CHUYÊN ĐỀ TƯ VẤN, HỖ TRỢ TRIỂN KHAI, CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ, HÌNH THÀNH CÔNGDÂN ĐIỆNTỬ VÀ, XÂY DỰNG XÃ HỘI, HỌC TẬP TẠI TỈNH LÀO CAI
Trang 1BÁO CÁO TÓM TẮT
CHUYÊN ĐỀ “TƯ VẤN HỖ TRỢ TRIỂN KHAI CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ, HÌNH THÀNH CÔNG DÂN ĐIỆN TỬ VÀ XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP TẠI TỈNH LÀO CAI”
THUỘC DỰ ÁN “NÂNG CAO KHẢ NĂNG SỬ DỤNG MÁY TÍNH
VÀ TRUY NHẬP INTERNET CÔNG CỘNG TẠI VIỆT NAM”
NHÓM CHUYÊN GIA:
Nguyễn Đức Nhật
Bùi Thanh Xuân
Vũ Minh Huệ
Vũ Thị Vân Anh
Phạm Linh Chi
Hà Nội, 07/2016
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
I Giới thiệu dự án và chuyên đề 5
1.Giới thiệu Dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập Internet công cộng tại Việt Nam” 5
2.Giới thiệu chuyên đề “Tư vấn hỗ trợ triển khai chính phủ điện tử, hình thành công dân điện tử và xây dựng xã hội học tập” 5
II Tổng quan chính sách và thực tiễn triển khai CPĐT, hình thành CDĐT và xây dựng XHHT cấp trung ương và địa phương 6
1.Triển khai CPĐT, hình thành CDĐT tại tỉnh Lào Cai 6
2.Xây dựng XHHT ở tỉnh Lào Cai 6
III Tổng quan nguồn lực thông tin và các dịch vụ công liên quan đến CPĐT – CDĐT, các cơ hội tiếp cận thông tin và học tập cho công dân và cộng đồng 7
1 Tổng quan về nguồn lực thông tin và các dịch vụ công liên quan tới CPĐT – CDĐT tại tỉnh Lào Cai 7
2 Các cơ hội tiếp cận thông tin và học tập cho công dân và cộng đồng 9
IV Quá trình xây dựng và triển khai mô hình hỗ trợ CPĐT, hình thành CDĐT và xây dựng XHHT 11
1 Quá trình chọn điểm 11
2 Nội dung và đối tượng tập huấn 11
3.Xây dựng mô hình 12
4 Kết quả thực hiện mô hình 12
5.Những khó khăn và thuận lợi khi triển khai mô hình 13
6.Bài học kinh nghiệm sau giai đoạn đầu triển khai ban đầu 14
V Đánh giá tác động của dự án tại địa phương thực hiện mô hình 15
VI Đề xuất và khuyến nghị và nhân rộng mô hình, duy trì bền vững và nhân rộng mô hình 17
Trang 3DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Tình hình triển khai chính phủ điện tử tại tỉnh Lào Cai thể hiện qua một số tiêu chí của chỉ số ICT 7 Bảng 2: Tình hình triển khai chính phủ điện tử tại tỉnh Lào Cai thể hiện qua một số tiêu chí của chỉ số PARI 8
Trang 5I Giới thiệu dự án và chuyên đề
1 Giới thiệu Dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập Internet công cộng tại Việt Nam”
Dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập Internet công cộng tại Việt Nam” (BMGF-VN) được triển khai trên phạm vi địa lý rộng lớn, mang lại lợi ích cho hệ thống thư viện công cộng và bưu điện văn hóa gồm 1900 điểm phục vụ trải khắp 40 tỉnh thành, trong đó phần lớn là tỉnh kém phát triển, các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa Dự
án không chỉ giới hạn trong phạm vi cung cấp máy tính và các dịch vụ Internet mà còn bao gồm các hoạt động hỗ trợ khác như đào tào, tuyên truyền vận động và nâng cao năng lực cán bộ để đáp ứng nhu cầu của người dùng Vào giai đoạn đầu của dự án , sự xuất hiện của các thư viện công cộng vẫn chưa phổ biến, thậm chí tại một số tỉnh còn không
có thư viện công cộng , trong khi đó, rất nhiều bưu điện văn hóa đã phải đóng cửa hoặc chỉ hoạt động cầm chừng Ngoài ra, tại nhiều địa phương, đặc biệt là vùng nông thôn hay vùng sâu vùng xa, internet chỉ mới được kết nối tại trung tâm thị trấn Cơ sở hạ tầng yếu kém đã gây ra nhiều khó khăn cho quá trình thực hiện dự án Tuy nhiên, dự án đã vượt qua được những khó khăn đó để đạt được thành công và mang lại lợi ích to lớn cho xã hội Dự án BMGF-VN đã tạo nên một sức sống mới cho hoạt động của hệ thống bưu điện văn hóa và hỗ trợ việc hình thành mạng lưới các thư viện công cộng cấp xã, gần đủ để đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân và góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế
-xã hội Số người tới thư viện công cộng, bưu điện văn hóa -xã để sử dụng máy tính và truy nhập internet lần đầu đã tăng lên đáng kể bởi họ bắt đầu quan tâm tới dịch vụ được cung cấp bởi dự án Việc các hộ gia đình mua các thiết bị máy tính cá nhân và đăng ký kết nối Internet cho thấy dấu hiệu tích cực trong việc tiếp cận công nghệ thông tin của người dân
2 Giới thiệu chuyên đề “Tư vấn hỗ trợ triển khai chính phủ điện tử, hình thành công dân điện tử và xây dựng xã hội học tập”
Chuyên đề “Tư vấn hỗ trợ triển khai chính phủ điện tử, hình thành công dân điện tử và xây dựng xã hội học tập” nằm trong khuôn khổ của dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập Internet công cộng tại Việt Nam”, được thực hiện bởi Công ty Nghiên cứu và Phân tích VIETSURVEY dưới sự giám sát và hỗ trợ kỹ thuật của Ban QLDA BMGF Mục đích của chuyên đề là tận dụng các nguồn lực và kết quả của dự án
“Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập internet công cộng tại Việt Nam” để
hỗ trợ, xây dựng mô hình học tập, tạo điều kiện cho người dân được học cách sử dụng máy tính và truy nhập internet cũng như có thêm hiểu biết về chính phủ điện tử - những
kỹ năng cơ bản để trở thành công dân điện tử
Trang 6II Tổng quan chính sách và thực tiễn triển khai CPĐT, hình thành CDĐT và xây dựng XHHT cấp trung ương và địa phương
1 Triển khai CPĐT, hình thành CDĐT tại tỉnh Lào Cai
Trong những năm gần đây, tỉnh Lào Cai đã có những nỗ lực đáng kể trong việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước nhằm đổi mới phương thức quản lý, quy trình điều hành và nâng cao hiệu quả hoạt động, phục vụ nhân dân Về mặt chính sách và hỗ trợ
triển khai, tỉnh đã có văn bản số 35/KH-UBND “Kế hoạch phát triển cổng thông tin điện
tử tỉnh Lào Cai năm 2020” và Quyết định số 33/2009/QĐ-UBND “Ban hành quy chế quản lý và sử dụng hệ thống dịch vụ công trực tuyến trên cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai” do UBND tỉnh Lào Cai ban hành Đồng thời, Lào Cai đẩy mạnh những hành động
thiết thực nhằm xây dựng CPĐT, điển hình là dự án “Thiết kế khung CPĐT và nâng cấp
cổng giao tiếp điện tử” (2007-2010); và dự án “Xây dựng Cổng thông tin điện tử Tỉnh ủy
và các Cổng thành viên” (2014) do Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lào Cai đảm
nhiệm v.v
Theo Báo cáo Chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT Việt Nam (VIETNAM ICT INDEX) do Bộ Thông tin và Truyền thông cùng Hội Tin học Việt Nam công bố, Lào Cai là tỉnh có chỉ số xếp hạng cao trong cả nước (thứ 9 năm 2015, thứ 7 năm 2014 , thứ 5 năm 2013) Ngoài ra, Lào Cai cũng là tỉnh có chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (chỉ số PCI) cao (thứ 3 năm 2014, thứ 17 năm 2013, và thứ 19 năm 2012) Năm 2015, thành phố Lào Cai là một trong 10 thành phố tham gia Chương trình nghiên cứu xây dựng Chỉ số Thành phố Thông minh cho các thành phố mới phát triển của ASEAN
2 Xây dựng XHHT ở tỉnh Lào Cai
“Xây dựng XHHT” luôn là mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước nhằm thực hiện đổi mới tư duy về giáo dục Tại Lào Cai, Kế hoạch số 70/KH-UBND về việc triển khai đề án
“ Đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời trong các thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa,
câu lạc bộ trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2015-2020”; hay Chỉ thị số
07/2010/CT-UBND “Về việc tăng cường công tác đào tạo nghề, nâng cao chất lượng dạy và học
nghề đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh Lào Cai” là những bằng chứng rõ ràng về quan tâm của Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể cũng như sự nỗ lực của Hội Khuyến học các cấp tỉnh Lào Cai Nhờ đó, các phong trào khuyến học, khuyến tài xây dựng XHHT tại tỉnh đã có sự phát triển mạnh mẽ Phong trào “Gia đình hiếu học”, “Dòng họ hiếu học”, “Xây dựng gia đình học tập”, “Xây dựng cộng đồng học tập” phát triển rộng khắp
Tuy nhiên, có một thực tế là giữa các phong trào xã hội học tập kể trên chưa có sự gắn kết giữa việc ứng dụng máy tính/Internet với việc giới thiệu các dịch vụ CPĐT đến công dân học tập thông qua các cơ hội học tập trong cộng đồng và các thiết chế văn hóa cơ sở (BĐVHX, TVCC, nhà văn hóa v.v.)
Trang 7III Tổng quan nguồn lực thông tin và các dịch vụ công liên quan đến CPĐT – CDĐT, các cơ hội tiếp cận thông tin và học tập cho công dân và cộng đồng
1 Tổng quan về nguồn lực thông tin và các dịch vụ công liên quan tới CPĐT – CDĐT tại tỉnh Lào Cai
Mức độ sẵn sàng cho công tác triển khai CPĐT-CDĐT
Số liệu thống kê cho thấy từ năm 2013 tới nay, Lào Cai có nguồn lực và nền tảng công nghệ thông tin sẵn sàng cho công tác triển khai CPĐT-CDĐT Cụ thể, theo đánh giá của VietnamICT Index1,tỉnh Lào Cai luôn nằm trong nhóm các tỉnh, thành phố có độ sẵn sàng
ở mức khá Xét trong 03 năm trở lại đây, chỉ số tổng hợp của tỉnh này luôn nằm trong top 10 tỉnh/thành phố Đặc biệt chỉ số về môi trường chính sách cho công nghệ thông tin luôn dẫn đầu cả nước từ năm 2013 đến nay
Bảng 1: Tình hình triển khai chính phủ điện tử tại tỉnh Lào Cai thể hiện qua một số tiêu chí của chỉ số ICT
(1) (2) (3) (4) (5) ICT Index Mức độ
sẵn sàng
(1) (2) (3) (4) (5) ICT Index Mức độsẵn sàng
(Bộ TTTT, 2015)
Ghi chú: Tên gọi của các cột chỉ tiêu
(1) Chỉ số hạ tầng kỹ thuật CNTT
(2) Chỉ số hạ tầng nhân lực CNTT
(3) Chỉ số ứng dụng CNTT
truyền thông Việt Nam (Vietnam ICT Index)
Trang 8(4) Chỉ số sản xuất-kinh doanh CNTT
(5) Chỉ số môi trường tổ chức – chính sách cho CNTT
Lào Cai đã xây dựng và vận hành một hệ thống chính phủ điện tử trên cơ sở khung chính phủ điện tử liên kết của Microsoft Sở TTTT đã tham mưu UBND tỉnh Lào Cai phê
duyệt, triển khai dự án “Thiết kế khung chính phủ điện tử đa phương tiện và Nâng cấp
cổng giao tiếp điện tử tỉnh Lào Cai” Lào Cai là tỉnh đầu tiên triển khai và xây dựng
thành công mô hình khung chính phủ điện tử liên kết – CGF (Connected Government Framework) của Microsoft để triển khai thực hiện dự án Khung chính phủ điện tử của mình
Cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai được xây dựng dựa trên sản phẩm Microsoft Sharepoint Server 2007, có cấu trúc theo mô hình phân cấp: Cổng chính (cấp cao nhất) và các cổng thành viên của các đơn vị trong hệ thống chính quyền, cho phép người sử dụng truy cập qua trình duyệt web cũng như qua điện thoại thông minh Việc thông tin trên hệ thống cổng TTĐT của tỉnh và 39 cổng thành viên thường xuyên cập nhật cũng góp phần minh bạch hóa thông tin
Ngay từ năm 2007, Lào Cai đã xây dựng chuyên mục Hỏi đáp giúp người dân, Doanh nghiệp trao đổi, Hỏi đáp trực tuyến giữa người dân với các cơ quan nhà nước của tỉnh2
Từ đó đến nay, Lào Cai liên tục cập nhập, đổi mới và nâng cấp hệ thống CPĐT của mình qua các dự án như: Dự án phát triển hạ tầng CNTT Lào Cai (2011); Dự án Xây dựng hệ thống một cửa liên thông điện tử (2014 – 2015); Dự án xây dựng Cổng thông tin điện tử Tỉnh ủy và các cổng thành viên (2014) Năm 2015, đáng ghi nhận là tỉnh Lào Cai đã triển khai xây dựng chuyên trang Đối thoại trực tuyến giữa người dân, doanh nghiệp với lãnh đạo các sở, ngành, huyện, thành phố bằng hình thức đối thoại trực tuyến trên Cổng TTĐT tỉnh
Những tồn tại trong việc triển khai mô hình CPĐT- CDĐT
Các công bố về chỉ số PARI của Bộ Nội Vụ cho thấy tỉnh Lào Cai đã đạt được những kết quả đáng kể trong việc cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa hành chính, tuy nhiên, quy chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông vận hành chưa thực sự hiệu quả Lào Cai nằm trong nhóm 10 tỉnh đứng cuối khi xét tới tiêu chí “Thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông” qua từng năm
Bảng 2: Tình hình triển khai chính phủ điện tử tại tỉnh Lào Cai thể hiện qua một số tiêu chí của chỉ số PARI
Cải cách thủ tục hành
2 http://laocai.gov.vn/Trang/chuyenmuchoidap.aspx
Trang 9Hiện đại hóa hành
Thực hiện cơ chế một
cửa, cơ chế một cửa
(Nguồn: Công bố Chỉ số Cải cách Hành chính của Bộ Nội vụ, 2015)
2 Các cơ hội tiếp cận thông tin và học tập cho công dân và cộng đồng
Các cơ hội tiếp cận thông tin và học tập cho công dân và cộng đồng tại Lào Cai thông qua hệ thống hành chính công trực tuyến còn tương đối hạn chế Cho tới thời điểm hiện này, thiết kế của cổng chính phủ điện tử vẫn chủ yếu dành nhiều cơ hội cho nhóm cơ quan nhà nước và doanh nghiệp
Theo lãnh đạo sở TTTT tỉnh Lào Cai, có hai nguyên nhân chính dẫn tới sự hạn chế cơ hội đối với cộng đồng Thứ nhất, với đặc điểm dân cư 70% người dân là dân tộc thiểu số, trình độ tương đối thấp thì việc tiếp cận công nghệ thông tin còn gặp nhiều khó khăn Do
đó, việc tiếp cận các dịch vụ công trực tuyến sẽ là trở ngại đối với nhóm đối tượng này Chưa kể việc yêu cầu người dân phải đăng ký tài khoản công dân trực tuyến trước khi giao dịch, sử dụng các dịch vụ này gây nhiều khó khăn về mặt kỹ thuật, quy trình và tâm
lý cho người tham gia
Nguyên nhân thứ hai liên quan tới truyền thông đại chúng Qua khảo sát và tiếp xúc với người dân, nhóm tư vấn nhận thấy người dân hầu hết chưa biết đến các dịch vụ công trực tuyến hoặc có những hiểu biết rất hạn chế về vấn đề này Với tâm lý e ngại, không an tâm khi đăng ký thủ tục hành chính công qua Internet, nhiều người dân vẫn mong muốn được thực hiện thủ tục hành chính trực tiếp tại trụ sở chính quyền hay cơ quan liên quan Đây cũng là một trong những yếu tố cản trở việc triển khai chính phủ điện tử, xây dựng công dân điện tử tại địa phương
Đối với nhóm doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước, tỉnh Lào Cai đã có những thành quả đáng ghi nhận trong việc triển khai các dịch vụ công cho nhóm đối tượng này: (i) hệ thống một cửa liên thông điện tử, (ii) hệ thống thư điện tử, (iii) hệ thống quản lý văn bản
và hồ sơ công việc
Ngoài ra, theo báo cáo độc lập của Bộ TTTT, 2015 công bố tính đến năm 2015, tỉnh Lào Cai có 21 dịch vụ công trực tuyến mức 3 và 02 dịch vụ công mức 4 Tuy nhiên, trao đổi với lãnh đạo Sở TTTT tỉnh Lào Cai, nhóm nghiên cứu được biết đối tượng phục vụ chính của dịch vụ công trực tuyến vẫn là các cơ quan, doanh nghiệp, ít hướng tới người dân do hiệu quả của nhóm đối tượng này không cao Báo cáo này còn cho biết, mặc dù hệ thống
Trang 10dịch vụ công tại tỉnh Lào Cai đã cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến nhưng việc cung cấp dịch vụ này cho người dân còn gặp nhiều hạn chế Tuy người dân hoàn toàn có thể sử dụng dịch vụ công ở mức 1: tra cứu thông tin về các thủ tục hành chính công qua cổng thông tin điện tử của tỉnh nhưng qua kiểm tra thực tế, khả năng khai thác, sử dụng các ứng dụng trong thực tế tại cấp Sở, huyện còn hạn chế: các đơn từ/biểu mẫu chưa được cập nhật đầy đủ cho một số thủ tục hành chính công trực tuyến, các dịch vụ công mức 3
và 4 chưa hướng đến đối tượng là người dân địa phương
Trang 11IV Quá trình xây dựng và triển khai mô hình hỗ trợ CPĐT, hình thành CDĐT và xây dựng XHHT.
1 Quá trình chọn điểm
Quá trình chọn điểm để triển khai mô hình hỗ trợ được tiến hành dựa trên hai nguồn thông tin chính là tham vấn ý kiến các bên liên quan tại địa phương và kết quả khảo sát đầu vào được tiến hành trên địa bàn tỉnh Lào Cai Từ đó, chọn ra 04 điểm TCMTCC của
dự án BMGF-VN để triển khai mô hình, bao gồm Thư viện tỉnh Lào Cai, Thư viện huyện Bảo Yên, Thư viện xã Nghĩa Đô (thuộc huyện Bảo Yên) và BĐVHX Tân Dương (thuộc huyện Bảo Yên)
Cả 04 điểm trên đều có cơ sở vật chất (phòng truy cập máy tính, máy tính, các thiết bị liên quan, internet, bàn ghế, ánh sáng …) tương đối tốt và phù hợp cho việc triển khai các hoạt động của chuyên đề; vị trí địa lý tương đối thuận tiện cho người dân địa phương tiếp cận; có cán bộ phụ trách điểm đã qua đào tạo; có sự hỗ trợ của giáo viên các trường trên địa bàn; được lãnh đạo và chính quyền địa phương cam kết ủng hộ; có số giờ truy cập internet ổn định Bên cạnh đó, đa số người sử dụng của 4 điểm này còn hiểu biết sơ sài hoặc thậm chí không biết tới sự tồn tại của các dịch vụ công, các hoạt động liên quan tới chính phủ điện tử, công dân điện tử và xã hội học tập trên internet Về đặc trưng riêng, thư viện tỉnh Lào Cai và thư viện huyện Bảo Yên đều có đối tượng người sử dụng đông đảo, có kiến thức và kỹ năng nhất định về máy tính và internet nhưng lại ít quan tâm tới việc sử dụng máy tính và internet tại thư viện Trong khi đó, thư viện xã Nghĩa Đô và BĐVHX Tân Dương có đa số đối tượng phục vụ là nông dân, những người không có điều kiện kinh tế và đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm số lượng lớn
2 Nội dung và đối tượng tập huấn
Nội dung tập huấn gồm 03 phần
(1) Kỹ năng tin học cơ bản
(2) Kỹ năng căn bản về tìm kiếm và đánh giá thông tin trên internet, tập trung vào nhu cầu của người dân địa phương (tìm hiểu trong quá trình khảo sát đầu kỳ), bao gồm cấp thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện cho nhân dân, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp, đổi, tách hộ khẩu
(3) Phổ biến kiến thức về Chính phủ điện tử
Thời lượng cho từng nội dung thay đổi theo trình độ và nhu cầu của học viên từng lớp, chú trọng vào thực hành và theo nhu cầu thực tế của học viên