Biện pháp giáo dục truyền thông cách mạng địa phương cho học sinh phổ thông quận ninh kiều thành phố cần thơ Biện pháp giáo dục truyền thông cách mạng địa phương cho học sinh phổ thông quận ninh kiều thành phố cần thơ Biện pháp giáo dục truyền thông cách mạng địa phương cho học sinh phổ thông quận ninh kiều thành phố cần thơ
Trang 1ix
MỤC LỤC
TRANG TỰA
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI
PHIẾU NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ
BIÊN BẢN CHẤM LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ
LÝ LỊCH KHOA HỌC i
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
TÓM TẮT v
ASTRACT vii
MỤC LỤC ix
DANH SÁCH CÁC BẢNG xvi
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
5 Giả thuyết nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Đóng góp của Luận văn 4
9 Cấu trúc Luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG 5
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước 5
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 6
1.2 Các khái niệm cơ bản 10
1.2.1 Truyền thống 10
Trang 2x
1.2.2 Truyền thống cách mạng địa phương 11
1.2.3 Hoạt động giáo dục 12
1.2.4 Giáo dục truyền thống cách mạng địa phương 14
1.3 Hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh phổ thông 14
1.3.1 Vai trò hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh phổ thông 14
1.3.2 Mục tiêu hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh phổ thông 15
1.3.3 Nội dung giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh phổ thông 17
1.3.4 Hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh phổ thông 29
1.3.5 Lực lượng giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh phổ thông 35
1.3.6 Đánh giá hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh phổ thông 36
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh phổ thông 37
1.4.1 Yếu tố chủ quan 37
1.4.2 Yếu tố khách quan 39
Kết luận chương 1 42
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ 43
2.1 Khái quát chung về quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 43
2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội 43
2.1.2 Tình hình giáo dục 44
Trang 3xi
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh trung học phổ thông quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 45
2.2.1 Đối tượng khảo sát 45 2.2.2 Phương pháp khảo sát 48 2.2.3 Cách thức xử lý số liệu 48
2.3 Thực trạng hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh trung học phổ thông quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 48
2.3.1 Thực trạng nhận thức về mục tiêu hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh 48 2.3.2 Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh 51 2.3.3 Thực trạng hình thức tổ chức giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh 55 2.3.4 Thực trạng phương pháp giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh 58 2.3.5 Thực trạng lực lượng tham gia hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh 61 2.3.6 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh 63
2.4 Đánh giá chung và nguyên nhân thực trạng hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh 65
2.4.1 Đánh giá chung thực trạng 65 2.4.2 Nguyên nhân thực trạng hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh 66
Kết luận chương 2 69 Chương 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ 70 3.1 Cơ sở và nguyên tắc đề xuất biện pháp 70
Trang 4xii
3.1.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 70
3.1.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 70
3.2 Một số biện pháp giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh trung học phổ thông 72
3.2.1 Bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức hoạt động giáo dục cho các lực lượng giáo dục 72
3.2.2 Tích hợp nội dung giáo dục truyền thống cách mạng địa phương trong môn Giáo dục công dân và các môn học khác 75
3.2.3 Tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương ngoài giờ lên lớp trong nhà trường 78
3.2.4 Tổ chức giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua các hoạt động phối hợp giữa nhà trường và Quận đoàn Ninh Kiều 85
3.2.5 Tổ chức tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua các phương tiện truyền thông 88
3.3 Đánh giá các biện pháp giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh trung học phổ thông 89
3.4 Khảo nghiệm các biện pháp 90
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 90
3.4.2 Phương pháp khảo nghiệm 90
3.4.3 Nội dung khảo nghiệm 91
3.4.4 Cách thức tiến hành 92
3.4.5 Kết quả khảo nghiệm 94
3.5 Thực nghiệm biện pháp 97
3.5.1 Mục đích thực nghiệm 97
3.5.2 Nội dung thực nghiệm 97
3.5.3 Đối tượng thực nghiệm 98
3.5.4 Tiến hành thực nghiệm 98
3.5.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 100
Kết luận chương 3 105
Trang 5xiii
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106 TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 PHỤ LỤC 116
Trang 6xiv
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
17 LHTNVN Liên hiệp thanh niên Việt Nam
19 HĐGDNGLL Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
20 HĐNGLL Hoạt động ngoài giờ lên lớp
Trang 732 TTCMĐP Truyền thống cách mạng địa phương
Trang 8xvi
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thông tin về CBQL - GV (giới tính, thâm niên, trình độ
chuyên môn và vị trí nơi công tác)
46
Bảng 2.2: Thông tin về HS (giới tính, lớp và trường đang theo học) 47
Bảng 2.3: Nhận thức về mục tiêu hoạt động giáo dục TTCMĐP 49
Bảng 2.4: Đánh giá về việc thực hiện nội dung giáo dục TTCMĐP 51
Bảng 2.5: Đánh giá về hình thức giáo dục TTCMĐP 55
Bảng 2.6: Đánh giá về phương pháp giáo dục TTCMĐP cho HS THPT 58
Bảng 2.7: Đánh giá về lực lượng tham gia hoạt động giáo dục TTCMĐP 61
Bảng 2.8: Đánh giá thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục
Bảng 3.1: Kế hoạch bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức cho GV 73
Bảng 3.2: Kế hoạch bài học môn GDCD nội dung giáo dục TTCMĐP 76
Bảng 3.3: Kế hoạch tổ chức tham quan khu DTLS cho HS 86
Bảng 3.4: Đánh giá về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 92
Bảng 3.5: Kế hoạch phối hợp của Quận đoàn và Trường THPT An
Khánh về việc giáo dục TTCMĐP cho HS
98
Bảng 3.6: Kết quả đánh giá mức độ hài lòng của nội dung giáo dục 101
Bảng 3.7: Kết quả thực nghiệm nhận thức về giáo dục TTCMĐP 103
Bảng 3.8: Kết quả thực nghiệm thái độ đối với nội dung giáo dục
Trang 9ta cần giáo dục cho thế hệ trẻ nói chung và HS nói riêng về truyền thống dân tộc, TTCM đặc biệt là TTCMĐP, bởi vì địa phương là hình ảnh thu gọn của lịch sử dân tộc, lòng yêu nước bắt nguồn từ lòng yêu quê hương, con người, xứ sở và truyền thống tốt đẹp của địa phương Giáo dục TTCM cho HS nhằm giúp cho HS hiểu sâu sắc quá khứ gian khổ, đau thương nhưng anh dũng và vinh quang của dân tộc, của Đảng nói chung và của nhân dân địa phương nói riêng để HS tin tưởng, tự hào, nhận thức rõ giá trị của cuộc sống hiện tại, nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức tự lực tự cường, có trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước, dân tộc Từ đó
tu dưỡng đạo đức, lối sống, rèn luyện KNS và năng lực sẵn sàng tham gia lao động sản xuất, kế tục sự nghiệp của các thế hệ cha anh đi trước rèn luyện bản lĩnh tự đấu tranh chống lại các thế lực thù địch, góp phần trong công cuộc xây dựng, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay
Cần Thơ là thành phố giàu tiềm năng, có lịch sử hình thành khá lâu đời, giữ vai trò rất quan trọng về kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh, là động lực phát
Trang 102
triển của vùng Đồng bằng sông Cửu Long Nhân dân Cần Thơ giàu lòng yêu nước
và cách mạng, có truyền thống lịch sử rất đáng tự hào Trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, Cần Thơ có vị trí chiến lược quan trọng, đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Trong sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước, Cần Thơ đã và đang tiếp tục phát huy TTCM, đoàn kết nhất trí, khắc phục khó khăn, quyết tâm xây dựng và phát triển thành phố, góp phần tích cực đối với sự phát triển của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước Vì vậy, giáo dục cho HS hiểu biết về TTCM quê hương Cần Thơ là điều rất cần thiết
Tuy nhiên, thực tiễn giáo dục cho thấy trong thời gian qua, mặc dù BGH các trường phổ thông có quan tâm tổ chức giáo dục TTCM và TTCMĐP cho HS nhưng nội dung giáo dục chưa phong phú, thiết thực, hình thức giáo dục chưa đa dạng, thiếu hấp dẫn, cuốn hút HS, đôi lúc còn mang nặng tính hình thức, việc áp dụng các biện pháp giáo dục còn cứng nhắc Một bộ phận HS không có chí hướng rõ ràng, chưa hiểu biết đầy đủ TTCM của Đảng, của dân tộc và địa phương, thiếu ý thức rèn luyện, không tích cực tham gia các hoạt động Đoàn, Hội, các phong trào và hoạt động tập thể do nhà trường, địa phương tổ chức Các tổ chức chính trị - xã hội, chính quyền địa phương chưa thực sự chủ động, tích cực nên hiệu quả mang lại chưa cao Công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và chính quyền địa phương trong quá trình giáo dục TTCM cho HS chưa thường xuyên, hình thức kết hợp chưa
đa dạng, thiếu chặt chẽ
Xuất phát từ những cơ sở trên, tôi chọn đề tài “Biện pháp giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh phổ thông quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và xác định thực trạng công tác giáo dục TTCMĐP cho HS phổ thông, đề xuất biện pháp giáo dục TTCMĐP cho HS phổ thông quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Hệ thống hóa cơ sở lí luận về hoạt động giáo dục TTCMĐP cho HS phổ
thông
Trang 113
3.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục TTCMĐP cho HS phổ
thông quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
3.3 Đề xuất biện pháp giáo dục TTCMĐP cho HS phổ thông quận Ninh Kiều,
TP Cần Thơ
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động giáo dục TTCMĐP cho HS phổ
thông
4.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp giáo dục TTCMĐP cho HS phổ thông
quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
5 Giả thuyết nghiên cứu
Hoạt động giáo dục TTCMĐP cho HS phổ thông ở quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ đã được thực hiện nhưng còn hạn chế và bất cập Nếu xác định đúng thực trạng, đề xuất biện pháp tổ chức giáo dục TTCMĐP cho HS có tính cần thiết và khả thi, phù hợp thực tiễn thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục TTCMĐP cho HS phổ thông quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
6 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp giáo dục TTCMĐP cho HS các trường THPT công lập quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
- Biện pháp giáo dục TTCMĐP thông qua các HĐGDNGLL
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích và tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa các công trình nghiên cứu và tài liệu có liên quan để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng bảng hỏi để khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục TTCMĐP cho HS các trường phổ thông công lập quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Sử dụng phương pháp phỏng vấn để thu thập thông tin
Trang 124
7.2.3 Phương pháp quan sát
Quan sát quá trình tổ chức hoạt động giáo dục TTCMĐP cho HS phổ thông tại địa phương
7.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sử dụng bảng hỏi khảo sát sự hài lòng về mục tiêu trước và sau khi thực nghiệm từ các thành phần đã tham gia vào hoạt động giáo dục của biện pháp thực nghiệm
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng thống kê toán học để xử lí số liệu điều tra, từ đó lập bảng, so sánh, phân tích, tổng hợp số liệu và rút ra nhận xét
8 Đóng góp của Luận văn
- Về mặt lí luận, góp phần giúp nhà giáo dục có cơ sở khoa học giáo dục để thực hiện và đánh giá công tác giáo dục TTCMĐP cho HS THPT
- Về mặt thực tiễn, luận văn đóng góp tích cực vào mục tiêu giáo dục TTCMĐP cho HS THPT, thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
9 Cấu trúc Luận văn
Phần mở đầu
Phần nội dung:
- Chương 1: Cơ sở lí luận về giáo dục TTCMĐP cho HS THPT
- Chương 2: Thực trạng hoạt động giáo dục TTCMĐP cho HS THPT ở quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
- Chương 3: Đề xuất biện pháp giáo dục TTCMĐP cho HS THPT quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
- Kết luận và kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 135
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước
Giáo dục TTCMĐP là một nội dung trong giáo dục đạo đức HS và đã được các nhà nghiên cứu quan tâm Những quan điểm, những ý tưởng giáo dục của nhà khoa học đã giúp người nghiên cứu tổng quan được vấn đề nghiên cứu cho đề tài,
Tác giả Cơrúpxcaia (1869 - 1939) là nhà hoạt động chính trị của Đảng và Nhà nước Xô Viết cũng là một nhà tâm lý học, giáo dục Theo bà, để đào tạo con người phát triển toàn diện bao gồm: Đức, trí, thể, mỹ, quân sự và giáo dục lao động, giáo dục kỹ thuật tổng hợp, nhà giáo dục phải coi trọng “giáo dục qua các hình thức hoạt động tập thể như tham quan du lịch, cắm trại, lao động hè ở các nông lâm trường kết hợp với sinh hoạt văn hóa nghệ thuật [31, tr 226] Cùng quan điểm trên, A.S.Makarenco đã vận dụng sáng tạo lí luận Mác xít vào thực tiễn để rút ra những kinh nghiệm làm phong phú cho lí luận giáo dục nói chung Theo Makarenco, một trong những logic của quá trình sư phạm là “quá trình tổ chức hợp lý các hoạt động của HS tham gia vào cách mạng xã hội, lao động sản xuất, các hoạt động tập thể như vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, văn hóa nghệ thuật” [31, tr 246] Thế kỷ XVII, với tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại”, nhà giáo dục học và là nhà triết học uyên bác của Cộng hòa Czech - Jan Amos Komensky đã có nhiều đóng góp cho lí luận về công tác giáo dục truyền thống Ông đề xuất nhiều biện pháp giáo
Trang 146
dục và nhấn mạnh con người phải được giáo dục từ lúc trẻ thơ, bởi trẻ em như cây non trong vườn để cây cỏ lớn lên nhất thiết phải được sự quan tâm, chăm sóc… Ông kêu gọi các bậc cha mẹ, các nhà giáo hãy mãi mãi là một tấm gương trong cuộc sống, trong mọi sinh hoạt để trẻ em noi theo Cũng quan đểm trên, nghiên cứu của tác giả Amber Carlson về hành vi cha mẹ có ảnh hưởng đến hành vi con cái Kết quả nghiên cứu cho thấy, cha mẹ là tấm gương, hành vi nhân cách của cha mẹ được thể hiện qua lối sống, qua phong cách nuôi dạy con cái [55]
Nhà giáo dục lỗi lạc V.A.Xukhômlinxki cũng rất quan tâm đến công tác giáo dục truyền thống cho HS, ông đã đóng góp nhiều cho lí luận và tổng kết kinh nghiệm giáo dục thế hệ trẻ Trong quá trình giáo dục ông quan tâm đặc biệt tới sự hài hòa giữa sự phát triển truyền thống cũng như tình cảm, các giá trị thẩm mỹ với
sự phát triển trí tuệ, thể chất, kỹ năng lao động nghề nghiệp và ý thức công dân
Từ đó, các công trình nghiên cứu trên là cơ sở giúp người nghiên cứu định hướng rằng, để giáo dục TTCMĐP cho HS THPT được hiệu quả, ngoài HS được học các môn học có nội dung liên quan thông qua hoạt động trên lớp, mà còn thông qua các HĐGDNGLL bằng các hoạt động tham quan du lịch, cắm trại, lao động hè theo chủ điểm của trường
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Trong những năm qua, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề tài khoa học, bài viết được đăng tải trên các tạp chí và lưu hành nội bộ liên quan đến vấn đề giáo dục TTCMĐP và được khai thác với nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau, cụ thể như:
Theo nghiên cứu của tác giả Thái Văn Long, “Các biện pháp giáo dục TTCMĐP cho HS THPT tỉnh Cà Mau thông qua bộ môn khoa học xã hội”, tác giả
đã xây dựng các biện pháp giáo dục TTCMĐP cho HS phổ thông thông qua các môn Văn học và Lịch sử với các hoạt động giáo dục nội và ngoài khóa như: (1) Truyền thống yêu nước của nhân dân Cà Mau, đặc biệt là trong thời kỳ Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam; (2) Truyền thống kính yêu Bác Hồ, yêu Đảng, một lòng, một dạ thủy chung son sắc, trung thành với lý tưởng XHCN; (3) Truyền thống quê
Trang 157
hương và con người Cà Mau qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt là thời kỳ lịch sử cách mạng; (4) Truyền thống đấu tranh cánh mạng vẻ vang anh dũng, quyết chiến, quyết thắng của Đảng bộ và nhân dân Cà Mau; (5) Truyền thông đấu tranh vẻ vang anh dũng riêng, đặc thù của các lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Cà Mau; (6) Truyền thống đoàn kết đấu tranh cách mạng anh dũng riêng, đặc thù, đặc trưng của thanh niên, phụ nữ, nông dân Cà Mau; (7) Truyền thống đấu tranh cách mạng vẻ vang của các cá nhân, gia đình, địa phương, đơn vị anh hùng; (8) Tinh thần đoàn kết, lao động, sáng tạo trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, văn học, nghệ thuật, giáo dục [20] Tác giả Phạm Bá Khoa trong báo cáo tổng kết đề tài “Một số giải pháp giáo dục TTCM Việt Nam của Đoàn Thanh niên thông qua hệ thống bảo tàng và DTLS cách mạng”, tác giả đã đề cập đến giáo dục TTCM cho thế hệ trẻ Việt Nam với nội dung rất phong phú như: (1) Gương chiến đấu và công hiến, hy sinh quên mình, kiên cường, bất khuất; sẵn sàng xả thân vì độc lập, tư do của Tổ quốc của các thế hệ cha, anh trong lực lượng vũ trang, các tổ chức Đảng, Đoàn, Hội, thanh niên xung phong cũng như các đoàn thể quần chúng khác được giáo dục, tổ chức dưới ngọn cờ của Đảng; (2) Ý chí và tinh thần không cam chịu nô lệ, đói nghèo của các thế hệ đi trước; ham học hỏi, luôn cầu thị, hội nhập để phát triển nhưng không đánh mất cội nguồn và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; (3) Kiên định mục tiêu, lý tưởng đã lựa chọn là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH Sống phải có nghĩa có tình, thủy chung son sắc với bạn bè trên tinh thần chủ nghĩa quốc tế trong sáng Ngoài ra, tác giả còn giới thiệu nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục TTCM cho thế hệ trẻ thông qua hệ thống bảo tàng và DTLS cách mạng [17]
Theo một nghiên cứu khác của tác giả Tô Duy Xuyên, với nội dung đề tài
“Nâng cao hiệu quả giáo dục TTCM cho HS thông qua dạy môn Giáo dục công dân tại trường THPT Nam Đàn 2, tỉnh Nghệ An” tác giả đã xây dựng được một số phương pháp dạy học tích cực phù hợp với chương trình giáo dục TTCM thông qua tích hợp môn GDCD và chương trình ngoại khóa ở trường THPT [27]
Bài viết của Thu Nguyên được đăng trên Báo điện tử Quảng Ninh, tác giả đã đưa ra những hoạt động giáo dục TTCM hiệu quả cho HS phổ thông thông qua
Trang 168
những HĐGDNGLL, những hoạt động cụ thể, sinh động thu hút được nhiều HS tham gia như: thông qua việc tổ chức các hoạt động các ngày lễ lớn của dân tộc, của đất nước, của tỉnh (ngày Thương binh - Liệt sỹ 27-7) và của tổ chức Đoàn (viết bài tìm hiểu, triển khai các cuộc vận động, trao đổi tọa đàm, nghe nói chuyên đề…); thông qua các đợt sinh hoạt chính trị Tác giả nhấn mạnh, để giáo dục TTCM cho
HS phổ thông có kết quả tốt phải bắt đầu từ chính việc tìm hiểu lịch sử của làng, xã, trường học… nơi mình sinh sống, học tập, công tác [42]
Ngoài ra, tác giả Phan Đình Hùng cũng đã quan tâm đến giáo dục truyền thống cho HS dân tộc thiểu số Tác giả Phan Đình Hùng đã giới thiệu thực trạng và những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục truyền thống lịch sử, TTCM cho HS dân tộc thiểu số ở trường THCS huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên [16]
Tác phẩm của Lê Văn Huân với nội dung “Giáo dục lòng yêu quê hương qua lịch sử địa phương” được đăng trên Tạp chí giáo dục thời đại, bài viết đã thể hiện các nguyên tắc giáo dục lòng yêu quê hương cho HS thông qua lịch sử địa phương,
cụ thể như: (1) Giáo dục lòng yêu quê hương đất nước phải gắn chặt với lòng yêu đất nước Tình yêu quê hương thống nhất với tình yêu Tổ quốc Giáo dục tình yêu quê hương cho HS phải được thực hiện trên cơ sở những sự kiện trên mảnh đất, con người ở địa phương, chứ không phải là sự hô hào một cách chung chung; (2) Giáo dục không tách rời giáo dưỡng; (3) Phải hướng tình cảm vào hoạt động cách mạng, thể hiện bằng những hành động cụ thể [40]
Bài viết của Tác giả Thanh Hiếu, với nội dung “Giáo dục lịch sử, TTCM góp phần bồi dưỡng tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ”, bài viết đã thể hiện mô hình của hội CCB về “Đẩy mạnh giáo dục truyền thống và lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ tỉnh Quảng Ngãi” như: phối hợp với thanh niên tổ chức nói chuyện truyền thống trong các trường học nhân ngày lễ, kỷ niệm; ông, bà, cha, mẹ kể chuyện truyền thống cho con cháu trong gia đình, dòng tộc; hướng dẫn đội viên, đoàn viên chăm sóc nghĩa trang liệt sỹ, chăm sóc các khu DTLS cách mạng, chăm sóc, giúp đỡ gia đình thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, bà Mẹ Việt Nam anh hùng Ngoài ra, bài viết còn thể hiện hiệu quả khi HS tham gia các hoạt động ngoại khóa như tham
Trang 179
quan các DTLS tại địa phương, HS hứng thú hơn với môn học lịch sử; biết thêm những nhân vật, sự kiện lịch sử tiêu biểu ngay tai địa phương mình sinh sống, HS tự hào hơn, từ đó tiếp thêm ngọn lửa về tinh thần yêu nước, cách mạng [39]
Theo bài viết của Nguyễn Phương Liên và Trần Việt Tùng, kết quả bài viết đã thể hiện được ý nghĩa và vai trò của nhà trường phổ thông đối với việc giáo dục di sản văn hóa cho HS thông qua dạy học môn Địa lí theo một số hình thức tổ chức giáo dục như: Câu lạc bộ yêu Địa lí, tổ chức triển lãm địa lí, tổ chức tham quan địa
lí - trải nghiệm di sản, tiến hành bài học tại nơi có di sản, tổ chức thi tìm hiểu về di sản Theo tác giả, để giáo dục giá trị di sản truyền thống trong nhà trường hiệu quả phải thông qua lồng ghép nội dung kiến thức giáo dục di sản vào trong mỗi bài học của các môn văn hóa hoặc tổ chức tham quan - ngoại khóa sẽ giúp HS được tiếp cận một cách gần hơn với di sản [19]
Bài viết khác của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang với nội dung “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên hiện nay”, bài viết được đăng trên Tạp chí cộng sản Theo tác giả để giáo dục truyền thống của Đảng, Đoàn và địa phương cho thế hệ trẻ được hiệu quả, giáo dục không chỉ bằng những tấm gương sáng chói của các vị anh hùng mà còn phải chú ý đến những tấm gương “người tốt, việc tốt” ở quanh ta, những tấm gương ấy luôn gần gũi với cuộc sống đời thường mà ai cũng có thể học tập, noi theo, làm theo [43] Nhìn chung, tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về giáo dục TTCMĐP cho HS thông qua tích hợp trong các môn học hay thông qua hoạt động ngoại khóa, tham quan các DTLS tại địa phương Tuy nhiên, chưa có đề tài nghiên cứu nào đề cập đến giáo dục TTCMĐP cho HS phổ thông quận Ninh Kiều Do đó, nghiên cứu về giáo dục TTCMĐP cho HS tại các trường phổ thông quận Ninh Kiều
là một yêu cầu khách quan và cần thiết Trong đề tài này người nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu biện pháp giáo dục TTCMĐP cho HS THPT thông qua hoạt động ngoại khóa, giúp HS hiểu rõ hơn về TTCMĐP nơi HS đang sinh sống và học tập
Trang 1810
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Truyền thống
Truyền thống theo tiếng Ấn - Âu là “tradition”, có nguồn gốc từ tiếng Latinh
“trader”, “tradition” có nghĩa là trao truyền, truyền đạt, luân chuyển, mang lại, trao lại [33, tr 13]
Theo Từ điển Bách khoa Xô Viết định nghĩa: “Truyền thống là những yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ trong các
xã hội, giai cấp và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài Truyền thống được thể hiện trong chế định xã hội, chuẩn mực hành vi, các giá trị, tư tưởng, phong tục, tập quán và lối sống… Truyền thống tác động khống chế đến mọi xã hội và tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội [33, tr 13]
Theo nghĩa thông thường, trong Từ điển Tiếng Việt phổ thông, truyền thống được định nghĩa “là thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác” [29, tr 63]
Trong Từ điển Chính trị vắn tắt, truyền thống được hiểu “là di sản về xã hội và văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và được duy trì trong suốt thời gian dài” [29, tr 63]
Theo tác giả Trần Quốc Vượng cho rằng, “Truyền thống như là một hệ thống tính cách, các thế ứng xử của một tập thể hay một cộng đồng, được hình thành trong lịch sử, trong một môi trường tự nhiên và nhân văn nhất định, trở nên ổn định, có thể định chế hóa bằng luật hay bằng lệ và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, để đảm bảo tính đồng nhất của một cộng đồng” [35, tr 28 - 29]
Ngoài ra, Vũ Khiêu cho rằng “truyền thống là những thói quen lâu đời, đã được hình thành trong nếp sống, nếp suy nghĩ và hành động của dân tộc ta” [18, tr 67]
Theo tác giả Trần Văn Giàu đã nhận định: “truyền thống thì có cái tốt, cái xấu nhưng khi chúng ta nói đến giá trị truyền thống thì ở đây chỉ có cái tốt mà thôi vì chỉ có cái tốt mới được gọi là giá trị Thậm chí, không phải mỗi cái gì tốt thì đều được gọi là giá trị mà phải là những cái tốt phổ biến, cơ bản, tác dụng tích cực cho
Trang 1911
đạo đức, luân lý, có cả tác dụng hướng dẫn sự nhận định và hướng dẫn sự hành động thì mới được mang danh nghĩa là giá trị truyền thống” [8, tr 50]
Nguyễn Trọng Chuẩn thì cho rằng truyền thống là những tư tưởng, tình cảm, những tập quán, thói quen, những phong tục, lối sống, cách ứng xử, ý chí… của một cộng đồng người đã hình thành trong lịch sử, đã trở nên ổn đinh và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [38]
Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, BCHTW Đảng (khóa VIII) đã khẳng định: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lí, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống” [7, tr 56] Từ đó, truyền thống dân tộc ta rất phong phú, điển hình là: Tinh thần yêu nước, lòng thương người, đoàn kết, cần cù, tiết kiệm, giản dị, sáng tạo…
Qua những khái niệm trên, có thể hiểu truyền thống là những phong tục tập quán, thói quen và những kinh nghiệm xã hội, lối sống được hình thành và phát triển trong lịch sử, đã được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác trong suốt thời gian dài Có nhiều loại truyền thống như: truyền thống gia đình, truyền thống của
từng địa phương, đơn vị, ngành, tập thể, TTCM, truyền thống dân tộc… Trong nghiên cứu đề tài này, người nghiên cứu tập trung quan tâm đến loại TTCM
1.2.2 Truyền thống cách mạng địa phương
Cách mạng là “cuộc biến đổi xã hội - chính trị lớn và căn bản thực hiện bằng việc lật đổ một chế độ xã hội lỗi thời, lập nên một chế độ xã hội mới, tiến bộ” [32,
tr 99] Theo đó, cách mạng là sự thay đổi cái cũ bằng cái mới tiến bộ hơn và xảy ra trong các lĩnh vực xã hội, chính trị, văn hóa, kinh tế, công nông nghiệp
Từ năm 1930 đến nay, nước ta đã trải qua các cuộc cách mạng như: (1) Cách mạng dân tộc dân chủ là “Cách mạng chống đế quốc và phong kiến, giành độc lập dân tộc và dân chủ, thực hiện những nhiệm vụ của cách mạng dân chủ tư sản”; (2)
Trang 20Địa phương là một đơn vị lãnh thổ xác định về mặt không gian, một bộ phận của một quốc gia thống nhất Theo cách hiểu thông thường, địa phương là một đơn
vị lãnh thổ phụ thuộc vào một cấp lãnh thổ cao hơn, đồng thời lại là một vùng lãnh thổ có các đơn vị lãnh thổ nhỏ hơn [44]
Như vậy, TTCMĐP được hiểu là một bộ phận của TTCM nói chung, diễn ra trên một địa phương cụ thể
Theo tác giả Trần Thị Hương, Giáo dục được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng
và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, giáo dục là hoạt động giáo dục tổng thể hình thành
và phát triển nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm phát triển tối đa những tiềm năng (sức mạnh thể chất và tinh thần) của con người Như
Trang 2113
vậy, giáo dục là một bộ phận của quá trình xã hội hình thành cá nhân con người, bao gồm những nhân tố tác động có mục đích, có tổ chức của xã hội, do những người có kinh nghiệm có chuyên môn gọi là nhà giáo dục, nhà sư phạm đảm nhận Nơi tổ chức hoạt động giáo dục một cách có hệ thống, có kế hoạch chặt chẽ nhất là nhà trường Với nghĩa rộng như trên, giáo dục là một hoạt động tổng thể bao gồm giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục lao động do nhà trường phụ trách trước xã hội Theo nghĩa hẹp, giáo dục là một bộ phận của hoạt động giáo dục (nghĩa rộng), là hoạt động giáo dục nhằm hình thành thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, lao động, phát triển thể lực, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội Theo nghĩa này, giáo dục (nghĩa hẹp) bao gồm các bộ phận: đức dục, mỹ dục, thể dục, giáo dục lao động [14, tr 29 - 30]
Theo Luật Giáo dục đã ghi: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lí học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [30]
Theo Điều 26, Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học, hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và
HĐNGLL [3] Theo phạm vi nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu tập trung
nghiên cứu theo hướng HĐNGLL để giáo dục TTCMĐP cho HS THPT tại quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
Theo Đặng Vũ Hoạt cho rằng, HĐGDNGLL là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của HS về khoa học kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động
xã hội, hoạt động nhân văn, văn hóa nghệ thuật, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí để giúp HS hình thành và phát triển nhân cách [12]
Theo Điều 26, Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học đã ghi: HĐGDNGLL bao gồm các hoạt động ngoại khóa về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn
xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật nhằm phát triển toàn diện và bồi
Trang 2214
dưỡng năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hóa, giáo dục môi trường; các hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi HS [3]
1.2.4 Giáo dục truyền thống cách mạng địa phương
Giáo dục TTCM là hoạt động liên tục, có định hướng, có kế hoạch của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục nhằm trang bị tri thức và nâng cao nhận thức về lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng, của dân tộc, của quê hương về truyền thống chiến đấu, hy sinh anh dũng của nhân dân Việt Nam, của các thế hệ trước trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm giành độc lập, tự do của Tổ quốc, từ đó góp phần xậy dựng lòng tự hào, hoài bão, yêu nước, yêu lao động và học tập đúng đắn nhằm bảo vệ Tổ quốc
Giáo dục TTCMĐP sẽ cung cấp cho HS những hiểu biết về lịch sử, con người
ở địa phương trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, hiểu biết về các DTLS, di tích văn hóa, nghệ thuật và những kinh nghiệm lao động của nhân dân địa phương Từ đó HS có nhận thức đúng đắn về cuộc sống của địa phương trong quá khứ và hiện tại Trên cơ sở hiểu biết đó, xây dựng cho HS niềm tin, niềm tự hào về truyền thống đấu tranh bất khuất, lao động cần cù, sáng tạo mang bản sắc độc đáo của địa phương Chính niềm tự hào đó làm cho HS gắn bó với mảnh đất quê hương,
có ý thức bảo vệ và phát huy những truyền thống tốt đẹp vốn có của địa phương một cách tự giác
1.3 Hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh phổ thông
1.3.1 Vai trò hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh phổ thông
Theo Văn kiện Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ, tình trạng suy thoái, xuống cấp
về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ Do vậy, giáo dục về phẩm chất chính trị - tư tưởng, đạo đức, lối sống đặc biệt là giáo dục TTCMĐP có vai trò rất to lớn cho HS tại địa phương trong giai đoạn đất nước phát triển và hội nhập quốc tế như hiện nay, cụ thể như:
Trang 23vệ tổ quốc;
(2) Giáo dục TTCMĐP giúp các em tạo dựng ý chí tự lực, tự cường không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, tự tin vượt qua mọi khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống Đặc biệt, biết chọn lựa, tiếp thu những tinh hoa văn hóa và nâng cao khả năng để đề kháng trước các âm mưu phá hoại, các cám dỗ vật chất và các tệ nạn xã hội khác, không bị các thế lực thù địch lôi kéo, lợi dụng vào những hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng; thông qua đó các em nêu cao tinh thần đấu tranh, lên án và phê phán những luận điểm sai trái, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chống lại các âm mưu của các thế lực thù địch;
(3) Giáo dục TTCMĐP giúp cho việc định hướng các giá trị tư tưởng, đạo đức, lối sống lành mạnh cho các em, vì xét về chiều sâu bản chất nhân văn, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là khoa học làm người, góp phần hình thành tư tưởng, đạo đức, lối sống mới tiến bộ của con người [11]
1.3.2 Mục tiêu hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh phổ thông
Mục tiêu chung của giáo dục TTCMĐP là giúp HS hiểu biết sâu sắc về nội dung cơ bản và vai trò cũng như các giá trị TTCMĐP Đồng thời, bồi dưỡng cho
HS niềm tin lý tưởng, tình cảm thương yêu và biết giữ gìn những giá trị lịch sử tốt đẹp của dân tộc, có thái độ, hành vi chuẩn mực trong lao động cũng như trong học tập [34], cụ thể như:
Trang 2416
1.3.2.1 Giáo dục nhận thức
Giáo dục TTCMĐP cho HS THPT nhằm cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản về truyền thống tốt đẹp của dân tộc, TTCM hào hùng của địa phương, TTCM của Đảng ta, những hoạt động vĩ đại của Bác Hồ, TTCM của Đoàn TNCSHCM, của Hội SVVN Qua đó, góp phần củng có thêm kiến thức cho các môn học trên lớp, các em biết tiếp thu cái đẹp, phê phán cái xấu, hiểu biết sâu sắc về quá khứ hào hùng, anh dũng của dân tộc, của Đảng
1.3.2.2 Giáo dục tình cảm, niềm tin
Giáo dục TTCMĐP giúp HS nâng cao hiểu biết về giá trị truyền thống của dân tộc, biết tiếp thu những giá trị tốt đẹp của nhân loại; bổ sung, củng cố, mở rộng kiến thức được học trên lớp; có trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội; định hướng nghề nghiệp cho bản thân;
Giáo dục TTCMĐP giúp HS củng cố vững chắc các kĩ năng cơ bản được rèn luyện từ lớp, trên cơ sở đó tiếp tục hình thành và phát triển các năng lực chủ yếu như: năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp, năng lực hoạt động chính trị - xã hội, năng lực tổ chức quản lý, năng lực hợp tác và cạnh tranh lành mạnh;
Giáo dục TTCMĐP giúp HS có thái độ đúng đắn trước những vấn đề của cuộc sống, biết phân biệt, đánh giá để tự điều chỉnh và hoàn thiện bản thân mình và người khác, hướng tới mục tiêu chân, thiện, mỹ;
Giáo dục TTCMĐP giúp HS nâng cao niềm tin và lòng tự hào dân tộc, nhận rõ giá trị của cuộc sống hiện tại, tinh thần yêu quê hương, đất nước, yêu quý bản thân, gia đình, người thân, cộng đồng xã hội, góp phần nâng cao đạo đức, lối sống văn minh, lành mạnh
1.3.2.3 Giáo dục hành vi
HS có hành vi đúng đắn trong cuộc sống, biết chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình, tích cực đấu trách chống lại những luận điểm sai trái, chống phá, tiếp thu và cảm thụ được cái đẹp, thể hiện thái độ tôn trọng những giá trị lịch sử, hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, thầy cô giáo, tôn trọng và giúp đỡ bạn bè, luôn chấp
Trang 25Từ đó, đối với thanh niên nói chung và HS phổ thông nói riêng, để trở thành lực lượng xung kích sáng tạo trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ đặt
ra cho Đảng và Nhà nước ta phải quan tâm tổ chức rèn luyện những phẩm chất cách mạng cho HS
1.3.3.1 Nội dung giáo dục truyền thống cách mạng
(1) Truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta phải là cơ sở đầu tiên cho việc hình thành tư tưởng, tình cảm của tuổi trẻ Truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta được kết tinh thành những phẩm chất cơ bản sau:
- Yêu nước nồng nàn, bất khuất, kiên cường đấu tranh cho độc lập tự do
Tình yêu dành cho quê hương, đất nước ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trên thế giới hoàn toàn không giống nhau, song tựu chung lại sợi chỉ đỏ chủ nghĩa yêu nước
là biểu hiện khát vọng và hành động luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam được hình thành từ rất sớm, bắt nguồn từ những tình cảm rất đơn sơ, bình dị trong gia đình, làng xã và rộng hơn là tình yêu Tổ quốc Với vị trí địa lý là đầu mối giao thông quốc tế quan trọng, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, Việt Nam luôn là mục tiêu xâm lược của nhiều quốc gia Trong tiến trình phát triển của dân tộc, nhân dân ta đã phải trải qua
Trang 26để đen răng/Đánh cho nó chích luân bất phản/Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”… đến Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, Nguyễn Viết Xuân với tinh thần “Nhằm thẳng quân thù! Bắn!”… Chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập và tự cường dân tộc đã trở thành “dòng chủ lưu của đời sống Việt Nam”, là nền tảng tinh thần to lớn, là giá trị đạo đức cao quý nhất trong thang bậc các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, trở thành “tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị” và là nguồn sức mạnh vô địch để dân tộc ta vượt qua khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù, xứng đáng với lời ngợi ca của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Dân
ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [23, tr 171]
Giáo dục lòng yêu nước cho HS trước hết là giáo dục lòng yêu quê hương - nơi mỗi người sinh ra và lớn lên, “nơi chôn nhau cắt rốn của mình”; giáo dục tình cảm gắn bó với người thân và mọi người xxung quanh…; hình thành ý thức, thái
độ, tình cảm tích cực đối với truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc Giáo dục lòng yêu nước ngày nay gắn liền với định hướng XHCN, giáo dục tinh thần hợp tác quốc tế, tình hữu nghị giữa các dân tộc, tình đoàn kết anh em với các nước trong khu vực và thế giới; hình thành cho HS thái độ không đồng tinh với sự thù hằn dân tộc, chủ nghĩa khủng bố và phân biệt chủng tộc [15, tr 47]
Trang 2719
- Tinh thần nhân đạo, nhân ái, bao dung
Lòng nhân ái, bao dung là truyền thống mang giá trị đạo đức của dân tộc ta
Từ ngàn xưa, trong cuộc sống lao động sản xuất cũng như trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, người Việt Nam đã sống hết lòng vì nghĩa cả, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau để cùng vượt qua khó khăn, gian khổ Những tình cảm này đã trở thành triết lý sống đầy chất nhân văn, nhân ái: “Thương người như thể thương thân”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, sẵn sàng “nhường cơm sẻ áo”, “Lá lành đùm lá rách”, “lá rách ít đùm lá rách nhiều” những tư tưởng này được nhân dân ta tôn trọng giữ gìn và chuyển giao qua các thế hệ, trở thành một truyền thống đạo đức tốt đẹp của Việt Nam Lòng thương người truyền thống của dân tộc ta còn bao hàm
cả lòng vị tha với những kẻ lầm đường lạc lối, biết lập công chuộc tội, trở về với chính nghĩa “đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại” và "mở đường hiếu sinh" với kẻ thù một khi chúng đã bị thất bại Như vậy, lòng nhân ái yêu thương con người là một trong những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta, đó là nguồn gốc, là cơ sở sâu xa và bền vững của chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, chủ nghĩa nhân đạo hiện thực [9, tr 51 - 52]
- Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo
+ Truyền thống hiếu học
Từ ngàn đời nay, hiếu học đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Biểu hiện trước hết của truyền thống hiếu học là tinh thần ham học hỏi, thích hiểu biết một cách tự nguyện và bền vững Người hiếu học là người có nhu cầu học tập suốt đời, bởi sự học như chiếc thang không nấc chót và cũng như người
đi trên con thuyền ngược dòng, chỉ có tiến lên phia trước mà không được phép dừng lại vì đứng lại đồng nghĩa với tụt hậu Lênin cũng dạy rằng: Học! Học nữa! Học mãi! Đặc biệt trong thời đại kinh tế tri thức hôm nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, kiến thức bùng nổ và tăng lên theo cấp số nhân thì việc rèn luyện kỹ năng học một cách chuyên nghiệp càng là một điều bắt buộc.Với ý thức:
“Học nhi bất yếm, Hối nhân bất quyện” (Học không biết chán, dạy người không biết mỏi), ông bà ta xưa dù nghèo mấy cũng cố cho con đi học kiếm dăm ba chữ để
Trang 2820
làm người Lịch sử dân tộc đã từng biết đến rất nhiều tấm gương hiếu học của các bậc hiền tài, đức cao đạo trọng như: Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Lương Thế Vinh, Lê Thánh Tông, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn,
Hồ Chí Minh,… và rất nhiều ông đồ Nghệ - những người đã làm nên cốt cách Hồng Lam… Cùng không ít dòng họ hiếu học trên khắp mọi miền đất nước… Biểu hiện thứ hai của truyền thống hiếu học là thái độ luôn coi trọng sự học, coi trọng người
có học Ở nước ta, tư tưởng coi đọc sách là thanh cao là quan niệm rất phổ biến đối với các nhà Nho Dĩ nhiên nếu thái quá sẽ trở nên tiêu cực Việc đề cao giá trị của trí tuệ, thái độ trân trọng việc học hành cũng là điều được dân gian hết sức quan tâm: Kho vàng không bằng một nang chữ; Người không học như ngọc không mài
Từ đó hình thành đạo lý tôn sư trọng đạo “kính thầy mới được làm thầy” [49]
+ Truyền thống tôn sư trọng đạo
Truyền thống đạo đức tốt đẹp này đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa rất riêng cho dân tộc Việt Nam “Tôn sư” là thái độ tôn kính, biết ơn thầy cô giáo, những người đã dạy dỗ mình; “Trọng đạo” là coi trọng học vấn, đạo lý và những điều học tập được qua thầy cô Truyền thống tôn sư trọng đạo thể hiện ở việc rèn luyện đạo đức, chăm học để xứng đáng với sự dạy dỗ của thầy cô, là coi trọng và làm theo những điều đúng đắn mà thầy dạy đã dạy mình Truyền thống tôn sư trọng đạo xuất phát từ vị trí, vai trò của người thầy Trong xã hội, người thầy đóng vai trò hết sức quan trọng, điều đó được thể hiện qua câu nói “Không thầy đố mày làm nên” Nếu gia đình là nơi nuôi dưỡng, giáo dục, hình thành nhân cách con người thì
sự phát triển nhân cách, sự hình thành kỹ năng, và cả thế giới quan, nhân sinh quan đúng đắn của con người không thể thiếu vai trò giáo dục của người thầy Công lao của thầy được đặt ngang hàng với công lao cha mẹ “công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy” Hơn thế, người xưa còn dạy rằng “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” nghĩa là dạy một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy [50]
“Tôn sư trọng đạo” - một truyền thống giáo dục của người Việt Nam có từ ngàn xưa, nhưng nó được coi là nền tảng để xây dựng một nền giáo dục mới xã hội chủ nghĩa, vừa giữ được bản sắc dân tộc, vừa đáp ứng được yêu cầu cách mạng
Trang 2921
trong thời kỳ mới Nghề dạy học là nghề cao quý - nghề trồng người để phục vụ lợi ích lâu dài của dân tộc, của đất nước Vai trò của người thầy vô cùng quan trọng, vì thế mà xã hội tôn vinh nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý [54]
- Lao động cần cù, sáng tạo và tinh thần lạc quan, yêu cuộc sống
Cần cù, sáng tạo là một truyền thống đạo đức có từ bao đời của dân tộc ta, là biểu hiện thái độ của con người trong hoạt động sáng tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần Đây còn là một đức tính quý báu của dân tộc ta được các thế hệ nối tiếp nhau giữ gìn, bồi đắp và phát triển Chính hoàn cảnh sản xuất và đấu tranh xã hội qua bao thăng trầm của lịch sử đã hình thành trong con người Việt Nam đức tính cần kiệm và sáng tạo Nhân dân ta đã tận dụng nhiều yếu tố tự nhiên thuận lợi
để phát triển sản xuất và đời sống, nhưng cũng gặp vô vàn khó khăn, phức tạp, trở ngại với những biến đổi khắc nghiệt của tự nhiên và những cuộc chiến tranh liên tục gây hậu quả nặng nề về mọi mặt kinh tế - xã hội Trong lịch sử, các cuộc chiến tranh xâm lược của quân nhà Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và các thế lực bành trướng khác đã gây ra vô số tổn thất về tính mạng và tài sản của nhân dân ta.Đòi hỏi con người phảicó sự nỗ lực khắc phục để tiến lên, không quản ngại “một nắng hai sương”, “đổ mồ hôi, sôi nước mắt”, đối mặt với thử thách, tìm cách chinh phục, cải tạo tự nhiên, từng bước tự khẳng định mình trên con đường tiến hóa của dân tộc Trải qua bao đời, người Việt Nam luôn ý thức đề cao lao động, chống thói lười biếng Yêu quí lao động, cần cù, tiết kiệm và cũng tỏ thái độ phê phán thói lười biếng “ăn no lại nằm”, “ăn không ngồi rồi” - đây
là nguồn gốc của tội lỗi dẫn đến “nhàn cư vi bất thiện” Nên phẩm chất đạo đức của con người được đánh giá cao hơn cái dáng vẻ bên ngoài “Cái nết đánh chết cái đẹp”
mà cái nết thể hiện rõ nhất ở sự chăm chỉ, cần cù, thông minh, khéo léo của con người Điều này được thấy rõ qua những tấm gương lao động miệt mài và sáng tạo của các danh nhân đất Việt, đó chính là nhà bác học Lê Quý Đôn, lương y Hải Thượng Lãn Ông, trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà sử học lỗi lạc Lê Văn
Trang 30- Truyền thống cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Những truyền thống quý báu của Đảng ta, bao gồm: (1) Bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng cách mạng; (2) Tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo; (3) Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH; (4) Trung thành với lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc, gắn bó mật thiết với nhân dân; (5) Kiên định nguyên tắc tập trung dân chủ trong
tổ chức và hoạt động của Đảng; (6) Giữ gìn đoàn kết nội bộ, đoàn kết quốc tế Những truyền thống quý báu của Đảng là sự kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân quốc tế, là sức mạnh bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng Đó là kết quả của quá trình vun trồng, xây đắp bền bỉ, là sự hy sinh, phấn đấu không mệt mỏi của các thế hệ đảng viên của Đảng Những truyền thống đó có ý nghĩa dân tộc và quốc tế sâu sắc, thể hiện tinh thần cách mạng triệt để, trình độ trí tuệ ngày càng được nâng cao của Đảng ta [1, tr
28 - 29]
- Truyền thống cách mạng của Đoàn TNCSHCM
Trong lịch sử đấu tranh cách mạng trong suốt hơn 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo, giáo dục trực tiếp của Đảng, của Bác Hồ, Đoàn TNCSHCM và tuổi trẻ nước ta
từ thế hệ này sang thế hệ khác được tôi luyện, trưởng thành, đã phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và xây nên truyền thống vẻ vang của tuổi trẻ Việt Nam Đoàn TNCSHCM và thế hệ trẻ Việt Nam đã được vinh dự đón nhận Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều phần thưởng cao quý khác
mà Đảng và Nhà nước trao tặng
Trang 3123
Ngày nay, Đoàn TNCSHCM và thế hệ trẻ nước ta đang tiếp tục phát huy những truyền thống quý báu của các thế hệ đi trước, đó là: (1) Truyền thống yêu nước nồng nàn, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, gắn bó sống còn với lợi ích dân tộc, lợi ích của nhân dân và chế độ XHCN; (2) Truyền thống xung kích cách mạng, xung phong tình nguyện, không ngại hy sinh, gian khổ, sẵn sàng đảm nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó; (3) Truyền thống đoàn kết, tinh thần tương thân, tương ái và nhân đạo cao cả; (4) Truyền thống hiếu học, ham hiểu biết, có ý chí vượt khó, cần cù, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, có hoài bão lớn [47]
- Truyền thống của Hội Sinh viên Việt Nam
Quá trình phát triển của phong trào HS, SV và Hội SVVN dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quan tâm chăm lo, dìu dắt ân cần của Bác
Hồ kính yêu đã đúc kết nên những truyền thống quý báu, đó là: (1) Truyền thống yêu nước nồng nàn, gắn bó với chế độ XHCN, trung thành với Đảng, với nhân dân,
tự hào về dân tộc và Bác Hồ kính yêu, về lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng, về Đoàn và Hội; (2) Truyền thống hiếu học, say mê sáng tạo, nghiên cứu để vươn tới những đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao; (3) Truyền thống đoàn kết, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, nghiên cứu, chia sẻ khó khăn với nhân dân, không đòi hỏi cho riêng mình khi đất nước còn nghèo, nhân dân còn thiếu thốn
Hơn nửa thế kỷ qua, lúc thuận lợi cũng như khó khăn, Hội SVVN đã luôn phát huy truyền thống là tổ chức chính trị - xã hội của SV, vì SV Hội đã vượt qua nhiều chặng đường đầy khó khăn, thử thách, thực sự là người bạn gần gũi của SV, là cầu nối giữa SV với Đảng và Nhà nước, phối hợp chặt chẽ với vai trò nòng cốt của Đoàn TNCSHCM nhằm góp phần tạo những điều kiện vật chất và tinh thần cho SV trong học tập, nghiên cứu, bồi dưỡng nhân cách người SV mới [45]
(3) Cuộc đời hoạt động vĩ đại của Bác Hồ
Hồ Chủ tịch là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, người chiến sỹ xuất sắc, nhà
Trang 3224
hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Bác kính yêu của thanh thiếu nhi Việt Nam và thế giới Theo đó, Hồ Chủ tịch là tấm gương chói lọi về tinh thần cách mạng triệt để, ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất, toàn tâm, toàn ý phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân, tận tụy hy sinh suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại
Ngoài ra, đạo đức cao quý của Bác là trung với Đảng, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, khiêm tốn, giản dị Người yêu tha thiết nhân dân lao động, gần gũi, tin tưởng vào khả năng cách mạng của quần chúng Bên cạnh đó, Bác còn đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những người
kế tục trung thành, xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc Hình ảnh Bác, lý tưởng và sự nghiệp cao cả, đạo đức cách mạng sáng ngời của Người mãi mãi là tấm gương chói lọi cho thế hệ trẻ nước ta [37]
(4) Truyền thống đoàn kết, thống nhất, độc lập, tự chủ
Tinh thần đoàn kết là nhân tố tinh thần được bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước và nó trở thành động lực thúc đẩy quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Nhờ đoàn kết mà cha ông ta đã tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả cộng đồng dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Muốn tồn tại và phát triển, vượt qua được những thử thách và gian nguy, chúng ta phải “chung lưng đấu cật”, trong chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, nhân dân ta nhận thức sâu sắc rằng“đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”, “Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” Tinh thần đoàn kết cộng đồng hình thành một cách tất yếu và đáp ứng đòi hỏi khách quan của lịch sử Đoàn kết sẽ là nguồn sức mạnh lớn lao để nhân dân ta đánh thắng mọi thế lực ngoại xâm
Tinh thần đoàn kết của nhân dân ta là một điểm tựa tinh thần vững chắc, là động lực to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công” Trước lúc đi xa, Người còn nhắn nhủ: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và
Trang 3325
của dân ta” và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên “ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” [9, tr 52]
1.3.3.2 Nội dung giáo dục truyền thống cách mạng địa phương Cần Thơ
- Giáo dục TTCM ở địa phương Cần Thơ qua các di tích lịch sử
“Khám Lớn Cần Thơ”
“Khám Lớn Cần Thơ” hiện toạ lạc tại số 08 đường Ngô Gia Tự, phường Tân
An, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ, được xây dựng biệt lập ngăn cách với khu dân
cư và công sở bằng các lộ giới lớn có tường cao bao bọc, có cốt gác để kiểm soát tù nhân Nằm cạnh Dinh Tỉnh Trưởng, đối diện qua một con đường lớn là Tòa Bố (Tòa Hành Chính) cặp bên trái khám cũng có một con đường rộng Khám Lớn Cần Thơ được thực dân Pháp xây dựng vào những năm 1878 - 1886 (khoảng 10 năm sau khi thành lập tỉnh) Trong quá trình đấu tranh cách mạng giành độc lập tự do cho dân tộc, nhiều cán bộ, chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước ở Cần Thơ và các tỉnh lân cận bị bắt và giam cầm trong nhà tù nầy
Đồng chí Quản Trọng Hoàng Bí thư Tỉnh Ủy Cần Thơ bị bắt giam cuối năm
1939 dù bị tra tấn cực hình nhưng khí tiết người đảng viên Cộng sản không hề bị lay chuyển, thừa lúc địch sơ hở đồng chí đã tìm cách vượt ngục, tiếp tục hoạt động gầy dựng cơ sở Đảng và phong trào cách mạng ở Cần Thơ Nhiều đồng chí lãnh đạo trong Tỉnh Ủy Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau trong cuộc đấu tranh Nam
kỳ khởi nghĩa cũng bị bắt giam và tra tấn dã man tại đây Đồng chí Lê Văn Nhung (Lý Hồng Thanh), Ngô Văn Khoẻ (Ngô Hữu Hạnh) bị thực dân Pháp kết án tử hình, đem xử bắn cạnh Khám lớn
Trang 3426
Sau khởi nghĩa Nam Kỳ ở Cần Thơ, cơ sở Đảng và tổ chức cách mạng vừa được cũng cố thì địch tiếp tục khủng bố Thời kỳ 1941 đến 26/8/1945 là thời kỳ khó khăn thử thách của Đảng bộ và phong trào cách mạng ở Cần Thơ Sau CMTT năm
1945, ngày 30/10/1945 giặc Pháp tái chiếm Cần Thơ, nhân dân Cần Thơ tiếp tục cuộc kháng chiến trường kỳ 1945 - 1954 Khám lớn Cần Thơ lại tiếp tục giam cầm những người yêu nước, những cán bộ cách mạng của ta
Mỹ nhảy vào xâm lược Miền Nam sau khi Pháp thất bại Khám lớn đổi tên thành “Trung Tâm cải huấn”, sự tàn ác nhân lên gấp bội Khám lớn với 21 phòng giam tập thể cùng nhiều xà lim nhỏ, chung quanh che chắn bằng 3 bức tường cao 3,6m đến 5m, trên tường có cắm nhiều mảnh ve chai Trên mỗi góc tường đều có vọng gác cao 6m gắn đèn pha chiếu sáng với tầm quan sát rộng Địch cho xây dựng giữa hai dãy nhà giam là một sân rộng có một nhà thờ và một nhà chùa dành cho tù nhân đi lễ Đây là trò mị dân về tự do tín ngưỡng nhưng thực chất là “địa ngục trần gian”
Để khắc ghi tội ác kẻ thù, đồng thời là nơi giáo dục lòng căm thù cho nhân dân
ta, Ngày 28/6/1996 Bộ Văn hoá thông tin ra quyết định công nhận di tích lịch sử Khám Lớn Cần Thơ là di tích cấp quốc gia [51]
(2) Khu di tích Căn cứ Vườn Mận
Khu di tích Căn cứ Vườn Mận là một trong những căn cứ lõm của lực lượng cách mạng - nơi lưu giữ nhiều ký ức đẹp về tình quân dân đoàn kết một lòng vượt qua gian khổ nguy hiểm trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước Đây còn là nơi ghi lại dấu ấn lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong trận đánh quyết liệt không cân sức giữa ta và địch suốt 6 ngày đêm nhằm bảo vệ căn cứ lõm Vườn Mận năm 1970 - một trận đánh ác liệt, phức tạp, căng thẳng mà lực lượng vũ trang thành phố Cần Thơ đã kiên cường trong thế lực lượng ta chỉ 45 người, trang bị
vũ khí thô sơ nhưng tiêu diệt và làm bị thương nhiều tên địch Nhiều lần, địch điên cuồng bắt bớ, tàn sát dân thường vô tội với mục đích làm cho nhân dân ta lo sợ và không ủng hộ cách mạng nữa, nhưng không gì có thể chia cắt được tình quân dân Nhân dân tại đây luôn đùm bọc chiến sỹ cách mạng Có những người mẹ sẵn sàng
Trang 35Khu di tích Căn cứ Vườn Mận trở thành một trong những điểm tham quan tìm hiểu lịch sử văn hóa dân tộc một cách trực quan sinh động nhất, là điểm về nguồn quen thuộc của các thế hệ đoàn viên thanh niên, nhân dân địa phương và cả nước [53]
(3) Lộ Vòng Cung - Chứng tích một thời hào hùng của quân dân Cần Thơ
Nói đến lộ Vòng Cung có hai câu thơ nổi tiếng: “Vòng Cung đi dễ khó về/Đạn chen đầu đạn, bom kề hố bom” Nơi đây có những địa điểm ghi dấu sự kiện nổi bật lịch sử; là “địa điểm chuyển quân” của cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống
Mỹ Lộ vòng cung chính là vành đai phòng thủ mà đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn cố giữ cho bằng được để đảm bảo an toàn TP Cần Thơ, bảo vệ cơ quan đầu não vùng IV chiến thuật và tiểu khu Phong Dinh của của địch Trên tuyến lộ này, địch đã đóng trên 100 đồn bót và sử dụng không quân, pháo binh, kể cả máy bay ném bom B57, ngày đêm đánh ác liệt Ngoài ra, địch còn rải chất độc hóa học làm trơ trụi cây lá để tiến hành thực hiện “Vùng Lộ Trắng”
Nhận rõ vị trí trọng yếu của tuyến lộ Vòng Cung, Quân khu 9 và Tỉnh ủy Cần Thơ (nay là Thành ủy Cần Thơ) cũng chọn nơi đây để tập kết lực lượng, làm bàn đạp tiến công vào TP Cần Thơ và các mục tiêu quân sự trọng yếu khác của đế quốc
Mỹ và chính quyền Sài Gòn Do vậy, địa bàn Cần Thơ nói chung, Lộ Vòng Cung nói riêng luôn diễn ra nóng bỏng, ác liệt suốt 2 cuộc kháng chiến, đặc biệt là thời kỳ
đế quốc Mỹ xâm lược [52]
Trang 3628
“Vòng Cung lửa” trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là hình ảnh cao đẹp của tinh thần “tất cả cho trọng điểm, cho phía trước, cho chiến thắng” của đảng bộ, quân dân Tây Nam bộ và đã đi vào lịch sử của TP Cần Thơ, của miền Tây Nam bộ, đồng bằng sông Cửu Long cũng như cả nước như một địa danh huyền thoại
Thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng - trong một thời gian ngắn, quân ta đã làm thay đổi thế bố trí chiến lược, mở ra cục diện mới trên chiến trường, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của địch, tạo bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, khởi đầu cho quá trình đi xuống trong chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ Riêng đối với Cần Thơ - trọng điểm 1 của Khu, với sự quyết tâm độ của Khu ủy Khu 9, Bộ Tư lệnh Quân khu, Tỉnh ủy, quân và dân trong tỉnh đã giáng cho địch đòn sấm sét, bất ngờ vào đầu não của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Vùng IV chiến thuật Đây là lần đầu tiên ta dùng một lực lượng lớn tổng hợp đánh vào thành phố lớn nhất Tây Nam bộ và bám trụ giằng co với địch nhiều ngày ở nội ô và ven TP Cần Thơ Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 tại Lộ Vòng Cung - Cần Thơ, là bài học kinh nghiệm quí báu, đặc biệt là, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng là niềm tin tất thắng Bởi, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 tại Vòng Cung - Cần Thơ, mặc dù lực lượng quân sự của ta mỏng nhưng với quyết tâm cao và nghệ thuật đánh giặc độc đáo đã liên tục giữ thế tiến công Lực lượng chính trị của ta dù chưa đủ sức nổi dậy giành chính quyền nhưng với lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, phong trào quần chúng ngày một lớn mạnh đấu tranh với địch bằng nhiều hình thức, làm cho địch chùn bước
- Giáo dục TTCM ở địa phương Cần Thơ qua thắng lợi của cuộc CMTT
ở Hậu Giang - Cần Thơ năm 1945
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930), Đặc ủy Hậu Giang tổ chức lãnh đạo các phong trào cách mạng 1930 - 1931, 1936 - 1939, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (11/1940) nổ ra mạnh mẽ ở Cần Thơ Tuy các phong trào thất bại nhưng là
Trang 3729
bài học để tiến đến sự thắng lợi cho cuộc CMTT (1945) Từ năm 1941 đến 1945, Liên Tỉnh ủy Hậu Giang đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống lại sức đàn áp, bóc lột của thực dân Pháp và phát xít Nhật, bọn Nhật buộc nhân dân phải nhổ dâu tằm trồng đay, cướp lúa gạo của dân để cung cấp cho chiến tranh diễn ra ngoại ô thị xã Cần Thơ (bây giờ là TP Cần Thơ), Cái Răng, Mỹ Khánh Liên Tỉnh ủy miền tây thành lập (4/1945), tháng 6/1945 Tỉnh ủy lâm thời Cần Thơ được bầu và nhất trí về thời cơ giành chính quyền với sự đoàn kết một lòng của quần chúng nhân dân tham gia, đặc biệt có sự góp sức của tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài Với sự chỉ huy của Ủy ban Dân tộc giải phóng và tinh thần yêu nước nồng nàn và đoàn kết một lòng của nhân dân địa phương thị xã và các quận Ô Môn, Châu Thành, Phụng Hiệp đã nhanh chóng giành lại chính quyền hoàn toàn về tay nhân dân (26/8/1945) Riêng Thới Lai (Ô Môn) đến 18/8/1945 mới giành lại chính quyền Cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 của Đảng bộ và Nhân dân Cần Thơ góp phần vào thắng lợi của cách mạng cả nước [36]
1.3.4 Hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh phổ thông
1.3.4.1 Giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh thông qua hoạt động dạy học các môn học
Trong chương trình giáo dục, có rất nhiều môn học nhằm giáo dục truyền thống cho HS như: môn GDCD, văn học, lịch sử,… các môn học này ngoài việc cung cấp kiến thức cho HS thì thông qua đó phải coi trọng và đặt lên hàng đầu nhiệm vụ giáo dục truyền thống cho HS Không thể giao phó nhiệm vụ ấy cho riêng một môn học nào mà cần có sự kết hợp chặt chẽ với nhau, biện chứng với nhau hướng tới một mục đích chung cuối cùng là giáo dưỡng, giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách cho HS
Các môn học có nhiệm vụ cung cấp những tri thức về lịch sử phát triển của xã hội loài người từ khi loài người xuất hiện đến nay, đó là những kiến thức lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc về tất cả các mặt như kinh tế, chính trị, văn hoá… nhằm dựng lại những bức tranh toàn cảnh về quá khứ một cách khách quan, sống động, về
Trang 3830
truyền thống đấu tranh bất khuất trong dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam anh hùng, truyền thống nhân đạo sâu sắc và rất nhiều những truyền thống, giá trị cao đẹp khác của dân tộc Việt Nam Hơn tất cả, các môn học có vai trò vô cùng quan trọng trong giáo dục truyền thống cho HS
Giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, truyền thống tốt đẹp cho HS hiện nay không chỉ dừng lại ở các chương, điều trong sách vở mà quan trọng là phải giáo dục bằng chiều sâu lịch sử, những truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng và dân tộc, bằng những tấm gương yêu nước tiêu biểu, những anh hùng, liệt sỹ hy sinh
vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân ta
1.3.4.2 Giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Mục tiêu của HĐNGLL ở trường THPT nhằm giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn
bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động [3]
Mục tiêu của HĐGDNGLL cho HS THPT được thể hiện cụ thể như:
- Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc, biết tiếp thu những giá trị tốt đẹp của nhân loại; củng cố mở rộng kiến thức đã học trên lớp; có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội; có ý thức lựa chọn nghề nghiệp;
- Củng cố vững chắc các kỹ năng cơ bản đã được rèn luyện từ THCS để trên
cơ sở đó HS tiếp tục hình thành và phát triển các năng lực chủ yếu như: năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp, năng lực hoạt động chính trị - xã hội, năng lực tổ chức khác;
- Có thái độ đúng đắn trước những vấn đề của cuộc sống, biết chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân; đấu tranh tích cực với những biểu hiện sai trái của bản thân, cảm thụ và đánh giá được cái đẹp trong cuộc sống [2]
HĐGDNGLL ở trường phổ thông rất đa dạng và phong phú, đồng thời do những yêu cầu thực tiễn mà hoạt động này được thực hiện chủ yếu thông qua 03
Trang 3931
hình thức: (1) Tiết chào cờ đầu tuần; (2) Tiết HĐNGLL hàng tuần, tiết hoạt động tập thể lớp cuối tuần; (3) Hoạt động giáo dục theo chủ điểm hàng tháng HĐGDNGLL có thể tiến hành theo các hình thức như: tham quan, ngoại khóa, diễn đàn, hội thi, nghe báo cáo, xem phim tư liệu, hoạt động giao lưu, văn nghệ, câu lạc
bộ HĐGDNGLL của HS ở trường THPT… Trong nhà trường, một năm học có 10 chủ điểm, mỗi chủ điểm thực hiện trong khoảng thời gian một tháng
Căn cứ vào ngày lễ, ngày kỷ niệm truyền thống của dân tộc trong tháng đó Trong một tháng có thể có nhiều ngày kỷ niệm, cần chọn ngày kỷ niệm nào phù hợp với phong trào của xã hội (ví dụ ngày lễ lớn, ngày kỷ niệm chẵn…)
Trên cơ sở nội dung của các ngày kỷ niệm lịch sử, kết hợp với yêu cầu trọng tâm của tháng và xây dựng thành nội dung, yêu cầu của chủ điểm giáo dục nhằm hình thành những tư tưởng, tình cảm, hành động phù hợp với chủ điểm đã xác định Tinh thần của ngày kỷ niệm lịch sử và trở thành tư tưởng chủ đạo, quán xuyến toàn
bộ hoạt động giáo dục trong tháng, nhằm làm cho tinh thần tư tưởng đó được khắc sâu, gây ấn tượng, tạo động lực mạnh mẽ cho các hoạt động học tập và rèn luyện của HS Cũng nhờ tinh thần này mà các hoạt động của nhà trường cũng gắn với phong trào của toàn xã hội; khí thế của phong trào xã hội, của phong trào quần chúng lại tác động mạnh mẽ đến hoạt động của nhà trường, tăng hiệu quả của hoạt động Các hoạt động như hoạt động tập thể cuối tuần, chào cờ đầu tuần được lồng những nội dung và yêu cầu của chủ điểm vào, chuẩn bị và tạo ra các điều kiện các phương tiện cho hoạt động ngày kỷ niệm Các hoạt động chủ điểm được tiến hành trong suốt tháng một cách liên tục, hoạt động này chuẩn bị cho hoạt động kia và ngày kỷ niệm lịch sử là ngày cao điểm, là ngày hội của toàn trường mà HS được tham gia với những vai trò khác nhau trong hoạt động
Các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục TTCMĐP cho HS thông qua HĐGDNGLL, chủ yếu bao gồm:
- Sinh hoạt truyền thống kỷ niệm ngày thành lập Đảng, ngày thành lập Đoàn
và Tháng Thanh niên Việt Nam như: (1) Tuyên truyền cổ động: Thông tin thành tích chào mừng ngày kỷ niệm, những tư liệu lịch sử về Đảng và Đoàn ở địa phương
Trang 4032
và cả nước qua hệ thống khẩu hiệu, bản tin, phát thanh, báo tường, triển lãm những hình ảnh, hiện vật lịch sử của Đảng, của Đoàn; (2) Đẩy mạnh các phong trào thi đua, các hoạt động thanh niên tình nguyện thiết thực chào mừng ngày 3/2, ngày 26/3 và Tháng Thanh niên Việt Nam; (4) Tổ chức trọng thể lễ viếng và đặt hoa tại nghĩa trang liệt sỹ; (5) Tổ chức họp mặt thân mật với các Đảng viên, cựu CBĐ; (6) Thăm nhà truyền thống hoặc phòng truyền thống địa phương; (7) Mít tinh và dạ hội truyền thống
- Đợt sinh hoạt truyền thống nhân ngày 30/4, 1/5, 7/5 và 19/5, bao gồm các hoạt động như: (1) Hoạt động tuyên truyền cổ động về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam; (2) Tổ chức trọng thể lễ viếng
và đặt hoa tại nghĩa trang liệt sỹ; (3) Tham quan nơi đã diễn ra trận đánh của quân đội và dân quân tự vệ trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ; (4) Hoạt động giúp đỡ chăm sóc thương binh và gia đình bộ đội, thanh niên xung phong; (5)
Tổ chức giao lưu với các anh hùng và CCB ở địa phương; (6) Tuyên truyền cổ động giới thiệu với giai cấp công nhân Việt Nam về cuộc đời hoạt động của Bác Hồ; (7) Tham quan một cơ sở công nghiệp và những nơi liên quan đến đời sống và hoạt động của Bác Hồ; (8) Hội thảo nghiên cứu di sản tư tưởng của Bác Hồ; (9) Tìm hiểu về giai cấp công nhân Việt Nam và cuộc đời hoạt động của Bác Hồ
- Hoạt động truyền thống kỷ niệm CMTT và Quốc khánh 2/9 Đợt hoạt động này, Đoàn TNCSHCM cùng các ngành, các đoàn thể ở cơ sở tổ chức những hoạt động chung
- Những ngày hội truyền thống của tuổi trẻ anh hùng bảo vệ Tổ quốc: Từ 15/11 đến 25/12, cụ thể như: (1) Hoạt động tuyên truyền cổ động giới thiệu lịch sử quân đội Việt Nam anh hùng; (2) Phong trào thi đua hành động cách mạng của tuổi trẻ; (3) Tổ chức trọng thể lễ viếng và đặt vòng hoa tại nghĩa trang liệt sỹ; (4) Tham quan nơi đã diễn ra trận đánh của quân đội và dân quân tự vệ trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ; (5) Hoạt động giúp đỡ chăm sóc thương binh và gia đình bộ đội thanh niên xung phong; (6) Họp mặt thân mật với các anh hùng, các tướng lĩnh, sỹ quan và CCB ở địa phương; (7) Gặp gỡ đơn vị bộ đội, công an kết