1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đề tài chính phủ điện tử

90 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo At word-the dawn of e-government đánh giá: “Chính phủ điện tử đó là việc sử dụng công nghệ để nâng cao khả năng tiếp cận thông tin và cung cấp dịch vụ của chính phủ cho công dân, c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH

־־־־־־־־־־* * * ־־־־־־־־־

NGUYỄN THỊ KIỀU ANH

MSSV: 3250008

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ ( E-GOVERNMENT) - MÔ HÌNH CỦA

THẾ GIỚI VÀ NHỮNG BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật Niên khóa: 2007 – 2011

GVHD: Ths Cao Vũ Minh

TP.HCM – Năm 2011

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

3 Phạm vi, mục đích nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Giá trị của đề tài

6 Bố cục của đề tài

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ 1

1.1 Sự ra đời của Chính phủ điện tử 1

1.1.1 Nguyên nhân khách quan 1

1.1.2 Nguyên nhân chủ quan 3

1.2 Khái niệm và yêu cầu của Chính phủ điện tử 5

1.3 Phương tiện thực hiện 11

1.3.1 Công nghệ thông tin truyền thông 11

1.3.2 Mức độ sẵn sàng điện tử 14

1.4 Lợi ích và xu thế tất yếu của Chính phủ điện tử 16

1.4.1 So sánh giữa Chính phủ và Chính phủ điện tử 16

1.4.2 Lợi ích của Chính phủ điện tử 19

1.4.2.1 Chính phủ điện tử với Công dân (G2C) 19

1.4.2.2 Chính phủ điện tử với Doanh nghiệp (G2B) 21

1.4.2.3 Chính phủ điện tử với Chính phủ điện tử (G2G) 22

1.4.2.4 Chính phủ điện tử với nhân viên (G2E) 23

1.4.3 Tính tất yếu trong việc phát triển Chính phủ điện tử của các quốc gia trên thế giới 24 1.4.3.1 Viễn cảnh 24

1.4.3.2 Các giai đoạn triển khai 26

Trang 3

1.5 Mô hình Chính phủ điện tử của các nước trên thế giới

28

1.5.1 Chính phủ điện tử ở nước Mỹ 28

1.5.1.1 Sơ lược về sự phát triển Chính phủ điện tử ở nước Mỹ 28

1.5.1.2 Bài học kinh nghiệm 29

1.5.2 Chính phủ điện tử ở nước Hàn Quốc 32

1.5.2.1 Sơ lược quá trình phát triển Chính phủ điện tử tại Hàn Quốc 32

1.5.2.2 Bài học kinh nghiệm 35

1.5.3 Chính phủ điện tử ở nước Trung Quốc 38

1.5.3.1 Sơ lược quá trình phát triển Chính phủ điện tử ở Trung Quốc 38

1.5.3.2 Bài học kinh nghiệm 40

CHƯƠNG II: CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN 44

2.1 Chính phủ điện tử ở Việt Nam – Thực trạng một góc nhìn 44

2.2 Thực trạng triển khai Chính phủ điện tử tại Việt Nam 45

2.2.1 Giai đoạn từ năm 1997-2002 45

2.2.1.1 Mục tiêu của giai đoạn 45

2.2.1.2 Tình hình triển khai Chính phủ điện tử giai đoạn 1996-2000 47

2.2.2 Giai đoạn từ năm 2002-2007 50

2.2.2.1 Mục tiêu của giai đoạn 50

2.2.2.2 Tình hình triển khai Chính phủ điện tử giai đoạn 2002-2007 50

2.2.3 Giai đoạn từ năm 2007 đến nay 58

2.2.3.1 Mục tiêu của giai đoạn 58

2.2.3.2 Tình hình triển khai Chính phủ điện tử giai đoạn 2007 đến nay 60

2.3 Phương hướng hoàn thiện Chính phủ điện tử ở Việt Nam 72

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực tiễn đã chứng minh, việc nắm bắt được thông tin một cách dễ dàng sẽ làm thay đổi cách sống của mỗi con người chúng ta Công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) đang dần đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống mà việc tạo cơ hội tiếp cận cho người dân đối với các phương tiện này, trước tiên thuộc về Nhà nước Nhiều nước trên thế giới đã ứng CNTT&TT như là một công cụ phục vụ đắc lực cho

bộ máy quản lý và từ đó có thể cung cấp dịch vụ tốt nhất cho người dân Chính vì vậy, việc xây dựng Chính phủ điện tử trở thành xu hướng chung của thế giới

Tuy nhiên, không phải nhà hoạch định chính sách nào cũng nhận thức được tầm quan

trọng của Chính phủ điện tử và lợi ích thiết thực do nó đem lại nguyên nhân có thể là họ

chưa có một tầm nhìn chính xác hoặc cũng có thể là họ né tránh việc tạo lập các chính sách về CNTT&TT Trong khi đó, một số ít Chính phủ chỉ quan tâm tới công nghệ mà quên đi việc hoạch định các chính sách liên quan để áp dụng công nghệ đó trong thực tế Tất cả những thiếu sót đó cần được khắc phục và điều chỉnh một cách hợp lý Để có thể làm được điều này, trước hết chúng ta phải hiểu Chính phủ điện tử là gì và lợi ích mà

nó đem lại cho xã hội như thế nào, sau đó mới xem xét đến việc triển khai chúng trên thực tế

Sự cần thiết về lý luận cũng như tính cấp thiết về mặt thực tiễn chính là lý do mà tác giả chọn đề tài “Chính phủ điện tử” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Nền kinh tế tri thức hay nền kinh tế số đang trở thành tâm điểm của xã hội CNTT&TT hay rộng hơn là Chính phủ điện tử giờ đây là một phần của sự phát triển Người dân, doanh nghiệp, chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ đã không ngừng bàn

Trang 5

luận xoay quanh vấn đề này Đã có rất nhiều chính sách, tác phẩm, công trình nghiên cứu

có giá trị đóng góp cao, cụ thể:

- Chính phủ đề ra các dự án triển khai ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông, báo cáo định kỳ, báo cáo chuyên đề cũng như dự thảo kế hoạch triển khai

- Các bộ giáo trình mang tính chất tham khảo (bộ giáo trình Những kiến thức

cơ bản về Công nghệ thông tin và truyền thông cho cán bộ công chức nhà nước do Trung tâm đào tạo và phát triển Công nghệ thông tin và truyền thông Liên Hợp Quốc

và Châu Á Thái Bình Dương (UN- APCICT) xây dựng

- Một ấn phẩm của nhà xuất bản thông tin và truyền thông mới ra đời và có giá trị đó là: sách trắng về Công nghệ thông tin và truyền thông với phiên bản 2009 và phiên bản 2010, do ban chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin và bộ thông tin và truyền thông phối hợp thực hiện

- Các báo, tạp chí có bài viết liên quan đến Chính phủ điện tử như: Chính phủ điện tử gắn với cải cách hành chính nhà nước bài của Nguyễn Sĩ Dũng đăng trên tạp chí thế giới vi tính; Chính phủ điện tử giúp giảm đáng kể chi phí công của Việt Hà đăng trên Vietnamplus; Hướng đến Chính phủ điện tử đăng trên Hà nội mới online…

3 Phạm vi, mục đích nghiên cứu

Đề tài mang lại một cái nhìn tổng quan về Chính phủ điện tử Thông qua mô hình của các nước trên thế giới (điển hình như mô hình Chính phủ điện tử của nước Mỹ, Hàn Quốc và Trung Quốc) từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam

Để có tầm nhìn toàn diện về một vấn đề thì cần phải tìm hiểu và phân tích cặn kẽ mọi mặt của vấn đề đó, tuy nhiên, tác giả sẽ không đi sâu vào việc giải thích sự vận hành của Công nghệ thông tin và truyền thông như thế nào hay kỹ thuật của chúng ra sao Công việc này sẽ dành cho những nhà khoa học cải tiến kỹ thuật Trong đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu những khía cạnh lý luận về Chính phủ điện tử, đồng thời tìm hiểu cách thức để xây dựng một Chính phủ điện tử phù hợp với thực tiễn và xu hướng chung của thế giới

Trang 6

4 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận: Để đạt được những mục đích đề ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật

Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng các phương pháp: phân tích, chứng minh, biện luận, tổng hợp và đối chiếu so sánh

5 Giá trị của đề tài

Khi nghiên cứu về Chính phủ điện tử, đề tài mong muốn đem đến cái nhìn tổng thể về thuận lợi cũng như khó khăn của Chính phủ điện tử cho các cơ quan nhà nước, cá nhân, tổ chức Ngoài ra, đề tài còn có thể là tài liệu tham khảo có giá trị trong nghiên cứu, giảng dạy

6 Bố cục của đề tài

Toàn bộ nội dung chính của đề tài bao gồm:

- Chương I: Tổng quan về chính phủ điện tử

- Chương II: Chính phủ điện tử ở Việt Nam - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện

Ngoài ra, còn có danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các hình vẽ, mô hình

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ

Bảng 1.1 Điểm mạnh, điểm yếu của các công nghệ thông tin truyền thông khác nhau

12

Bảng 1.2 Những thay đổi trong cách làm việc của Chính phủ khi có Chính phủ điện tử 19

Bảng 1.3 Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử 24

Bảng 1.4 Nhóm 10 quốc gia dẫn đầu về chỉ số phát triển chính phủ điện tử 25

Bảng 1.5 Các giai đoạn phát triển của Chính phủ điện tử tại Hàn Quốc 34

Bảng 1.6 Xếp hạng Chính phủ điện tử 35

Bảng 1.7 Chương trình hỗ trợ những người dễ bị tổn thương 38

Bảng 1.8 Tỷ lệ truy cập trang web tại các thành phố của Trung Quốc 43

Bảng 1.9 Số lượng người sử dụng Internet hàng năm 65

Hình 2.1 Biểu đồ phân mức tỉ lệ máy tính/CBCCVC tại các địa phương 66

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ

1.1 Sự ra đời của Chính phủ điện tử

CNTT&TT đang phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết và việc nhận thức ra được mối tương quan giữa Chính phủ và CNTT&TT là điều vô cùng quan trọng Nếu diễn tả mối tương quan giữa Chính phủ và CNTT&TT thì có thể nói rằng: Chính phủ tạo điều kiện cho CNTT&TT phát triển toàn diện và ngược lại CNTT&TT cũng sẽ thúc đẩy hiệu quả công việc của Chính phủ Chính phủ các nước đã mất một thời gian khá dài

để có thể nhận thức được điều này và họ đã tìm được hướng đi thích hợp cho mình, đó

là triển khai Chính phủ điện tử

Vậy Chính phủ điện tử đã ra đời như thế nào, những yếu tố nào có khả năng tác động tới sự hình thành của Chính phủ điện tử? Trả lời được những câu hỏi này sẽ giúp cho các quốc gia xây dựng thành công Chính phủ điện tử, hướng đến mục đích cao nhất là nâng cao chất lượng phục vụ cộng đồng

1.1.1 Nguyên nhân khách quan

Con người từ kỷ nguyên nông nghiệp bước sang kỷ nguyên công nghiệp và giờ đây, với sự xuất hiện của CNTT&TT chúng ta dần đặt chân tới kỷ nguyên thông tin, tri thức Dưới sự trợ giúp của CNTT&TT người dân có thể thay đổi cách thức làm việc và giải trí; các doanh nghiệp thì có thể đẩy nhanh việc đầu tư tìm kiếm lợi nhuận Do đó,

có thể nói CNTT&TT đã trở thành một công cụ đắc lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển của toàn xã hội Không sớm thì muộn Chính phủ cũng sẽ phải thay đổi cách thức làm việc cho phù hợp với sự phát triển và để đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu của người dân, của doanh nghiệp và tổ chức khác Như vậy, Chính phủ điện tử sẽ ra đời từ sự phát triển của CNTT&TT

Con người là tổng hòa của yếu tố tự nhiên và xã hội Tức là con người sẽ không thể phát triển toàn diện nếu cách ly với cộng đồng Khi tham gia vào cộng đồng rộng

Trang 9

lớn đó, con người nảy sinh rất nhiều nhu cầu: học tập, vui chơi, giải trí và hoạt động kinh doanh Cho nên con người ngày càng phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn trong quá trình trao đổi kiến thức, sự chia sẻ kinh nghiệm và các giao dịch thương mại Chính vì thế, phát sinh xu thế toàn cầu hóa như hiện nay và Chính phủ sẽ phải hỗ trợ rất lớn cho người dân trong tiến trình này Bên cạnh đó, nhiều rào cản sẽ xuất hiện trong việc hiện thực hóa tiến trình này như khoảng cách địa lý, văn hóa và thiếu tiềm lực con người Chúng ta biết rằng sự phân chia lãnh thổ hay sự đa dạng của văn hóa trên thế giới không làm giảm đi sự kết nối giữa con người với con người, giữa Chính phủ của quốc gia này với Chính phủ của quốc gia khác Trong xu thế toàn cầu hóa này, Chính phủ điện tử sẽ giúp người dân tiếp cận hơn với thế giới, giúp cho doanh nghiệp tăng nhanh khả năng tìm kiếm lợi nhuận và các cơ quan Nhà nước nâng cao khả năng quản lý của mình

Bên cạnh đó, thế giới chúng ta đang sống là một thể thống nhất luôn tiềm tàng những rủi ro mang tính toàn cầu: những vấn đề môi trường, sự bất ổn chính trị, sự khủng hoảng kinh tế và các tệ nạn xã hội Để bảo vệ con người trước nguy cơ tiềm ẩn

đó thì bản thân Chính phủ các nước không thể bỏ qua và càng không thể giải quyết chúng một cách riêng lẻ Điều cần thiết của chính phủ hiện giờ là phải phát huy được

ưu thế của quốc gia, sử dụng sự hỗ trợ của CNTT&TT đồng thời kết hợp trao đổi kinh nghiệm với Chính phủ các nước khác giải quyết triệt để những vấn đề toàn cầu này

Chính phủ điện tử hoàn toàn có thể làm được điều đó bởi vì Chính phủ điện tử giúp rút ngắn không gian, tiết kiệm thời gian và tạo ra khả năng kiểm soát các rủi ro toàn cầu1

Tóm lại, Chính phủ điện tử chỉ có thể phát triển và mở rộng thành hệ thống trên khắp thế giới như ngày nay là nhờ sự phát triển không ngừng của CNTT&TT và xu thế toàn cầu hóa

1

Trần Thị Liên, Phát triển chính phủ điện tử ở một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam, khóa luận tốt nghiệp, khoa kinh tế ngoại thương, Trường đại học ngoại thương, 2003

Trang 10

1.1.2 Nguyên nhân chủ quan

Không thể phủ nhận vai trò ngày càng quan trọng của Chính phủ điện tử nên các quốc gia trên thế giới đang đặt cho mình những tiêu chí để triển khai mô hình xây dựng Chính phủ điện tử Xuất phát từ những hoàn cảnh và điều kiện khác nhau nên mỗi quốc gia sẽ có mô hình riêng của mình Nhưng nhìn chung, lý do mà các quốc gia xây dựng Chính phủ điện tử là vì:

Thứ nhất, để tiết kiệm được thời gian, tiền bạc và công sức cho cả Chính phủ, người dân và doanh nghiệp

Về thời gian: Trước đây khi chưa có sự xuất hiện của CNTT&TT, chính phủ thường giải quyết công việc bằng cơ chế thủ công, mọi thủ tục đều thực hiện bằng giấy

tờ Người dân và doanh nghiệp luôn phải tốn rất nhiều thời gian để chờ đợi kết quả từ

cơ quan của Chính phủ Với CNTT&TT thì chỉ mất có vài giây là có thể thực hiện xong thủ tục

Không chỉ người dân và doanh nghiệp gặp khó khăn mà ngay cả Chính phủ cũng phải đối mặt với áp lực quá tải công việc cần phải giải quyết, bởi vì xã hội càng phát triển thì nhu cầu cung cấp dịch vụ hành chính công càng cao, từ đó dẫn tới khối lượng công việc cũng tăng theo Nếu như vẫn áp dụng cách thức quản lý cũ thì Chính phủ sẽ phải bỏ ra nhiều thời gian để có thể giải quyết hết tất cả những công việc đó và nếu duy trì tình trạng này lâu sẽ làm giảm đi tốc độ phát triển của quốc gia Xây dựng Chính phủ điện tử sẽ giải quyết được những vấn đề này

Về tiền bạc: Nhiệm vụ quan trọng mà mỗi quốc gia phải chú trọng đó là hạn chế

sự tiêu tốn ngân sách Tất cả chính sách liên quan trên mọi lĩnh vực đều phải đề ra lộ trình thực thi và tính toán chi phí một cách hợp lý Chính phủ điện tử sẽ là mô hình lý tưởng cho việc tiết kiệm ngân sách cho quốc gia Ứng dụng CNTT&TT vào công việc quản lý giúp giảm chi phí cho giấy tờ, in ấn, thiết bị văn phòng phẩm… và hạn chế chi

phí giao thông Bên cạnh đó, người dân và doanh nghiệp sẽ không phải trả nhiều tiền

Trang 11

cho các lệ phí cung cấp dịch vụ từ phía nhà nước, đồng thời hạn chế tình trạng nhũng nhiều, vòi vĩnh của đội ngũ cán bộ, công chức do hệ lụy của thủ tục rườm rà gây ra

Hiện nay, nguồn ngân sách để duy trì bộ máy Nhà nước và bảo đảm các chính sách của quốc gia chủ yếu do nhân dân đóng góp Nếu các Bộ và cơ quan trong Chính phủ biết sử dụng một cách có hiệu quả thì sẽ tiết kiệm cho ngân sách và như thế cũng đồng nghĩa với việc tiết kiệm cho nhân dân vì họ không còn phải chịu mức thuế hoặc

lệ phí quá cao

Ngoài việc lãng phí tiền bạc và thời gian, cách thức quản lý thủ công tồn tại trước đây còn tiêu tốn nhiều công sức của chính phủ lẫn người dân Chính phủ đề ra các thủ tục để điều hành và tạo hành lang pháp lý an toàn cho xã hội nhưng chính sự chậm trễ trong công tác quản lý đã kiềm chế sự phát triển của con người Chính vì vậy, Chính phủ điện tử là lời giải cho bài toán này Một mặt, Chính phủ điện tử sẽ giải quyết triệt để, nhanh chóng, chính xác vụ việc; mặt khác người dân sẽ có nhiều cơ hội

và thời gian để tập trung vào những công việc quan trọng khác, doanh nghiệp sẽ có nhiều tiềm năng đầu tư hơn và chính phủ có điều kiện đưa ra các chiến lược phát triển tốt hơn

Thứ hai, nâng cao hiệu quả và chất lượng công việc

Hầu hết các quốc gia coi Chính phủ - nhánh hành pháp là biểu tượng của sự tập trung quyền lực Chính phủ điện tử sẽ giúp giải quyết một lưu lượng lớn và nâng cao hiệu quả công việc, tránh được tình trạng tham nhũng đang rất phổ biến ở các quốc gia

Như vậy, mục đích triển khai Chính phủ điện tử suy cho cùng là để phục vụ tốt hơn nữa nhu cầu của người dân Trước kia phải tiêu tốn rất nhiều thời gian, tiền bạc và công sức cho các dịch vụ công thì giờ đây với việc ứng dụng CNTT&TT của Chính phủ, mọi việc được giải quyết một cách nhanh chóng, hiệu quả và minh bạch hơn

Trang 12

1.2 Khái niệm và yêu cầu của Chính phủ điện tử

Chính phủ điện tử trở thành mối quan tâm hàng đầu của xã hội vì thế đã có không ít các học giả, nhóm các nhà nghiên cứu hoặc tổ chức quốc tế đưa ra quan điểm của mình

Liên Hợp Quốc định nghĩa: “Chính phủ điện tử là sử dụng Internet và wide-web để cung cấp thông tin của chính phủ và dịch vụ cho công dân” 2 Theo At

word-the dawn of e-government đánh giá: “Chính phủ điện tử đó là việc sử dụng công nghệ

để nâng cao khả năng tiếp cận thông tin và cung cấp dịch vụ của chính phủ cho công dân, các đối tác kinh doanh và nhân viên” 3

Có một số vấn đề cần đặt ra khi chúng ta tiếp cận những quan điểm trên:

Vấn đề thứ nhất: Theo quan điểm của Liên Hợp Quốc thì phương tiện để thực

thi Chính phủ điện tử là “internet và word-wide-web” còn quan điểm thứ hai thì cho rằng Chính phủ điện tử là việc sử dụng “công nghệ” Vậy phương tiện mà Chính phủ điện tử sử dụng là gì: internet hay công nghệ Sự khác biệt giữa chúng ra sao và cơ sở nào để nhận biết được sự khác biệt đó

Trong thực tiễn còn có rất nhiều cách khác nhau để chỉ phương tiện được dùng trong Chính phủ điện tử như: điện thoại, máy tính hay thiết bị số khác…tuy nhiên quan điểm được các nhà nghiên cứu đồng tình nhất chính là “Chính phủ điện tử là việc sử dụng Công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) để cung cấp thông tin và dịch

vụ công” Theo Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc: “Công nghệ thông tin truyền thông (công nghệ) là các công cụ xử lý thông tin cơ bản – là một chuỗi các sản phẩm đa dạng, các ứng dụng và dịch vụ được sử dụng để sản xuất, lưu trữ, xử lý, cung

2

Seang Tae Kim and Dean, Converging E-Democracy and E-Government Model toward an Evolutionary Model

of E-Governance: The Case of South Korea, Global e-Policy e-Government Institute, Sungkyunkwan University,

http:// www.apdip.net/projects/e-government/capblg/casestudies/Korea

3 Deloitte and Touche, At the dawn of e-government,

http://www.publicnet.co.uk/publicnet/fe000620.htm;Internet ;

Trang 13

cấp và trao đổi thông tin Chúng bao gồm các các công nghệ thông tin truyền thông đã

cũ như đài phát thanh, truyền hình, điện thoại và những công nghệ thông tin truyền thông mới như máy vi tính, vệ tinh, công nghệ không dây, mạng Internet4 Như vậy, không có một thiết bị nào được xem là duy nhất cho CNTT&TT Internet và web được coi là có đóng góp quan trọng nhất vào việc trao đổi thông tin nhưng chỉ là một phần trong ứng dụng CNTT&TT Chính phủ điện tử không có nghĩa là chỉ ứng dụng một mình internet hoặc web mà nó là việc ứng dụng CNTT&TT theo nghĩa đầy đủ nhất

Vấn đề thứ hai: đâu là đối tượng nhận lợi ích từ Chính phủ điện tử?

Chính phủ điện tử nhằm mục đích cải tiến việc tiếp cận và cung cấp các dịch vụ chính phủ đem lại lợi ích cho người dân Quan trọng hơn nữa, Chính phủ điện tử còn nhằm mục tiêu tăng cường năng lực của chính phủ theo hướng quản lý, điều hành có hiệu quả và nâng cao tính minh bạch nhằm quản lý tốt hơn các nguồn lực kinh tế và xã hội của đất nước vì mục tiêu phát triển Chính vì vậy mà có thể nói không chỉ có công dân mà ngay cả doanh nghiệp và bản thân Chính phủ đều là đối tượng nhận lợi ích từ Chính phủ điện tử

Như vậy, có thể hiểu Chính phủ điện tử theo cách hiểu phổ biến nhất hiện nay

đó là việc các cơ quan Chính phủ sử dụng CNTT&TT để cung cấp thông tin, dịch vụ công một cách tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp và các tổ chức khác, đồng thời tối

đa hóa hiệu quả công việc của Chính phủ

Thuật ngữ Chính phủ điện tử ra đời cách đây không lâu nhưng phần lớn mọi người thường hay nhầm lẫn Chính phủ điện tử với một số thuật ngữ khác như:

- Chính phủ di động (M-Government): Chính phủ điện tử và Chính phủ di động không phải là hai thực thể riêng biệt Chính phủ điện tử bao gồm việc sử dụng tất cả các công nghệ để cung cấp dịch vụ cho người dân và cải thiện các hoạt động của chính

4

Usha Rani Vyasulu Reddi, Mối liên hệ giữa ứng dụng công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa, Bộ giáo trình những kiến thức cơ bản về CNTT&TT cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước, học phần 1, trang 28

Trang 14

phủ, hợp lý hóa các quy trình của họ, còn Chính phủ di động là một tiện ích sử dụng các công nghệ di động như điện thoại di động, PDA (personal digital application- thiết

bị số cá nhân), Wifi (mạng không dây) trong việc cung cấp dịch vụ Ngoài ra, Chính phủ di động là một lựa chọn tốt hơn so với Chính phủ điện tử trong việc cung cấp dịch

vụ và công khai thông tin cho công dân do bản chất của nó là có ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào và từ bất kỳ thiết bị Internet Chính phủ di động không có nghĩa là để thay thế cho chính phủ điện tử mà nhằm để bổ sung cho Chính phủ điện tử Như đã phân tích ở trên, CNTT&TT là một chuỗi những ứng dụng phục vụ cho tiến trình trao đổi thông tin

và nó có rất nhiều công cụ kèm theo Chính phủ sử dụng CNTT&TT và từ đó làm xuất hiện nhiều thuật ngữ liên quan như chính phủ điện thoại, chính phủ máy tính, chính phủ GIS/GPS…tuy nhiên sự đa dạng của các khái niệm chỉ nhằm mục đích nhấn mạnh tầm quan trọng của từng công cụ và vai trò của CNTT&TT trong công tác quản lý của quốc gia – một khía cạnh được nhắc tới trong thế giới công nghệ phát triển ngày nay Những thuật ngữ này cũng chỉ là một phần của Chính phủ điện tử, chúng bổ sung cho Chính phủ điện tử

- Quản trị điện tử (E-Governace): Cụm từ “Chính phủ điện tử” và “Quản trị điện tử” thường được sử dụng hoán đổi cho nhau và do đó dẫn đến một số nhầm lẫn Chính

phủ điện tử chỉ chiếm một tập hợp con về quản trị điện tử Khái niệm được lựa chọn bởi Hội đồng châu Âu đã khẳng định rằng “Quản trị điện tử là việc sử dụng các công nghệ điện tử trong ba lĩnh vực: quan hệ giữa các cơ quan công quyền và xã hội dân sự, hoạt động của cơ quan công quyền ở mọi giai đoạn của quá trình dân chủ (dân chủ điện tử) và cung cấp dịch vụ công cộng”5

Theo khái niệm thì việc sử dụng CNTT&TT không chỉ giới hạn cho chính phủ mà nó còn được mở rộng ra toàn xã hội Quản trị điện tử là một khái niệm rộng hơn bao gồm việc sử dụng công nghệ thông tin của Chính phủ và xã hội để thúc đẩy sự tham gia lớn hơn của công dân trong việc phát

5 Hội đồng Châu Âu, http://www.coe.int/T/E/Com/Files/Themes/evoting/definition.asp

Trang 15

triển đất nước Ví dụ như việc sử dụng Internet của các chính trị gia và các đảng chính trị để đưa ra những quan điểm của họ một cách hiệu quả, hoặc công bố quan điểm của các tổ chức xã hội khác Hay việc dùng lá phiếu điện tử của công dân để tham gia vào quyết định chính sách.Trong bài phát biểu của Mai Anh chủ tịch hội tin học và viễn thông Hà Nội về việc phát triển Chính phủ điện tử tại Việt Nam đã có đề cập tới quản trị điện tử là bao gồm những phạm trù sau: nền dân chủ điện tử (e-democracy); Chính phủ điện tử (e-government) và giao dịch điện tử Lợi ích của nó là tạo ra phong cách điều hành mới, những phương thức mới trong giao dịch, trong cung cấp thông tin cho người dân Như vậy, Chính phủ điện tử chỉ là một phần trong quản trị điện tử

- Quản trị CNTT&TT

Là việc xác định các quyền quyết định và khuôn khổ trách nhiệm để khuyến khích hành vi mong muốn trong việc sử dụng CNTT&TT Nó sẽ xác định ai ra quyết định cuối cùng về CNTT-TT trong tổ chức6

Như vậy, quản trị CNTT&TT chỉ là một khía cạnh được nhắc tới trong quá trình phát triển CNTT&TT nói chung và với chính phủ điện tử nói riêng Sự thành công của Chính phủ điện tử cũng cần phải xem xét tới việc quản trị CNTT&TT

- Thương mại điện tử (E-commerce)

Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông Theo nghĩa rộng, thương mại điện tử

là việc ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin và truyền thông vào các hoạt động kinh doanh

Cả Chính phủ điện tử và thương mại điện tử đều ứng dụng CNTT&TT vào trong các hoạt động của mình nhưng Chính phủ điện tử thì áp dụng cho công tác quản

lý nhà nước, chủ thể thực thi hoạt động này là các cơ quan Chính phủ; trong khi đó

6 Emmanuel Cillalana, CNTT&TT cho phát triển chính sách quy trình và quản trị, Bộ giáo trình những kiến thức

cơ bản về CNTT&TT cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước, trang 83

Trang 16

thương mại điện tử thì sử dụng cho hoạt động kinh doanh và chủ thể thực hiện rất đa dạng (đó là các doanh nghiệp, người dân và có thể là Chính phủ)

- Nền dân chủ điện tử (E-democracy) hoặc dân chủ số

Dân chủ điện tử được hiểu là việc sử dụng CNTT&TT để tăng cường sự tham

gia của người dân vào quá trình dân chủ Đây là quá trình vi tính hóa các bài diễn thuyết chính trị, các hoạch định chính sách và chính trị với quan điểm cuối cùng là tăng cường, nâng cao và củng cố thêm sự tham gia của người dân trong quá trình hoạch định chính sách và đưa các quyết định của chính phủ thông qua một loạt các hoạt động như các chiến dịch vận động bầu cử, bỏ phiếu, tham vấn và tham gia vào quá trình lập chính sách và trao đổi truyền thông giữa các đại biểu được bầu và người

điều hành nhà nước nhằm hoàn thiện và thắt chặt mối quan hệ giữa chính phủ và công

dễ dàng góp ý, bầu cử và tranh luận bằng cách sử dụng các phương tiện công nghệ phổ biến như ngày nay Chính phủ điện tử cũng là một biện pháp nhằm mở rộng hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân bởi vì thông qua các dịch vụ và thông tin mà chính phủ cung cấp, người dân lại càng có thêm cơ hội tham gia đóng góp ý kiến, quan điểm của mình hơn trong các quyết sách của cơ quan Nhà nước, phản ánh được tâm tư nguyện vọng một cách nhanh chóng và chính xác hơn Chính phủ điện tử là một phần trong nền dân chủ điện tử và nó sẽ làm tiền đề cho sự phát triển của nền dân chủ điện tử

Như vậy, trong thực tiễn thì thuật ngữ Chính phủ điện tử có thể được thay thế bằng cách gọi khác như Chính phủ số hoặc Chính phủ công nghệ Nhưng những thuật ngữ có liên quan khác điển hình như: Chính phủ di động, quản trị điện tử, quản trị CNTT&TT, thương mại điện tử hay nền dân chủ điện tử… cần phải được cân nhắc khi

Trang 17

http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/chinh-phu-dien-tu-va-sử dụng vì bản thân những thuật ngữ này và Chính phủ điện tử là những khái niệm hoàn toàn khác nhau

Yêu cầu của Chính phủ điện tử:

Về chủ thể ứng dụng CNTT&TT: như chúng ta biết trong quá trình thực hiện Chính phủ điện tử có thể có sự hợp tác giữa những tổ chức và doanh nghiệp, những mối quan hệ giữa công và tư nhưng bản chất của Chính phủ điện tử là một biện pháp

do cơ quan công quyền thực thi mà nhiệm vụ chủ yếu thuộc về các cơ quan Nhà nước

từ Trung ương tới địa phương

Về phương tiện thực hiện: sử dụng các công cụ khác nhau của CNTT&TT để truyền tải thông tin và cung cấp các dịch vụ như: máy tính, di động, máy fax, tivi, đặc biệt là tầm quan trọng của web, internet…

Về đối tượng sử dụng thông tin và dịch vụ Chính phủ điện tử (chủ thể nhận lợi ích từ Chính phủ điện tử): người dân, tổ chức kinh tế, tổ chức phi kinh tế và ngay cả bản thân chính phủ Hay nói cách khác Chính phủ điện tử đã tạo ra các mối hệ chủ yếu- các hình thức giao dịch chính giữa chính phủ với công dân (G2C), Chính phủ với doanh nghiệp (G2B), chính phủ với chính phủ (G2G), chính phủ với nhân viên (G2E)

Đối tượng mà chính phủ (thông qua CNTT&TT) muốn truyền tải đến cho người dân, doanh nghiệp đó là các thông tin và dịch vụ công

Về không gian và thời gian: Chính phủ điện tử hỗ trợ cho mọi công dân và doanh nghiệp có thể truy cập thông tin và sử dụng dịch vụ Chính phủ 24/24 giờ, 7 ngày mỗi tuần và từ bất kỳ vị trí nào trên thế giới

Về bản chất: Chính phủ điện tử là một biện pháp hiệu quả hơn chính phủ nói chung nếu thực hiện tốt và được quản lý Ngoài ra, không phải mọi hoạt động của Chính phủ đều có thể số hóa Có nhiều lý do để giải thích cho vấn đề này: thứ nhất, một số hoạt động không áp dụng công nghệ vẫn đảm bảo an toàn và hiệu quả hơn như việc trả kết quả giải quyết cho công dân, doanh nghiệp hoặc là chứng thực chữ ký số

Trang 18

trong những quốc gia còn hạn chế về mặt công nghệ…thứ hai, việc hoạch định các chính sách quan trọng của một quốc gia là nhiệm vụ chính của cơ quan Nhà nước Công nghệ chỉ có thể tham gia một phần vào công việc hỗ trợ cho Chính phủ chứ chúng không thể thay thế toàn bộ được mọi hoạt động của Chính phủ

Về mặt lợi ích: Chính phủ điện tử mang lại kết quả là cung cấp hàng hóa và dịch vụ một cách hiệu quả và kịp thời cho người dân, doanh nghiệp, các cơ quan và nhân viên chính phủ Đối với người dân và doanh nghiệp, Chính phủ điện tử là sự đơn giản hóa các thủ tục và tăng tính hiệu quả của quá trình phê duyệt Đối với các cơ quan

và nhân viên Chính phủ, Chính phủ điện tử là sự hỗ trợ hợp tác giữa các cơ quan nhằm đảm bảo đưa ra các quyết định một cách chính xác và kịp thời

1.3 Phương tiện thực hiện

1.3.1 Công nghệ thông tin truyền thông

Như đã trình bày, muốn xây dựng thành công Chính phủ điện tử thì phải có

phương tiện để thực hiện Phương tiện quan trọng nhất, giữ vai trò tiên quyết là công nghệ thông tin và truyền thông Đối với các nước, phát triển CNTT&TT không chỉ

là phát triển về công nghiệp CNTT&TT – một lĩnh vực của nền kinh tế mà còn bao gồm cả việc ứng dụng CNTT&TT trong hoạt động xã hội và chính trị

Trên thế giới hiện nay có rất nhiều định nghĩa về công nghệ thông tin truyền thông khác nhau nhưng được coi là chính xác nhất chình là định nghĩa theo chương

trình phát triển của Liên Hợp Quốc Theo đó,Công nghệ thông tin truyền thông là các công cụ xử lý thông tin cơ bản – là một chuỗi các sản phẩm đa dạng, các ứng dụng và dịch vụ được sử dụng để sản xuất, lưu trữ, xử lý, cung cấp và trao đổi thông tin Chúng bao gồm các các công nghệ thông tin truyền thông đã cũ như đài phát thanh, truyền hình và điện thoại, và những công nghệ thông tin truyền thông mới như máy vi tính, vệ tinh, công nghệ không dây và mạng Internet Những công cụ khác nhau hiện nay có thể làm việc cùng nhau và kết hợp để tạo thành “Nối mạng thế giới” – một cơ sở hạ tầng lớn với sự kết nối dịch vụ điện thoại, tiêu chuẩn hóa phần cứng máy tính, mạng

Trang 19

Internet, đài phát thanh và truyền hình đến tất cả các ngóc ngách của thế giới”

Như vậy, điều chắc chắn rằng CNTT&TT bao gồm các công nghệ thông tin truyền thông đã cũ như đài phát thanh, truyền hình, điện thoại và cả những công nghệ thông tin truyền thông mới như máy vi tính, vệ tinh và công nghệ không dây và mạng Internet Những phương tiện này có sự khác biệt lớn trong khả năng của chúng

Bảng 1.1 Điểm mạnh, điểm yếu của các công nghệ thông tin truyền thông khác nhau 9

9

Usha Rani Vyasulu Reddi, Mối liên hệ giữa ứng dụng công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa,

Bộ giáo trình những kiến thức cơ bản về CNTT&TT cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước, học phần 1, trang 29.

Công nghệ in - Phổ biến

- Có thể dùng lại

- Có thể cung cấp chiều sâu

- Cho phép hiệu quả kinh tế quy

mô lớn

- Cho phép thống nhất các nội dung và tiêu chuẩn

- Cung cấp kinh nghiệm thay thể

- Cho phép hiệu quả kinh tế quy

- Chi phí thấp cho mỗi đơn vị

- Cho phép các nền kinh tế của quy mô

- Chi phí phát triển cao

- Phụ thuộc vào công suất các nhà cung cấp

- Kĩ năng máy tính là cần thiết

- Thiếu các nội dung cục bộ

Trang 20

So sánh điểm mạnh và điểm yếu của công nghệ thông tin truyền thông cũ và công nghệ thông tin truyền thông mới (Bảng 1.1) chúng ta thấy con người càng dễ dàng tiếp cận hơn với những thông tin bổ ích với sự sáng tạo vượt bậc của internet, do

đó, công nghệ thông tin truyền thông kĩ thuật số được coi như là những công cụ hiệu quả nhất Với ý nghĩa đó, Chính phủ các nước đã thường xuyên tận dụng nguồn lực của internet để cải thiện chức năng quản lý của mình Tuy nhiên internet không phải là phương tiện duy nhất để có thể thực hiện Chính phủ điện tử Trong những thập kỷ trước đó, việc sử dụng các công nghệ cũ (ví dụ là đài phát thanh và truyền hình) rất phổ biến và viêc sử dụng đài phát thanh và truyền hình vẫn đạt được những thành công nhất định

Một trong những thành công là việc sử dụng vệ tinh dựa trên đài phát thanh và truyền hình cho giáo dục ở Đại học Nam Thái Bình Dương, các thử nghiệm ở Ấn Độ với SITE những năm 1975-1976, Đài phát thanh truyền hình Đại học ở Trung Quốc10 Chính vì thế mà cả công nghệ kĩ thuật số cũ và mới đều thúc đẩy khả năng sử dụng cá nhân, chúng có thể phục vụ nhu cầu đa thành phần, các chức năng, các nhóm người dùng Tùy thuộc vào mục đích sử dụng và điều kiện hoàn cảnh mà các quốc gia có sự lựa chọn khác nhau

Chính vì vậy, CNTT&TT mới ra đời không loại trừ CNTT&TT cũ trước đó Chúng không chỉ có thể sử dụng một cách độc lập mà còn có thể kết hợp được với

nhau Hội tụ là sự liên kết một cách liền mạch của công nghệ viễn thông với tất cả các phương tiện truyền thông, văn bản, âm thanh, đồ họa, hình ảnh động và video được phân phối trên một nền tảng phổ biến trong khi cho phép người dùng chọn bất kỳ sự kết hợp tương tác của các phương tiện truyền thông bất kì Nó cũng có nghĩa là các kết nối mạng của tất cả các công nghệ khác nhau trong một hình thức mà khó có thể phân

10

Usha Rani Vyasulu Reddi, Mối liên hệ giữa ứng dụng công nghệ thông tin và sự phát triển ý nghĩa, Bộ giáo trình những kiến thức cơ bản về CNTT&TT cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước, học phần 1, trang 30

Trang 21

biệt với các hình thức khác11 Đơn cử như điện thoại di động có thể là kênh phát văn bản, âm thanh, video, e-mail, tin nhắn và tìm kiếm trên Internet, từ người gửi đến người nhận, từ một điểm xuất xứ đến nhiều điểm tiếp nhận và từ nhiều điểm để đến bất

kỳ số lượng người nhận nào Do đó, sự giao thoa giữa những cái cũ và cái mới không chỉ có lợi về mặt tài chính mà nó còn là biện pháp tăng cường hiệu quả cho Chính phủ điện tử trong tương lai

1.3.2 Mức độ sẵn sàng điện tử

Trước sự phát triển nhanh chóng của CNTT&TT nói chung và mạng Internet nói riêng, các quốc gia, đặc biệt các nước đang phát triển, đều coi CNTT&TT là phương tiện, là cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển Cho nên việc xác định “mức độ sẵn sàng điện tử” hoặc

“mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT&TT” đang ngày càng được các quốc gia và các tổ chức quốc tế quan tâm

Chỉ số về “mức độ sẵn sàng điện tử - E-readiness” hay “mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT&TT- ICT Index” là những con số thống kê nhằm để

đánh giá lộ trình ứng dụng và phát triển CNTT&TT Chúng là một trong các công cụ thuận tiện cho việc đánh giá mức độ sẵn sàng để phát triển của các quốc gia, sự thành công của các cơ chế chính sách hiện thời cũng như làm cơ sở cho việc hoạch định các chiến lược phát triển trong tương lai của một đất nước, một vùng lãnh thổ, một ngành kinh tế hay một doanh nghiệp12

Theo thống kê của Tổ chức Bridges.org, đến tháng 3/2005, các tổ chức quốc tế, các trung tâm nghiên cứu trên toàn thế giới đã thực hiện khoảng 1506 báo cáo đánh giá

về mức độ sẵn sàng điện tử của các quốc gia, các nền kinh tế trên thế giới và 188 nước

Trang 22

đã được đánh giá ít nhất 1 lần, trong đó: 68 nước được đánh giá từ 5 đến 10 lần và 69

Chỉ số sẵn sàng điện tử thực chất là những con số thống kê mà kết quả thể hiện của chúng nhằm trả lời cho câu hỏi chúng ta đang ở vị trí nào trong kỷ nguyên thông tin Các quốc gia, các tổ chức thế giới và những nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều chỉ tiêu Nhìn chung thì có 4 nhóm chỉ tiêu thông dụng nhất làm cơ sở cho việc xác định:

- Nhóm thứ nhất là chỉ tiêu về hạ tầng kỹ thuật CNTT-TT, chúng sẽ miêu tả các số liệu sau:

13

Báo cáo Vietnam ITC Index 2005, Văn phòng ban chỉ đạo quốc gia về CNTT và Hội tin học Việt Nam, Thanh Hóa, 10/08/2006

Trang 23

• Tỷ lệ CBCC sử dụng thư điện tử trong công việc

Tuy nhiên, những hệ thống chỉ tiêu được nêu phía trên chỉ mang tính chất tương đối bởi vì việc sử dụng chúng hiệu quả như thế nào còn tùy thuộc vào từng quốc gia cụ thể Chính vì thế, các quốc gia cần phải có những hoạch định rõ ràng trong lộ trình đánh giá mức độ sẵn sàng điện tử lâu dài và phức tạp này

1.4 Lợi ích và xu thế tất yếu của Chính phủ điện tử

1.4.1 So sánh giữa Chính phủ và Chính phủ điện tử

Chính phủ trước đây mà chúng ta biết là một Chính phủ không có ứng dụng CNTT&TT vào công tác quản lý, còn Chính phủ điện tử là việc sử dụng CNTT&TT để cung cấp thông tin và dịch vụ Chính phủ một cách tốt hơn Như vậy, về bản chất thì Chính phủ điện tử là một biện pháp điều hành hiệu quả hơn của chính phủ Sự so sánh được đề cập ở đây đó là sự so sánh giữa hai biện pháp điều hành: mới (Chính phủ điện tử) và cũ (Chính phủ truyền thống) của Chính phủ Sự khác biệt của chúng được thể

hiện ở những tiêu chí sau:

Thứ nhất về phương thức vận hành: Trước đây toàn bộ công việc của Chính

phủ được thực hiện theo phương pháp thủ công- bằng giấy tờ trao tay và các nhân viên trong Chính phủ thường phải gặp gỡ trực tiếp với người dân Ngày nay, với sự hỗ trợ của CNTT&TT, công việc của Chính phủ sẽ được thực thi thông qua phương tiện điện

tử (có tính năng tích hợp cao, có hệ thống chặt chẽ và tốc độ xử lý dữ liệu nhanh), còn

Trang 24

nhân viên Chính phủ thì có thể giải quyết công việc mà không cần phải gặp gỡ trực

tiếp với người dân và doanh nghiệp

Thứ hai về cơ cấu bộ máy và nhân lực: Chính phủ các nước thông thường có

nhiều các bộ, ban ngành và số lượng nhân viên khá lớn để có thể đảm trách công việc quản lý nhà nước Chính phủ điện tử xuất hiện sẽ có tác dụng làm tinh giảm bộ máy

vốn rất cồng kềnh của Chính phủ

Thứ ba là vần đề thời gian: Có thể nói Chính phủ điện tử luôn chủ động quỹ

thời gian của mình: Chính phủ điện tử mở rộng việc cung cấp thông tin và các dịch vụ công 24/24, 7 ngày trong một tuần Chính vì vậy, người dân và doanh nghiệp có thể yên tâm truy cập và yêu cầu dịch vụ bất cứ lúc nào Trong khi đó, Chính phủ truyền thống trước đây luôn có rào cản về mặt thời gian, người dân, doanh nghiệp phải xếp hàng chờ đợi đồng thời chỉ được tiếp xúc và giải quyết công việc với các cán bộ Nhà nước trong giờ hành chính

Trong cuộc sống đời thường, con người sẽ phải thực hiện rất nhiều giao dịch và

đa phần là những giao dịch với cơ quan Nhà nước (đăng ký giấy phép lái xe, xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, làm khai sinh, thành lập doanh nghiệp) Khi cần phải thực hiện một giao dịch như vậy người dân hay doanh nghiệp phải trải qua rất nhiều công đoạn khác nhau và mỗi công đoạn đó lại tiêu tốn rất nhiều thời gian của họ Chính phủ điện tử sẽ là một cuộc cách mạng lớn trong tương lai bởi vì nó giúp cho công dân tiết kiệm được thời gian, đẩy nhanh tốc độ giải quyết công việc, tránh được

tình trạng trì trệ trong cách thức làm việc của Chính phủ trước đây

Thứ tư về không gian: Chính phủ điện tử khắc phục được hạn chế về mặt không

gian của Chính phủ truyền thống Nhờ những ứng dụng của CNTT&TT mà từ bất kỳ địa điểm nào trên thế giới công dân cũng có thể truy cập được thông tin và dịch vụ một cách dễ dàng nhất Họ có thể nộp đơn hoặc xin cấp giấy phép mà không cần phải đi đến tận nơi cơ quan có thẩm quyền

Trang 25

Thứ năm là về vấn đề chi phí: Chính phủ điện tử sẽ tiết kiệm rất nhiều chi phí

hơn so với Chính phủ truyền thống trước đây (cho cả người dân, doanh nghiệp và chính phủ) Cắt giảm được chi phí cho lượng giấy tờ, hồ sơ lưu thông và việc lưu trữ chúng Trong khoảng thời gian đầu khi triển khai Chính phủ điện tử có thể sẽ tiêu tốn nhiều tiền bạc vào việc đầu tư cho hạ tầng cơ sở CNTT&TT, tuy nhiên với những lợi ích mà nó đem lại trong tương lai thì chúng ta có cơ sở để tin tưởng rằng Chính phủ điện tử sẽ giúp tiết kiệm cho ngân sách nhiều hơn khi chúng được thực thi một cách có hiệu quả:

khác biệt so với Chính phủ truyền thống trước đây.Với Chính phủ điện tử thì công việc được giải quyết tốt hơn, hiệu quả hơn; tránh được tình trạng tham nhũng; tăng cường tính minh bạch trong hoạt động quản lý của chính phủ; người dân có điều kiện phản ánh tâm tư nguyện vọng của mình chính xác tạo nên mối quan hệ gắn bó mật thiết hơn giữa chính phủ và người dân

Trang 26

Bảng 1.2 Những thay đổi trong cách làm việc của Chính phủ khi có

Chính phủ điện tử14

1.4.2 Lợi ích của Chính phủ điện tử

Theo hầu hết các nước trên thế giới thì Chính phủ điện tử được triển khai ở cả hai cấp độ trung ương và địa phương Chính phủ điện tử đã đạt được những lợi ích thiết thực trong mối tương quan với các chủ thể khác Cụ thể là: Chính phủ điện tử với Công dân (G2C), Chính phủ điện tử với Doanh nghiệp (G2B), Chính phủ điện tử với nhân viên (G2E) và Chính phủ điện tử với Chính Phủ điện tử (G2G)

1.4.2.1 Chính phủ điện tử với Công dân (G2C)

G2C là một hình thức cung cấp thông tin và dịch vụ Chính phủ cho người dân bằng cách sử dụng CNTT&TT G2C cho phép người dân có thể:

-Truy cập vào hệ thống thông tin kinh tế, xã hội và tra cứu các nguồn thông tin pháp lý

dựa trên giấy tờ

Cách thức làm việc dựa trên tài liệu điện

tử

Các thủ tục phụ thuộc vào các phòng

Nhiều đầu mối liên lạc và quá nhiều

cuộc gặp riêng (trực tiếp) với các

nhân viên chính phủ

Một đầu mối liên lạc và trực tuyến, việc gặp riêng các nhân viên chính phủ là không cần thiết

Việc quản lý thông tin ở mức độ

phòng ban, với quá nhiều thủ tục

thừa ở nhiều phòng ban khác nhau

Việc quản lý thông tin ở mức độ chính phủ sử dụng những tiêu chuẩn chung và tập trung

Trang 27

-Yêu cầu tải mẫu đơn hoặc đăng ký trực tuyến các dịch vụ công dân cơ bản như: gia hạn giấy phép, cấp giấy khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn và kê khai các biểu mẫu nộp thuế thu nhập cũng như hỗ trợ người dân đối với các dịch vụ cơ bản như giáo dục, chăm sóc y tế và các dịch vụ khác

đã được Chính phủ Hoàng gia Campuchia đưa ra ý tưởng như là dự án tiên phong để giới thiệu ICT cho xã hội Campuchia và đẩy mạnh cải cách hành chính Tháng 8/2000, Ủy ban phát triển ICT quốc gia được thành lập và có nhiệm vụ thực hiện GAIS nhằm hỗ trợ cho người dân trong việc đăng ký nhà đất, đăng ký cư trú và đăng

Ví dụ: Cuộc diễu hành trực tuyến tại Washington Ngày 26/2/2003, một sự kiện

đã được tổ chức “Chiến thắng không cần chiến tranh” phát động nhằm làm cho mỗi người dân trên khắp nước Mỹ liên tục quay số trực tiếp, gửi email và fax tới Nhà Trắng và từng nghị sỹ với thông điệp “KHÔNG TẤN CÔNG IRẮC” Tom Andrews - giám đốc quốc gia của tổ chức đã nói: “Hãy để cho những ngón tay của chúng ta diễu hành và yêu cầu tiếng nói của chúng ta phải được nghe thấy” Theo Andrews thì khoảng 400.000 người đã đăng ký thông qua Website của tổ chức để tham gia chương trình vận động này, hơn 1 triệu cuộc gọi đã được tiến hành chỉ trong 8 giờ bởi nhiều người ở khắp các bang trên đất nước và mỗi phút trôi qua thì mỗi nghị sỹ và tổng đài

Trang 28

1.4.2.2 Chính phủ điện tử với Doanh nghiệp (G2B)

Để phát triển nền kinh tế của đất nước một cách nhanh chóng thì Chính phủ cần phải quan tâm nhiều hơn tới các doanh nghiệp Hình thức cung cấp G2B là sự thể hiện

mối quan hệ giữa Chính phủ và các doanh nghiệp dưới hai góc độ sau:

việc sử dụng công nghệ thông tin truyền thông trong quản lý thuế tại Mông Cổ

Góc độ thứ hai: nhìn nhận Chính phủ với tư cách là đối tác của doanh nghiệp:

chính phủ cũng sẽ thực hiện việc giao dịch mua bán như những bạn hàng khác của doanh nghiệp

Ví dụ: Với việc ban hành Đạo luật IT năm 2000 nhằm công nhận pháp lý đối với những giao dịch điện tử, Chính quyền bang Andhra Pradesh (GoAP), Ấn Độ đã nhìn thấy tầm quan trọng của giao dịch điện tử trong việc đáp ứng các mục tiêu của chính phủ điện tử và có được sự kiểm soát Năm 2002, GoAP mạnh dạn liên kết với các đối tác là các tập đoàn tư nhân ở Ấn Độ để phát triển các quy trình và ứng dụng giao dịch điện tử Từ khi ứng dụng (năm 2003), cổng giao dịch điện tử đã trở thành nền tảng giao dịch điện tử cho mọi cơ quan GoAP Cổng giao dịch điện tử kết nối những người mua và người cung cấp thông qua bỏ thầu điện tử, danh mục điện tử, hợp đồng, yêu cầu mua và hóa đơn điện tử Cổng này cũng có phần mềm quản lý bỏ thầu để trợ giúp người mua trong quá trình đấu thầu Nhũng người cung cấp có thể tải xuống các tài liệu và kiểm tra trạng thái thầu Tháng 1/2003, Thống đốc bang Andhra Pradesh ban

Trang 29

bố một Chỉ thị có nội dung: “Bất cứ nhà thầu một công trình kỹ thuật hoặc giao dịch hàng hoá và dịch vụ có giá trị INR 10,000,000 (khoảng USD 236,500) trở lên bởi Hội đồng các nhà thầu đều sẽ phải nộp đơn qua cổng giao dịch điện tử”17

Các giao dịch bao gồm cung cấp dược phẩm, xe cơ giới và các hợp đồng trao tay Từ 8 cơ quan trọng yếu tận dụng hệ thống và đã thực hiện 564 giao dịch năm 2003, hệ thống này đã phát triển lên gồm 77 cơ quan với 9,981 giao dịch năm 2006 Thời gian quay vòng bỏ thầu

đã giảm đáng kể từ 90-135 ngày xuống còn 35-42 ngày

1.4.2.3 Chính phủ điện tử với Chính phủ điện tử (G2G)

Các dịch vụ G2G được triển khai ở hai cấp độ: cấp độ trong nước và cấp độ

quốc tế

- Cấp độ trong nước: mục đích của giao dịch G2G là nhằm thiết lập mối liên kết giữa các cơ quan, Bộ ngành với nhau từ trung ương tới địa phương (trao đổi công văn, thư từ công việc, thiết lập các buổi họp, hội nghị truyền hình thường niên cũng như đột xuất)

Ví dụ: trao đổi tài liệu điện tử giữa các cơ quan nhà nước tại Hàn Quốc đã đạt được những thành công vượt bậc Việc trao đổi tài liệu điện tử và xác thực điện tử đã được đẩy mạnh ở Hàn Quốc từ năm 1998 Mục tiêu là số hóa toàn bộ quy trình xử lý tài liệu ở các cơ quan nhà nước Các số liệu trong các tài liệu điện tử trao đổi cho thấy

654 cơ quan đã trao đổi tài liệu trực tuyến thông qua Trung tâm trao đổi tài liệu điện tử chính phủ Cùng với sự tiếp thu tiêu chuẩn tài liệu điện tử, chứng thực điện tử cũng được tiến hành ở 58 cơ quan trung ương và 250 chính quyền địa phương Tính tới 6/2006 tốc độ trao đổi tài liệu điện tử ở các cơ quan trung ương là 97,3% và tốc độ

Trang 30

chứng thực điện tử cao cho thấy quy trình tài liệu điện tử đã đạt tới bước hoàn toàn ổn định ở các cơ quan chính quyền Tất cả các cơ quan trung ương đều trao đổi tài liệu một cách an toàn thông qua Trung tâm trao đổi tài liệu điện tử chính phủ

- Ngoài ra, G2G còn là cánh cửa để hội nhập với thế giới bên ngoài, thúc đẩy

quan hệ quốc tế, cứu trợ nhân đạo, duy trì hòa bình và bảo vệ môi trường

1.4.2.4 Chính phủ điện tử với nhân viên (G2E)

G2E là hình thức cung cấp dịch vụ và thông tin cho đội ngũ nhân viên của Chính phủ nhằm để cải thiện môi trường làm việc, nâng cao hiệu quả quản lý từ đó thắt

chặt mối quan hệ giữa Chính phủ với nhân viên của Chính phủ đó Một ví dụ nghiên

cứu thực tế về các giao dịch G2E “Dịch vụ thông tin bảng lương của bang Mississipi nước Mỹ”19

: Tới tháng 10 năm 2002, các nhân viên của chính quyền bang Mississipi

có thể xem các bản kê khai thông tin về thuế và tiền lương của mình một cách trực tuyến thông qua một ứng dụng được thiết kế dưới dạng tự phục vụ và đảm bảo tính an toàn, dựa trên web có tên gọi là Kênh truy nhập cho nhân viên (ACE) ACE được kết nối trực tiếp tới hệ thống lương của bang cho phép các nhân viên chính phủ với mã số

cá nhân và mật khẩu có thể xem tài khoản lương của mình (gọi là W-2) Ứng dụng này

đã giúp cho Bang Misssissipi tiết kiệm được 0,5 USD cho mỗi biểu mẫu W-2 được in

và gửi đi bằng đường bưu điện Ngoài việc tiết kiệm chi phí, nếu các nhân viên có sai sót trong các biểu mẫu W-2 của mình, việc in lại điện tử chỉ mất hai ngày so với 2 tuần như trước đây Trong số hơn 40.000 nhân viên của bang Mississipi, 17% đã chấp nhận

và sử dụng mẫu biểu mới này

19

Patricia J.Pascual, Chính phủ điện tử, tháng 5 năm 2003, trang 9

Trang 31

1.4.3 Tính tất yếu trong việc phát triển Chính phủ điện tử của các quốc gia trên thế giới

1.4.3.1 Viễn cảnh

Hiện nay, các quốc gia đang cố gắng nỗ lực để hòa mình vào dòng chảy CNTT&TT Các số liệu thống kê cho thấy rõ vấn đề này, Chính phủ là khách hàng tiêu thụ lớn nhất hàng hoá và dịch vụ CNTT&TT Ở các nước phát triển, Chính phủ thường chi tiêu 1-1,5% GDP vào hệ thống CNTT khu vực công Theo Government Insights, hãng nghiên cứu và tư vấn toàn cầu, tổng chi tiêu về CNTT cho Chính phủ Tây Âu sẽ tăng từ 43 tỷ đô la Mỹ vào năm 2006 đến 56 tỷ đô la Mỹ vào năm 2011 Chi tiêu cho dịch vụ CNTT sẽ chiếm tỷ lệ lớn nhất trong chi tiêu cho CNTT trong Chính phủ, trong khi phần mềm đóng gói sẽ tăng trưởng nhanh nhất với tỷ lệ tăng trưởng trung bình hơn 7% Trong khu vực châu Á Thái Bình Dương, chính phủ sẽ tiếp tục chi tiêu đều đặn vào các dịch vụ và các sản phẩm CNTT với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm 7,9% từ năm

Như vậy, số lượng chi tiêu vào CNTT&TT khu vực công của Chính phủ các nước ngày càng tăng trong tương lai cho thấy xu hướng phát triển mạnh mẽ của Chính phủ điện tử

Emmanuel Cillalana, CNTT&TT cho phát triển chính sách quy trình và quản trị, Bộ giáo trình những kiến thức

cơ bản về CNTT&TT cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước học phần 2, trang 71

21 Global E-Government Survey 2010; http://www.unpan.org/egovkb/global_reports/08report.htm

Trang 32

Bảng thống kê cho thấy châu Âu dẫn đầu bảng xếp hạng về khả năng phát triển Chính phủ điện tử Châu Mỹ đứng thứ hai và Châu Á đứng thứ ba trong số đó Những khu vực có chỉ số Chính phủ điện tử mạnh thường là những khu vực có thu nhập cao

và một nền kinh tế, tài chính phát triển

Tuy mới chỉ hình thành và hiện diện cách đây không lâu nhưng Chính phủ điện

tử đã khẳng định cho mình một vị trí thật sự vững chắc, bằng chứng là có rất nhiều nước triển khai Chính phủ điện tử và một trong số những nước đó đã có những bước đi khá tốt Bảng thống kê dưới đây miêu tả nhóm các nước dẫn đầu về phát triển chính phủ điện tử

Bảng 1.4 Nhóm các quốc gia dẫn đầu về chỉ số phát triển chính phủ điện tử 22

Trang 33

1.4.3.2 Các giai đoạn triển khai

Chính phủ điện tử là một quá trình phức tạp và lâu dài Muốn đạt được thành công thì chính phủ các nước cần đề ra mục tiêu và những mô hình thích hợp cho tiến trình này Thông thường, việc triển khai Chính phủ điện tử chia làm 3 giai đoạn chính: giai đoạn cung cấp thông tin, giai đoạn tương tác và cuối cùng là giai đoạn giao dịch

Giai đoạn thứ nhất: Cung cấp thông tin

Sự phát triển của các quốc gia luôn gắn liền với việc nắm bắt những nguồn thông tin quan trọng Nhận thức được vấn đề này, chính phủ các nước đã có những nỗ lực nhằm cung cấp thông tin cho công dân của mình một cách hiệu quả nhất Đây là bước khởi động đầu tiên cho tiến trình triển khai Chính phủ điện tử Một số vấn đề mà các quốc gia cần phải chú ý:

nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho công dân có thể truy cập thông tin một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất

ràng và dễ hiểu, đồng thời có độ chính xác cao

hình kinh tế, lao động và giải trí…

Giai đoạn thứ hai: Tương tác

Cung cấp thông tin thôi thì chưa đủ, chính phủ còn cần phải thu hút sự chú ý của người dân thông qua việc kêu gọi họ tham gia đóng góp ý kiến, thảo luận, trao đổi những vấn đề quan trọng của đất nước Giai đoạn này là một bước tiến nhằm để giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước đồng thời nâng cao hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân

Trong giai đoạn này Chính phủ các nước cần phải:

Trang 34

- Hướng dẫn cách thức để công dân có thể đối thoại trực tuyến một cách hiệu quả

nhiều lĩnh vực trong đời sống và quan trọng hơn nữa là tới tất cả các cơ quan trong

bộ máy nhà nước

ra trước công chúng hay nói cách khác là cho công chúng thấy được lợi ích của việc thảo luận trực tuyến

Giai đoạn thứ ba: Giao dịch

Giai đoạn này cho phép công dân giao dịch với Chính phủ mà không cần phải gặp gỡ trực tiếp với nhân viên Chính phủ và có được kết quả nhanh chóng nhất Đây là một trong những giai đoạn có ý nghĩa rất lớn vì nó có tác dụng làm hạn chế được tình trạng tham nhũng, tinh giảm được cơ cấu bộ máy và tiết kiệm thời gian Các quốc gia trên thế giới đang từng bước xây dựng và đang ở những mức độ khác nhau của quá trình này

Giai đoạn này cũng đề ra một số yêu cầu sau đây:

dân trong quá trình giao dịch

giao dịch

“một cửa” là điều quan trọng

Trang 35

1.5 Mô hình Chính phủ điện tử của các nước trên thế giới

1.5.1 Chính phủ điện tử ở nước Mỹ

1.5.1.1 Sơ lược về sự phát triển Chính phủ điện tử ở nước Mỹ

CNTT&TT đã xuất hiện từ những năm 1980 và được ứng dụng rộng rãi cho người dân và doanh nghiệp từ năm 1990, nhưng mãi đến năm 2001 nước Mỹ mới có những bước đi đầu tiên cho việc phát triển Chính phủ điện tử

Văn phòng quản lý và ngân sách của Mỹ (OMB-Office of Management and Budget) đã cho thành lập tổ công tác chính phủ điện tử (USA E-Government Task

lượng dịch vụ cho công dân, doanh nghiệp, Chính phủ và các nhân viên Chính phủ, cũng như hiệu quả của chính phủ liên bang Từ khi hoạt động thì tổ công tác Chính phủ điện tử của Mỹ đã có nhiều đề xuất và xây dựng được một đạo luật cơ bản về Chính phủ điện tử (E-government Act, 2002) Sự ra đời của đạo luật này tạo hành lang pháp

lý thông thoáng cho việc xây dựng thành công Chính phủ điện tử ở Mỹ

Các hình thức cung cấp chính của Chính phủ điện tử ở Mỹ đó là:

Chính phủ với công dân (G2C): giúp người dân dễ dàng tiếp cận hơn với thông tin và dịch vụ của Chính phủ như hoạt động khai thuế Cá nhân, tổ chức không còn phải đến tận cơ quan để trả tiền thuế như trước, việc hoàn lại tiền sẽ nhanh hơn, an ninh sẽ được tăng lên và dịch vụ khách hàng sẽ được cải thiện

Chính phủ tới doanh nghiệp (G2B): giảm gánh nặng cho doanh nghiệp trong việc thu thập dữ liệu bằng cách tận dụng tốt hơn các ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.Ví dụ: Cổng thông tin chính phủ Liên bang Mỹ là nơi truy cập cho tất cả các chương trình hỗ trợ thiên tai Cung cấp thông tin một cách chính xác, kịp thời cho các doanh nghiệp giúp giảm thiểu thiệt hại và tiết kiệm hàng chục triệu đô la trong chi phí bảo hiểm, chi phí khởi kiện Đồng thời tiết kiệm thời gian trong quá trình giải ngân

23 E-Government Strategy - USA.gov, http://www.usa.gov/Topics/Includes/Reference/egov_strategy.pdf ,

27/2/2002

Trang 36

Chính phủ tới chính phủ G2G: tăng cường phối hợp công việc giữa tiểu bang và liên bang trong các buổi hội thảo trực tuyến đồng thời đẩy mạnh hoạt động trao đổi dữ liệu giữa các phòng ban Ví dụ: đề án Quản lý hồ sơ điện tử, do cơ quan Nara đề xuất Sáng kiến này giúp cho các cơ quan trong Chính phủ có thể truy cập thông tin một cách nhanh chóng và dễ dàng

Theo xếp hạng của Liên Hợp Quốc thì Chính phủ điện tử của Mỹ đứng thứ hai trong tổng số 192 nước (năm 2010) Đây là một kết quả đáng tự hào, tuy nhiên, tại Mỹ vẫn còn tồn tại những vấn đề đáng lo ngại cần phải giải quyết Chính vì thế mà, điều quan trọng cho các quốc gia sẽ và đang thực thi Chính phủ điện tử trong tương lai là cần phải biết học tập những thành công đồng thời khắc phục những hạn chế từ Chính phủ điện tử của Mỹ

1.5.1.2 Bài học kinh nghiệm

Tuy nhận thức về triển khai Chính phủ điện tử là khá muộn nhưng chính phủ

Mỹ đã có những bước đi ban đầu khá tốt đó là thành lập được tổ công tác Chính phủ điện tử có quy mô và sớm xây dựng cho mình được một đạo luật thực thi Chính phủ điện tử phù hợp, điều mà ít có quốc gia nào làm được

Chính phủ điện tử ở Mỹ đã có những bước tiến đáng kể về các dịch vụ được cung cấp trực tuyến Các trang web của chính phủ khảo sát năm 2007 đạt 86 % dịch

vụ được cung cấp trực tuyến, tăng hơn 9% so với 77% của năm 2006 (trong đó có 14

% các trang web không có dịch vụ trực tuyến, 15% cung cấp một dịch vụ trực tuyến, 13% có hai dịch vụ, và 58 % có ba hoặc nhiều hơn các dịch vụ được cung cấp trực tuyến) Thống kê các trang thì có 38% chấp nhận thẻ tín dụng và 1% cho phép sử dụng chữ ký số Tính đến năm 2007, có khoảng 22% trang thông tin của Chính phủ cung cấp

24

Darrell M West, State and Federal E-Government in the United States, 2007

Trang 37

Chính phủ liên bang Mỹ cũng đã tiến hành xếp hạng Chính phủ điện tử giữa các bang trong nước và các trang web hiệu quả nhất của Chính phủ Bảng thống kê cho thấy có rất nhiều trang đã có những ứng dụng sáng tạo và hiệu quả, đặc biệt đứng đầu danh sách là trang USA.gov Theo đánh giá chung thì USA.gov là một trong những trang web đơn giản và tiện dụng nhất, nó cho phép công dân tương tác với chính phủ liên bang một cách dễ dàng Các tính năng mà trang cung cấp như: hỗ trợ cho công dân tra cứu thông tin về hoạt động của bang, liên bang, thông tin việc làm, thời tiết… Trang web này còn có khả năng dịch ra 28 ngôn ngữ đồng thời đăng tải lên gần 180 dịch vụ trực tuyến giúp người dân dễ dàng giao dịch…

Bên cạnh những gì đạt được, Chính phủ điện tử ở Mỹ còn bộc lộ không ít những điểm bất cập cần phải được khắc phục:

Thứ nhất, tỷ lệ người truy cập vào các trang thông tin của Mỹ vẫn còn ở mức

hạn chế trong khi chi phí đầu tư các sáng kiến Chính phủ điện tử tại Mỹ lại rất cao Theo Văn phòng Ngân sách Quốc hội (CBO), chi phí đầu tư ước tính cho việc thực hiện Luật Chính phủ điện tử năm 2002 là 60 triệu USD cho năm 2003 và 600 triệu trong khoảng thời gian 2003-2007 (CBO, 2002) Theo FY năm 2009 về thực hiện Đạo Luật Chính phủ điện tử năm 2002, thì số lần truy cập chỉ gói gọn trong l48 triệu lượt

hiện tại là khoảng 308 triệu người, như vậy chỉ có hơn một nửa dân số truy cập vào các trang web Chính phủ điện tử liệu có thể thành công hay không trong khi một lượng lớn người dân không chịu phản hồi Đây cũng chính là yếu điểm lớn nhất của Mỹ chính phủ điện tử ở Mỹ Một số lý do để giải thích cho tỷ lệ truy cập còn hạn chế tại Mỹ:

Chính quyền Mỹ là chính quyền liên bang lớn nhất từng biết đến nhưng lại chưa

có một cơ chế chính thức nào xác nhận một cách rõ ràng cho việc truy cập internet và

25

Kim Mathews,E-Government in the United States: Steps to Advance its Succes, 5/5/2010

http://www.indiana.edu/~spea/pubs/undergradhonors/ /matthews_kimberly.pdf

Trang 38

các dịch vụ băng thông rộng của công dân26 Điều này khiến cho khả năng truy cập các trang thông tin của công dân bị hạn chế

Tỷ lệ truy cập thấp còn do các trang thông tin của Mỹ chưa có sức hút tới công dân Các trang thông tin này chưa lôi kéo được hết sự quan tâm của công dân là bởi vì

sự yếu kém trong việc thiết kế giao diện và khả năng phổ biến dịch vụ của các cơ quan Chính phủ Một công dân có thể mất cơ hội tiếp cận với các dịch vụ hữu ích nếu như

họ không đựơc thông báo “Tiếp thị” các thông tin và dịch vụ sẽ làm cho người dân cảm thấy được sự quan tâm của chính quyền và tăng khả năng tham gia vào công việc của chính phủ hơn Mặt khác, các trang web không thu hút được lượng lớn người dân tham gia là vì những dịch vụ và thông tin được cung cấp không đáp ứng được nguyện vọng của người dân Việc cung cấp các trang thông tin của Mỹ thường là dựa vào khả năng phán đoán của chính phủ chứ không chiếu theo nhu cầu và lợi ích thực tế của công dân Đây cũng là hiện tượng phổ biến tại hầu hết các nước xuất phát từ tính chuyên quyền của cơ quan nhà nước Bởi thế các nhà lãnh đạo không nên áp đặt ý chí chủ quan của mình vào việc triển khai dự án Chính phủ điện tử mà cần khảo sát mong muốn đích thực của người dân để biết công dân mình cần thông tin gì và dịch vụ như thế nào

Một số người dân Mỹ không hài lòng và mất lòng tin vào Chính phủ và điều này cũng dẫn đến tham gia ít hơn vào việc truy cập dịch vụ Chính phủ Năm (2010), hình thức điều tra dân số đã được sửa đổi và thậm chí còn ngắn hơn so với các hình thức trước đây Tuy nhiên, các cuộc thăm dò cho thấy chỉ có khoảng 68% người Mỹ sẽ thực hiện và gửi thông tin điều tra dân số của họ Nhiều người cảm thấy rằng điều tra dân số

26

Kim Mathews,E-Government in the United States: Steps to Advance its Succes, 5/5/2010

http://www.indiana.edu/~spea/pubs/undergradhonors/ /matthews_kimberly.pdf

Trang 39

quá xâm nhập thông tin cá nhân và không thực tế27 Công dân nghi ngại rằng thông tin của họ khi được Chính phủ thu thập thì sẽ bị sử dụng tùy tiện

Thứ hai, các trang thông tin đều nhằm mục đích phục vụ cho các doanh nghiệp và nhu

cầu của khu vực đô thị, còn các vấn đề xuất phát từ nông thôn và những khu vực ít người đã bị bỏ qua Những người Mỹ gốc phi và người gốc Tây ban Nha và các khu vực nông thôn không có khả năng tiếp cận với internet Có thể nói, Chính phủ điện tử

là cách thức quản lý có giá trị rất lớn nhưng Chính phủ điện tử Mỹ thì chưa thực sự đem lại lợi ích tối đa cho các thành phần trong xã hội

Thứ tư, bên cạnh những mối đe dọa cho Chính phủ điện tử xuất phát từ việc công dân

không tin tưởng thì vấn đề an ninh và bảo mật giờ đây trở nên rât bức thiết Một thực tế đáng sợ nhưng là sự thật: tất cả của dữ liệu và hồ sơ chứa dữ liệu của hệ thống chính phủ điện tử và các cổng thông tin đang có nguy cơ bị tấn công và thậm chí sử dụng cho mục đích khủng bố mạng Điều này là đáng báo động trong khi nước Mỹ lại không có một chính sách chính thức hoặc các giao thức để đối phó các mối đe dọa từ Internet

1.5.2 Chính phủ điện tử ở nước Hàn Quốc

1.5.2.1 Sơ lược quá trình phát triển Chính phủ điện tử tại Hàn Quốc

- Khởi đầu của Chính phủ điện tử tại Hàn Quốc:

Vào năm 1967, Ủy ban điều phối phát triển (thuộc Bộ Khoa học và công nghệ - MOST) được thành lập Để thực hiện nhiệm vụ của mình, ban đầu Ủy ban đã cung cấp máy tính cho hầu hết các bộ nghành trong chính phủ Và với việc đưa máy tính như một phần của nỗ lực tự động hóa công việc đã làm cho dự án Chính phủ điện tử của

Trang 40

- Giai đoạn xây dựng cơ sở hạ tầng:

Định hứơng một chính phủ vững mạnh với việc sử dụng CNTT&TT Hàn Quốc đã quyết định xây dựng một mạng thông tin cơ bản của quốc gia (1987-1996) trong đó tập trung vào năm mạng lưới quốc gia quan trọng như: quản trị, tài chính, giáo dục, nghiên

Các đạo luật quan trọng cũng lần lựơt được ra đời như Luật Bảo vệ chưong trình máy tính, đạo luật cung cấp và sử dụng mạng máy tính năm 1986, luật xúc tiến phát triển phần mềm trong năm 1987,…Những năm sau năm 1995 "khung về Luật Khuyến khích tin học" do Quốc hội đưa ra đã trở thành cơ sở cho các chính sách về quản trị tin học và điện tử Cụ thể là Chương trình xúc tiến tin học – Informatization Promotion (1996-1998) nhằm hỗ trợ tin học hóa toàn quốc và xây dựng cổng thông tin tốc độ cao trên phạm vi cả nước được triển khai và đánh dấu bước ngoặt cho sự phát triển Chính phủ điện tử ở Hàn Quốc

- Giai đoạn mở rộng chiến lược Chính phủ điện tử:

Năm 1998 trang chủ chính thức của chính phủ đã lên mạng Internet và các dịch vụ dân

sự, như đăng ký bất động sản trở thành có sẵn Các giám đốc điều hành được bổ nhiệm

và được phân công nhiệm vụ trong công tác chia sẻ thông tin hành chính Trong năm

1999, một kế hoạch Chính phủ điện tử toàn diện được khởi xướng dựa trên những nên tảng đã được thực thi Điển hình là Chương trình đường trục quốc gia Hàn Quốc

Hàn Quốc còn tiến hành xây dựng 11 sáng kiến hữu ích cho chính phủ điện tử trong

30 Korea E-Government , http:// www.korea.gov

31 Young-Jin Shin, E-Government and Universal Administrative Information Service in South Korea, Expert Advisor Ministry of Government Administration and Home Affairs

Ngày đăng: 21/02/2022, 20:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chỉ thị số 58-CT/TW,của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá,ngày 17 tháng 10 năm 2000 Khác
3. Đề án Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005 (ban hành kèm theo Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ) Khác
4. Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2008(Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg ngày 24/3/2008) Khác
5. Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009-2010(Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg ngày 31/3/2009) Khác
6. Nghị định số 64/2007/NĐ-CP Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước Khác
7. Nghị Quyết 49/CP của Chính Phủ về phát triển công nghệ thông tin ban hành ngày 4/8/1993 Khác
8. Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2005 Khác
9. Thông tƣ 26/2009/TT-BTTTT ngày 31/7/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về việc cung cấp thông tin và đảm bảo khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử của cơ quan Nhà nước Khác
10. Báo cáo kiểm toán việc quản lý và sử dụng kinh phí Đề án Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005, Kiểm toán Nhà nước Khác
11. Báo cáo số 64-BC/CNTT ngày 31-5-2007 “Báo cáo tổng kết Đề án Tin học hoá hoạt động của các cơ quan Đảng giai đoạn 2001-2005 (Đề án 47), Ban Chỉ đạo Công nghệ thông tin của cơ quan Đảng Khác
12. Báo cáo ứng dụng công nghệ thông tin 2009, Cục ứng dụng công nghệ thông tin, Bộ thông tin và truyền thông Khác
13. Báo cáo ứng dụng công nghệ thông tin 2010, Cục ứng dụng công nghệ thông tin, Bộ thông tin và truyền thông Khác
14. Báo cáo Vietnam ITC Index 2005, Văn phòng ban chỉ đạo quốc gia về CNTT và Hội tin học Việt Nam, Thanh Hóa, 10/08/2006 Khác
15. Báo cáoVietnam ITC Index 2006, Văn phòng ban chỉ đạo quốc gia về CNTT và Hội tin học Việt Nam Khác
16. Báo cáo Vietnam ITC Index 2007, Văn phòng ban chỉ đạo quốc gia về CNTT và Hội tin học Việt Nam, Hà Nội, 17/12/2007 Khác
17. Báo cáoVietnam ITC Index 2009, Văn phòng ban chỉ đạo quốc gia về CNTT và Hội tin học Việt Nam, Bắc Ninh, 11/2009 Khác
18. Báo cáo Vietnam ITC Index 2010, Văn phòng ban chỉ đạo quốc gia về CNTT và Hội tin học Việt Nam, 8/2010 Khác
19. Emmanuel Cillalana, CNTT&TT cho phát triển chính sách quy trình và quản trị, Bộ giáo trình những kiến thức cơ bản về CNTT&TT cho lãnh đạo trong cơ quan nhà nước học phần 2 Khác
20. Mai anh, Chính phủ điện tử và việc triển khai ở việt nam, ngày 16/08/2005 21. Nag yeon Lee, Ứng dụng Chính phủ điện tử, Bộ giáo trình những kiến thức cơbản về CNTT&TT cho Lãnh đạo trong cơ quan nhà nước, học phần 3 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w