Về phương diện kinh tế: Theo phương diện này, ngân sách nhà nước được hiểu là bản dự toán các khoảnthu và chi tiền tệ của một quốc gia do cơ quan có thầm quyền quyết định để thực hiệntro
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT TÀI CHÍNH
CHỦ ĐỀ: PHÁP LUẬT VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC
Giảng viên: TS Nguyễn Thị Thu Hương Nhóm thực hiện:
Hà Nội, 3/2021
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 2
1.1 Khái niệm 2
1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước 2
1.1.2 Khái niệm thu ngân sách nhà nước 3
1.2 Đặc điểm của hoạt động thu ngân sách nhà nước 3
1.3 Phân loại các khoản thu ngân sách nhà nước 4
1.4 Vai trò, ý nghĩa của hoạt động thu ngân sách nhà nước 6
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THU NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC
9 2.1 Quy định pháp luật về thu ngân sách nhà nước 9
2.1.1 Điều kiện thực hiện thu ngân sách nhà nước 9
2.1.2 Nguồn thu của ngân sách nhà nước 9
2.1.3 Hình thức thu NSNN 19
2.1.4 Nguyên tắc phân cấp quản lý nguồn thu ngân sách nhà nước 21
2.1.5 Quản lý thu ngân sách nhà nước 22
2.2 Thực trạng hoạt động thu ngân sách nhà nước tại Việt Nam 25
2.3 Một số bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật hiện nay về thu ngân
sách nhà nước 27
2.3.1 Đối với quy định pháp luật về thu ngân sách nhà nước 27
2.3.2 Đối với nguồn thu ngân sách nhà nước 30
CHƯƠNG 3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁP LUẬT THU NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM
32 3.1 Kinh nghiệm quốc tế về thu ngân sách nhà nước 32
3.2 Đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam 34
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về thu ngân sách nhà nước 34
3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thu ngân sách nhà nước 36
KẾT LUẬN 39
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NSNN: Ngân sách nhà nước
NSĐP: Ngân sách địa phương
HĐND: Hội đồng nhân dân
CHLB: Cộng hòa liên bang
Trang 4Với tầm quan trọng của việc thu ngân sách nhà nước đòi hỏi phải có những quyđịnh, chính sách chặt chẽ để điều chỉnh hoạt động này thực hiện hiệu quả, phát huynội lực phát triển kinh tế - xã hội Việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện đốivới hoạt động thu ngân sách nhà nước từ đó nhìn nhận những hạn chế, bất cập đồngthời kiến nghị những giải pháp để nâng cao chất lượng thu NSNN là một đòi hỏikhách quan.
Trong phạm vi nghiên cứu của bài, nhóm sẽ đi sâu vào tìm hiểu về pháp luậtthu NSNN hiện nay của Việt Nam từ đó đánh giá những hạn chế bất cập còn tồn tại,đồng thời kiến nghị một số giải pháp để nâng cao chất lượng thu NSNN
1
Trang 5CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1 Khái niệm
1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước được xem như là một kế hoách tài chính khổng lồ mà quốchội là người quyết định, gắn liền với sự phát triển của xã hội Về định nghĩa ngân sáchnhà nước có hai phương diện: phương diện kinh tế và phương diện pháp lý
Về phương diện kinh tế:
Theo phương diện này, ngân sách nhà nước được hiểu là bản dự toán các khoảnthu và chi tiền tệ của một quốc gia do cơ quan có thầm quyền quyết định để thực hiệntrong một thời gian nhất định, thường là 1 năm Góc độ này có hai yếu tố cần chú ýđến:
+) NSNN là bản dự toán thu chi tiền tệ của một quốc gia Do vậy, NSNN phảiđược quốc hội thông qua với tư cách đại diện cho toàn thể nhân dân quyết định trướckhi được đem ra thưc hiện
+) NSNN có hiệu lực trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm Có thểthấy rằng, thời gian NSNN đươc quy định về thời gian có hiệu lực Ở nước ta hiệnnay, niên độ ngân sách là 1 năm, từ 01 tháng 01 cho đến 31 tháng 12 hàng năm.NSNN phải được các cơ quan công quyền vừa có năng lực vừa có trách nhiệm soạnthảo và thường là bộ tài chính hay bộ ngân khố, sau đó trình lên quốc hội thông qua vàchuyển cho chính phủ tổ chức thi hành thực tế
Mỗi bản dự toán kinh tế thường được dung cho 1 năm, thiết kế phù hợp vớitình hình phát triển kinh tế xã hội Tại Việt Nam, được chủ trì bởi Bộ tài chính, phốihợp với các Bộ ban ngành có liên quan, xây dựng bản ngân sách có tính khả thi vàhiệu quả cao nhất
Về phương diện pháp lý:
Trang 6Theo góc độ này, ngân sách nhà nước còn là một khái niệm pháp lý chứa nhiềunội dung chính trị- pháp lý quan trọng theo khoản 14 điều 4 Luật ngân sách nhà nước
2015: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự
toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.” Về
cơ bản thì định nghĩa về phương diện pháp lý không khác biệt đáng kể với định nghĩa
về phương diện kinh tế Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý, quan niệm NSNN đượchiểu là một đạo luật do QUốc hội ban hành cho phép chính phủ thực hiện trong mộtkhoảng thời gian xác định định có 2 khía cạnh thể hiện rõ tính chất của của đạo luậtnày:
+) NSNN là đạo luật được cơ quan lập pháp lập ra theo trình tự riêng
+) Hiệu lực của NSNN được xác định rõ là 1 năm, trong khi hiệu lwucj của các đạo luật thông thường là vô hạn
1.1.2 Khái niệm thu ngân sách nhà nước
Để đảm bảo duy trì cho sự hoạt động bình ổn của Nhà Nước cần phải có nguồntài chính nhất định Thu NSNN là huy động một bộ phận giá trị sản phẩm từ xã hội ,theo quy định của pháp luật hình thánh quỹ ngân sách nhà nước
Bên cạnh đó cũng có thể hiểu, thu NSNN là những nguồn vốn tiền tệ được nhànước huy động từ bên trong hoặc bên ngoài nền kinh tế quốc nội, thông qua nhiềuphương thức khác nhau (thuế, thu tiền phạt vi phạm hành chính, vay nợ…) để tài trợcho nhu cầu rất lớn của nhà nước về kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc và quản línhà nước
1.2 Đặc điểm của hoạt động thu ngân sách nhà nước
+) Thứ nhất, thu NSNN không thể tiến hành một cách tùy tiện,mà phải thựchiện trong khuôn khổ pháp luật ( nhà nước ban hành các văn bản pháp luật về nộidung thu, hình thức thu và chỉ được phép thu những khoản được luật hóa, thu trongkhuôn khổ pháp luật)
Trang 7+) Thứ hai, thu NSNN phải căn cứ, gắn chặt vào tình hình hiện thực của nềnkinh tế, biểu hiện ở tổng sản phẩm quốc nội GDP, giá cả, thu nhập, tài nguyên,…
+) Thứ ba, thu NSNN được thực hiện qua hai cơ chế pháp lý chủ yếu: tựnguyên và bắt buộc, tuy nhiên cơ chế bắt buộc được xem là chủ yếu Cơ chế bắt buộcđược áp dụng chủ yếu từ các nguồn thu như:thuế, phí và lệ phí Còn các cơ chế tựnguyên lại được áp dụng trong các trường hợp cần huy động khoản viện trợ từ nướcngoài, của các tổ chức quôc tế, các khoản đóng gopa tự nguyện khác của công chúngcho nhà nước
+) Thứ tư, chủ thể tham gia vào hoạt động thu ngân sách nhà nước có hai nhóm:
- Chủ thể đại diện cho nhà nước trong việc thực hiện quyền thu (cơ quan tài chính, cơ quan thuế nhà nước, cơ quan hải quan, kho bạc nhà nước)
- Chủ thể đóng góp khoản thu ngân sách theo nghĩa vụ hoặc dựa trên tinh thần tự nguyện (cá nhân, doanh nghiệp)
1.3 Phân loại các khoản thu ngân sách nhà nước
Căn cứ vào nguồn phát sinh các khoản thu
Thu ngân sách Nhà nước được chia thành:
(1) Thu trong nước và
(2) Thu từ nước ngoài
Trong đó nguồn thu từ trong nước chiếm tỉ trọng lớn và đóng vai trò rất quantrọng đối với tổng thu ngân sách Nhà nước Thu từ nước ngoài cũng đóng vai trò quantrọng tuy nhiên chiếm tỉ trọng không lớn và không phải quyết định
Căn cứ vào tính chất phát sinh và nội dung kinh tế
Thu ngân sách Nhà nước bao gồm:
Trang 8(1) Thu thường xuyên là các khoản thu phát sinh tương đối đều đặn, ổn định về mặt thời gian và số lượng gồm thuế, phí, lệ phí Trong đó:
Trang 9+ Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nướctheo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định, không mang tính chất hoàn trả trựctiếp, nhằm trang trải các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
+ Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhânkhác cung cấp dịch vụ (được qui định trong danh mục phí ban hành kèm theo Pháplệnh về phí và lệ phí)
+ Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan Nhànước hoặc tổ chức được uỷ quyền phục vụ công việc quản lí Nhà nước (được qui địnhtrong danh mục lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh về phí và lệ phí)
(2) Thu không thường xuyên là những khoản thu không ổn định về mặt thời gian phát sinh cũng như số lượng tiền thu được, bao gồm:
+ Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước
+ Thu từ hoạt động sự nghiệp
+ Thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước
+ Thu từ viện trợ nước ngoài, từ vay trong nước và ngoài nước và các khoản thukhác
Ý nghĩa: Qua cách phân loại này để thấy rõ sự phát triển của nền kinh tế, tính
hiệu quả của nền kinh tế và mức độ ổn định vững chắc của nguồn thu ngân sách
Căn cứ vào yêu cầu động viên vốn vào ngân sách Nhà nước
(1) Thu trong cân đối ngân sách Nhà nước
Bao gồm các khoản thu:
- Thuế, phí, lệ phí
Trang 10- Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, bao gồm: thu nhập từ vốn góp củaNhà nước vào các cơ sở kinh tế, tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế,thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả lãi và gốc)
- Thu từ hoạt động sự nghiệp
- Thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước;
- Các khoản thu khác theo luật định
Trong các khoản thu nói trên thì thuế là nguồn thu chủ yếu, chiếm một tỉ trọnglớn trong tổng thu của ngân sách Nhà nước
(2) Thu bù đắp thiếu hụt
Khi số thu ngân sách Nhà nước không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu và Nhànước phải đi vay, bao gồm vay trong nước từ các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế– xã hội, vay từ nước ngoài…
Ý nghĩa: Cách phân loại này cho phép đánh giá sự lành mạnh của ngân sách
Nhà nước và rất có ý nghĩa trong tổ chức điều hành ngân sách Nhà nước Để thực hiệnđược việc phân tích, nghiên cứu và đảm bảo tính hiệu quả của các khoản thu, cũngnhư nâng cao hiệu quả thu ngân sách Nhà nước ngoài việc phân định các khoản thu vàlập dự toán phù hợp
1.4 Vai trò, ý nghĩa của hoạt động thu ngân sách nhà nước
Liên quan đến sự vận hành của nền kinh tế nhà nước và sự phát triển xã hội nên thu ngân sách nhà nước nắm vai trò quan trọng và cụ thể như sau:
Thu ngân sách nhà nước nắm vai trò đảm bảo được những kế hoạch phát triểnkinh tế xã hội và luôn luôn đáp ứng những nhu cầu chi tiêu của một số hoạt độngtrong bộ máy nhà nước Để mà nói thì ngân sách nhà nước là một trong quỹ tiền tệ tậptrung lớn nhất nhằm giải quyết được những vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội, giáodục, văn
Trang 11hóa, hành chính, an ninh, quốc phòng và y tế… Với những nhu cầu cần thiết này nắmnhững vai trò tăng thu ngân sách quốc gia nhằm thúc đẩy sự phát triển ngân sách đảmbảo phát triển quốc gia.
Thông qua quá trình thu ngân sách nhà nước thì những điều tiết kinh tế và xãhội sẽ được hạn chế và tăng cường những mặt tích cực giúp tăng trưởng sự phát triểnmọi hoạt động hiệu quả và quá trình kiểm soát Để từ đó có thể điều tiết được mọi cơcấu hoạt động kinh tế và có những định hướng chung
Bên cạnh đó, thu ngân sách nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng để điềutiết được những thu nhập cá nhân thông qua quá trình đóng thuế Đây cũng là phươngpháp giảm khoảng cách giàu nghèo tạo điều kiện ổn định kinh tế và đời sống nhữngngười có thu nhập thấp
Ngoài ra, thu ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Nhà nước và nền kinh tế – xã hội, cụ thể là:
– Thu NSNN bảo đảm nguồn vốn để thực hiện các nhu cầu chi tiêu của Nhànước, các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước Vì NSNN được xem làquỹ tiền tệ tập trung quan trọng nhất của Nhà nước và được dùng để giải quyết nhữngnhu cầu chung của Nhà nước về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội, hành chính, anninh và quốc phòng
Xuất phát từ vai trò này, việc tăng thu NSNN là rất cần thiết, được xem là mộtnhiệm vụ hàng đầu của hoạt động tài chính vĩ mô
Các khoản thu của NSNN chủ yếu bắt nguồn từ khu vực sản xuất kinh doanhdịch vụ dưới hình thức thuế Do vậy, về lâu dài để tăng nguồn thu NSNN phải tăngsản phẩm quốc dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
– Thông qua thu NSNN, Nhà nước thực hiện việc quản lý và điều tiết vĩ mônền kinh tế – xã hội nhằm hạn chế những mặt khuyết tật, phát huy những mặt tích cựccủa nó và làm cho nó hoạt động ngày càng hiệu quả hơn
Trang 12Với công cụ thuế, Nhà nước có thể can thiệp vào hoạt động của nền kinh tếnhằm định hướng cơ cấu kinh tế, định hướng tiêu dùng Ví dụ, đối với các ngành nghềcần ưu tiên phát triển thì Nhà nước sẽ có chế độ thuế ưu đãi, giảm nhẹ hoặc miễn thuế
và ngược lại Hoặc để định hướng tiêu dùng cho toàn xã hội theo hướng kích cầu hayhạn chế cầu tiêu dùng thì Nhà nước sẽ giảm thuế hoặc đánh thuế cao đối với loại hànghóa đó
– Thu NSNN còn đóng vai trò quan trọng trong vấn đề điều tiết thu nhập củacác cá nhân trong xã hội Thông qua công cụ thuế, Nhà nước đánh thuế thu nhập đốivới người có thu nhập cao hoặc đánh thuế cao đối với các hàng hóa xa xỉ, hàng hóakhông khuyến khích tiêu dùng…
Chương 2 – trang kế tiếp
Trang 13CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
2.1 Quy định pháp luật về thu ngân sách nhà nước
2.1.1 Điều kiện thực hiện thu ngân sách nhà nước
Điều kiện thực hiện thu ngân sách nhà nước được quy định Điều 12 Luật ngânsách nhà nước 2015, cụ thể như sau:
“Thu ngân sách nhà nước phải được thực hiện theo quy định của Luật này, các
luật về thuế và các quy định khác của pháp luật về thu ngân sách nhà nước”.
Như vậy, việc thực hiện thu ngân sách nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc phápchế, thu đúng theo các nguồn thu mà Luật ngân sách nhà nước quy định Đồng thờiphải đảm bảo thực hiện đúng theo nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước: tổng số thu
từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngàycàng cao để chi đầu tư phát triển và nguyên tắc phân cấp quản lý nguồn thu giữa cáccấp ngân sách Ngoài ra việc thực hiện thu ngân sách nhà nước cũng phải đảm bảotuân thủ các quy định về thuế và các quy định khác của pháp luật về thu ngân sách nhànước
2.1.2 Nguồn thu của ngân sách nhà nước
Theo quy định hiện hành tại Điều 2 Nghị định 163/2016/NĐ-CP thì các nguồnthu ngân sách nhà nước bao gồm:
1 Thuế do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của các luật thuế
2 Lệ phí do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật
3 Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện; trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ
Trang 144 Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanhnghiệp nhà nước thực hiện, sau khi trừ phân được trích lại để bù đắp chi phí theo quyđịnh của pháp luật.
5 Các khoản nộp ngân sách nhà nước từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, gồm:
a) Lãi được chia cho nước chủ nhà và các khoản thu khác từ hoạt động thăm
dò, khai thác dầu, khí;
b) Các khoản thu hồi vốn của Nhà nước đầu tư tại các tổ chức kinh tế;
c) Thu cổ tức, lợi nhuận được chia tại các công ty cổ phần, công ty trách nhiệmhữu hạn hai thành viên trở lên có vốn góp của Nhà nước;
d) Thu phần lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của doanhnghiệp nhà nước;
đ) Chênh lệch thu lớn hơn chi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
e) Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (bao gồm cả gốc và lãi), trừ vay lại vốnvay nước ngoài của Chính phủ
6 Huy động đóng góp từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của phápluật
7 Thu từ bán tài sản nhà nước, kể cả thu từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất do các cơ quan, đơn vị, tổ chức của Nhà nước quản lý
8 Tiền sử dụng đất; tiền cho thuê đất, thuê mặt nước; tiền sử dụng khu vực biển; tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước
9 Thu từ tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước; thu cấp quyền khai thác khoáng sản, thu cấp quyền khai thác tài nguyên nước
Trang 1510 Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, phạt, tịch thu khác theo quy địnhcủa pháp luật.
11 Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
12 Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cánhân ở ngoài nước cho Nhà nước, Chính phủ Việt Nam, cho cơ quan nhà nước ở địaphương
13 Thu từ quỹ dự trữ tài chính theo quy định tại Điều 11 Luật ngân sách nhànước
14 Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Đối với nguồn thu là thuế
Về khái niệm:
Để đưa ra khái niệm mới về thuế hoàn toàn không đơn giản Các nhà kinh tếhọc đã có quá trình nghiên cứu sâu sắc ở nhiều khía cạnh khác nhau nhằm tìm kháiniệm thuế theo cách đánh giá của mình Các Mác viết “thuế là cơ sở kinh tế của bộmáy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của ngườidân để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước” Bằng cách định nghĩa khác, các nhànghiên cứu kinh tế cho rằng thuê là “một hình thức phân phối thu nhập tài chính củanhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị, tiến hànhphân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không hoàn lại1
Ở khía cạnh nghiên cứu thuế với tư cách là một nội dung điều chỉnh của luậtpháp, các chuyên gia về luật thuế cũng đã nhận định “thuế là một trật tự đã được thiếtlập hòa bình giữa chính phủ với cộng đồng trong sự tôn trọng thực hiện nghĩa vụ thu,
Trang 16Đại từ điển kinh tế thị trường, Viện Nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa H 1998, tr 669
Trang 17nộp vào ngân sách Thuế không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào giữa các bang hay vùng lãnh thổ”2
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa về thuế như vậy nhưng chúng ta đều có thểnhận thấy nét chung sau: thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chứchoặc cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định Với cáchnhìn nhận khách quan về thuế, có thể thấy bản chất của thuế là loại quan hệ phân phốigắn với nhà nước, loại quan hệ giữa nhà nước với người nộp thuế Bản chất này khôngthay đổi trong những xã hội có chế độ kinh tế, chính trị khác nhau Bất kể xã hội nàocũng thể hiện quan hệ thư và nộp như nhau
Về đặc điểm:
Thuế bao giờ cũng mang những đặc tính nhất định Việc xác định đặc tính củathuế giúp cho chúng ta nhận diện thuế trong các hình thức thu nhập tài chính
Thứ nhất, thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách Tính bắt buộc thể
hiện ở chỗ, đối với người nộp thuế, đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho nhànước khi có đủ điều kiện mà không phải là quan hệ thanh toán dù trong hợp đồng hayngoài hợp đồng Đối với các cơ quan thu thuế, khi thay mặt nhà nước thực hiện cáchành vi nhất định cũng không được phép lựa chọn thực hiện hay không thực hiện hành
vi thu thuế, có sự phân biệt đối xử đối với người nộp thuế Đặc tính bắt buộc của thuế
là một trong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt thuế với các khoản thu trên cơ sở
tự nguyên hình thành nên ngân sách nhà nước Điều này có ý nghĩa pháp lý quan trọngkhi ban hành pháp luật về thuế và chi phối phương pháp thực hiện thu thuế của các cơquan nhà nước có thẩm quyền
Thứ hai, thuế gắn với yếu tố quyền lực Tính quyền lực của thuế được xuất
phát bởi lý do xuất hiện các khoản thu về thuê của nhà nước Thuế xuất hiện cùng với
sự xuất hiện của nhà nước, thực hiện việc cung cấp cơ sở vật chất cho nhà nước thựchiện
12
Trang 18Taxation Law in Australia Geoffrey Lehmann, Cynthia Coleman Butterworths, 1997
13
Trang 19các chức năng và nhiệm vụ của mình Các nhà kinh tế, chính trị đều thống nhất chorằng thuế là biện pháp chủ yếu của nhà nước để nhà nước điều tiết hoặc can thiệp vàonền kinh tế Bằng quyền lực chính trị, nhà nước tạo ra cho thuê tính cố định, sự tuânthủ của đối tượng nộp thuế Các yếu tố như đối tượng nộp thuế, thuế suất được quyđịnh trước và mang tính ổn định trong một khoảng thời gian nhất định Chỉ gắn vớiyếu tố quyền lực, thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn thu nhập tài chínhcho nhà nước.
Thứ ba, thuế không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp, Thuế không
phải là khoản phải trả khi các đối tượng nộp thuế đã nhận được một lợi ích hay quyềnlợi cụ thể nào từ phía nhà nước
Thuế xuất hiện do nhu cầu chi tiêu của nhà nước, của các chủ thể quản lý xãhội Kết quả của việc sử dụng các khoản thu từ thuế chủ yếu là các sản phẩm công(những lợi ích không thể xác định chính xác được theo giá trị vật chất) Điều đó lí giải
vì sao thuế phải là các khoản thu không có tính hoàn trả
Bên cạnh việc chỉ ra các đặc điểm của thuế, cũng cần phân biệt thuế với phí, lệ phí Mặc dù thuế, phí, lệ phí đều là các khoản thu mang tính bắt buộc, hình thành nguồn thu cho quỹ ngân sách nhà nước nhưng giữa chúng có một số điểm khác biệt.
Về cơ sở pháp lý để thực hiện các khoản thu từ thuế, lệ phí, phí Nêu các khoảnthu từ thuế được thực hiện yên cơ sở các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lí cao(luật, pháp lệnh) thì lệ phí, phí được thực hiện dựa theo các văn bản dưới luật
Về vị trí của các khoản thu từ thuế, lệ phí, phí ứng tổng các khoản thu ngânsách nhà nước Thuế luôn là khoản thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, lệ phí, phícũng là nguồn thu ngân sách nhưng không có vị trí quan trọng như thuế
Thuế không mang tính đối giá, hoàn trả trực tiếp nhưng đối với lệ phí, phí lạimang tính hoàn trả trực tiếp rõ ràng
Trang 20Phạm vi áp dụng của thuế không có giới hạn, khác biệt giữa các địa phương,vùng lãnh thổ nhưng đối với các khoản thu từ lệ phí, phí có thể mang tính địa phương,địa bàn.
Thuế trực thu có ưu điểm đảm bảo sự công bằng trong việc điều tiết thu nhậpthặng dư của người nộp thuế nhưng thường gây ra sự phản ứng về thuế của người nộpthuế do không có sự chuyển dịch về thuế và có một sự đảm bảo chắc chắn rằng phảithực hiện một nghĩa vụ nộp tiền
+ Thuế gián thu bao gồm các loại thuế như thuế xuất nhập khẩu, thuế gắn vớisản xuất và bán hàng hóa Gọi chúng là thuế gián thu vì người gánh chịu thuế là kháchhàng nhưng người nộp thuế lại là người bán hàng, nhà nhập khẩu.(2) Nói khác đi, đã
có sự chuyển nghĩa vụ thuế từ khách hàng sang người kinh doanh
Thuế gián thu có ưu điểm thường hạn chế sự phản ứng thuế từ người gánh chịuthuế nhưng lại không tạo ra sự bình đẳng về điều tiết thu nhập của những đối tượng cóthu nhập chênh lệch
Xác định thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa pháp lí quan trọng Để đảmbảo tính công bằng trong điều tiết thu nhập, cần gia tăng (ban hành luật điều chỉnh)các loại thuế trực thu Tuy vậy, việc tăng các loại thuế trực thu lại đứng trước nguy cơkhông thu hút, khuyến khích việc công khai thu nhập và gây ra sự phản ứng từ người
Trang 21nộp thuế Để đảm bảo nguồn thu cho nhà nước, cần gia tăng (ban hành luật điềuchỉnh) các loại
Trang 22thuế gián thu nhưng sẽ làm tăng khoảng cách thu nhập và trong chừng mực nào đó, sẽhạn chế tiêu dùng xã hội Cho dù vậy, thực tế ở các quốc gia (trong đó có Việt Nam),các loại thuế trực thu thường không phổ biến bằng thuế gián thu do sự dễ dàng chấpnhận hơn từ phía khách hàng đối với các loại thuế gián thu.
Nếu căn cứ vào đối tượng tính thuế, có thuế đánh vào tài sản, thuế đánh vào thunhập và thuế tiêu dùng
+ Thuế tài sản là thuế đánh vào bản thân tài sản chứ không phải đánh vào phầnthu nhập phát sinh từ tài sản đó Các loại thuế như thuế nhà đất, thuế vốn, thuế chuyểnnhượng tài sản, chuyển nhượng vốn là loại thuế tài sản Các quốc gia có thể dựa vàođối tượng tài sản để tách hoặc gộp thuê phù hợp với điều kiện cụ thể
+ Thuế đánh vào thu nhập chỉ thực hiện đối với những đối tượng có giá trịthặng dư phát sinh từ tài sản của họ Các loại thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp,thuế thu nhập cá nhân có đối tượng tính thuế là những phần thu nhập phát sinh trongquá trình sử dụng tài sản của mình hay do kết quả của lao động
+ Thuế tiêu dùng, phần lớn là các loại thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng,thuế tiêu thụ đặc biệt Đặc điểm của các loại thuế trong nhóm thuế này đối tượng tínhthuế chính là phần thu nhập của người chịu thuế được mang tiêu dùng vào thời điểmchịu thuế
Việc phân chia thuế dựa trên đối tượng tính thuế có ý nghĩa pháp lí khi xácđịnh mục tiêu điều chỉnh và mức độ điều chỉnh về thuế đối với từng nhóm thuế và gắnvới các chính sách kinh tế-xã hội khác nhằm tối ưu hoá hiệu quả Ví dụ, việc gia tăngthuế tiêu dùng sẽ chỉ phát huy hiệu quả khi quốc gia ban hành luật thuế áp dụng đồngthời với các biện pháp kích cầu tiêu dùng trong dân cư
Nếu căn cứ vào đối tượng nộp thuế, thuế bao gồm thuế đánh vào các chủ thể cóyếu tố nước ngoài, thuế đối với các tổ chức và cá nhân ưong nước Cách phân chianày có ý nghĩa pháp lý quan trọng khi nhà nước cần thể hiện chính sách đối với các
Trang 23nhà đầu tư trong từng thời kỳ Chẳng hạn, đối với trường hợp cần thiết phải hạn chế
sự tham gia
Trang 24của các chủ thể có vốn đầu tư nước ngoài tại một quốc gia, chính sách thuế khoá ngặtnghèo có thể xác định là một trong những rào cản quan trọng đối với đầu tư nướcngoài Ngược lại, chính sách mở cửa cũng đồng nghĩa với sự nới rộng đến tối đa ưuđãi về thuế đổi với các đối tượng này Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng cách phânbiệt thuế theo đối tượng nộp nếu không được giải quyết hợp lý, những tác động ngượcchiều của chúng hoàn toàn không nhỏ đối với nền kinh tế, đối với tình hình xã hội.
Ngoài các tiêu chí và nội dung phân loại trên đây, còn có rất nhiều tiêu chí phânloại và nội dung phân loại thuế, tuỳ theo mục đích của người nghiên cứu đánh giá
Công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô: Góp phần thực hiệnchức năng kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất,
mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kếhoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trongnền kinh tế quốc dân
Về pháp luật thuế
- Khái niệm
Pháp luật thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xãhội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền vàngười nộp thuế nhằm hình thành nguồn thu ngân sách nhà nước để thực hiện các mụctiêu xác định trước
Trang 25- Đối tượng điều chỉnh
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động và nội dung hoạt động của các chủ thể, đốitượng điều chỉnh của pháp luật thuế bao gồm các nhóm quan hệ sau:
Nhóm các quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý thuế.
Quản lý thuế là một trong những nội dung quan trọng, không thể tách rời hoạtđộng quản lý nhà nước Hoạt động quản lý thuế gồm nhiều nội dung cụ thể khác nhau,tuy vậy bao giờ cũng gắn liền với sự tham gia của nhà nước (nhân danh chính mìnhhoặc thông qua các cơ quan chức năng)
Hoạt động quản lý thuế của các cơ quan có thẩm quyền bao gồm những nhómhành vi cơ bản được tiến hành trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản lý hành chính
và thể hiện thông qua một loạt loại hành vi:
+ Chấp hành những quy định về thuế của các cơ quan có thẩm quyền, chốnghiện tượng chiếm dụng và trốn lậu thuế;
+ Xác định phạm vi người nộp thuế và các nguyên tắc đánh thuế;
+ Xác định đúng đối tượng tính thuế và các căn cứ tính thuế;
+ Xác định cách thức tính thuế, quyết định việc miễn giảm thuế trên Cơ sở quyđịnh của pháp luật;
+ Tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm chống thất thu thuế;
+ Thanh tra, kiểm tra quá trình thu, nộp thuế
17
Trang 26Nhóm các quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế.
Các tổ chức, cá nhân dù trực tiếp hay gián tiếp đều phải thực hiện nghĩa vụ thuếđối với nhà nước Để đảm bảo việc nộp thuế đầy đủ, đúng hạn, đảm bảo sự công bằngtrong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, pháp luật thuế điều chỉnh những loại hành vi cơbản sau đây của những đối tượng này:
+ Thực hiện đăng ký, kê khai thuế;
+ Thực hiện nộp thuế theo trình tự, tức là thực hiện một trật tự phải tuân thủtrong suốt quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế;
+ Thực hiện chế độ báo cáo thuế và các vấn đề có liên quan đến cơ sở xác định
số thuế phải nộp với cơ quan có thẩm quyền;
+ Đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét đúng, chính xác số thuế phải nộptrong những trường hợp cần thiết
Nhóm các quan hệ phát sinh trong quá trình xử lí vi phạm và khiếu nại về thuế.
+ Hoạt động xử lý vi phạm về thuế liên quan đến các hành vi vi phạm pháp luậtthuế như nợ thuế, sót thuế, trốn thuế, chống thuế nhưng chưa đến mức cấu thành tộiphạm hình sự;
+ Giải quyết khiếu nại những quyết định hành chính của cơ quan có thẩmquyền khi ra các quyết định không đủ căn cứ, không công bằng, không đúng phápluật
Xét đối tượng điều chỉnh của pháp luật thuế, có thể nhận thấy:
18
Trang 27+ Nhà nước, với tư cách là chủ thể quyền lực, luôn là một bên tham gia quan hệthuế và trực tiếp chi phối các quan hệ đó.
+ Các quan hệ đều nhằm hướng tới việc chuyển giao bắt buộc một nguồn tàichính vào cho nhà nước Nguồn tài chính đó nhằm phục vụ lợi ích công cộng, điềuchỉnh xã hội ở tầm vĩ mô
Đặc điểm về chủ thể và nội dung của các nhóm quan hệ xã hội thuộc đối tượngđiều chỉnh của pháp luật thuế cho thấy các quan hệ do pháp luật thuế điều chỉnh luônmang tính chấp hành và điều hành, là một nội dung quan trọng của tài chính công.Điều này cũng chi phối trực tiếp việc sử dụng phương pháp điều chỉnh quan hệ thuế
Về phương pháp điều chỉnh của luật thuế
Xuất phát từ tính chất của các quan hệ thuế do luật thuế điều chỉnh, để sự tácđộng của pháp luật có hiệu quả, luật thuế sử dụng phương pháp mệnh lệnh quyền uy
Để có được nguồn thu, nhà nước yêu cầu người dân phải nộp thuế Để có thểtăng thêm khả năng chi tiêu, nhà nước có thể ban hành, thay đổi các loại thuế mớihoặc bãi bỏ những ưu đãi về thuế đang áp dụng đối với người dân Để kịp thời trangtrải cho hoạt động của mình, có được số thu ổn định và chủ động, nhà nước yêu cầungười dân nộp đúng, nộp đủ, theo thời hạn số thuế nhất định