ngành Các loại giun dẹp sống tự do chủ yếu ăn thịt và đều thích nghi sống trong môi trường nước hoặc đất ẩm Cestoda (sán dây) và Fasciola (sán lá gan) có vòng đời phức tạp, trong đó trưởng thành là ký sinh trên cá hoặc các động vật có xương sống trên cạn Trứng của Fasciola được vật chủ bài tiết ra ngoài môi trường, còn cestoda trưởng thành có khả năng tách nhỏ thành các đoạn nhỏ, lưỡng tính và được vật chủ tiêu thụ để tiếp tục chu kỳ phát triển.

Ngành giun tròn (phylum Nemathelminthes)

Giun tròn, còn gọi là tuyến trùng, thuộc ngành Nematoda và gồm các loài sinh sống trong phạm vi môi trường rộng lớn trên khắp thế giới Có hơn 28.000 loài đã được mô tả, trong đó hơn 16.000 loài là ký sinh, và tổng số loài giun tròn có thể lên tới khoảng 1 triệu Khác với giun dẹp và các động vật thích ty bào, giun tròn có hệ thống tiêu hóa mở ở hai đầu, phù hợp với đặc điểm sinh học của chúng.

Ngành giun đầu gai (phylum Acanthocephales)

Ngành Giun đầu gai (Acanthocephala) gồm các loài giun ký sinh đặc trưng bởi giác bám và các ngạnh để đâm và bám chắc vào thành ruột của chủ vật Giun đầu gai thường có chu kỳ sống phức tạp, liên quan đến nhiều loại động vật chủ như động vật không xương sống, cá, lưỡng cư, chim và động vật có vú Hiện có khoảng 1.150 loài giun đầu gai đã được mô tả khoa học.

Giun đầu gai từng được xem là một ngành riêng biệt, nhưng phân tích bộ gen gần đây cho thấy chúng có nguồn gốc từ các dạng luân trùng biến đổi cao Điều này minh chứng cho quá trình phát sinh loài dựa trên cơ chế phân tử, và đơn vị phân loại hợp nhất của chúng được gọi là Syndermata.

Đường xâm nhập và truyền lây của ký sinh trùng

Đường xâm nhập

Đường miệng là nơi tiếp xúc chính của các ký sinh trùng như giun sán, cầu trùng, nguyên bào ở ruột thông qua việc ăn hoặc uống thức ăn, đồ uống bị nhiễm trứng hoặc ấu trùng Các loại ký sinh trùng này gây nhiễm trùng đường tiêu hóa và có thể ảnh hưởng lớn đến sức khỏe Việc tiêu thụ thực phẩm hoặc nước uống không đảm bảo vệ sinh là nguyên nhân chính dẫn đến nhiễm ký sinh trùng đường miệng Do đó, giữ vệ sinh ăn uống và đảm bảo an toàn thực phẩm là cách phòng bệnh hiệu quả.

Một số ấu trùng gây nhiễm có khả năng chui qua da ký chủ để xâm nhập vào cơ thể, tìm đến vị trí thích hợp để phát triển Ví dụ, giun thận ở heo, giun móc ở người và chó, sán máng, cùng giun lươn ở chó và mèo là những bệnh lý do các ấu trùng này gây ra.

Niêm mạc của cơ quan sinh dục như âm hộ, âm đạo và dương vật có thể bị nhiễm trùng do các nguyên bào trùng như Trichomonas foetus ở bò và Trichomonas vaginalis ở người Loài ký sinh trùng này có khả năng lây truyền qua hoạt động giao phối, gây ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản của các chủ thể Việc hiểu rõ cơ chế lây truyền của Trichomonas là rất quan trọng để phòng tránh và xử lý các bệnh lây qua đường tình dục hiệu quả.

Các bệnh ký sinh trùng đường máu qua đường tuần hoàn như Anaplasma, Theleiria, Trypanosoma và một số loài giun chỉ có thể lây truyền qua vết thương, do động vật chích đốt hoặc truyền máu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe Việc nhiễm các mầm bệnh này xâm nhập vào cơ thể qua đường máu yêu cầu chú ý phòng ngừa để tránh các biến chứng nguy hiểm.

Đường truyền lây

Qua đất và nước là cách truyền nhiễm phổ biến nhất của giun sán, bởi vì đa số loại giun sán có giai đoạn phát triển ngoài môi trường, từ trứng đến ấu trùng hoặc từ trứng gây nhiễm Việc tiếp xúc với đất và nước ô nhiễm là nguyên nhân chính khiến con người dễ bị nhiễm giun sán, đặc biệt trong các khu vực vệ sinh kém và điều kiện vệ sinh cá nhân thiếu清洁 Phòng tránh bệnh giun sán hiệu quả cần chú ý đến việc giữ vệ sinh môi trường, đảm bảo nguồn nước sạch, cũng như thực hành vệ sinh cá nhân đúng cách để hạn chế tiếp xúc với các tác nhân gây nhiễm.

- Qua tiếp xúc:Một số lây qua đường tiếp xúc như ghẻ, Trichomonas foetus,

Các bệnh truyền qua vật trung gian hay vật trung môi giới gồm những bệnh không lây trực tiếp mà qua ký chủ trung gian, như bệnh ký sinh trùng đường máu Anaplasma và Trypanosoma evansi Ngoài ra, các loại giun sán cũng thường lây qua vật trung gian, gây ảnh hưởng đến sức khỏe động vật Việc hiểu rõ cơ chế truyền bệnh qua vật trung gian giúp kiểm soát dịch bệnh hiệu quả hơn trong chăn nuôi và phòng chống dịch bệnh lây lan.

Một số ấu trùng có khả năng truyền bệnh từ mẹ sang con qua nhau thai hoặc qua sữa, ảnh hưởng đến sức khỏe của thú cưng và con non Các loài có thể truyền qua sữa bao gồm Ancylostoma caninum, Toxocara cati, Strongyloides ransomi và Neoascaris vitulorum, trong khi Toxocara canis có thể truyền qua cả nhau thai và sữa Việc hiểu rõ cơ chế truyền bệnh này giúp chủ vật nuôi chủ động trong việc phòng ngừa và kiểm soát các bệnh ký sinh trùng cho thú cưng của mình.

1 Định nghĩa ký sinh trùng?

2 Hệ thống phân loại và danh pháp?

3 Đường xâm nhập và truyền lây của ký sinh trùng?

Đại cương sán lá

Tại Việt Nam, đã phát hiện hơn 350 loài sán lá ký sinh ở người và động vật, chủ yếu cư trú trong các cơ quan khác nhau của cơ thể gia súc Những loài sán lá này gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe và năng suất chăn nuôi, đòi hỏi các biện pháp kiểm soát và phòng ngừa hiệu quả Việc hiểu rõ mức độ phổ biến và đặc điểm của các loại sán lá ký sinh giúp nâng cao nhận thức và góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng cũng như gia súc.

Philophthalmus gralli là loại ký sinh trùng sống trong mắt của gia cầm, gây ảnh hưởng đến thị lực của chúng Schistosoma spindale ký sinh trong hệ tuần hoàn của gia cầm, gây bệnh lý và giảm sức khỏe của ký chủ Paragonimus westermani là sán lá ký sinh trong hệ hô hấp của người và động vật, gây bệnh xơ phổi và các vấn đề hô hấp nghiêm trọng Prosthogonimus ovatus ký sinh trong hệ sinh dục của gia cầm, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản Ngoài ra, có rất nhiều sán lá ký sinh trong hệ tiêu hóa của gia súc, gia cầm và người, gây ra các bệnh lý tiêu hóa đáng kể, ảnh hưởng đến sức khỏe và năng suất của vật nuôi và con người.

7 Đa số sán lá có hình chiếc lá, dẹp theo hướng lưng bụng và thường đối xứng

2 bên Một số không có hình chiếc lá như Paramphistomum, Fischoederius có hình chóp nón, Schistosoma có hình lòng máng

Màu sắc: sán lá có màu hồng, màu xám, màu trắng ngà.

Kích thước: thay đổi tùy theo loài sán, biến động từ 0,1mm đến 150 cm đôi khi đến 1 mét.

Sán lá có bề ngoài nhẵn hoặc phủ gai, vảy và mang các giác bám để bám giữ chặt vào vật chủ Chúng thường có hai giác bám chính là giác miệng dùng để hút chất dinh dưỡng và giác bụng chỉ để bám Giác miệng có thể có gai hoặc móc nhằm tăng khả năng bám chắc chắn Lỗ miệng của sán lá thông với hệ thống tiêu hóa, trong khi lỗ sinh dục nằm ở cạnh giác bụng và lỗ bài tiết cuối thân giúp bài tiết chất thải Sán lá không có hệ tuần hoàn và hệ hô hấp, phù hợp với đặc điểm sinh thái ký sinh của chúng.

Hệ tiêu hóa của sán lá bắt đầu từ miệng, được bao quanh bởi lớp cơ gọi là giác miệng, rồi tiếp đến là hầu, thực quản và hai nhánh ruột Sán lá không có lỗ hậu môn, nên các sản phẩm của quá trình tiêu hóa được thải ra ngoài qua lỗ miệng.

Hệ bài tiết của sán gồm các tế bào tiết hình sao phân bố rải rác khắp cơ thể, mỗi tế bào có ống thông riêng biệt Những ống này hợp lại và đổ ra phần cuối của thân sán qua túi bài tiết, sau đó mở ra qua lỗ bài tiết nằm ở mặt bụng của sán.

Hệ thần kinh của sán lá kém phát triển, gồm hai hạch trung tâm nằm ở hai bên hầu và được nối với nhau bằng vòng dây thần kinh Từ các hạch thần kinh này, có ba đôi dây thần kinh phân bố đi khắp cơ thể, giúp sán lá còn khả năng cử động ngay cả khi đã rời khỏi cơ thể chủ.

Cơ quan cảm giác: ở sán trưởng thành tiêu giảm, chỉ có ở dạng ấu trùng miracidium và cercaria nhưng chỉ ở dạng vết.

Hệ sinh dục: thông thường sán lá đều lưỡng tính chỉ có loài sán máng là đơn tính Hệ sinh dục phát triển mạnh và phức tạp.

Cơ quan sinh dục đực gồm hai tinh hoàn, có hình thái thay đổi tùy theo loài, mỗi tinh hoàn có ống dẫn tinh riêng đổ vào ống dẫn tinh chung thông với túi sinh dục Phần ống dẫn tinh chung nằm trong túi sinh dục, được kitin hóa gọi là cirrus, dùng để giao phối Xung quanh cirrus có tuyến tiền liệt tuyến bao bọc, đảm nhiệm chức năng hỗ trợ trong quá trình sinh sản của con đực.

Cơ quan sinh dục cái gồm:ổ trứng (ootype) thông với tử cung, tuyến mehlis, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và túi tiếp tinh, ổ trứng thường nhỏ hơn tinh hoàn

Trứng hình thành và thụ tinh tại nơi đặc biệt, trong đó túi chứa tinh giữ tinh dịch và tử cung chứa trứng đã thụ tinh Một đầu của tử cung kết nối với ổ trứng, trong khi đầu còn lại thông ra ngoài qua lỗ sinh sản ở mặt bụng Tuyến Mehlis tiết dịch làm trơn ổ trứng và tử cung, giúp trứng dễ dàng lọt vào tử cung và thải ra ngoài, đồng thời tăng cường hoạt động của tinh trùng Chất tiết của tuyến Mehlis còn bao quanh bên ngoài vỏ trứng để bảo vệ Tuyến noãn hoàng phân bố dọc hai bên thân sán, cung cấp dinh dưỡng cho trứng, và ngoài ổ trứng còn liên kết với ống Laurer, có vai trò tương tự như âm đạo để tham gia giao phối và thải noãn hoàng dư thừa, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hình thành trứng Lỗ sinh dục đực và cái nằm gần nhau, thường ở phía trước của giác bụng.

Sán lá giao phối bằng 2 cách tự thụ tinh hoặc thụ tinh chéo.

Sán lá ký sinh là loài ký sinh hút chất dinh dưỡng từ cơ thể vật chủ thông qua dịch tế bào, máu hoặc dịch tiết từ các tuyến Chúng còn lấy dưỡng chất từ các thảo trùng hoặc các chất thải thực vật, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của vật chủ Hiểu rõ đặc điểm sinh học của sán lá ký sinh giúp phòng tránh các bệnh lây truyền qua ký sinh trùng này.

Chu trình sinh học của sán lá dời chổ nhiều lần và tiến triển qua nhiều ký chủ liên tiếp Phần lớn các loài sán lá trưởng thành ký sinh ở ký chủ cuối cùng, đẻ trứng ra môi trường bên ngoài, và những trứng này nếu gặp điều kiện thuận lợi như nhiệt độ, độ ẩm, pH, ánh sáng và nước thích hợp sẽ phát triển thành mao ấu (miracidium) có lông tơ bao phủ bên ngoài, giúp chúng dễ dàng bơi trong nước để tìm ký chủ trung gian Mao ấu hình quả lê, có mắt, lông tơ dày đặc nhưng chỉ có thể sống trong môi trường ngoại cảnh vài ngày trước khi tìm ký chủ trung gian để xâm nhập Khi vào ký chủ trung gian, mao ấu rụng lông tơ và biến thành bào ấu (sporocyst), hình dạng giống quả bơ và chứa nhiều tế bào sinh sản Trong thời gian này, bào ấu sinh sản vô tính và tạo ra nhiều lôi ấu (redia), có lỗ miệng, hầu, tế bào mầm ruột và tế bào phôi Redia tiếp tục sinh sản vô tính để tạo ra nhiều vĩ ấu (cercaria), đã phát triển đầy đủ các bộ phận như giác miệng, giác bụng, thực quản, manh tràng và đuôi Khi trưởng thành, cercaria chui ra khỏi ốc, bơi trong nước và phát triển tiếp theo các vòng đời khác nhau tùy loài sán lá.

Sán lá 1 ký chủ trung gian phát triển qua giai đoạn Cercaria rụng đuôi, nhờ tuyến dịch thể bao quanh, biến thành nang ấu (metacercaria) Nang ấu tiếp tục lớn lên và phát triển thành sán trưởng thành nếu súc vật nuốt phải Quá trình này là bước quan trọng trong vòng đời của sán lá và ảnh hưởng đến khả năng lây nhiễm.

Sán lá có chu trình phát triển gồm hai ký chủ trung gian Sau khi qua ký chủ trung gian thứ hai, cercaria biến thành metacercaria, giai đoạn tồn tại trong ký chủ trung gian này Khi ký chủ cuối cùng ăn phải ký chủ trung gian thứ hai chứa metacercaria, ký chủ cuối cùng sẽ nhiễm sán trưởng thành và gây bệnh.

Sau khi qua ký chủ trung gian thứ hai, cercaria biến thành mesocercaria Nếu ký chủ trung gian thứ ba tiêu thụ ký chủ trung gian thứ hai, mesocercaria sẽ phát triển thành metacercaria Metacercaria sau đó sẽ trưởng thành thành dạng trưởng thành trong ký chủ cuối cùng Quá trình này mô tả chu trình phát triển của ký sinh trùng qua ba ký chủ trung gian khác nhau.

Fasciola hepatica: Sán lá gan thường

Fasciola gigantica: Sán lá gan lớn

Fasciola jacksoni: Sán lá gan nhỏ

Các cá thể lai tạo của Fasciola gigantica × Fasciola hepatica cũng tồn tại

Với sán lá gan nhỏ, giai đoạn đầu ấu trùng lông di chuyển tự do trong nước để tìm đến vật chủ trung gian là các loài ốc, sau đó chuyển thành ấu trùng đuôi và rời ốc để tìm kiếm cá nước ngọt làm vật chủ trung gian tiếp theo Trong khi đó, sán lá gan lớn sau khi rời ốc sẽ bám vào thực vật thủy sinh để chờ đợi vật chủ tiếp theo.

Bệnh sán lá ở loài nhai lại

Liver fluke disease in our country is primarily caused by Fasciola hepatica and Fasciola gigantica Additionally, several other parasitic species such as Paramphystonum explanatum, Fasciola magna, Dicrocoelium hopes, and Dicrocoelium dendriticum parasitize the pancreas, pancreatic ducts, gallbladder, and bile ducts These parasitic infections can lead to significant health issues affecting the liver and digestive system, highlighting the importance of accurate diagnosis and effective control measures.

Ký sinh trùng chủ yếu cư trú tại ống dẫn mật, gan và túi mật, gây ra các hiện tượng viêm gan hoại tử Ngoài ra, trong giai đoạn di hành, chúng còn xuất hiện ở phổi, tim, hạch limph và tuyến, ảnh hưởng đến chức năng các cơ quan này.

Hình 1.1: Fasciola gigantica Hình 1.2: Fasciola hepatica

Ký sinh trùng có kích thước dài khoảng 20–30 mm, rộng từ 4–13 mm, phần đầu nhô ra tạo thành vai nổi bật Hai mép của cơ thể không song song, đuôi nhọn giúp xác định đặc điểm cấu trúc Ngoài ra, những nhánh ngang bên trong của ruột ít hơn và chia nhánh không rõ ràng hơn so với Fasciola gigantica, góp phần phân biệt loài ký sinh này.

Trâu, bò, dê, cừu cũng có khi gặp được ở heo, ngựa và một số động vật hoang dại khác.

Ký chủ trung gian: là các loài ốc nước ngọt như :Lymnae truncatula, Lymnae auricularia

2.2 Dịch tễ, cơ chế sinh bệnh

Nguồn gieo rắc bệnh chủ yếu là súc vật nuôi : trâu, bò, dê, cừu và những thú hoang dại khác.

Sán trưởng thành có khả năng đẻ tới 20.000 trứng mỗi ngày và có thể sống từ 5 đến 11 năm, khiến số lượng trứng thải ra môi trường mỗi năm khá lớn Đồng cỏ ẩm thấp là môi trường lý tưởng để trứng sán phát triển thành miracidium và xâm nhập vào các súc vật nuôi Những khu vực này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho ký chủ trung gian tồn tại và phát triển, góp phần duy trì chu trình gây bệnh.

Bệnh này phân bố rộng khắp ở các vùng trong nước ta như những vùng đồng bằng và trung du nhiễm bệnh nặng hơn vùngnúi và vùng ven biển.

Tuổi gia súc càng lớn thì tỷ lệ nhiễm càng tăng.

Súc vật nhiễm bệnh Fasciola tăng cao vào mùa mưa do ký chủ trung gian phát triển mạnh Các loài ốc nước ngọt phân bố rộng khắp, là ký chủ trung gian của sán lá gan Fasciola Ốc thích môi trường có pH kiềm, sống ở khu vực nước sẫm, có dòng chảy nhẹ để thuận tiện cho việc hô hấp.

Trứng sán có khả năng chịu đựng khá tốt với môi trường bên ngoài, nhưng bị khô hạn thì chết sau vài ngày Nhiệt độ trên 40°C gây tử vong cho trứng chỉ trong vài phút Trong điều kiện độ ẩm thích hợp, trứng sán có thể tồn tại lâu đến 8 tháng ngoài môi trường.

Adolescaria có thể sống 5 tháng.

Vòng đời (cơ chế sinh bệnh)

Phát triển gián tiếp của ký sinh trùng đòi hỏi sự tham gia của ký chủ trung gian là các loài ốc nước ngọt như Lymnae viridis, Lymnae truncatula, L viatrix, L cubensis cùng 29 loài ốc khác Trong số đó, Lymnae truncatula đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình lan truyền bệnh.

Sán trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của trâu bò, dê, cừu và một số gia súc khác, sau khi thụ tinh đẻ khoảng 20.000 trứng mỗi con Trứng theo mật xuống ruột non, sau đó qua phân ra ngoài môi trường, nếu điều kiện thuận lợi như nhiệt độ 15-30°C, độ ẩm cao, pH từ 5,5 – 7,5, có ánh sáng và nước, trứng sẽ hình thành ấu trùng Miracidium Miracidium thoát khỏi vỏ trứng do tác động của ánh sáng, có khả năng di chuyển trong nước để tìm ký chủ trung gian là ốc Nếu thiếu ánh sáng, Miracidium không thoát vỏ nhưng có thể tồn tại đến 8 tháng trong vỏ trứng Khi chui vào ốc, Miracidium chuyển thành Sporocyst sau khi mất tiêm mao, và trong 3-7 ngày, mỗi Miracidium biến thành một Sporocyst Sporocyst sinh vô tính từ 5-10 Rediae trong 8-11 ngày, và Rediae sinh ra 3-6 Cercariae trong 13-14 ngày Quá trình từ Miracidium đến Cercaria kéo dài từ 20-80 ngày Cercaria chui ra khỏi ốc, bơi trong nước và sống được từ 10-24 giờ, sau đó rụng đuôi, tạo thành kén Adolescariae để tiếp tục chu trình phát triển.

(nang ấu) Sau 2 – 24 giờ bám vào cây cỏ dưới nước hay gần nước Trâu bò ăn phải kén ấu trùng di hành về gan theo 2 cách :

- Ấu trùng chui qua màng ruột đi vào xoang bụng về mặt gan sau đó chui qua tế bào gan vào ống dẫn mật

Ấu trùng Fasciola đi theo mạch máu về tĩnh mạch cửa của gan, sau đó di chuyển qua tĩnh mạch đến ống dẫn mật và túi mật Thời gian từ khi gia súc nuốt phải nang ấu (Adolescaria) đến khi sán trưởng thành là khoảng 3-4 tháng Sán trưởng thành có thể sống trong ống dẫn mật gan của gia súc từ 3 đến 5 năm, có thể kéo dài đến 11 năm Ngoài ra, ấu trùng còn có khả năng chui qua màng nhau thai để truyền sang gia súc con, gây nhiễm trùng và bệnh lý cho vật chủ mới.

Bệnh phụ thuộc vào mức độ nhiễm sán, tình trạng sức khoẻ, tuổi, mùa vụ, tình hình quản lý chăm sóc

Trâu và bò từ 1,5 đến 2 tuổi dễ nhiễm bệnh và thường xuất hiện ở thể cấp tính, con vật dễ tử vong Trong khi đó, ở trâu bò trưởng thành, triệu chứng của bệnh ít rõ ràng hơn và thường biểu hiện dưới dạng mãn tính.

Thể cấp tính ít xảy ra, thường gặp trong giai đoạn sán non di hành trong cơ thể, gây tổn thương các cơ quan như gan, ruột, mạch máu, phổi và các cơ quan khác.

Khi trưởng thành, sán hút khoảng 0,2 ml máu mỗi ngày, gây thiếu máu nghiêm trọng Sán ký sinh gây viêm loét ống dẫn mật, có thể dẫn đến tình trạng có mủ và hoại tử, thoái hóa thành ống dẫn mật bị tổn thương Tác nhân ký sinh làm tăng tính thấm thành mạch, kéo theo sự gia tăng số lượng bạch cầu trong cơ thể, gây phản ứng viêm toàn diện.

12 rối loạn quá trình trao đổi chất và chức năng hoạt động của gan, gây teo và xơ gan

Khi nhiễm nặng, bệnh có thể chuyển sang thể cấp tính, dẫn đến tử vong đột ngột Triệu chứng bao gồm thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, tiêu chảy, vàng da, kèm theo các biểu hiện thần kinh như run rẩy, vật vã, uể oải và kiệt sức Thường bệnh nhân tử vong sau vài ngày xuất hiện các triệu chứng này.

Thể mãn tính thường gặp ở vật gầy yếu, da khô, lông xù và xuất hiện phù thũng ở cổ và dưới ngực, phân thay đổi giữa lỏng và đặc Lượng canxi trong máu giảm gây ra các triệu chứng như co giật, gan sưng to và giảm khoảng 50% lượng sữa tiết ra Trong mùa khô hoặc mùa đông, khi vật nuôi phải làm việc nhiều và thiếu thức ăn, nhiễm sán lá gan có thể dẫn đến tử vong cho vật nuôi.

Gan bị viêm, sưng to màu nâu sẫm, gây ra tình trạng viêm xơ với nhiều sợi Fibrin và điểm thoái hóa hoại tử màu trắng Ống dẫn mật viêm lan rộng, tăng sinh dày, lòng ống dẫn mật giãn rộng kèm máu và mủ, biểu hiện rõ nét của viêm gan cấp tính hoặc mạn tính gây ảnh hưởng lớn đến chức năng gan và hệ tiêu hóa.

Với con vật còn sống việc chẩn đoán dựa vào triệu chứng.

- Căn cứ dẫn liệu dịch tễ học của bệnh.

- Xét nghiệm phân tìm trứng qua phương pháp gạn rửa sa lắng nhiều lần

- Chẩn đoán bằng kháng nguyên.

2.5 Điều trị, phòng bệnh Điều trị

Hiện nay có rất nhiều thuốc có hiệu quả trong việc điều trị bệnh sán lá gan như :

- Dertil B loại 300mg dùng cho trâu, bò :

- Dovenix (Nitroxynil) dùng liều 12 –15 mg / kg P trộn thức ăn, hoặc chích dưới da 1,5 ml/ 30 kg P (loại dung dịch 30 %).

- Fasciozalida dùng liều 12 mg / kg P trộn thức ăn, hoặc chích dưới da liều

- Rafoxanide dùng liều 7,5 – 10 mg / kg P hoà thành dung dịch 2,5 % cho uống.

B ệ nh sán lá ở heo

Certain parasitic flatworms, such as Fasciolopsis buski, Echinostoma species, Gastrodiscoides hominus, and Echinostoma malayamum, are known to parasitize the intestines of pigs, and in some cases, can also infect humans, dogs, cats, and rodents These parasitic flatworms pose health risks across multiple hosts, highlighting the importance of proper hygiene and preventive measures Proper diagnosis and treatment are essential to control infections caused by these intestinal flukes.

Fasciolopsis buski thuộc họ Fasciolidae, là loại sán ký sinh ở ruột non, có hình dạng giống chiếc lá, màu đỏ hồng hoặc xám, với thân nhỏ ở đầu và phình rộng về phía sau Kích thước của sán dài từ 20 đến 75 mm, rộng 8 đến 20 mm, dày từ 0,2 đến 5 mm Giác miệng và giác bụng nằm gần nhau, trong đó giác miệng nhỏ hơn giác bụng, còn buồng trứng phân thành 3 thùy, mỗi thùy có hai nhánh nằm gần tuyến Mehlis ở giữa thân, trên tinh hoàn Túi sinh dục hình ống, thông với bên ngoài qua lỗ sinh dục nằm phía trước giác bụng Hai tinh hoàn phân nhánh hình cành cây, dày đặc, xếp hai bên thân sán, giúp nhận biết đặc điểm sinh học của loại sán này.

Trứng có hình dạng bầu dục, rộng ở chính giữa và thon nhỏ ở hai đầu, với đầu nhỏ có nắp trứng màu vàng, bên trong chứa đầy tế bào phôi Kích thước của trứng dao động từ 0,13 – 0,14 mm về chiều dài và 0,08 – 0,085 mm về chiều rộng.

Hình 1.3: Fasciolopsis buski Hình 1.4: Trứng Fasciolopsis buski

Gastrodiscoides hominus là loại sán có hình dạng lê, đầu thon nhỏ và phần phía sau phình rộng, có màu đỏ nổi bật Chiều dài của loại sán này từ 6 đến 8mm, chiều rộng từ 3 đến 4mm, độ dày khoảng 2mm Sán có giác miệng nhỏ nằm ở đầu, trong khi giác bụng rất lớn và nằm ở cuối thân Hai tinh hoàn của Gastrodiscoides hominus thường có hình dạng khối hoặc hình đĩa, góp phần vào đặc điểm nhận biết của loại ký sinh trùng này.

Tuyến noãn hoàng phân bố phía sau thân Trứng hình bầu dục, một đầu có nắp dài 0,15mm rộng 0,072 mm.

- Sán lá ký sinh ở ruột heo, người, chó, mèo

- Ký chủ trung gian : là các loài ốc nước ngọt Planorbis, Segmentina,

3.2 Dịch tễ, cơ chế sinh bệnh

- Tỷ lệ nhiễm tăng dần từ miền núi, trung du, đồng bằng

- Nguồn phát tán bệnh chủ yếu là heo mang sán, vì mỗi sán trưởng thành có khả năng đẻ 15.000 – 48.000 trứng mỗi ngày, sán có thể sống trong ruột 2 – 4 năm.

Những cánh đồng ruộng và các khu vực ẩm ướt quanh chuồng heo, đặc biệt khi sử dụng thức ăn xanh, rau bèo hoặc bón phân heo chưa ủ kỹ, tạo điều kiện cho mầm bệnh tồn tại và phát triển Việc duy trì vệ sinh chuồng trại và quản lý nguồn thức ăn đúng cách đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa bệnh tật cho gia súc Các biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi phù hợp giúp giảm thiểu nguy cơ lây lan dịch bệnh trên diện rộng.

- Heo dưới 2 tháng tuổi đã nhiễm sán và mức độ nhiễm tăng dần theo tuổi

Nuôi heo thả rong nhiễm nặng hơn nuôi nhốt.

- Sức đề kháng của trứng không cao, ủ phân 18 ngày có thể diệt được trứng với nhiệt độ 40 0 C

Sán lá trưởng thành trung bình mỗi ngày đẻ trứng từ 15.000 –48.000 trứng

/sán, trứng theo phân ra ngoài gặp môi trường nước ở nhiệt độ 27 – 32 0 C, sau 14

– 15 ngày trứng phát triển thành Miracidium chui ra khỏi trứng Miracidium có thể sống ở ngoài môi trường từ 6 –8 giờ, sau đó Miracidium xâm nhập vào ốc để

Sau 9-10 ngày trong gan, tụy của ốc, ấu trùng biến thành Redia, sau đó sinh sản vô tính để tạo ra Cercaria Cercaria thoát khỏi ốc, rụng đuôi sau 1-3 giờ và hình thành kén Adolescaria Khi người hoặc heo nuốt phải kén này, dịch mật và dịch tiêu hóa giúp kén phát triển thành sán trưởng thành trong ruột non sau 3 tháng Sán trưởng thành có thể sống tới 2 năm ở heo và 4 năm ở người.

Heo nhiễm sán nặng có thể gây tắc ruột do sán bám chắc vào thành ruột, có thể dẫn đến rách ruột heo Trong trường hợp nhiễm nhẹ, heo thường bị tiêu chảy, lông xù và chậm lớn, ảnh hưởng đến sức khỏe và năng suất chăn nuôi.

Trong quá trình khám, ruột của con vật sưng to, niêm mạc viêm cata chảy máu, xuất huyết và thành ruột giãn rộng cho thấy tình trạng viêm nhiễm nghiêm trọng Độc tố từ sán ký sinh gây ra các triệu chứng thần kinh, gầy còm, thiếu máu và giảm khả năng miễn dịch, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của vật nuôi.

- Bằng cách xét nghiệm phân tìm trứng.- Dựa vào triệu chứng, bệnh tích

- Dựa vào dịch tễ học.

Phòng trừ tập trung ở các điểm sau :

+ Tẩy trừ trên cơ thể gia súc bệnh.

+ Diệt trừ căn bệnh ở môi trường ngoài như : xử lý phân, không dùng phân tươi bón ruộng, rau, ủ phân sinh học, diệt trừ ký chủ trung gian.

+ Cho gia súc ăn uống sạch

+ Nuôi dưỡng đầy đủ đểsúc vật nâng cao sức đề kháng.

+ không nên nuôi heo thả rong.

B ệ nh sán lá ở loài ăn thị t

Clonorchis sinensis và Opisthorchis felinus là các loài sán lá nhỏ ký sinh trong ống dẫn mật của gan chó, mèo, người và các động vật thích ăn thịt khác Ở Việt Nam, tỷ lệ nhiễm sán tăng cao tại các vùng đồng bằng, đặc biệt là người cao tuổi có khả năng nhiễm sán nhiều hơn Việc nhiễm sán lá này có thể gây ra các vấn đề về gan và đường mật, khiến việc phòng ngừa và kiểm soát rất cần thiết để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Sán có hình dạng lá màu đỏ nhạt, đầu thon mỏng và đuôi hơi bầu, với chiều dài từ 5,7 đến 25 mm và bề rộng từ 1,6 đến 2,3 mm Không có túi sinh dục, và giác miệng lớn hơn giác ở các phần khác của cơ thể, giúp nhận diện rõ ràng loại ký sinh trùng này trong các nghiên cứu y học.

Buồng trứng nằm trên túi chứa tinh, còn tử cung ngoằn ngoèo nằm phía sau giác bụng, giúp ổn định chức năng sinh sản của động vật Tinh hoàn, phân nhiều thùy, nằm ở cuối thân, phía trên và dưới nhau, đảm bảo quá trình sinh tinh phát triển tốt nhất Tuyến noãn hoàng nằm hai bên thân, bắt đầu từ giác bụng đến túi chứa tinh, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển phôi thai Trứng có hình bầu dục, màu vàng nhạt, kích thước từ 0,026-0,030 x 0,015-0,017mm, bên trong chứa tế bào phôi, đảm bảo khả năng sinh sản của động vật.

4.2 Dịch tễ, cơ chế sinh bệnh

Sán đẻ trứng và những trứng này theo phân ra ngoài, và nếu gặp nước cùng các điều kiện thuận lợi, chúng phát triển thành Miracidium Miracidium sau đó tìm và chui vào vật chủ trung gian là các loài ốc như Bythinia, Melania, Bulinus, nơi chúng phát triển thành các giai đoạn như sporocyst, redia và cercaria Cercaria sau đó thoát ra khỏi ốc, gặp các loài cá nước ngọt có vảy, xâm nhập vào mô tạo thành kén metacercaria Khi chó, mèo hoặc người ăn phải cá chứa nang kén, ấu trùng từ ruột sẽ di chuyển qua ống dẫn mật về túi mật để trưởng thành Thời gian hoàn thành chu kỳ sinh trưởng của sán là khoảng 3 tháng, và sán lá gan nhỏ có thể sống tới 8 năm trong ống mật của vật chủ.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Khi chó bị nhiễm sán với số lượng ít, triệu chứng thường không rõ ràng hoặc ít xuất hiện Tuy nhiên, khi vật chủ nhiễm nhiều sán hơn, các dấu hiệu rõ ràng hơn như chó kém ăn, mệt mỏi, tiêu chảy và đau bụng ở vùng gan trở nên phổ biến Ngoài ra, gan của chó có thể sưng to và gây đau đớn, cho thấy mức độ nhiễm trùng nghiêm trọng hơn.

Khi mổ, thấy viêm túi mật, xơ gan cổ trướng, phù, cơ thể suy mòn, đôi khi thấy viêm tụy cấp hoặc mãn tính.

Phương pháp gạn rửa sa lắng xét nghiệm phân giúp phát hiện trứng sán hiệu quả Trứng sán có đặc điểm nhận dạng rõ ràng, gồm hình bầu dục, có nắp và gai nhỏ phía sau Màu vàng của trứng cùng với nội dung chứa phôi bào là những dấu hiệu quan trọng để xác định nhiễm sán.

Dùng kháng nguyên tiêm nội bì, quan sát phản ứng có xảy ra hay không để kết luận.

Chẩn đoán bằng kỹ thuật ELISA để tìm kháng thể, kháng nguyên trong vật chủ.

4.5 Điều trị, phòng bệnh Điều trị

Hexacloethane: liều 0,-0,2g/kg thể trọng trộn vào thức ăn

Praziquantel: liều 25mg/kg thể trọng Cho ăn hoặc cho uống 3 lần/ngày. Cloxyl: 3g/ngày, dùng 5 ngày liền.

Niclofolan: liều 1-2 mg/kg thể trọng, dùng trong 3 ngày.

Việc kiểm tra chó mèo định kỳ là rất cần thiết để phát hiện nhiễm sán Nếu kết quả cho thấy nhiễm cao, cần sử dụng thuốc điều trị triệt để để phòng bệnh cho vật nuôi Quản lý phân và ủ phân cẩn thận giúp tiêu diệt trứng sán, giảm nguy cơ lây nhiễm Việc chăm sóc đúng cách sẽ bảo vệ sức khỏe của chó mèo và cộng đồng xung quanh.

Để phòng ngừa bệnh, cần tránh để vật chủ trung gian và vật chủ bổ sung tiếp xúc trực tiếp với vật chủ cuối cùng Ngoài ra, không nên cho người, chó, mèo ăn cá sống hoặc chưa nấu chín để giảm nguy cơ lây nhiễm.

B ệ nh sán lá ở gia c ầ m

Bệnh do nhiều loài sán lá thuộc họ Echinostomatidae, những loài thường gây bệnh cho gia cầm là Echinostoma revolutum, Echinostoma miyagawai, Echinostoma paraulum, Hypoderaeum conoideum, Catatropis verrucosa

Sán dài từ 6,8 đến 20mm, có màu đỏ nhạt, đoạn trước dẹt và thu lại thành vành cổ Trên vành cổ có 37 gai, gồm hai dãy với 27 gai chính và mỗi bên có 5 gai phụ, giúp nhận biết đặc trưng của loài Giác bụng lớn hơn giác miệng, đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc và chức năng của sán Tinh hoàn hình bầu dục hoặc tròn, xếp sau thân, có vai trò sản xuất tinh trùng để duy trì quá trình sinh sản Buồng trứng hình tròn hoặc bầu dục nằm phía sau giác bụng và trên tinh hoàn, góp phần trong quá trình sinh sản của sán Tuyến noãn hoàng nằm dày đặc hai bên thân, là nơi sản xuất các tế bào trứng, giúp loài phát triển và duy trì quần thể.

Trứng hình bầu dục một đầu có nắp trứng, kích thước: 0,09-0,126x 0,059- 0,071 mm, màu vàng nhạt

Hình 1.5: Hình dạng chung và đầu Echinostoma revolutum

Ký chủ cuối cùng: gia cầm và thủy cầm ( vịt, ngỗng, gà, gà tây)

Vị trí ký sinh: manh tràng, trực tràng

Ký chủ trung gian 1: các loài ốc nước ngọt: Radix ovatus, Radix auricularia, Limneae radix, L parvia, Segmentina largillierti, Planorbis planorbis, P coenurus

Ký chủ trung gian 2: Ốc nước ngọt:Radix, Galba, Planorbis, Lymnae và nòng nọc Rana temporaria

5.2 Dịch tễ, cơ chế sinh bệnh

Sán trưởng thành đẻ trứng và trứng theo phân ra ngoài môi trường Sau 12-17 ngày gặp điều kiện thuận lợi, trứng nở ra Miracidium, quá trình này diễn ra trong vòng 7-8 ngày ở nhiệt độ 25-35°C Trong ký chủ trung gian thứ nhất, ấu trùng phát triển thành giai đoạn cercaria và cảm nhiễm metacercaria, mất khoảng 27 ngày để hoàn thành quá trình phát triển.

Trong chu trình phát triển của ký sinh trùng, vật chủ trung gian thứ hai thường là ốc hoặc nòng nọc, nơi cercaria chuyển thành metacercaria Gia cầm ăn phải vật chủ trung gian thứ hai này sẽ dẫn đến sự phát triển của sán trưởng thành sau khoảng 2 tuần Quá trình này nhấn mạnh vai trò quan trọng của vật chủ trung gian trong chu trình lây nhiễm và lây lan của ký sinh trùng.

Bệnh do Echinostomatidae phổ biến ở nước ta Bệnh phát nặng ở vùng đồng bằng, nhất là những nơi ao hồ, ruộng nước nơi có nhiều ký chủ trung gian

Bệnh xuất hiện quanh năm, nhưng gia cầm thường mắc bệnh nhiều hơn vào mùa ấm khi ốc và nòng nọc phát triển nhiều Gà và vịt ở mọi lứa tuổi đều dễ nhiễm sán, với tỷ lệ và mức độ nhiễm tăng cao hơn khi gia cầm trưởng thành Đặc biệt, gia cầm nuôi ở vùng đồng bằng có tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn so với gia cầm chăn thả ở vùng trung du.

Các loài thuộc họ Echinostomatidae có triệu chứng cơ bản giống nhau, tuy nhiên mức độ biểu hiện phụ thuộc vào cường độ nhiễm sán, tuổi của vật nuôi, trạng thái sức khỏe và điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng.

Gia cầm nhiễm sán với cường độ cao thường biểu hiện các triệu chứng toàn thân như tiêu chảy, kiệt sức nhanh, ngưng sinh trưởng và phát triển Khi mắc bệnh nặng, con vật có thể chết do suy mòn Sán lá có nhiều gai cuticun trên thân gây kích thích niêm mạc ruột, dẫn đến viêm ruột, chảy máu và viêm cata ở các vùng khác nhau của ruột, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe gia cầm.

5.4 Chẩn đoán Đối với gia cầm còn sống ta kiểm tra phân tìm trứng qua phương pháp gạn rửa sa lắng Khi gia cầm chết ta kiểm tra qua mổ khám tìm sán trưởng thành hoặc dựa vào bệnh tích viêm chảy máu và viêm cata ở từng vùng của ruột non và ruột già

5.5 Điều trị, phòng bệnh Điều trịcó thể dùng các loại thuốc sau:

Fenbendazole: liều 0,002g/ Kg thể trọng trộn trong thức ăn cho ăn

Niclosamide được dùng với liều 60mg/Kg thể trọng cho gà uống, không nên sử dụng dạng chongỗng để đảm bảo hiệu quả Praziquantel liều 20-25mg/Kg thể trọng trộn cùng thức ăn, cho gà ăn trong vòng 5 ngày để tiêu diệt ký sinh trùng Định kỳ tiến hành tẩy xổ sán trong cơ thể gia cầm bằng các loại thuốc phù hợp nhằm duy trì sức khỏe đàn gà Ngoài ra, việc tiêu diệt trứng sán thải ra ngoài bằng phương pháp ủ phân theo sinh học giúp hạn chế sự phát triển của ký sinh trùng, đồng thời kiểm soát ký chủ trung gian trong khu vực chăn nuôi.

Nên nuôi riêng gia cầm lớn và nhỏ, tránh tiếp xúc nơi ao tù nước đọng.

Thựchành

Phương pháp tìm ấu trùng sán lá

6.1 Chuẩn bị dụng cụ và mẫu vật

Kính hiển vi, lam, lamen, đũa thủy tinh, bọc nilon, phân (heo, trâu bò), găng tay, phích đá, cốc nhựa, sổ sách ghi chép.

Phương pháp này chẩn đoán được các loại trứng sán lá, sán dây.

Phương pháp này dựa trên nguyên lý tận dụng đặc điểm của trứng sán lá, sán dây có tỷ trọng lớn hơn nước (d = 1,15 so với d = 1) Khi hòa phân với nước, trứng sán sẽ lắng xuống đáy cốc nhờ vào trọng lực cao hơn, giúp phân biệt và loại bỏ hiệu quả trứng sán trong quá trình xét nghiệm.

Trong quá trình học, giáo viên giới thiệu và hướng dẫn các thao tác mẫu để sinh viên dễ dàng nắm bắt kỹ năng Sinh viên quan sát và thực hành theo hướng dẫn của giáo viên nhằm nâng cao khả năng thực hiện Trong các buổi học, giáo viên thường xuyên kiểm tra và hỏi lại các sinh viên về các thao tác đã thực hiện để đảm bảo hiểu rõ và ghi nhớ kiến thức.

Sử dụng túi nilon sạch hoặc đeo găng tay bảo hộ để lấy phân của vật nuôi Đưa tay vào trực tràng của thú cưng để lấy mẫu phân trực tiếp hoặc lấy phân đã thải ra ngoài môi trường một cách an toàn và vệ sinh Việc này giúp đảm bảo vệ sinh, tránh lây nhiễm bệnh cho cả người và vật nuôi.

Kiểm tra phân ngay sau khi lấy, trường hợp chưa kiểm tra được ngay phải bảo quản phân trong phích đá.

- Cho 5g phân tươi cho vào cốc nhựa, cho nước vào gần đầy và dùng đũa thủy tinh khuấy mạnh cho tan đều.

- Lọc qua lưới lọc có 81 lổ/cm 2 sang một cốc khác.

- Gạn nhẹ lớp nước ở trên đi và cho lại nước sạch vào để yên 10 – 15 phút nữa, nhắc lại như vậy đến khi nước ở phía trên trong.

- Gạn lớp nước trong ở trên đi và để cặn lại.

- Dùng piet loại 2cc hút dung dịch cặn cho lên lamen, đậy lamen và kiểm tra dưới kính hiển vi cóđộ phóng đại 10 x 10 hoặc 10 x 40.

- Sau đó cho 1 ít hỗn hợp trên đã lọc vào 1 lọ thủy tinh, điều chỉnh nước muối bão hòa đến miệng lọ.

- Đậy lamen lên miệng lọ, sau cho không có bọt khí, để yên 15 – 20 phút

-Lấy nhanh lame ra, lật ngược rồi đặt lamen lên, xong đem kiểm tra dưới kính hiển vi X10

Muốn cho tiêu bản trong, dễ kiểm tra ta có thể nhỏ vài giọt glycerin vào tiêu bản.

Căn cứ vào hình thái trứng sán để kết luận

Giáo viên đặt câu hỏi nhắc lại vè hình thái trứng sán lá gan (đã học phần lí thuyết).

Chú ý phân biệt trứng sán lá dạ cỏ, vì hình dạng của chúng là hình bầu dục với đầu hơi nhỏ và có nắp trứng Phối bào của trứng sán lá dạ cỏ phân bố không đều và không phủ kín toàn bộ trứng, giúp nhận biết chính xác loại trứng này Màu sắc của trứng sán lá dạ cỏ thường là màu tro nhạt, điều này là đặc điểm nhận dạng quan trọng để phân biệt với các loại trứng khác trong quá trình xét nghiệm ký sinh trùng.

6.3.3 Kết quả Để tìm và định danh trứng, biết được cường độ nhiễm như bài 1

6.4 Tổng kết nhận xét đánh giá

- Đánh giá kết quả thực hành dựa vào việc kiểm tra lại kiến thức sinh viên ghi nhận trong buổi thực hành.

- Ghi chép đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết.

- Sinh viên tham gia đầy đủ thao tác.

- Tinh thần thái độ học tập nghiêm túc.

1 Đặc điểm hình thái, vòng đời, phân loại sán lá?

2 Căn bệnh,ký chủ, dịch tễ, cơ chế sinh bệnh, triệu chứng, bệnh tích, chẩn đoán, điều trị, phòng bệnh sán lá loài nhai lại?

3 Căn bệnh,ký chủ, dịch tễ, cơ chế sinh bệnh, triệu chứng, bệnh tích, chẩn đoán, điều trị, phòng bệnh sán lá heo?

4 Căn bệnh,ký chủ, dịch tễ, cơ chế sinh bệnh, triệu chứng, bệnh tích, chẩn đoán, điều trị, phòng bệnh sán lá loài ăn thịt?

5 Căn bệnh,ký chủ, dịch tễ, cơ chế sinh bệnh, triệu chứng, bệnh tích, chẩn đoán, điều trị, phòng bệnh sán lá loài gia cầm?

Đại cương

Sán dây thuộc lớp Cestoda, có thân hình dài dạng dải, dẹp theo hướng lưng bụng với kích thước thay đổi từ vài milimet đến vài chục mét tùy loại Cơ thể gồm 3-5 đốt hoặc nhiều đốt, được bao phủ bởi lớp cuticle có nhiều lỗ nhỏ, bên dưới là lớp tế bào lớn, các lớp cơ vòng và cơ dọc, với phần trong cùng chứa nhu mô Sán dây có 3 loại đốt chính gồm đốt đầu, đốt cổ và đốt thân; đốt đầu hình cầu, có các cơ quan giác bám như mõm, rãnh bám, móc, với số lượng và hình thái móc thay đổi theo từng loài Đốt cổ là phần tiếp giáp với đốt đầu, có chức năng sinh trưởng để sản sinh các đốt mới, thay thế các đốt già rụng ra ngoài.

23 Đốt thân: các đốt này có mức độ thành thục khác nhau nên chia làm 3 loại đốt.

- Đốt non: thường nằm giáp với đốt cổ, cơ quan sinh dục chưa phát triển hoàn toàn

Đốt trưởng thành đề cập đến giai đoạn cơ quan sinh dục đã phát triển hoàn chỉnh, bao gồm tinh hoàn, buồng trứng, tuyến noãn hoàng, tử cung, âm đạo, ống bài tiết và một số cơ quan liên quan khác, đánh dấu sự trưởng thành và sẵn sàng cho chức năng sinh sản.

Đốt già, còn gọi là đốt chửa, là tình trạng có chứa đầy trứng trong tử cung Quá trình đốt chửa có thể tự nhiên thoát ra khỏi cơ thể qua phân Đốt sán hình bốn cạnh, với chiều dài lớn hơn hoặc nhỏ hơn chiều rộng tùy thuộc vào từng loài.

Sán dây là loại ký sinh trùng không có khoang thể và không có cơ quan tiêu hóa, hoàn toàn lấy chất dinh dưỡng qua quá trình thẩm thấu qua màng cơ thể Mỗi đốt của sán dây chứa đầy đủ các cơ quan sinh dục đực và cái, cho phép chúng tự thụ tinh và sinh sản mạnh mẽ trong môi trường ký sinh.

Sán dây có cấu tạo bên trong gồm ba lớp chính: vỏ, dưới vỏ và cơ Lớp vỏ chứa nhiều lỗ thoát nhỏ, giúp trao đổi chất hiệu quả Lớp dưới vỏ gồm các tế bào lớn, đóng vai trò trong quá trình bảo vệ và cấu trúc của sán dây Lớp cơ của sán dây được cấu tạo giống như sán lá, gồm nhiều bó cơ tập hợp các sợi cơ ngang dọc, giúp sán di chuyển linh hoạt Bên trong lớp cơ, có các cơ quan nội tạng quan trọng như hệ bài tiết, hệ thần kinh và cơ quan sinh dục, đảm bảo hoạt động sinh trưởng và sinh sản của sán dây.

Hệ thần kinh của sinh vật này có cấu trúc ít phát triển, bao gồm các hạch thần kinh trung ương nằm ở đầu và các dây thần kinh dọc kết nối với nhau bằng dây thần kinh ngang.

Bộ phận thần kinh nằm ở khắp thân sán thông với hạch ở đầu.

Hệ bài tiết của sán dây gồm hai ống bài tiết chính dọc theo thân Các ống này bắt đầu từ phần cuối của cơ thể, hợp thành một lỗ bài tiết chung, sau đó đi ngược về phía đầu, vòng xuống dưới và cuối cùng đóng kín lại Mặc dù thường có ấn tượng rằng sán dây có bốn ống bài tiết dọc, thực tế chỉ có hai ống bài tiết chính giúp hệ thống bài tiết hoạt động hiệu quả và phù hợp với cấu trúc sinh học của chúng.

+ Hệ tiêu hóa: không có, lấy thức ăn bằng thẩm thấu Đó là đặc điểm quan trọng để phân biệt với sán lá.

+ Hệ hô hấp và tuần hoàn: không có, hô hấp bằng yếm khí.

+ Bộ phận sinh dục: trong mỗi đốt sán đều có đủ cơ quan sinh dục đực và cái

Cơ quan sinh dục đực gồm có tinh hoàn, có thể có từ một đến vài trăm tinh hoàn, mỗi tinh hoàn có ống dẫn tinh riêng và sau đó đổ vào ống dẫn tinh chung Ống dẫn tinh nằm trong túi sinh dục đực (túi Cirrus) và dẫn ra ngoài qua dương vật (Penis), nằm bên thân sán.

- Cơ quan sinh dục cái: ở giữa có túi trứng Ootype thông với buồng trứng, tuyến dinh dưỡng Mehlis, tuyến noãn hoàng, tử cung và âm đạo Phần cuối của

24 âm đạo là lỗ sinh dục cái, thông với ngoài ở cạnh lỗ sinh dục đực tạo thành lỗ sinh dục

Buồng trứng có cấu tạo gồm hai thùy giúp hình thành và phát triển tốt các tế bào trứng Sau quá trình trưởng thành, trứng sẽ di chuyển vào tử cung, còn tử cung có hình dạng ống với lỗ thông ra ngoài, giúp trứng được đẻ ra bên ngoài cơ thể Khi quá trình thụ tinh diễn ra, trứng không cần phải rụng toàn bộ mỗi lần, giúp các cơ quan khác duy trì sự phát triển bình thường và không bị tiêu giảm khi đến tuổi già.

- Trứng của sán dây bộ Pseudophyllidea thường có hình tròn hay hơi bầu dục, đầu nhỏ có nắp trong chứa tế bào phôi.

Hình 2 1 Đầu sán dây và cấu tạo của đốt sán 1.2 Vòng đời

Phát triển của sán dây khá phức tạp, với một số ít loại ký sinh trên người và động vật gặm nhấm không cần vật chủ trung gian Tuy nhiên, phần lớn các loại sán dây ký sinh ở gia súc cần phải có một hoặc hai vật chủ trung gian để hoàn thành chu trình phát triển của chúng Sán dây thụ tinh qua phương thức thụ tinh giao chéo và tự thụ tinh, góp phần vào sự sinh sản và lây truyền của chúng trong môi trường tự nhiên.

Phát triển trực tiếp không cần ký chủ trung gian giúp quá trình diễn ra nhanh chóng hơn Quá trình đốt sán theo phân gây vỡ trứng, giải phóng trứng ra môi trường, tạo điều kiện thuận lợi để trứng phát triển thành các dạng gây bệnh Những trứng này lẫn vào thức ăn, nước uống của người và chuột, sau khoảng 10-12 ngày sẽ phát triển thành sán trưởng thành, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe.

Ví dụ: sán Hymelolepis nana ký sinh ở ruột non của người và chuột.

Cần ký chủ trung gian:

Vật chủ trung gian là các động vật có xương sống, đóng vai trò quan trọng trong chu trình sinh học của sán Đốt sán chửa rụng đi theo phân ra ngoài môi trường, gây phân tán trứng sán rộng rãi Vật chủ trung gian thường ăn phải trứng hoặc đốt sán có trong phân, tạo điều kiện cho sự phát triển và hoàn thành vòng đời của sán một cách hiệu quả.

Trứng của ký sinh trùng sẽ phát triển thành ấu trùng khi vào trong vật chủ trung gian Khi gia súc và con người ăn phải vật chủ trung gian, đặc biệt là thịt chưa được nấu chín chứa ấu trùng, chúng sẽ xâm nhập vào cơ thể và phát triển thành dạng trưởng thành, gây bệnh và nhiễm trùng.

Ví dụ về chu trình của sán Taenia solium cho thấy sán trưởng thành ký sinh trong ruột người, đốt sán ra ngoài môi trường, và heo ăn phải trứng sán Trứng sán phát triển thành ấu trùng có 6 móc, sau đó di chuyển qua máu về cơ bắp của heo, hình thành các nang gạo heo Khi người tiêu thụ thịt heo chưa nấu chín chứa các nang gạo này, ấu trùng sẽ phát triển thành sán trưởng thành trong ruột người, gây nhiễm bệnh và truyền bệnh.

+ Vật chủ trung gian là những động vật không xương sống,sống ở dưới nước hay trên cạn như : nhện đất, giáp xác (Cyclops), ốc nước ngọt…

Sán dây Moniezia xuất hiện trong ruột non của gia súc nhai lại, gây bệnh qua quá trình đốt sán chửa rụng theo phân ra ngoài Khi nhện đất (oribatid mites) ăn phải trứng sán, chúng nở thành ấu trùng Cycticercoid Gia súc tiêu thụ cỏ chứa nhện đất mang ấu trùng sẽ dẫn đến việc sán trưởng thành trong cơ thể, gây bệnh và ảnh hưởng đến sức khỏe của gia súc.

B ệ nh sán dây loài nhai l ạ i

Do một số loài sán dây Monieziz expansa, M benedeni thuộc họ

Anoplocephalidae ký sinh trong ruột non của trâu, bò dê cừu, bê nghé và một số động vật khác

Moniezia expansa là loài sán dây có hình dãi băng, màu trắng, chiều dài từ 1-5 mét và rộng khoảng 1,6 cm, với đốt sán có chiều rộng lớn hơn chiều dài Đầu sán hơi tròn, có 4 giác bám hình bầu dục giúp sán gắn kết với ruột vật chủ Mỗi đốt sán chứa các cơ quan sinh dục như buồng trứng, tuyến dinh dưỡng, tử cung, âm đạo, trong đó mỗi âm đạo có lỗ thông ra một bên đốt Bộ phận sinh dục đực gồm nhiều tinh hoàn (300-400 cái) nằm ở giữa đốt, với ống dẫn tinh hợp thành ống chung dẫn tới túi dương vật hình lê và lỗ sinh dục cái Khi đốt sán chửa đầy trứng, giúp xác định giai đoạn sinh sản của sán.

Các phần khác đều bị thoái hóa, trong đó phần sau mỗi đốt sán có tuyến giữa đốt, được sắp xếp thành hàng ngang, hình vòng hoặc hình tròn Tuyến này đóng vai trò quan trọng trong việc định loại các cấu trúc, giúp xác định đúng chức năng và đặc điểm của từng phần trong hệ thống sinh học.

Trứng sán hình 3 cạnh hoặc 4 cạnh, trong có thai trùng 6 móc Trứng được bao bọc trong một khí quan hình quả lê Đường kính 0,05 – 0,06 mm

Moniezia benedeni là loài sán có hình dáng rất giống các loài sán khác, khiến việc phân biệt ngoài hình trở nên khó khăn Đốt sán này có kích thước rộng hơn một chút so với các loài tương tự, đặc biệt là sự sắp xếp của tuyến giữa đốt là điểm mấu chốt giúp nhận biết Tuyến này có dạng dải băng với nhiều điểm lấm tấm, tập trung ở giữa hoặc một bên đốt, góp phần xác định đặc điểm của Moniezia benedeni Trứng của loài này có đường kính khoảng 0,063 – 0,086 mm, là một chỉ số quan trọng trong chẩn đoán và phân loại.

2.2 Dịch tễ, cơ chế sinh bệnh

Vòng đời, cơ chế sinh bệnh

Vòng đời phát triển gián tiếp của loài ký sinh liên quan đến ký chủ trung gian, là các động vật không xương sống chân đốt thuộc họ Oribatoidae (nhện đất) như Adorite ovatus, Galumna emarginatum, Oribatula minuta và Peloribates curtipilus Đặc điểm sinh trưởng của đốt sán chửa gồm quá trình rụng theo phân để giải phóng trứng, từ đó trứng có thể phát triển thành thai trùng.

Sau khi 6 móc bị nhện đất ăn phải, chúng sẽ phát triển thành Cysticercoid, hoàn thành vòng đời trong vòng 120-180 ngày Khi ký chủ cuối cùng ăn cỏ chứa nhện đất mang ấu trùng, ấu trùng sẽ chui ra khỏi ký chủ và bám vào niêm mạc ruột sau 37-50 ngày, phát triển thành sán trưởng thành ký sinh trong ruột non Sán dây trưởng thành có thể sống trong ruột của gia súc từ 2-7 tháng, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và năng suất chăn nuôi.

Trứng sán có khả năng kháng cao với các tác nhân bên ngoài, chỉ chết sau 6 giờ trong điều kiện khô ráo và sau 60 ngày trong đốt Bệnh thường xuất hiện ở gia súc non từ 1 đến 8 tháng tuổi, với tỷ lệ nhiễm giảm dần khi tuổi của vật nuôi tăng Ngoài ra, có 28 loài nhện đất thuộc họ Oribatoidae mang ấu trùng sán, góp phần lây truyền bệnh hiệu quả.

Những ký chủ trung gian thường sống trên đồng cỏ, nhiều khi ẩn mình trong bụi cây Mỗi mét vuông đồng cỏ có từ 6.100 đến 15.200 con nhện đất, góp phần quan trọng trong chuỗi thức ăn tự nhiên Khi đồng cỏ được cải tạo, số lượng vật chủ trung gian giảm đáng kể, giúp kiểm soát dịch bệnh tốt hơn Nhện đất hoạt động chủ yếu vào sáng sớm hoặc chiều tối, còn ban ngày thường chui xuống đất để tránh nắng Tại một số khu vực đặc thù, mật độ nhện đất có thể lên tới 23.000 con trên mỗi mét vuông, thể hiện sự đa dạng và phong phú của hệ sinh thái đồng cỏ.

Các triệu chứng của bệnh phụ thuộc vào mức độ nhiễm, bao gồm biểu hiện nhẹ đến nặng, như súc vật ăn ít, khát nước, bị kiết lỵ, có lẫn đốt sán trong phân, thân nhiệt cao hoặc hạ nhiệt, niêm mạc nhợt nhạt, hạch bạch huyết sưng to, lông không còn bóng mượt Một số trường hợp còn xuất hiện triệu chứng thần kinh như run giật, quay cuồng và đầu lúc lắc, cho thấy mức độ nghiêm trọng của bệnh.

Bệnh tích đặc trưng trên dê, cừu non và bê bao gồm thương tổn cơ thể bệnh học rõ nét như dịch đục trong lồng ngực, bao tim, sợi cơ nhợt nhạt và điểm xuất huyết trên niêm mạc ruột cũng như màng bao tim Các dấu hiệu đi kèm gồm ruột viêm cata, phổi thường tích nước và ruột non đầy sán, đôi khi có hiện tượng vỡ sán, cho thấy các triệu chứng rõ ràng của bệnh trong các phần trên cơ thể.

Để chẩn đoán sán, cần tìm đốt sán và mảnh đốt sán trong phân bệnh nhân Trong trường hợp ít đốt sán, có thể áp dụng phương pháp gạn rửa sa lắng để tăng hiệu quả phát hiện Sau đó, các mẫu phân được để lên giấy để quan sát kỹ hơn nhằm xác định sự có mặt của đốt sán và mảnh đốt sán chính xác.

- Cần phân biệt đốt sán dâyMoniezia với Avitellina và thysaniezia

Moniezia mỗi đốt có hai cơ quan sinh dục và tuyến giữa đốt, trứng được bao bọc bởi khí quan hình lê Trong khi đó, hai loại sán dây còn lại mỗi đốt chỉ có một cơ quan sinh dục, không có tuyến giữa đốt, và trứng không có khí quan hình lê bao bọc Ở Thyaniezia, mỗi bọc chứa nhiều trứng, còn ở Avitellina, mỗi bọc chỉ chứa một trứng.

2.5 Điều trị, phòng bệnh Điều trị

Một số loại thuốc sau có thể sử dụng điều trị có hiệu quả :

-Niclosamide (Yomesan) 50 mg/kg P cho uống, 100 mg/ KgP cho ăn, không dùng cho gia súc cho sữa.

- Cestovets: 25 mg/Kg P cho trâu bò uống

- Abendazole: 7,5mg/ Kg P cho uống.

Phát hiện sớm các con nhiễm sán là yếu tố quan trọng để kiểm soát dịch bệnh trên đàn gia súc Cần sử dụng thuốc xổ định kỳ cho gia súc và theo dõi chặt chẽ, đặc biệt là cho gia súc non từ 1 đến 8 tháng tuổi Không nên chăn thả gia súc sớm hoặc quá sớm để tránh tác động của nhện đất, vì chúng hoạt động mạnh mẽ trong giai đoạn này Đồng thời, chăm sóc và nuôi dưỡng gia súc một cách chu đáo để đảm bảo sức khỏe và hiệu quả chăn nuôi.

B ệ nh sán dây ở thú ăn thị t

Sán dài từ 10 đến 75 cm, rộng khoảng 2-3 mm, gồm 120 đốt và đầu có 4 giác bám chắc chắn Đầu sán có 3-4 hàng móc giúp gắn kết hiệu quả với ký chủ Lỗ sinh dục nằm song song ở hai bên đốt sán, tạo điều kiện cho quá trình sinh sản Tử cung của sán chứa một túi trứng duy nhất, trong đó có từ 8 đến 20 trứng hình nón giống như hạt bí ngô, giúp sinh vật phát triển và truyền bệnh hiệu quả.

3.2 Dịch tễ, cơ chế sinh bệnh

Sán dây là loài ký sinh phổ biến trên toàn thế giới và là loại sán dây chính gây nhiễm ở chó tại Việt Nam, với cường độ nhiễm từ một đến vài trăm ký sinh trùng trên mỗi con chó Tỉ lệ nhiễm ở mèo thấp hơn so với chó, và trẻ em có nguy cơ nhiễm sán cao hơn người lớn do tiếp xúc nhiều hơn với chó hoặc môi trường chứa sán Đường lây truyền chính chủ yếu do tiếp xúc trực tiếp với chó, khi chó liếm hoặc vuốt vào tay, lây nhiễm qua vết trầy xước hoặc lông vấy nhiễm cysticercoid, sau đó con người tình cờ nuốt phải qua đường miệng.

Vòng đời, cơ chế sinh bệnh

Sán trưởng thành ký sinh chủ yếu ở ruột non của chó, mèo, và đôi khi ở người Quá trình ký sinh bắt đầu khi đốt sán chửa rụng theo phân ra ngoài, trứng phân tán ra môi trường đất, dính vào lông chó, mèo Các loài bọ chét của chó, mèo và người là ký chủ trung gian, khi ăn phải trứng sán, chúng phát triển thành ấu sán (cysticercoid) trong cơ thể bọ chét sau 18 ngày Khi ký chủ cắn lông, ăn phải bọ chét, hoặc bọ chét rơi vào thức ăn, nước uống, trứng sán sẽ qua đường tiêu hóa và phát triển thành sán trưởng thành trong vòng 3 tuần, hoàn thành chu trình ký sinh và lây truyền cho vật chủ mới.

Khi nhiễm bệnh ở mức nhẹ, không xuất hiện triệu chứng rõ ràng Tuy nhiên, nhiễm nặng có thể gây ra các triệu chứng như ói mửa, giảm ăn, kiệt sức, chậm lớn, tiêu chảy và các biểu hiện thần kinh Bệnh còn gây viêm loét, xuất huyết tại ruột, đồng thời ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của chó.

3.4 Chẩn đoán Đốt sán thường theo phân ra ngoài, rất dễ thấy Có thể xét nghiệm phân theo phương pháp lắng gạn để tìm đốt sán hoặc trứng sán Đốt sán có hình dạng giống hạtdưa leo bên trong có chứa nhiều bọc trứng.

Niclosamide cho uống hoặc cho ăn liều 50mg/kg thể trọng

Doramectin: liều 250g/kg thể trọng cho qua miệng hoặc tiêm bắp hiệu quả rất tốt

Dichlorophen: có hiệu quả tốt với sán dây ở chó, mèo, liều dùng 200mg/ kg thể trọng, trộn thức ăn

Nên định kỳ xổ giun cho chó từ 2 đến 4 lần mỗi năm để kiểm soát ký sinh trùng hiệu quả Thường xuyên tắm rửa cho chó để loại bỏ bọ chét, ve và rận, giúp giữ vệ sinh và phòng ngừa bệnh tật Không cho chó ăn thịt sống hoặc các bộ phận có ấu trùng sán từ lò mổ để hạn chế rủi ro nhiễm ký sinh trùng Ngoài ra, cần tránh cho chó vào chuồng gia súc hoặc nhà chế biến thức ăn nhằm đảm bảo an toàn sức khỏe cho thú cưng cũng như môi trường xung quanh.

Diệt ký chủ trung gian của một số sán dây, như loài gặm nhắm, bọ chét.

B ệ nh sán dây ở gia c ầ m

Raillietina tetragona dài khoảng 25cm, rộng từ 1-4mm, có đầu hơi tròn với đỉnh đầu có 120 móc xếp thành 2 hàng giúp xác định đặc điểm chính của loài Trên giác bám của ký sinh trùng có 8-10 háng móc nhỏ, cùng với 20-30 tinh hoàn, hỗ trợ trong quá trình sinh sản Buồng trứng nằm ở giữa đốt, trong khi tử cung ở đốt già chia thành các túi trứng riêng biệt, mỗi túi chứa từ 6-12 trứng, góp phần vào khả năng sinh sản cao của loài Lỗ sinh dục thường xuất hiện một phía đốt hoặc có thể xen kẽ bất thường, là đặc điểm nhận dạng quan trọng trong việc phân loại và nghiên cứu.

Raillietina echinobothrida là loại ký sinh trùng dài khoảng 25cm và rộng 1,4mm, với đặc điểm nhận biết là có 4 giác bám hình tròn đường kính từ 0,09 đến 0,20mm, trên đó có 8-10 hàng móc Đỉnh đầu của ký sinh trùng có khoảng 200 móc được xếp thành hai vòng tròn, cùng với từ 30 đến 45 tinh hoàn giúp xác định khả năng sinh sản Nang tử cung chứa từ 8 đến 12 trứng, góp phần vào quá trình lây truyền và phát triển của ký sinh trùng này trong cơ thể vật chủ.

Daivainea proglottina là loại ký sinh trùng với cơ thể chỉ dài từ 0,5 đến 3mm, gồm từ 4 đến 9 đốt Đầu của chúng nhỏ, nằm trên đỉnh của đầu, có từ 60 đến 95 móc nhỏ hỗ trợ bám dính vào ký chủ Trên giác bám của ký sinh trùng cũng có các móc, giúp bám chắc hơn vào lớp niêm mạc Ngoài ra, Daivainea proglottina còn có từ 12 đến 15 tinh hoàn xếp thành hai hàng ở phần sau của đốt, góp phần vào quá trình sinh sản và phát triển của chúng.

Raillietina cesticillus dài 4-13 cm, không có cổ, đầu lớn với 400-500 móc nhỏ ở đầu, giác bám không có móc Nang tử cung chỉ chứa 1 trứng.

Ký sinh ở ruột non, ruột già của gà

Ký chủ trung gian là loài kiến Pheidole, Tetramorium và côn trùng bộ cánh cứng Musca domestica

4.2 Dịch tễ, cơ chế sinh bệnh

Sán dây phân bố rộng khắp ở các đàn gà nước ta, đặc biệt phổ biến ở các trang trại chăn nuôi tập trung với tỷ lệ nhiễm lên đến 68,8% và cường độ nhiễm cao Gà ở vùng núi có tỷ lệ nhiễm cao hơn so với trung du và đồng bằng, cho thấy sự phân bố không đều theo địa phương Trong số các loài sán dây thường gặp, chủ yếu là Raillietina tetragona với tỷ lệ nhiễm 47% và Raillietina echinobothrida với tỷ lệ nhiễm 49,7%.

Nhiễm sán Railletina xuất hiện ở tất cả các lứa tuổi gà, trong đó gà con dưới 3 tháng tuổi đã nhiễm với tỷ lệ 41,7% Tỷ lệ nhiễm tăng dần ở gà từ 3-5 tháng tuổi là 57,1% và tiếp tục cao hơn ở gà trên 5 tháng tuổi đạt 69,9% Hiện tượng này cho thấy xu hướng tăng dần theo tuổi, do gà lớn có nhiều cơ hội tiếp xúc với ký chủ trung gian của ký sinh trùng này.

Việc chăm sóc và vệ sinh chuồng trại đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa nhiễm sán trên gà Nguyên nhân chính gây bệnh là do gà nuôi trong môi trường bị nhiễm sán, đặc biệt khi gà con ăn phải các phân hoặc thức ăn bị nhiễm ký sinh trùng Đảm bảo vệ sinh chuồng trại và kiểm soát quần thể gà giúp giảm thiểu nguy cơ nhiễm sán, góp phần bảo vệ sức khỏe đàn gia cầm của bạn.

Cysticercoid ở ký chủ trung gian có thể gây bệnh nặng nếu điều kiện nuôi dưỡng kém, dẫn đến tỷ lệ chết của gà tăng cao Ngược lại, khi thức ăn đầy đủ và quản lý tốt, khả năng mắc bệnh giảm đáng kể, giúp hạn chế thiệt hại về đàn gà Việc duy trì điều kiện chăn nuôi vệ sinh, chăm sóc đúng quy trình là yếu tố quan trọng để kiểm soát sự lây nhiễm của bệnh.

Quá trình sinh bệnh của sán do cơ giới và chất độc của chúng gây ra, trong đó việc đốt sán sâu vào niêm mạc ruột gây tổn thương nghiêm trọng Khi số lượng sán nhiều, ruột có thể bị tắc nghẽn, thủng hoặc viêm xoang bụng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của gà Ngoài ra, ký sinh trùng còn tiết ra các chất độc, làm gà bị trúng độc và suy giảm sức đề kháng.

Các loài sán như Raillietina tetragona, R echinobothrida, và R georgiensis cần phải trải qua ký chủ trung gian là kiến Pheidole pallidula hoặc ruồi nhà Musca domestica để phát triển Khi phân chứa sán già được đốt và thải ra ngoài môi trường, kiến sẽ ăn phải trứng sán và phát triển thành ấu trùng cysticercoid trong cơ thể kiến Sau 19 ngày, gà ăn phải các kiến chứa ấu trùng này sẽ bị nhiễm sán và tiếp tục quá trình lây nhiễm.

23 ngày phát triển thành sán trưởng thành

Các loài sán dây Daivainea proglottina, D meleagris ký chủ trung gian là ốc trên cạn thuộc giống Lymnae, Arion, Zonitodes vào trong ốc hình thành

Cysticercoid, gà ăn ốc này sẽ nhiễm sán.

Sán dây Raillietina cesticillus ký chủ trung gian là ruồi nhà Musca domestica và những côn trùng khác.

Sán dây Amoebotaenia cuneata ký chủ trung gian là giun đất, vào trong giun đất tạo thành Cysticercoid gà ăn phải ký chủ trung gian sẽ nhiẽm sán.

Hymenolepis carioi là loại ký sinh trùng có loài bọ hung làm ký chủ trung gian, qua quá trình nhiễm sán, bọ hung tạo thành dạng Cysticercoid Khi gà tiêu thụ bọ hung nhiễm sán, chúng sẽ bị nhiễm loài ký sinh trùng này, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và hiệu suất chăn nuôi.

Loài Raillietina magninumila và Hymenolepis cantaniana ký chủ trung gian là côn trùng cánh cứng.

Gà nhiễm bệnh nhẹ thường ít xuất hiện triệu chứng rõ ràng Tuy nhiên, khi nhiễm nặng, gà sẽ ít ăn, gầy rạc, lông xù, ủ rũ, mệt mỏi, thiếu máu khiến niêm mạc nhợt nhạt và chậm lớn Ngoài ra, gà có thể đi phân lỏng, lẫn đốt sán hoặc có máu, phản ánh tình trạng nhiễm ký sinh trùng nghiêm trọng Nhiễm nhiều sán còn gây tắc ruột hoặc thủng ruột, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của gà.

Bệnh tích ruột non sưng to, bên trong viêm cata, có khi loét xuất huyết có nhiều đầu sán cắm sâu vào niêm mạc ruột non

Khi con vật còn sống dựa vào triệu chứng lâm sàng, kiểm tra phân hoặc bằng phương pháp Benedek tìm đốt sán.

Mổ khám con vật đã chết hoặc những con còn sống nghi ngờ có bệnh để tìm sán

Để duy trì sức khỏe cho đàn gà, thường xuyên kiểm tra để phát hiện những con bị nhiễm sán chửa nhằm điều trị kịp thời Cung cấp thức ăn đầy đủ, chất lượng để nâng cao khả năng đề kháng của gà Ở những khu vực có nguy cơ nhiễm sán nặng, cần định kỳ tẩy sán cho gà mỗi 2 tháng để phòng bệnh hiệu quả.

Hexachlorophene liều 50-100mg/ kg thể trọng hòa với nước hay trộn vào thức ăn cho gà ăn.

Dichlorophene liều dùng 0,5 gam/ kg thể trọng hòa vào nước cho uống.

Bithionol liều dùng 150-200 mg/ kg thể trọng hòa với nước hay trộn vào thức ăn cho gà ăn

Phenasal liều dùng 0,2 gam/ kg thể trọng trộn thức ăn hay cho uống.

B ệ nh do ấ u trùng sán dây

Căn bệnh và ký chủ

Taenia solium trưởng thành ký sinh trong ruột non người, dài từ 2 đến 7 mét, có đốt đầu hình cầu với 4 giác bám và mõm hút trên đỉnh, cùng hai hàng móc gồm 22-32 chiếc Đốt cổ ngắn và hẹp, trong khi đốt chưa thành thục ngắn hơn chiều rộng, còn đốt chửa có hình chữ nhật và tử cung chia thành 7-12 nhánh Trứng của sán hình trứng, bầu dục, có đường kính từ 31-43 micromet, thường được bài tiết qua phân ra ngoài Ấu trùng cysticercus cellulosae có hình dạng bầu dục giống hạt gạo, dài từ 6-15 mm, rộng 3-5 mm, bên ngoài là lớp màng mỏng chứa dịch trong suốt và chấm trắng, chính là đầu sán Đầu sán có 4 giác bám, mõm hút, đỉnh đầu có 22-32 móc, nhưng mắt thường không thể phát hiện rõ.

Người là vật chủ duy nhất của sán dây, với đầu sán trưởng thành gắn sâu vào niêm mạc ruột non, gây ảnh hưởng đến sức khỏe Trứng hoặc đốt sán rụng theo phân, lẫn vào thức ăn, nước uống hoặc môi trường đất, tạo điều kiện lây nhiễm cho các vật chủ khác Việc nhiễm sán dây ở người có thể gây ra các vấn đề tiêu hóa và thiếu hụt dinh dưỡng Ngăn ngừa lây nhiễm bằng cách vệ sinh sạch sẽ thực phẩm và môi trường sống là cách phòng bệnh hiệu quả.

Khi heo, chó, mèo hoặc người ăn phải sán hoặc trứng sán, chúng xâm nhập vào ruột non Dưới tác dụng của dịch tiêu hóa, vỏ trứng sán phân hủy, tạo điều kiện cho trứng nở ra ấu trùng sán, bắt đầu quá trình gây bệnh Việc tiêu thụ thực phẩm nhiễm sán có thể dẫn đến nhiễm ký sinh trùng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe Chính vì vậy, việc kiểm soát vệ sinh thực phẩm và phòng ngừa nhiễm sán là rất quan trọng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Trong vòng 24-72 giờ, ấu trùng xâm nhập vào hệ tuần hoàn và dần ký sinh tại các cơ quan, phát triển thành các bọc chứa dịch Sau khoảng 60 ngày, chúng hình thành các móc và giác hút trên đầu, tạo thành nang cysticercus cellulosae, gây ra các ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người.

Gạo heothường ở cơ lưỡi, cơ cổ, cơ mông, cơ lên sườn, cơ bụng và cơ quanh cột sống heo Gạo có thể sống nhiều năm ở heo.

Mỗi lần người thải ra nhiều đốt sán và trứng Heo có thể mắc hàng nghìn, hàng vạn hạt gạo.

Người nhiễm sán dây Taenia solium bằng 2 cách :

Cách thứ nhất để bị nhiễm sán là do ăn phải thức ăn hoặc uống nước có chứa trứng sán hoặc dính trứng sán vào tay và sau đó đưa vào cơ thể Ấu trùng sán 6 móc sau khi vào cơ thể sẽ di chuyển qua các bộ phận như não, mắt, dưới da, cơ, tim, gan và phổi, gây ra các biến chứng nguy hiểm đến sức khỏe.

Cách thứ hai để nhiễm sán dây trưởng thành là khi ký sinh trùng trong ruột gây ra việc ói mữa thức ăn, làm trứng sán bị giải phóng và theo mạch máu di chuyển đến các cơ quan khác để ký sinh Tình trạng này gọi là tự nhiễm sán dây, xảy ra khi đốt sán bị vỡ trong quá trình nôn mữa, giải phóng trứng và gây lây nhiễm lại trong cơ thể.

Khi người ăn thịt heo tái, có gạo chưa nấu chín vào đường tiêu hóa, dịch dạ dầy phân hủy màng ngoài của Cysticercus, đầu sán nhô ra cắm vào niêm mạc ruột non, cướp chất dinh dưỡng của vật chủ, sau 2 –3 tháng thì thành sán trưởng thành

T solium Tuổi thọ của sán trưởng thành ở người tới 25 năm.

Gạo heo phân bố hầu khắp mọi nơi Ngoài heo ra, chó cũng có nhiễm

Cysticercus cellulosae nhiễm theo tuổi, tỷ lệ nhiễm tăng dần với độ tuổi cao hơn Gạo heo phân bố chủ yếu ở các cơ như cơ hoành, cơ cổ, cơ mông, cơ lưỡi, cơ liên sườn, cơ thăn và cơ bụng Ở người, cơ quan bị nhiễm nhiều nhất là mắt, não và hệ thần kinh, cũng như da và các tổ chức dưới da Người có thể nhiễm sán và ấu sán do tiêu thụ thực phẩm bị ô nhiễm hoặc không đảm bảo vệ sinh.

Triệu chứng : không rõ ở heo

Bệnh tích gồm các mô cơ bị chèn ép, hoại tử và thoái hóa, gây tổn thương nghiêm trọng cho cơ Trong mô bị tổn thương, có sự hiện diện của bạch cầu ưa eozin, bạch cầu trung tính và các tổ chức xơ, phản ánh quá trình viêm nhiễm và phản ứng miễn dịch Các tổn thương cơ này gây ảnh hưởng đáng kể đến chức năng của các cơ liên quan.

Gạo bị ký sinh trùng gây hại cho sức khỏe người, dẫn đến các vấn đề về tiêu hóa và hệ miễn dịch Ngoài ra, khi ký sinh trên heo, chúng ảnh hưởng tiêu cực đến khối lượng và chất lượng thịt, gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi Việc kiểm soát ký sinh trùng trên gạo và vật nuôi là rất quan trọng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và đảm bảo an toàn thực phẩm.

Chẩn đoán nhiễm sán ở người chủ yếu dựa trên xét nghiệm phân để phát hiện đốt sán và trứng, đồng thời có thể kết hợp kiểm tra lâm sàng để đánh giá triệu chứng Hiện nay, các phương pháp chẩn đoán hiện đại như X quang, sinh thiết cơ và xét nghiệm ELISA đã được ứng dụng rộng rãi để nâng cao độ chính xác, đem lại kết quả nhanh chóng và đáng tin cậy Đối với heo, phương pháp ELISA được sử dụng để kiểm tra miễn dịch, và trong các trường hợp nhiễm nặng, có thể kiểm tra cơ lưỡi để xác định mức độ nhiễm bệnh một cách chính xác.

Phòng trị Ở gia súc chưa có thuốc trị, chủ yếu dựa vào các biện pháp phòng bệnh có liên quan đến ngành y tế và ngành chăn nuôi là chính.

Kiểm soát sát sinh chặt chẽ và hạn chế việc giết thịt gia súc một cách tự do để đảm bảo an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường Khi phát hiện có gạo, cần xử lý theo đúng quy định của luật thú y hiện hành để phòng ngừa dịch bệnh Không nên xây dựng chuồng heo, chuồng bò gần khu vực vệ sinh của con người nhằm tránh ô nhiễm và lây lan dịch bệnh Việc thả rong heo và phóng uế bừa bãi trên đồng cỏ không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

Tuyên truyền vận động không nên ăn thịt sống bằng các hình thức như : nem, gỏi, tái.

Kết hợp với ngành y tế để nắm tình hình nhiễm sán dây ở người nhất là các công nhân trực tiếp chăn nuôi.

Những biện pháp xử lý gạo:

Theo quy định tại Điều 18 mục a và c luật Thú y hiện hành, nếu có từ 3 hạt gạo trở lên trong diện tích 40 cm² thì sẽ được xử lý theo Điều 18 mục a Trường hợp phát hiện có đến 6 hạt gạo trên cùng diện tích này, việc xử lý sẽ theo quy định tại Điều 18 mục c Việc áp dụng các quy định này nhằm đảm bảo kiểm soát dịch bệnh hiệu quả trong chăn nuôi và duy trì sức khỏe cộng đồng.

Nếu kiểm tra trên diện tích 40 cm² ở cơ mông, cơ đùi hoặc các cơ khác có trên 3 hạt gạo, thịt đó không phù hợp để sử dụng cho người Thay vào đó, thịt có thể được chế biến thành thức ăn gia súc, gia cầm hoặc phục vụ ngành thủy sản Việc kiểm tra này giúp đảm bảo an toàn thực phẩm và chất lượng thịt trước khi tiêu thụ.

Nếu có dưới 3 hạt gạo /40 cm 2 có thể sử dụng làm thực phẩm cho con người nhưng phải xử lý qua 1 trong 3 cách sau:

+ Luộc chín cắt từng miếng không quá 2 kg, độ dày không 8cm, đun sôi trong 2 giờ

+ Đông lạnh: -10 đến -15 0 C, gạo phải đông lạnh 10 ngày, biện pháp này được sử dụng trong thực tế

+ Ướp muối: cắt thịt ướp trong nước muối bảo hòa 3 tuần Biện pháp này ít sử dụng vì mặn

Hình 2 2 : Đầu sán dây Taenia solium Hình 2.3 Cysticercus cellulosae 5.2 Bệnh gạo bò

Căn bệnh và ký chủ

Do ấu trùng Cysticercus bovis gây ra, ký sinh ở bò, trâu Hình thái ấu trùng

C bovis có hình hạt gạo, kích thước 3 – 5,5 mm x 4 –9 mm, màu trắng hay vàng

36 nhạt,trong có nước trong suốt, một đầu sán bám màng trong Đầu sán có 4 giác bám, đỉnh đầu không có móc.

Sán trưởng thành Taenia saginata dài từ 4 đến 10 mét, có đầu lớn và cổ hơi tròn, với đỉnh đầu không có móc và có 4 giác bám hình elip Các đốt thành thục có chiều ngang lớn hơn chiều dọc, buồng trứng phân thành 2 nhánh rõ ràng Tử cung của sán chia thành nhiều nhánh hơn, giúp nhận diện đặc điểm sinh học của loại ký sinh trùng này.

T solium có 15 –35 nhánh, thông thường 17 –32 nhánh, mỗi đốt sán có 124.000 trứng.

Trong 1 năm mỗi sán đẽ được 594.000 trứng Trứng sán hơi tròn, vỏ dày, 30 – 40 x 20 – 30 mm trong có thai 6 móc

Thực hành

Mổ khám gia cầm tìm ký sinh trùng.

6.1 Chuẩn bị dụng cụ và mẫu vật

Để thực hiện các công việc liên quan đến chăm sóc và nghiên cứu gà dưới 5 tháng tuổi, cần chuẩn bị các dụng cụ như kính hiển vi, kính lúp, đèn lamen, đũa thủy tinh và bộ đồ mổ gồm pence, dao, kéo để đảm bảo an toàn và chính xác Ngoài ra, các vật dụng như găng tay cóc nhựa, cóc thủy tinh, cùng các dung môi như formol 10% và cồn 70% giúp bảo quản mẫu và xử lý vi khuẩn hiệu quả Việc ghi chép cẩn thận bằng sổ sách sẽ giúp theo dõi quá trình chăm sóc và các quan sát lâm sàng của đàn gà dưới 5 tháng tuổi một cách chính xác, hỗ trợ công tác nghiên cứu và phòng bệnh hiệu quả.

Giáo viên hướng dẫn và trình diễn các thao tác mẫu, giúp sinh viên dễ dàng hình dung và nắm bắt kỹ năng cần thiết Sau đó, sinh viên sẽ xem và thực hành các thao tác đó để nâng cao kỹ năng thực tế Cuối buổi học, giáo viên đặt câu hỏi để đánh giá khả năng thực hành của sinh viên và củng cố kiến thức đã học.

6.3.1 Quan sát bên ngoài gia cầm

Nhổ sạch long, quan sát u kén dưới da ,dùng dao giải phẫu hoặc kim dể lấy ký sinh trùng trong u kén (nếu có )

6.3.2 Mổ khám các xoang bụng, ngực ,bộ các cơ quan bên trong

Máu trong xoang ngực được cho vào cốc thủy tinh và kiểm tra theo phương pháp gạn rửa sa lắng.

Phẫu thuật mổ xoang trán và xoang mũi nhằm quan sát và loại bỏ ký sinh trùng, sử dụng kim giải phẫu để thu thập mẫu Niêm mạc miệng, lưỡi, má được nạo vét bằng dao sống và ép lên hai phiến kính để quan sát dưới kính hiển vi nhằm phát hiện ký sinh trùng Quá trình này giúp xác định chính xác sự có mặt của ký sinh trùng trong các khu vực niêm mạc mũi và miệng.

Tách riêng thực quản,diều, dạ dày tuyến, dạ dày cơ ,ruột non, ruột già ,manh tràng, gan, tuyến tụy, túi Fabricius.

Diều là phần chứa bên trong không xét nghiệm, có thể chứa ký sinh trùng bên trong và dưới niêm mạc Khi thu lượm, cần dùng kim giải phẫu để tách và lấy từ từ nhằm đảm bảo ký sinh trùng được bảo toàn nguyên vẹn Niêm mạc diều cũng cần được nạo vét, ép và kiểm tra dưới kính hiển vi để phát hiện ký sinh trùng một cách chính xác.

Dạ dày tuyến cần dùng kéo cắt theo đường cong lớn để lấy chất chứa, sau đó cho vào cốc thủy tinh để rửa Trong quá trình rửa, tránh làm rơi vải và không sử dụng đũa thủy tinh để khuấy, thay vào đó tạo dòng nước mạnh đổ vào cặn lắng để loại bỏ tạp chất Cần để cặn lắng yên trong 3-5 phút rồi đổ bỏ lớp nước phía trên, giữ lại phần cặn và thêm nước sạch để gạn lọc từ 3-5 lần cho đến khi cặn sạch Cuối cùng, đổ cặn ra đĩa Petri để quan sát Sau đó, dùng kim giải phẫu lần lượt thu thập ký sinh trùng trong cặn lắng để phân tích chính xác và hiệu quả.

Dạ dày cơ là phần chứa chất bên trong, được quan sát để tìm ký sinh trùng Sau đó, tiến hành bóc lớp cutin để dễ dàng quan sát và loại bỏ ký sinh trùng nằm dưới lớp này Quá trình này giúp thu thập chính xác ký sinh trùng cần phân tích, đảm bảo hiệu quả trong kiểm tra và phòng chống dịch bệnh.

Ruột non được cắt theo chiều dọc và nằm đối diện với vàng treo để dễ dàng loại bỏ chất chứa bên trong Sau đó, nội dung trong ruột non được đưa vào cốc để thực hiện quá trình dội rửa, giúp làm sạch phần nội dung bên trong Niêm mạc ruột non sau khi được nạo vét, ép và kiểm tra dưới kính hiển vi nhằm đảm bảo loại bỏ những tổn thương hoặc bất thường, đảm bảo chẩn đoán chính xác và an toàn cho bệnh nhân.

Ruột già, manh tràng cách làm tương tự đối với ruột non.

Tui fabricius dùng kéo cắt , kiểm tra niêm mạc tìm và thu lượm ký sinh trùng

Tuyến tụy,gan : dung tay bóp nát ,cho vào cốc dội rữa nhiều lần , tìm ký sinh trùng

Dùng kéo cắt khí quản, phế quản , nạo vét niêm dịch, ép giữa hai phiến kính hiển vi tìm ký sinh trùng.

Với thận dùng dao cắt thành những lát mõng ,ép giữa hai kính phiến , kiểm tra dưới kính hiển vi timg ký sinh trùng.

6.3.2.4 Cơ quan sinh sản Ống dẫn trúng : dùng kéo cắt dọc ống ,dùng dao nạo vét niêm mạc ép giữa hai phiến kính tìm ký sinh trùng dưới kính hiển vi (sán lá sinh sản thường ký sinh ở ống dẫn trứng)

Dịch hoàn : dùng dao cắt thành những lát mõng , ép giữa hai phiến kính tìm ký sinh trùng dưới kính hiển vi.

Não ,tũy sống, tìm cũng được cắt thành những lát ,mỏng ép giữa hai phiến kính tìm ký sinh trùng dưới dạng hiển vi

Mắt: dùng dao cạo niêm mạc xoang kết mạc, mổ mắt để lấy nước dịch thể , thủy tinh thể sau đó dội rữa nhiều lần tìm ký sinh trùng

6.3.3 Cách bảo quản lí sinh trùng

Trong quá trình thu thập ký sinh trùng như giun, sán, cần giữ nguyên vẹn mẫu vật, rửa sạch và để chúng chết tự nhiên trong nước hoặc dung dịch muối sinh lý Sau đó, tùy thuộc vào từng loài giun, sán, mẫu vật cần được bảo quản trong các loại dung dịch phù hợp nhằm đảm bảo tính toàn vẹn và chất lượng của mẫu để phân tích chính xác.

- Sán lá, sán dây: bảo quản bằng dung dịch cồn 70 0

- Sán lá, thân sán dây, trước khi ngâm cần ép mỏng giữa hai phiến kính khoảng 30-60 phút trong hộp kimhs chứa cồn 70 0

- Đối với giun tròn được bảo quản trong dung dịch Barbagalo gồm:

Nước cất bừa đủ 1000ml

Kết quả thu được điều được ghi chép vào sổ mổ khám

6.4 Tổng kết nhận xét đánh giá Đánh giá kết quả thực hành dựa vào việc kiểm tra kiến thức sinh viên ghi nhận trong buổi thực hành

Ghi chép đầy đủ ,chính xác những thông tin cần thiết

Tinh thần thái độ học tập nghiêm túc

1 Đặc điểm hình thái, vòng đời, phân loại sán dây?

2 Căn bệnh,ký chủ, dịch tễ, cơ chế sinh bệnh, triệu chứng, bệnh tích, chẩn đoán, điều trị, phòng bệnh sán dây loài nhai lại?

3 Căn bệnh,ký chủ, dịch tễ, cơ chế sinh bệnh, triệu chứng, bệnh tích, chẩn đoán, điều trị, phòng bệnh sán lá loài ăn thịt?

4 Căn bệnh,ký chủ, dịch tễ, cơ chế sinh bệnh, triệu chứng, bệnh tích, chẩn đoán, điều trị, phòng bệnh sán dây loài gia cầm?

5 Căn bệnh,ký chủ, dịch tễ, cơ chế sinh bệnh, triệu chứng, bệnh tích, chẩn đoán, điều trị, phòng bệnh ấu trùng sán dây gạo heo, gạo bò?

Ngày đăng: 24/12/2022, 10:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm