TỰ TÌNH (Bài 2) Hồ Xuân Hương I. MỞ BÀI Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi. Mỗi bài thơ là tiếng hát của trái tim, là những cảm xúc chân thành mà mãnh liệt của người nghệ sĩ. Bởi vậy, Diệp Tiến cho rằng, “thơ là tiếng lòng”. Thơ là thư kí trung thành của trái tim, là nơi dừng chân của tâm hồn người nghệ sĩ. Thơ phản ánh cuộc sống con người, xã hội để qua đó, nhà thơ bộc bạch nỗi lòng mình. Trong số những “ tiếng lòng” trong thơ, ta bắt gặp nỗi lòng đầy xót xa, tủi hổ của Hồ Xuân Hương cũng là của những người phụ nữ sống trong xã hội xưa. Hồ Xuân Hương xứng đáng với danh hiệu bà chúa thơ Nôm và là một hiện tượng đặc biệt của thơ ca trung đại Việt Nam. Chùm thơ Tự tình của bà gồm ba bài là sự phản ánh đặc sắc tâm tư, tình cảm của nhà thơ một người phụ nữ “hồng nhan bạc phận” đường tình duyên không trọn vẹn, quá lứa lỡ thì. Trong đó Tự tình (bài II) được coi là bài thơ hay nhất, giàu cảm xúc và lắng đọng nhất. “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn ...Mảnh tình san sẻ tí con con” II. THÂN BÀI 1. Khái quát Thể loại và ngôn ngữ: Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật nhưng đáng chú ý là nó không được viết bằng chữ Hán mà được viết bằng chữ Nôm là chữ viết ghi lại tiếng nói của dân tộc. Và phải đến thời Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du thì phong trào làm thơ Nôm mới đạt đến đỉnh cao thực sự. Hoàn cảnh ra đời: Hồ Xuân Hương là người phụ nữ đa tài, đa tình, giao du rộng rãi mà số phận truân chuyên, cuộc đời đầy éo le ngang trái và duyên phận hẩm hiu. Bà là con vợ lẽ, lại muộn màng trong đường tình duyên, từng hai lần làm lẽ rồi hai lần đều duyên phận ngắn ngủi, rơi vào cảnh góa bụa. Chính hoàn cảnh éo le ấy là nguồn cảm hứng cho bà sáng tác chùm thơ Tự tình. Bài thơ Tự tình (bài II) là hình ảnh người phụ nữ cô đơn, lẻ loi trong đêm khuya thanh vắng than ngẫm, đau xót cho thân phận của mình. Nhan đề: Tự tình trước hết có nghĩa là bộc lộ cảm xúc, tâm tình. Với đặt nhan đề như vậy, bài thơ là lời tự bộc bạch, lời của tâm hồn, con tim muốn được thổ lộ, giãi bày. Khi có tâm trạng cô đơn, trống trải người ta thường tìm đến một đối tượng khác để tâm tình nhưng Xuân Hương ở đây lại tâm sự với chính mình, nói về chính mình, về nỗi cô đơn, bất hạnh của chính mình. Tuy nhiên, bài thơ không chỉ là nỗi tự tình của riêng Xuân Hương mà còn là nỗi đau, sự bẽ bàng của những người phụ nữ bị chèn ép, bị chế độ phong kiến làm cho dang dở, lẻ loi. 2. Hai câu đề: Nỗi niềm buồn tủi, chán chường Hai câu đề trong bài thơ thất ngôn bát cú thường có nhiệm vụ làm cho người đọc “mở cửa ra thấy núi” (khai môn kiến sơn). Hai câu thơ đầu trong bài thơ này cũng vậy, gợi ra không gian, thời gian và tâm trạng tê tái của người phụ nữ: “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non” Trong đó, câu thơ thứ nhất thể hiện thời gian và thời gian ở đây là lúc đêm khuya, là khoảng thời gian dễ gây tâm trạng. Bước đi của thời gian được cảm nhận rõ qua tiếng trống canh. Bởi vì, thời xưa đêm thường được chia thành năm canh, giữa các canh thường có trống báo hiệu. Tiếng trống canh vang lên giữa đêm khuya báo hiệu thời gian đang trôi đi. Trong khi mọi người đã chìm sâu vào trong giấc ngủ để nghỉ ngơi sau một ngày lao động mệt mỏi, thì nhân vật trữ tình ở đây lại thao thức, trằn trọc không ngủ được. Không gian là khoảng không bao la, rộng lớn yên tĩnh, vắng lặng nghe thấy “văng vẳng trống canh dồn”. Nghệ thuật lấy động tả tĩnh lấy cái âm thanh “văng vẳng” (từ láy) của tiếng trống canh để nói cái không gian tĩnh lặng về đêm. Lấy cái ngoại cảnh để nói tâm cảnh. Là cảnh vật tác động đến con người hay là vì “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Đêm khuya thanh vắng là lúc con người ta trở nên bé nhỏ và lạc lõng vô cùng khi giường đơn gối chiếc đối diện với chính mình. “Trơ”ở đây là trơ trọi, là cô độc chỉ có một mình được đặt ở đầu câu càng nhấn mạnh nỗi đau, sự bất hạnh của một người phụ nữ. “Hồng nhan” là chỉ cái vẻ đẹp nhan sắc bên ngoài của người con gái nhưng cũng là để nói đến cái phẩm hạnh là tấm lòng son bên trong. Chữ “cái” vốn chỉ vật bé nhỏ, tầm thường được sử dụng nhằm cụ thể hóa đối tượng diễn tả “cái hồng nhan” cho thấy sự tủi hổ, bẽ bàng khi nhan sắc, đức hạnh của người phụ nữ bị coi rẻ, bị mỉa mai. “Nước non” chỉ cả thế giới tự nhiên và xã hội bên ngoài, chỉ không gian rộng lớn. Như vậy từ “Trơ” nhấn mạnh cái nhỏ bé, đơn chiếc trước cái rộng lớn là “nước non”, là sự thách thức của một con người có cá tính mạnh mẽ, táo bạo. Nó có cùng hàm nghĩa với chữ “trơ” trong câu thơ sau của Bà Huyện Thanh Quan: “Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt”. Vì lắm đau buồn mà nét mặt con người như trơ ra trước cảnh vật, trước mọi người như hóa đá không còn cảm giác. Nhìn chung, bằng cách sử dụng ngôn từ độc đáo, gợi cảm, Hồ Xuân Hương đã gợi tả, đã tự giãi bày nỗi cô đơn, lẻ loi, buồn tủi, bẽ bàng của mình. Đó cũng là tình cảnh của biết bao người phụ nữ trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, đặc biệt là những người phụ nữ phải rơi vào cảnh lẽ mọn: Tối tối chị giữ lấy chồng Chị cho manh chiếu nằm không nhà ngoài Người đọc tưởng như nghe được cả tiếng thở dài đầy ngao ngán của người phụ nữ trước duyên phận bẽ bàng. Và tình cảnh ấy đã từng khiến Hồ Xuân Hương uất hận mà viết: Chém cha cái kiếp lấy chồng chung Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng 3. Hai câu thực: Thể hiện rõ nét hơn tình cảnh cô đơn, buồn tủi, chán chường
Trang 11
TỰ TÌNH (Bài 2)
- Hồ Xuân Hương-
I MỞ BÀI
Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi Mỗi bài thơ là tiếng hát của trái tim,
là những cảm xúc chân thành mà mãnh liệt của người nghệ sĩ Bởi vậy, Diệp Tiến cho rằng, “thơ là tiếng lòng” Thơ là thư kí trung thành của trái tim, là nơi dừng chân của tâm hồn người nghệ sĩ Thơ phản ánh cuộc sống con người, xã hội để qua đó, nhà thơ bộc bạch nỗi lòng mình Trong số những “ tiếng lòng” trong thơ, ta bắt gặp nỗi lòng đầy xót xa, tủi
hổ của Hồ Xuân Hương cũng là của những người phụ nữ sống trong xã hội xưa
Hồ Xuân Hương xứng đáng với danh hiệu bà chúa thơ Nôm và là một hiện tượng
đặc biệt của thơ ca trung đại Việt Nam Chùm thơ Tự tình của bà gồm ba bài là sự phản
ánh đặc sắc tâm tư, tình cảm của nhà thơ một người phụ nữ “hồng nhan bạc phận” đường
tình duyên không trọn vẹn, quá lứa lỡ thì Trong đó Tự tình (bài II) được coi là bài thơ hay
nhất, giàu cảm xúc và lắng đọng nhất
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn .Mảnh tình san sẻ tí con con!”
II THÂN BÀI
1 Khái quát
- Thể loại và ngôn ngữ: Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật nhưng
đáng chú ý là nó không được viết bằng chữ Hán mà được viết bằng chữ Nôm là chữ viết ghi lại tiếng nói của dân tộc Và phải đến thời Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du thì phong trào làm thơ Nôm mới đạt đến đỉnh cao thực sự
- Hoàn cảnh ra đời: Hồ Xuân Hương là người phụ nữ đa tài, đa tình, giao du rộng rãi
mà số phận truân chuyên, cuộc đời đầy éo le ngang trái và duyên phận hẩm hiu Bà là con
vợ lẽ, lại muộn màng trong đường tình duyên, từng hai lần làm lẽ rồi hai lần đều duyên phận ngắn ngủi, rơi vào cảnh góa bụa Chính hoàn cảnh éo le ấy là nguồn cảm hứng cho bà
sáng tác chùm thơ Tự tình Bài thơ Tự tình (bài II) là hình ảnh người phụ nữ cô đơn, lẻ loi
trong đêm khuya thanh vắng than ngẫm, đau xót cho thân phận của mình
- Nhan đề: Tự tình trước hết có nghĩa là bộc lộ cảm xúc, tâm tình Với đặt nhan đề như
vậy, bài thơ là lời tự bộc bạch, lời của tâm hồn, con tim muốn được thổ lộ, giãi bày Khi có tâm trạng cô đơn, trống trải người ta thường tìm đến một đối tượng khác để tâm tình nhưng Xuân Hương ở đây lại tâm sự với chính mình, nói về chính mình, về nỗi cô đơn, bất hạnh của chính mình Tuy nhiên, bài thơ không chỉ là nỗi tự tình của riêng Xuân Hương mà còn
là nỗi đau, sự bẽ bàng của những người phụ nữ bị chèn ép, bị chế độ phong kiến làm cho dang dở, lẻ loi
2 Hai câu đề: Nỗi niềm buồn tủi, chán chường
Trang 22
Hai câu đề trong bài thơ thất ngôn bát cú thường có nhiệm vụ làm cho người đọc
“mở cửa ra thấy núi” (khai môn kiến sơn) Hai câu thơ đầu trong bài thơ này cũng vậy, gợi
ra không gian, thời gian và tâm trạng tê tái của người phụ nữ:
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non”
Trong đó, câu thơ thứ nhất thể hiện thời gian và thời gian ở đây là lúc đêm khuya, là khoảng thời gian dễ gây tâm trạng Bước đi của thời gian được cảm nhận rõ qua tiếng trống canh Bởi vì, thời xưa đêm thường được chia thành năm canh, giữa các canh thường có trống báo hiệu Tiếng trống canh vang lên giữa đêm khuya báo hiệu thời gian đang trôi đi Trong khi mọi người đã chìm sâu vào trong giấc ngủ để nghỉ ngơi sau một ngày lao động mệt mỏi, thì nhân vật trữ tình ở đây lại thao thức, trằn trọc không ngủ được Không gian là khoảng không bao la, rộng lớn yên tĩnh, vắng lặng nghe thấy “văng vẳng trống canh dồn” Nghệ thuật lấy động tả tĩnh lấy cái âm thanh “văng vẳng” (từ láy) của tiếng trống canh để nói cái không gian tĩnh lặng về đêm Lấy cái ngoại cảnh để nói tâm cảnh Là cảnh vật tác động đến con người hay là vì “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Đêm khuya thanh vắng là lúc con người ta trở nên bé nhỏ và lạc lõng vô cùng khi giường đơn gối chiếc đối diện với chính mình “Trơ”ở đây là trơ trọi, là cô độc chỉ có một mình được đặt ở đầu câu càng nhấn mạnh nỗi đau, sự bất hạnh của một người phụ nữ “Hồng nhan” là chỉ cái vẻ đẹp nhan sắc bên ngoài của người con gái nhưng cũng là để nói đến cái phẩm hạnh là tấm lòng son bên trong Chữ “cái” vốn chỉ vật bé nhỏ, tầm thường được sử dụng nhằm cụ thể hóa đối tượng diễn tả “cái hồng nhan” cho thấy sự tủi hổ, bẽ bàng khi nhan sắc, đức hạnh của người phụ nữ bị coi rẻ, bị mỉa mai “Nước non” chỉ cả thế giới tự nhiên và xã hội bên ngoài, chỉ không gian rộng lớn Như vậy từ “Trơ” nhấn mạnh cái nhỏ bé, đơn chiếc trước cái rộng lớn là “nước non”, là sự thách thức của một con người có cá tính mạnh mẽ, táo bạo Nó có cùng hàm nghĩa với chữ “trơ” trong câu thơ sau của Bà Huyện Thanh Quan:
“Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt” Vì lắm đau buồn mà nét mặt con người như trơ ra trước cảnh vật, trước mọi người như hóa đá không còn cảm giác
Nhìn chung, bằng cách sử dụng ngôn từ độc đáo, gợi cảm, Hồ Xuân Hương đã gợi tả,
đã tự giãi bày nỗi cô đơn, lẻ loi, buồn tủi, bẽ bàng của mình Đó cũng là tình cảnh của biết bao người phụ nữ trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, đặc biệt là những người phụ nữ phải rơi vào cảnh lẽ mọn:
Tối tối chị giữ lấy chồng Chị cho manh chiếu nằm không nhà ngoài Người đọc tưởng như nghe được cả tiếng thở dài đầy ngao ngán của người phụ nữ trước duyên phận bẽ bàng Và tình cảnh ấy đã từng khiến Hồ Xuân Hương uất hận mà viết:
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
3 Hai câu thực: Thể hiện rõ nét hơn tình cảnh cô đơn, buồn tủi, chán chường
Trang 33
Khi nỗi buồn đè nặng đến không chịu đựng nổi, Hồ Xuân Hương muốn vùng vẫy chống lại, giải thoát Bởi vậy, nữ thi sĩ tìm đến rượu, bà muốn mượn chút hương nồng, đê
mê ngây ngất của rượu để quên đi nỗi buồn nhưng càng uống lại càng tỉnh, càng tỉnh lại càng đau, nỗi buồn không nguôi trong vòng xoáy luẩn quẩn
“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Câu thơ của nữ sĩ gợi nhớ một câu thơ đầy trầm tư của Lí Bạch:
“Rút dao chém nước, nước càng chảy Nâng chén tiêu sầu, sầu vẫn sầu”
Gợi liên tưởng cả tâm trạng Thúy Kiều khi tỉnh rượu vào lúc tàn canh:
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh Giật mình, mình lại thương mình xót xa Tưởng nâng chén tiêu sầu hóa ra càng sầu thêm, càng xót xa, tủi hổ nên sau đó nữ thi sĩ tìm một phương thức khác để giải sầu:
“ Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”
Xuân Hương tìm đến thiên nhiên để xoa dịu nỗi đau nhưng ngẩng đầu lên ngắm trăng thì trăng đã xế khi chưa lúc nào tròn Vầng trăng hao khuyết ở đây vừa là hình ảnh thiên nhiên vừa là hình ảnh tượng trưng cho tuổi xuân sắp qua đi mà tình yêu vẫn chưa bao giờ được trọn vẹn, được ắp đầy Nghệ thuật đối trong hai câu thơ thật tài tình, đăng đối, hô ứng nhau cùng nhau làm nổi bật lên thân phận của một khách hồng nhan bạc mệnh tài hoa
mà phải chịu cảnh dang dở Nguyên do ấy là vì đâu? Phải chăng như Nguyễn Du đã từng nói về “Tài mệnh tương đố”, vì “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”
4 Hai câu luận: Nỗi niềm phẫn uất, sự phản kháng của Xuân Hương
Hai câu luận là hai câu thơ tả cảnh ngụ tình, mượn ngoại cảnh để nói cái “chí”, cái
“tình”bên trong
“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”
Rêu và đá là hai sự vật nhỏ bé nhưng không hề yếu mềm mà mang một sức sống mãnh liệt Rêu vốn mềm yếu bỗng dưng vươn dậy đầy sức mạnh, có thể “xiên ngang mặt đất” Đá vốn đã cứng nhưng im lìm, thấp bé giờ đây trở nên cứng hơn, sắc nhọn hơn và vươn lên cao để có thể “đâm toạc chân mây” Hình ảnh thiên nhiên với sức sống mãnh liệt, phép so sánh, cường điệu kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ và các động từ mạnh “xiên”,
“đâm” cộng với bổ ngữ “ngang”, “toạc” vừa nhấn mạnh trạng thái của thiên nhiên nhưng cũng là để nhấn mạnh tâm trạng của con người phẫn uất, phản kháng không chịu chấp nhận
số phận
Các hình ảnh thiên nhiên cùng các biện pháp nghệ thuật ấy thể hiện rõ sự vùng vẫy, bứt phá, phản kháng của Hồ Xuân Hương Dường như nữ thi sĩ đang muốn xé trời, vạch
Trang 44
đất cho thỏa nỗi hận sầu, để thoát khỏi bi kịch của duyên phận, cuộc đời, thoát khỏi sự sắp đặt của số phận Phản ứng của nữ sĩ tuy mạnh mẽ, dữ dội nhưng thực tại vẫn là đắng cay, chua chát Hồ Xuân Hương sống vào khoảng thời gian cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX Đây là thời kì mà chế độ phong kiến Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên sâu sắc Sống trong một xã hội “trọng nam khinh nữ” với chế độ đa thê nhà thơ muốn cất lên tiếng nói nhằm đấu tranh cho nữ giới, đòi quyền bình đẳng, muốn được sống, được yêu thương và có được cuộc đời hạnh phúc Nhưng việc
ấy không hề dễ dàng bởi chính bản thân bà vẫn phải chấp nhận số phận éo le, ngang trái
Số phận của thi sĩ cũng chính là số phận của biết bao những người phụ nữ trong xã hội xưa Chính điều đó đã khiến cho Nguyễn Du phải khóc than cho thân phận của nàng Tiểu Thanh, nàng Kiều và những người phụ nữ như Hồ Xuân Hương:
“Đau đớn thay thân phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
5 Hai câu kết: Quay trở lại với tâm trạng chán ngán, buồn tủi
Xuân Hương không muốn cam chịu nhưng vẫn phải chấp nhận, bà biết làm gì khác ngoài việc trở về với chính lòng mình Hai câu kết nói về tận cùng của sự đau khổ, chán chường, buồn tủi của tác giả:
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con!”
“Ngán”ở đây là tâm trạng, cảm xúc ngao ngán, chán nản cuộc đời ngang trái Xuân chỉ mùa xuân của đất trời, mùa của muôn hoa đua nở khoe sắc khoe hương, mùa của sum họp nhưng còn có hàm ý chỉ tuổi trẻ, tuổi xuân thì của người phụ nữ Hai từ “lại lại” cho thấy sự tuần hoàn lặp đi lặp lại, chỉ mùa xuân của thiên nhiên, đất trời qua đi rồi trở lại, nó đến mang đi mùa xuân của con người và mùa xuân của con người thì một đi không trở lại, chỉ còn “Ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi pha” (Truyện Kiều)
Đáng lẽ mùa xuân tươi đẹp căng tràn nhựa sống trở về con người phải cảm thấy hớn
hở, vui mừng thì thi sĩ lại càng cảm thấy thêm ê chề, ngao ngán bởi lẽ xuân đến là một lần tuổi đời lại thêm, tuổi trẻ dần qua đi mà bản thân mình vẫn đơn độc, thiếu thốn yêu thương
“Mảnh tình san sẻ tí con con”, câu thơ cất lên đầy ai oán chua xót Trong một bài thơ khác
Hồ Xuân Hương đã từng viết: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung/ Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng” để cho thấy tình cảnh làm lẽ mọn của người phụ nữ trong xã hội cũ Thanh xuân của người con gái có được là bao nhiêu, đã ít rồi lại còn ngày một ngắn lại Vậy mà mảnh tình cũng phải san sẻ, chia năm sẻ bảy Cách dùng từ độc đáo, cho thấy sự nhỏ dần, ít dần của tình duyên, hạnh phúc: mảnh tình – nhỏ bé, san sẻ – càng ít hơn và cuối cùng phần nhận được chỉ còn lại “tí con con” Người phụ nữ ấy vẫn khát khao một hạnh phúc trọn vẹn
để được trao đi sự thủy chung, thế mà trái tim lại bị chia cắt, chảy máu Nghệ thuật tăng tiến không chỉ nhấn mạnh vào sự nhỏ bé của tình cảm mà còn góp phần thể hiện rõ hơn nỗi đau, sự uất ức, càng làm cho nghịch cảnh càng trở nên éo le hơn
Trang 55
Bằng khả năng điều khiển ngôn ngữ tài tình, Hồ Xuân Hương đã cho người đọc phần nào thấy được thân phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ, tình yêu bị san
sẻ, hạnh phúc không thể với đến Nhưng đồng thời ở đó, ta còn thấy được khát khao hạnh phúc mãnh liệt của họ Qua những vần thơ đó Hồ Xuân Hương cũng lên án xã hội phong kiến đã kìm kẹp, phá tan nhu cầu, khát vọng hạnh phúc chính đáng của con người
III KẾT LUẬN
Hồ Xuân Hương đã vận dụng sáng tạo thể thơ thất ngôn bát cú Đường Luật với ngôn ngữ tiếng Việt nhưng không làm mất đi giá trị của thể thơ mà trái lại nó còn mang đến cho thể thơ cổ điển ấy một vẻ đẹp mới, gần gũi, thân thuộc hơn với người Việt Từ ngữ giản dị
mà đặc sắc với những động từ mạnh kết hợp nghệ thuật đảo ngữ (xiên ngang mặt đất/ đâm toạc chân mây), từ láy tượng thanh đã thể hiện khao khát đến cháy bỏng và sự nổi loạn trong tâm hồn của Hồ Xuân Hương Những hình ảnh giàu sức gợi (trăng khuyết chưa tròn, rêu từng đám, đá mấy hòn, ) để diễn tả các cung bậc cảm xúc, sự tinh tế, phong phú trong tâm trạng của người phụ nữ khi nghĩ đến thân phận của mình
Tự tình II như một bài thơ tự than thân, tự bộc lộ, tự nói lên nỗi lòng của một người phụ nữ lận đận trong đường tình duyên nhưng luôn khao khát có được một tình yêu trọn vẹn xứng đáng với tấm chân tình của mình Tâm trạng vừa buồn tủi, xót xa lại vừa uất ức cho thân kiếp làm lẽ của người phụ nữ đồng thời cũng là bi kịch và khát vọng hạnh phúc cá nhân của Hồ Xuân Hương Bài thơ truyền tải ý nghĩa nhân văn sâu sắc tới độc giả dù sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhưng con người vẫn cố gắng vươn lên muốn thay đổi số phận, thay đổi nghịch cảnh mong muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn với hạnh phúc lứa đôi và tình duyên trọn vẹn
LUYỆN ĐỀ
Đề bài 1: Có ý kiến cho rằng “ Thơ Hồ Xuân Hương thể hiện sâu sắc niềm khát khao hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Ý khác lại khẳng định “ Thơ
Hồ Xuân Hương bộc lộ một cách chân thực tâm trạng bi kịch của nữ sĩ Bằng cảm nhận về bài thơ “Tự tình 2” em hãy bình luận các ý kiến trên
I MỞ BÀI
- Vài nét về tác giả, tác phẩm
- Dẫn dắt vào hai nhận định
II THÂN BÀI
1 Giải thích
- Ý kiến 1: Khát khao hạnh phúc là mong muốn được sống, được hạnh phúc thiết tha, cháy
bỏng Trong bài thơ, trước sự trớ trêu của cuộc đời, số phận, Hồ Xuân Hương vẫn tha thiết mong muốn, khát vọng có được hạnh phúc tình yêu
Trang 66
- Ý kiến 2: Bi kịch: Bi là buồn, là bi thương Bi kịch là chỉ tinh cảnh éo le, ngang trái, bất
hạnh, buồn đau Bi kịch của Hồ Xuân Hương trong tác phẩm là sự buồn tủi, xót xa trước duyên phận bẽ bàng, tình cảnh đầy éo le ngang trái của mình cũng như của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến
=> Hai ý kiến là hai nhìn nhận khác nhau, thậm chí có phần trái ngược nhau về bài thơ
2 Phân tích, chứng minh
2.1 Ý kiến 1: Thể hiện rất sâu sắc niềm khao khát hạnh phúc của người phụ nữ trong
xã hội phong kiến:
+Sử dụng cụm từ chỉ thời gian: " Đêm khuya"
+ Động từ " trơ, cái hồng nhan" => sự khao khát hạnh phúc, cô đơn, tĩnh mịch trong đêm khuya
+ " Chén rượu tròn" => Khao khát hạnh phúc nhân lên theo năm tháng, kéo dài suốt thời gian dài
+ Những hành động phản kháng mạnh mẽ, quyết liệt của người phụ nữ đã bộc lộ khao khát hạnh phúc mãnh liệt " Xiên toạc hòn" Tác giả sử dụng những động từ mạnh, kết hợp với những hình ảnh tượng trưng cho sự yếu ớt " Rêu", sức mạnh rắn rỏi " đá mấy hòn" như thể hiện thái độ của bản thân trước sự trắc trở, lận đạn trong tình duyên của người phụ nữ
Dù có muôn vàn sóng gió trong tình yêu, nhưng chắc chắn người phụ nữ sẽ vượt qua
2.2 Ý kiến 2: Bộc lộ chân thực tâm trạng bi kịch của nữ sĩ
- Bi kịch duyên phận hẩm hiu, nữ sĩ tự chua xót cho bản thân mình, thân phận rẻ rúng, bị vùi dập trong xã hội phong kiến đầy những bất công
- Bi kịch về tình duyên cho những người phụ nữ đã quá lỡ, tình duyên ngang trái trong cuộc sống xã hội phong kiến xưa
- Bi kịch không lối thoát trong tình yêu, hạnh phúc Bế tắc cùng bế tắc luôn ập đến, khiến người phụ nữ dù có đứng lên phản kháng, đấu tranh quyết liệt cũng bị vùi dập khiến nữ sĩ trở nên vô vọng trong tình yêu “Ngán nỗi… con con”
3 Đánh giá hai nhận định:
- Hai nhận định đều đúng những chưa đủ Hai nhận định cần phải bổ sung cho nhau mới có thể thể hiện cái nhìn sâu sắc và toàn diện về bài thơ "Tự tình 2"
- Đánh giá về nội dung và nghệ thuật
III KẾT LUẬN: Suy nghĩ chung của bản thân về vấn đề đã nêu
Đề bài 2: Phân tích bài “Tự tình 2” để chứng minh nhận định: Thơ là tự truyện của khát vọng
“Thơ là tự truyện của khát vọng”
(I Michel Manlpose)
Trang 77
Trong “Mấy ý kiến về thơ” Nguyễn Đình Thi đã khẳng định “làm thơ là đúng lời và chữ, những dấu hiệu thay cho lời nói, tức là chữ để thể hiện một trạng thái, tâm lý đang rung chuyển khác thường” Đúng như vậy! Đến với thơ ca là đến với ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để ghi lại trạng thái tâm hồn mình đang có những biến chuyển rung động sâu sắc, mạnh mẽ, căng thẳng, những say mê khác thường Đó có thể là vui, buồn, hờn, giận hoặc
đó là những khao khát, ước mơ từ một hiện thực khổ đau cho một tương lai tốt đẹp Bàn về điều này I Michel Manlpose cho rằng “Thơ là tự truyện của khát vọng” và một trong những minh chứng rõ nhất cho ý kiến đó chính là tác phẩm “Tự Tình 2” của Hồ Xuân Hương
Gorki đã từng quan niệm rằng thơ chính là tâm hồn, thơ là một đỉnh cao của cảm xúc phát khởi từ lòng người, mang trong nó cái tình cảm, cảm xúc ngất ngây của thi nhân Hiểu theo nghĩa gốc thì thơ là cái bên trong, cái cảm, cái nghĩ của tác giả, là cái chủ quan của nội tâm trước cuộc sống tươi đẹp, hay khổ đau, dường như cũng đồng quan điểm trên
ai I Michel Manlposc cũng cho rằng “thơ là tự truyện của khát vọng” Tự truyện là những tác phẩm văn học tự sự mà tác giả tự kể lại và miêu tả cuộc đời mình trong tác phẩm, khát vọng là những ước mơ, khát khao, mong muốn điều lớn lao tốt đẹp Với một sự thôi thúc mạnh mẽ như vậy Ý kiến của I Michel Manlpose muốn khẳng định rằng thơ chính là một câu chuyện nội tâm của thi sĩ, do thi sĩ kể lại mong muốn, ước mơ những điều tốt đẹp hay nói một cách khác thơ có một vai trò to lớn trong đời sống, tình cảm cá nhân của con người Đó là hiện thực, là ước mơ cho cuộc sống ấy trở nên nhạy cảm phong phú
Gamratop đã cho rằng thơ sinh ra từ tình yêu và lòng căm thù từ nụ cười trong sáng hay giọt nước mắt đắng cay Đúng thế đặc trưng của thơ chính là tình cảm, cảm xúc, đó là nền gốc cơ bản để sáng tác ra một bài thơ hay Nếu không có cảm xúc thì nguôn từ chỉ là những xác chữ nằm thẳng đơ trên trang giấy Nói như Ngô Thì Nhậm “thi sĩ phải xúc động, Hồn thơ cho ngọn bút có thần” Tình cảm cảm xúc đó là yêu ghét đừng giận và tình cảm lãng mạn đột khởi, hay đó là những khao khát cháy bỏng, nhưng dù là gì thơ cũng là cái đời sống tâm hồn, tình cảm phong phú của chính nhà thơ “thơ là thư kí trung thành của những trái tim”, (Tố Hữu) Hơn nữa cảm xúc ở trong thơ không phải là thứ cảm xúc nhạt nhòa, nhàn nhạt Đó là tình cảm ở mức độ mãnh liệt nhất, thôi thúc nhất, khiến người nghệ
sĩ sáng tạo Bởi vì “thơ chỉ tràn ra trong tim khi cuộc sống đã tràn đầy” Như vậy cái chủ chốt trong thơ chính là cái tôi cá nhân, cái chủ quan của tình cảm, của sống tinh thần
Nói “thơ là tự truyện của khát vọng” bởi I Michel Manlpose còn xuất phát từ quy luật tiếp nhận văn học, trong đó có thơ ca Nhà thơ Tố Hữu đã từng nói “thơ là một tâm hồn, đi tìm những hồn đồng điệu”, bạn đọc tìm đến với thơ là tìm đến tiếng nói đồng điệu,
đi tìm hồn mình trên trang viết nhà thơ Vì vậy, nếu những tình cảm, cảm xúc hay khát khao được bộc lộ không chân thành, sâu sắc, ám ảnh thì không thể tạo nên sự đồng cảm ở độc giả, cũng có ý nghĩa là thơ thiếu sức sống Điều đó đánh mất dần vai trò chính đáng
Trang 88
của thơ ca trong đời sống nội tâm của người đọc Bài thơ “Tự Tình 2” của Hồ Xuân Hương
là cảm xúc, là khát khao của tình yêu, của hạnh phúc
Đến với “Tự Tình 2” của Hồ Xuân Hương người con gái ngang tàng, nhưng không tránh khỏi những lễ giáo khắt khe của xã hội cũ, khiến cuộc đời long đong bất hạnh “Tự Tình 2” cũng bắt nguồn từ dòng cảm xúc ấy
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non”
“Đêm khuya” chính là khoảng thời gian mọi vật đã chìm sâu vào bóng tối, đó là khoảng thời gian con người đối diện với chính mình trong những suy tư, trăn trở vừa gợi ra một không gian vắng lặng, yên tĩnh, âm thanh “văng vẳng” của tiếng trống canh làm cho không gian thêm quạnh hiu Thứ âm thanh này xuất hiện trong thơ Hồ Xuân Hương không
ít “văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì” ( Bà lang khóc chồng)
Hay: Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom
(Tự Tình 1)
Tuy chỉ là gợi đùa nhưng cũng gợi ra bao nỗi cô đơn, cay đắng trong không gian vắng lặng ấy con người cảm thấy cô đơn lẻ loi ở đây Hồ Xuân Hương đã cảm nhận được bước đi vội vã, hối hả, gấp gáp như giục giã, thôi thúc thời gian qua nhịp dồn dập, liên hồi của tiếng trống vang Đó cũng chính là tâm trạng âu lo, rối bời, buồn bã của con người ý thức được sự trôi chảy của thời gian, đời người Thời gian bước đi một cách vô tình, bước qua tuổi trẻ và tình yêu đó là sự rối bời khi trăm mối tả lòng không thể gỡ mà thời gian gấp gáp cứ trôi thì còn lại là sự bẽ bàng
“Trơ cái hồng nhan với nước non”
Từ “trơ” đặt ở đầu câu với nghệ thuật đảo ngữ, bên cạnh bản lĩnh vẫn là nỗi đau Nguyễn Du cũng đã từng viết
“Đuốc hoa để đó mặc nàng nằm trơ”
(Truyện Kiều)
“Trơ” là tủi hổ, là bẽ bàng, thêm vào đó hai chữ hồng nhan là để nói về dung nhan của người thiếu nữ, mà lại đi với từ “cái” thì thật rẻ rúng, mỉa mai Cái hồng nhan trơ với nước non, là sự phũ phàng, nó không chỉ giàu rãi mà còn cay đắng Dù câu thơ chỉ nói một
vế “hồng nhan” nhưng vẫn gợi lên sự bạc vậy Vì vậy nỗi xót xa, cay đắng càng thấm thía, càng ngẫm càng đau
Nỗi đau của Hồ Xuân Hương càng rõ hơn, càng thấm thía hơn nhưng đã có sự khao khát, sự chia sẻ, mong muốn được đồng cảm
“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”
Tìm đến rượu để giải sầu nhưng cuộc rượu say rồi tỉnh, như cuộc tình có vướng chút cũng tan mau rượu tan còn say còn là sự rã rời Tình say giấc mộng để lại bị đắng chát, hương tình thoáng qua chỉ còn để cái phận ẩm, duyên ươn Cái vòng luẩn quẩn say lại tỉnh
Trang 99
gợi lên sự cảm nhận duyên tình, đã trở thành trò đùa của tạo hóa Trong Truyện Kiều Nguyễn Du viết
“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh Giật mình mình lại thương mình xót xa”
Dường như Xuân Hương cũng như vậy, nhưng ở bà nỗi đau tràn trề hơn, xót xa hơn với hận đời bạc bẽo, gian chuân Rượu hồng giải quyết được gì? Người phụ nữ bất hạnh ấy tìm đến với trăng, nhưng lại đau đớn thay đó là một vầng trăng lạnh, một vầng trăng bóng
xế, không tròn Tìm đến với trăng như để khao khát sự đồng cảm mãnh liệt, Nhưng trăng lại chiếu soi vào cuộc đời của Hồ Xuân Hương khiến bà nhìn thấy chính mình ở trong đó, càng xót xa tủi cực hơn cho cái thân phận dở dang của mình, vừa buồn đau, vừa say, vừa chán chường khi tỉnh rượu lúc trăng tàn bóng xế, Xuân Hương lại ê ẩm trong nỗi đau ê chề
Với một tâm trạng đắng cay như vậy, Hồ Xuân Hương như oán hận đời mình, oán hận lan gia với cả trời đất, hổ thẹn với tự nhiên, khao khát có sức mạnh để vượt qua nỗi đau duyên phận, nỗi đau của kiếp người
“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây đã mấy hòn”
Thiên nhiên bằng nỗi niềm phẫn uất của con người, những sinh vật nhỏ bé hèn mọn hơn cả “cỏ nội hoa kèn” như đám rêu kia mà cũng không chịu mềm yếu, nó phải mọc xuyên mà là xiên ngang mặt đất Đá đã bám chắc lại phải rắn chắc hơn, lại phải nhọn hoắt nên để đâm toạc chân mây Đó là sự phẫn uất của thân phận đất đá, đồng thời cũng là thân phận của tâm trạng phản kháng, thể hiện một sức sống mãnh liệt ngay cả trong tình huống
bi thảm nhất Thế nhưng bi kịch của Hồ Xuân Hương là ở chỗ “bà không mảy may có cảm giác thua cuộc, nhưng kết quả là Hồ Xuân Hương đã thua cuộc Bài “Tự Tình 2” kết lại bằng tâm trạng đau đớn, buồn tủi
“Ngán nổi Xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con”
Ngán là chán ngán, ngán ngẩm Hồ Xuân Hương ngán lắm rồi Thói đời éo le bạc bẽo Xuân đi rồi Xuân lại, tạo hóa chơi một vòng tròn luẩn quẩn Từ “xuân” mang hai nghĩa vừa là mùa xuân và là tuổi xuân Mùa xuân đi rồi mùa xuân trở lại với thiên nhiên với muôn nghìn hoa lá cỏ cây, chỉ có con người thêm một lần xuân lại là một nỗi buồn lớn hơn
“Nói làm chi rằng Xuân văn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”
Hai từ lại trong cụm từ “Xuân đi xuân lại lại” từ lại thứ nhất là thêm lần nữa, từ lại thứ hai nghĩa là trở lại Sự trở lại của mùa xuân đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân, nghịch cảnh éo le hơn với câu thơ cuối
Trang 1010
“Mảnh tình san sẻ tí con con”
Ở đây không phải khối tình còn mãi với non sông, mà là mảnh tình Mảnh tình đã bé lại còn san sẻ thành ra ít ỏi Tuy nhiên cái tầm khái quát của nó lại lớn hơn một hoàn cảnh lấy chồng chung Nó cũng là nỗi lòng của người phụ nữ trong xã hội xưa khi với họ hạnh phúc luôn là chiếc chăn quá hẹp
Qua bài thơ “Tự Tình 2” của Hồ Xuân Hương ta thấy ý kiến của I Michel Manlpose
là một ý kiến đúng đắn, khao khát chính là một dòng cảm xúc mới mẻ, mãnh liệt nhất của thi sĩ Đó là nỗi niềm thăng hoa để cho ra đời những đứa con tinh thần, độc đáo Thi sĩ phải
là con người giàu rung cảm, sống sâu sắc, trọn vẹn với từng khoảnh khắc cuộc đời để có những khao khát mãnh liệt, dồi dào trên nỗi trang thơ Độc giả tìm đến với thơ ca trước hết cần lắng lòng mình để cảm nhận trọn vẹn nỗi niềm, tâm sự của người nghệ sĩ gửi vào trong trang viết “Thơ là tiếng lòng” (Diệp Tiến) Phải chăng vì thế bấy lâu nay trong văn học nói chung và thơ ca nói riêng tình cảm, khát vọng của thi sĩ luôn được đề cao “Thơ là tự truyện của khát vọng” đó là lời khẳng định đúng đắn và “Tự Tình 2” đã chứng minh điều
đó Với một sự khao khát, một tâm trạng hết sức nhạy cảm và phong phú Hồ Xuân Hương
đã viết nên những dòng thơ này đặc sắc, mà đến ngày hôm nay nó vẫn còn giữ nguyên giá trị./