1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng gốc pháp luật hải quan

296 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 296
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Pháp luật hải quan là lĩnh vực pháp luật quy định quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá

Trang 1

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

Đồng chủ biên: TS Hoàng Thị Giang

TS Tô Mai Thanh

Bài giảng gốc

PHÁP LUẬT HẢI QUAN

NHÀ XUẤT BẢN TÀI CHÍNH

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Pháp luật hải quan là lĩnh vực pháp luật quy định quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong lãnh thổ hải quan, đồng thời pháp luật hải quan cũng quy định về tổ chức và hoạt động của hải quan với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện quản lý nhà nước về hải quan Do vậy, bài giảng gốc môn học Pháp luật hải quan dành cho sinh viên chuyên ngành Kinh tế - Luật và các chuyên ngành khác tại Học viện Tài chính nhằm cung cấp kiến thức cơ bản và chuyên sâu về pháp luật hải quan, là tài liệu giảng dạy và học tập tại Học viện Tài chính

Bài giảng gốc môn học: Pháp luật hải quan do TS Hoàng Thị Giang và TS Tô Mai Thanh đồng chủ biên cùng với các giảng viên của bộ môn và đặc biệt có sự tham gia của PGS TS Nguyễn Thị Thương Huyền Trưởng khoa Thuế - Hải quan; ThS Phùng Thị Bích Hường - Vụ trưởng

Trang 4

Vụ pháp chế, Tổng cục Hải quan; ThS Hoàng Thị Thủy - Phó trưởng phòng 2, Tổng cục Hải quan Cụ thể:

 PGS TS Lê Thị Thanh - Biên soạn chương 1;

 TS Phạm Thị Hồng Nhung - Biên soạn chương 2;

 TS Hoàng Thị Giang, TS Tô Mai Thanh và ThS Hoàng Thị Thủy - Phó trưởng phòng 2, Tổng cục Hải quan - Biên soạn chương 3;

 PGS TS Nguyễn Thị Thương Huyền và ThS NCS Nguyễn Hương Ly - Biên soạn chương 4 và chương 5

Nhóm biên soạn rất mong nhận được sự đóng góp của các nhà khoa học, các nhà quản lý, các giảng viên trong và ngoài học viện để bài giảng được chỉnh sửa và hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 8 năm 2017

Ban Quản lý Khoa học Học viện Tài chính

Trang 5

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT HẢI QUAN

1.1 Khái quát về pháp luật hải quan

1.1.1 Sự cần thiết phải quản lý các hoạt động hải quan bằng pháp luật

Hải quan có lịch sử tồn tại và phát triển cùng sự tồn tại và phát triển của Nhà nước Theo Công ước Kyoto: Hải quan là cơ quan của Chính phủ chịu trách nhiệm thi hành Luật hải quan, thu thuế hải quan và thu thuế khác Đồng thời cũng chịu trách nhiệm thi hành các luật lệ khác có liên quan đến xuát khẩu, nhập khẩu, vận chuyển hay lưu kho hàng hóa

Ở Việt Nam hiện nay, Hải quan là cơ quan nhà nước,

có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; thống

kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Luật hải quan và quy định khác của pháp luật có liên quan; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập

Trang 6

cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

Hoạt động hải quan ngày đa dạng và phức tạp, bao gồm các hoạt động chủ yếu sau: hoạt động kiểm tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

Trong bất kỳ điều kiện nào (đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế), các hoạt động hải quan phải được quản lý bằng pháp luật, xuất phát từ những lý do cơ bản sau đây:

+ Từ sự tồn tại khách quan của Hải quan và tính chất phức tạp của hoạt động hải quan

Để tồn tại và phát triển thì các quốc gia đều phải thiết lập rất nhiều các mối quan hệ với các quốc gia khác, trong

đó không chỉ là mối quan hệ giữa Nhà nước với nhà nước

mà còn bao gồm cả những mối quan hệ giữa Nhà nước với

tổ chức, cá nhân hoặc giữa các cá nhân, tổ chức với nhau ở

Trang 7

các quốc gia khác nhau, trong đó quan hệ thương mại quốc

tế là quan hệ phổ biến nhất và ngày càng phát triển

Trong thời đại ngày nay, lợi thế so sánh trong việc sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ ở mỗi quốc gia khác nhau là không giống nhau (do môi trường chính trị - xã hội, môi trường kinh doanh, vị trí địa – chính trị, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động; do ảnh hưởng và tác động trực tiếp của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ…) đã thúc đẩy quá trình phân công lao động khu vực

và thế giới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, nâng cao năng lực cạnh tranh và quốc tế hóa nền kinh tế Do đó, hoạt động thương mại quốc tế nói chung, hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh hàng hóa, phương tiện vận tải nói riêng không những là hoạt động khách quan diễn ra thường xuyên hơn mà ngày càng phát triển đa dạng và luôn chứa đựng những tính chất phức tạp Tính khách quan, đa dạng, phức tạp của các hoạt động trên cho thấy tính tồn tại khách quan của Hải quan và cũng

từ tính chất phức tạp của hoạt động hải quan, đòi hỏi tổ chức, hoạt động của hải quan phải được điều chỉnh bằng pháp luật

Ở mỗi quốc gia đều có hệ thống cơ quan hải quan của mình, song để điều hòa hoạt động hải quan của hải quan các nước, Tổ chức Hải quan thế giới (World Customs

Trang 8

Organization - WCO) đã được thành lập (Trước kia là Hội đồng Hợp tác Hải quan (CCC)

Tính chất phức tạp của hoạt động hải quan xuất phát từ tính chất phức tạp của hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh hàng hóa, phương tiện vận tải,…

Các chủ thể tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh là rất đa dạng, với các nhu cầu, mục đích khác nhau và liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau Mặt khác, quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa phản ảnh

sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ riêng biệt của các quốc gia khác nhau trên thế giới Hàng hóa được cung cấp rất phong phú bởi những chủ thể kinh doanh chịu sự tác động của các quy luật khách quan, đòi hỏi phải được quản lý thông qua hoạt động hải quan Để quản lý thì cần phải có hoạt động hải quan và chính các hoạt động hải quan phải được điều chỉnh bằng pháp luật

Tóm lại, Hải quan tồn tại, phát triển là khách quan và hoạt động hải quan không những là cần thiết mà còn luôn chức đựng trong nó tính chất phức tạp, do vậy phải được

Trang 9

quản lý bằng pháp luật để Hải quan thực hiện được chức nãng, nhiệm vụ của mình thì từ việc tổ chức hệ thống cõ quan hải quan đến thẩm quyền của Hải quan phải được pháp luật quy định Các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động hải quan phải được điều chỉnh bằng pháp luật

+ Bảo đảm thực hiện chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, khoa học và công nghệ, hợp tác và giao lưu quốc tế

Trên cơ sở đường lối phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, khoa học và công nghệ, hợp tác và giao lưu quốc tế của Đảng, Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khẳng định:

- Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Điều 50);

- Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo (Khoản 1, Điều 51);

Trang 10

- Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền

văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu

tinh hoa văn hóa nhân loại (Điều 60);

- Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và

điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ

và tiến bộ xã hội trên thế giới (Điều 12)

Để thực hiện các chính sách của nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, khoa học và công nghệ, hợp tác và giao lưu quốc tế thì Hải quan có vai trò quan trọng, thông qua hoạt động hải quan mà Nhà nước không những quản lý được các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh mà còn thúc đẩy các hoạt động

đó phát triển Để Hải quan thực sự là công cụ góp phần vào quá trình phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, khoa học

Trang 11

và công nghệ, hợp tác và giao lưu quốc tế thì các hoạt động hải quan phải được quản lý bằng pháp luật

+ Bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật (Khoản 1, Điều 14 Hiến pháp 2013)

Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế thì các quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh hàng hóa, phương tiện vận tải ngày càng phát triển và ngày càng đa dạng, phức tạp, liên quan đến nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau, liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân ở các quốc gia, vùng lãnh thổ Mặt khác, khi tham gia vào các quan hệ quốc tế, các bên chủ thể (Nhà nước, tổ chức, cá nhân) đều nhằm đạt tới mục tiêu nhất định, không đồng nhất với nhau Từ đó, để Hải quan thực

sự là công cụ góp phần bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khi tham gia các quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh thì các hoạt động hải quan phải được quản lý bằng pháp luật

Trang 12

Bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ lợi ích chủ quyền kinh tế

và an ninh quốc gia, một mặt bảo vệ và thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển, mặt khác thúc đẩy giao lưu kinh tế quốc tế, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, Hải quan còn thực hiện nhiệm vụ chống buôn lậu và gian lận thương mại, tổ chức thực hiện thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu góp phần bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Do vậy, để Hải quan thực sự là công cụ của Nhà nước góp phần bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân thì hoạt động hải quan không chỉ ở cửa khẩu biên giới và hoạt động dọc biên giới mà còn phải hoạt động cả trong nội địa, ở tất cả những nơi có nhu cầu, hoạt động hải quan không chỉ cần phối hợp với các lực lượng trong nước khi thực thi nhiệm vụ mà còn phải phối hợp với các tổ chức Hải quan quốc tế và khu vực

Để giải quyết được những vấn đề trên, các hoạt động hải quan phải được quản lý bằng pháp luật

+ Từ các thuộc tính của pháp luật

Với những thuộc tính riêng có (tính quy phạm phổ biến, tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức, tính được bảo đảm bằng Nhà nước) pháp luật đã có một vai trò

Trang 13

không thể thiếu trong quản lý của Nhà nước đối với đời sống kinh tế - xã hội nói chung, đối với hoạt động hải quan nói riêng Sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động hải quan là cần thiết và chỉ có thể được thực hiện và phát huy vai trò khi được xác lập dưới những hình thức pháp luật thống nhất và được bảo đảm bằng một cơ chế pháp lý thích ứng Thông qua sự tác động của pháp luật tới các quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh đã thực sự mang lại cho nhà nước những khả năng và phạm vi

rộng lớn để thực thi các đường lối, chính sách về phát triển

kinh tế, văn hóa xã hội, khoa học và công nghệ, hợp tác và giao lưu quốc tế Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cũng đã ghi nhận “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã

hội bằng Hiến pháp và pháp luật,…” (Khoản 1, Điều 8)

1.1.2 Khái niệm pháp luật hải quan

1.1.2.1 Khái niệm

Pháp luật hải quan là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác lập và bảo đảm sự quản lý của Nhà nước về hải quan, tổ chức hệ thống cơ quan hải quan và điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động hải quan

Trang 14

Các quy phạm pháp luật về hải quan có mối liên hệ thống nhất nội tại, đồng thời cũng là sự phân chia thành các nhóm chế định pháp luật và được thể hiện dưới những hình thức nhất định

Các nhóm chế định pháp luật chủ yếu về hải quan bao gồm:

+ Pháp luật về thủ tục hải quan;

+ Pháp luật về kiểm tra, giám sát hải quan;

+ Pháp luật về tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

+ Pháp luật về quản lý hải quan và tổ chức hải quan

1.1.2.2 Phạm vi điều chỉnh của pháp luật hải quan

Pháp luật hải quan điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác lập và bảo đảm sự quản lý của Nhà nước về hải quan, tổ chức hệ thống cơ quan hải quan

và điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động hải quan Với giới hạn như vậy thì phạm vi điều chỉnh của pháp luật hải quan bao gồm:

+ Các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác lập và bảo đảm sự quản lý của Nhà nước về hải quan (quản

lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh)

Trang 15

+ Các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động hải quan (hoạt động kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu)

Các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác lập

và bảo đảm sự quản lý của Nhà nước về hải quan hoặc các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động hải quan thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật hải quan có các đặc điểm chủ yếu sau:

+ Các bên chủ thể tham gia có địa vị pháp lý bất bình đẳng (có tính thứ bậc), trong đó ít nhất một bên chủ thể được Nhà nước trao quyền, nhân danh quyền lực nhà nước thực thi chức năng, nhiệm vụ công;

+ Các quan hệ này đều liên quan đến lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng

1.1.2.3 Phương pháp điều chỉnh của pháp luật hải quan

Phương pháp điều chỉnh của pháp luật hải quan phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm của các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động hải quan và phụ thuộc vào địa vị pháp

Trang 16

lý của các chủ thể tham gia vào hoạt động hải quan đồng thời căn cứ vào mục đích điều chỉnh của Nhà nước

Điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ hải quan, Nhà nước sử dụng phương pháp điều chỉnh là phương pháp mệnh lệnh

Phương pháp mệnh lệnh là phương pháp mà pháp luật hải quan sử dụng, bởi đối tượng điều chỉnh của pháp luật hải quan là quan hệ công

Pháp luật hải quan sử dụng phương pháp mệnh lệnh

để điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh, trong đó một bên chủ thể là cơ quan hải quan – nhân danh quyền lực nhà nước, tham gia với tư cách chủ thể quyền lực chính trị (quyền lực công) và dựa vào quyền lực chính trị để thiết lập và thực hiện các quyền và nghĩa

vụ pháp lý

Nội dung của phương pháp mệnh lệnh được thể hiện

ở chỗ, một bên chủ thể có quyền ra các quyết định thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật mà không cần có sự thỏa thuận của chủ thể bên kia (tổ chức,

cá nhân tham gia quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh)

Trang 17

1.2 Nội dung chủ yếu của pháp luật hải quan

1.2.1 Xác lập và bảo đảm sự quản lý của Nhà nước

về hải quan và quy định về tổ chức Hải quan

1.2.1.1 Xác lập và bảo đảm sự quản lý của Nhà nước

về hải quan

+ Khái niệm quản lý nhà nước về hải quan

Quản lý nhà nước về hải quan là sự tác động có tổ chức, bằng pháp quyền và thông qua một hệ thống các chính sách với các công cụ quản lý lên quá trình tổ chức, hoạt động của cơ quan hải quan và các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong quá trình phát triển của đất nước

Quản lý nhà nước về hải quan là sự tác động của Nhà nước đối với các chủ thể tham gia vào các hoạt động hải quan bằng các phương pháp và nội dung do pháp luật quy định, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh Trên cơ

sở đó mà đạt được các mục tiêu của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, khoa học và công nghệ, hợp tác và giao lưu quốc tế, đồng thời nhằm bảo vệ chủ quyền

và an ninh quốc gia, lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

Trang 18

Quản lý nhà nước về hải quan có một số đặc điểm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất: Chủ thể quản lý là Nhà nước, thông qua

các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Các cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước có thể trực tiếp, có thể tham gia vào quá trình quản lý nhà nước về hải quan Theo Hiến pháp 2013 và Luật hải quan 2014, các cơ quan trực tiếp thực hiện các nội dung quản lý nhà nước

về hải quan, bao gồm:

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hải quan

- Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hải quan

- Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính trong việc quản lý nhà nước về hải quan

- Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật về hải quan tại địa phương

Thứ hai: Đối tượng bị quản lý là các quan hệ phát

sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động của cơ quan hải quan và các quan hệ phát sinh trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh hàng hóa,

Trang 19

phương tiện vận tải của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

Thứ ba: Quản lý nhà nước về hải quan mang tính

quyền lực nhà nước và là quản lý hành chính Bởi vì: chủ thể quản lý là cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoạt động quản lý nhân danh quyền lực nhà nước (mang tính chất công quyền)

Quản lý nhà nước về hải quan là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, do cơ quan quản lý nhà nước về hải quan thực hiện bằng thủ tục hành chính

Thứ tư: Công cụ quản lý: pháp luật, chiến lược, quy

hoạch, kế hoach, các công cụ, phương tiện kỹ thuật hiện đại,…Trong đó trước hết và chủ yếu là pháp luật

+ Nội dung quản lý nhà nước về hải quan

Nội dung quản lý nhà nước về hải quan bao gồm:

- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển Hải quan Việt Nam;

- Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về hải quan;

- Hướng dẫn, thực hiện và tuyên truyền pháp luật về hải quan;

Trang 20

- Quy định về tổ chức và hoạt động của Hải quan;

- Đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ công chức hải quan;

- Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, phương pháp quản lý hải quan hiện đại;

- Thống kê nhà nước về hải quan;

- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và

xử lý vi phạm pháp luật về hải quan;

- Hợp tác quốc tế về hải quan (Bao gồm: Đàm phán,

ký, tổ chức thực hiện điều ước quốc tế và thỏa thuận quốc

tế về hải quan; Tổ chức khai thác, trao đổi thông tin và hợp tác nghiệp vụ với Hải quan các nước, các tổ chức quốc tế

có liên quan; Cử công chức hải quan Việt Nam ra nước ngoài và tiếp nhận công chức hải quan nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện các hoạt động nghiệp vụ hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan, điều ước quốc tế

mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc thỏa thuận quốc tế đã ký kết; Thực hiện quyền, nghĩa

vụ và lợi ích của Nhà nước Việt Nam tại Tổ chức Hải quan thế giới, các tổ chức quốc tế có liên quan về hải quan, các nước và vùng lãnh thổ

Trang 21

1.2.1.2 Quy định về tổ chức của hải quan

+ Nguyên tắc tổ chức của Hải quan Việt Nam

- Hải quan Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất;

- Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan thống nhất quản

lý, điều hành hoạt động của Hải quan các cấp; Hải quan cấp dưới chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hải quan cấp trên

+ Hệ thống tổ chức hải quan Việt Nam

Hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam gồm có:

Tổng cục Hải quan:

Tổng cục Hải quan là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về hải quan và tổ chức thực thi pháp luật về hải quan

Tổng cục Hải quan có tư cách pháp nhân, con dấu hình Quốc huy, tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước và trụ sở tại thành phố Hà Nội

Lãnh đạo Tổng cục Hải quan: Tổng cục trưởng và các Phó tổng cục trưởng

Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc Tổng cục Hải quan

Trang 22

Các Chi cục Hải quan, Đội Kiểm soát Hải quan và đơn vị tương đương thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Việc thành lập, sáp nhập, giải thể các Chi cục Hải quan, Đội Kiểm soát Hải quan và đơn vị tương đương do

Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định

+ Đại lý làm thủ tục hải quan

Đại lý làm thủ tục hải quan là thương nhân thay mặt người có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện trách nhiệm của người khai hải quan theo quy định của pháp luật

và thực hiện các công việc khác về thủ tục hải quan theo thỏa thuận trong hợp đồng

Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quyết định việc công nhận, tạm dừng, chấm dứt hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan; cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan; cấp

và thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan Đại lý làm thủ tục hải quan và nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan thực hiện quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan quy định của pháp luật

+ Công chức hải quan

Công chức hải quan là người có đủ điều kiện được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong

Trang 23

cơ quan hải quan; được đào tạo, bồi dưỡng và quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức Chế độ phục vụ, chức danh, tiêu chuẩn, lương, phụ cấp thâm niên, chế độ đãi ngộ khác đối với công chức hải quan, hải quan hiệu, cờ hiệu, cấp hiệu, trang phục, giấy chứng minh hải quan theo quy định của Chính phủ

Nhiệm vụ và quyền hạn của công chức hải quan:

- Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, quy trình nghiệp vụ hải quan và chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình

- Hướng dẫn người khai hải quan, tổ chức, cá nhân

có liên quan khi có yêu cầu

- Thực hiện kiểm tra, giám sát hải quan; giám sát việc

mở, đóng, chuyển tải, xếp dỡ hàng hoá tại địa điểm làm thủ tục hải quan và địa điểm kiểm tra hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật về hải quan thì yêu cầu chủ hàng hoá, chủ phương tiện vận tải, người chỉ huy, người điều khiển phương tiện vận tải hoặc người được uỷ quyền thực hiện các yêu cầu để kiểm tra, khám xét hàng hoá, phương tiện vận tải theo quy định của Luật hải quan và pháp luật về xử

lý vi phạm hành chính

Trang 24

- Lấy mẫu hàng hoá với sự có mặt của người khai hải quan để cơ quan hải quan phân tích hoặc trưng cầu giám

định phục vụ kiểm tra hải quan

- Yêu cầu người khai hải quan cung cấp thông tin, chứng từ liên quan đến hàng hoá để xác định đúng mã số, xuất xứ, trị giá hải quan của hàng hoá

- Yêu cầu người chỉ huy, người điều khiển phương tiện vận tải đi đúng tuyến đường, đúng thời gian, dừng đúng nơi quy định

- Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

Hành vi bị nghiêm cấm đối với công chức hải quan:

- Gây phiền hà, khó khăn trong việc làm thủ tục hải quan;

- Bao che, thông đồng để buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại, gian lận thuế;

- Nhận hối lộ, chiếm dụng, biển thủ hàng hoá tạm giữ hoặc thực hiện hành vi khác nhằm mục đích vụ lợi;

- Hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan

Trang 25

1.2.1.3 Nhiệm vụ, trách nhiệm, thẩm quyền của cơ quan hải quan

+ Nhiệm vụ của cơ quan hải quan

- Thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải;

- Phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới (Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan hải quan các cấp tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; Cơ quan hải quan các cấp được thành lập đơn vị chuyên trách để thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.)

- Tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;

- Thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật;

- Kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước

về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;

- Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật

Trang 26

+ Trách nhiệm của cơ quan hải quan

- Cơ quan hải quan có trách nhiệm chủ trì, phối hợp

chặt chẽ với các cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan, đơn

vị vũ trang nhân dân thực hiện pháp luật về hải quan

- Trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra hàng hoá, phương tiện vận tải

- Trách nhiệm của cơ quan hải quan trong hoạt động giám sát hải quan: Cơ quan hải quan thực hiện các phương thức giám sát phù hợp tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và bảo đảm quản lý hải quan đối với hàng hóa theo quy định của Luật hải quan; Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật bảo đảm giám sát hải quan theo quy định của Luật hải quan; Hướng dẫn, kiểm tra việc tuân thủ các quy định về giám sát hải quan của người khai hải quan, doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi, cơ sở sản xuất hàng hóa xuất khẩu

và các bên có liên quan

- Trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc thực hiện chế độ ưu tiên: Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan xét, công nhận, gia hạn, tạm đình chỉ, đình chỉ việc áp

Trang 27

dụng chế độ ưu tiên cho doanh nghiệp; Cơ quan hải quan các cấp có trách nhiệm:

Kiểm tra, giám sát, đánh giá sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp;

Hướng dẫn doanh nghiệp về chính sách, quy định của pháp luật về thuế và hải quan

- Trách nhiệm của cơ quan hải quan trong kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu Cơ quan hải quan có trách nhiệm:

Kiểm tra cơ sở gia công, sản xuất; năng lực gia

công, sản xuất của tổ chức, cá nhân nhập khẩu nguyên

liệu, vật tư để gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu; Kiểm tra việc sử dụng nguyên liệu, vật tư nhập khẩu trong quá trình gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu,

kiểm tra số lượng hàng hoá tồn kho của tổ chức, cá nhân

gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu;

Kiểm tra việc quyết toán, quản lý, sử dụng nguyên liệu, vật tư của tổ chức, cá nhân nhập khẩu nguyên liệu, vật tư để sản xuất, gia công hàng hóa xuất khẩu

Trang 28

- Trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc tổ chức thu thuế và các khoản thu khác

Tổng cục Hải quan tổ chức thực hiện thống nhất việc thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; việc áp dụng các biện pháp để bảo đảm thu đúng, thu đủ thuế và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và quy định khác của pháp luật có liên quan

Cơ quan hải quan nơi làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá theo chức năng và thẩm quyền được phân cấp kiểm tra việc kê khai, tính thuế; thực hiện miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế, ấn định thuế, gia hạn, xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với người khai hải quan; thu thuế, các khoản thu khác và quản

hoá qua biên giới

Trang 29

Trường hợp hàng hoá, phương tiện vận tải đã đưa ra ngoài phạm vi địa bàn hoạt động hải quan mà cơ quan nhà nước hữu quan có căn cứ cho rằng có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới thì theo thẩm quyền, cơ quan đó thực hiện việc kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật; cơ quan hải quan có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan thực hiện các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới

Đối với hàng hóa chịu sự giám sát hải quan đang vận chuyển trên các tuyến đường, cơ quan hải quan có trách nhiệm giám sát bằng các biện pháp nghiệp vụ hải quan; khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật thì cơ quan hải quan chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật

- Cơ quan hải quan tiếp nhận, đăng ký, kiểm tra hồ

sơ hải quan ngay sau khi người khai hải quan nộp, xuất trình hồ sơ hải quan theo quy định của Luật hải quan

Cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa vào ngày lễ, ngày nghỉ và ngoài giờ làm việc để bảo đảm kịp thời việc xếp dỡ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, việc xuất cảnh, nhập cảnh của hành khách, phương

Trang 30

tiện vận tải hoặc trên cơ sở đề nghị của người khai hải quan và phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn hoạt động hải quan

- Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật

+ Thẩm quyền của cơ quan hải quan

- Thẩm quyền của cơ quan hải quan trong việc áp

dụng các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển

trái phép hàng hoá qua biên giới:

 Tổ chức lực lượng, xây dựng cơ sở dữ liệu, áp dụng biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan, thu thập thông tin trong nước và ngoài nước liên quan đến hoạt động hải quan để chủ động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, phục vụ thông quan hàng hoá và kiểm tra sau thông quan; phối hợp với các cơ quan hữu quan bảo vệ bí mật về người cung cấp thông tin các vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới theo quy định của pháp luật

 Thực hiện kiểm soát hải quan đối với hàng hoá, phương tiện vận tải; chủ trì, phối hợp với cơ quan nhà nước hữu quan thực hiện các hoạt động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới trong địa bàn hoạt động hải quan

Trang 31

Khi tiến hành kiểm soát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan được áp dụng biện pháp tuần tra, điều tra, xác minh hoặc biện pháp nghiệp vụ khác theo quy định của Luật hải quan, pháp luật xử lý vi phạm hành chính, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật tổ chức điều tra hình sự

 Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin, tài liệu để phục vụ việc kiểm tra, điều tra, xác minh hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới

 Yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh mở bưu phẩm, hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu qua đường bưu chính, chuyển phát nhanh để kiểm tra khi có căn cứ cho rằng bưu phẩm, hàng hoá đó có tài liệu, hàng hoá liên quan đến buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới

 Sử dụng cờ hiệu, đèn hiệu, pháo hiệu, còi, loa; sử dụng vũ khí và công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật

về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ

 Ngoài địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan phối hợp, thực hiện các hoạt động kiểm soát hải quan

Trang 32

để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá

qua biên giới theo quy định của pháp luật

- Thẩm quyền của cơ quan hải quan, công chức hải quan trong việc xử lý hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới:

 Xử lý vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

Trường hợp có căn cứ cho rằng có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát thuộc Cục Hải quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát chống buôn lậu

và Hải đội trưởng Hải đội Kiểm soát trên biển thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu có thẩm quyền dừng phương tiện vận tải, tạm giữ người, áp giải người vi phạm Trình tự, thủ tục tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính

 Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật về hải quan đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì cơ quan hải quan, công chức hải quan có thẩm quyền khởi tố

vụ án, khởi tố bị can, thực hiện các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật tổ chức điều tra hình sự

Trang 33

Cơ quan hải quan, công chức hải quan khi tiến hành các hoạt động nêu trên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình

- Cơ quan hải quan áp dụng quản lý rủi ro để quyết định việc kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải; hỗ trợ hoạt động phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới

Cơ quan hải quan quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để tự động tích hợp, xử lý dữ liệu phục vụ việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan

- Cơ quan hải quan xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu trên cơ sở kiểm tra nội dung khai của người khai hải quan, chứng từ thuộc hồ sơ hải quan và kết quả kiểm tra thực tế hàng hoá

Trường hợp có nghi ngờ về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, cơ quan hải quan yêu cầu người khai hải quan cung cấp chứng từ, tài liệu liên quan đến xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, tiến hành kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa tại cơ

sở sản xuất hàng hóa xuất khẩu

Cơ quan hải quan kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa nhập khẩu trên cơ sở nội dung khai của người khai hải quan, chứng từ chứng nhận xuất xứ, chứng từ thuộc hồ sơ

Trang 34

hải quan và kết quả kiểm tra thực tế hàng hoá Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu phát hành hoặc do người sản xuất, người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu tự chứng nhận theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Trường hợp có nghi ngờ về xuất xứ hàng hóa nhập khẩu, cơ quan hải quan tiến hành kiểm tra, xác minh xuất

xứ hàng hóa tại nước sản xuất hàng hóa theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Kết quả kiểm tra, xác minh xuất xứ có giá trị pháp lý

để xác định xuất xứ hàng hóa nhập khẩu

- Cơ quan hải quan căn cứ quy định của pháp luật về phân loại hàng hóa, xuất xứ, trị giá hải quan và các thông tin, chứng từ liên quan do người khai hải quan cung cấp để xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan và có văn bản thông báo cho người khai hải quan biết kết quả xác định trước Trường hợp không đủ cơ sở hoặc thông tin để xác định theo yêu cầu của người khai hải quan, cơ quan hải quan thông báo cho người khai hải quan hoặc đề nghị bổ sung thông tin, chứng từ liên quan

- Các thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật

Trang 35

1.2.2 Quy định về kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan

1.2.2.1 Quy định về kiểm tra hải quan

Trong hoạt động hải quan, về nguyên tắc thì tất cả

các hàng hóa, phương tiện vận tải khi đưa vào hay đưa ra lãnh thổ hải quan thì đều phải được kiểm tra hải quan Do vậy, kiểm tra hải quan là một trong các nghiệp vụ quan trọng, không thể thiếu của hải quan

Theo Công ước Kyoto, kiểm tra hải quan là các biện pháp do hải quan áp dụng nhằm bảo đảm tuân thủ pháp luật hải quan

Ở Việt Nam, theo Luật hải quan năm 2014: Kiểm tra

hải quan là việc cơ quan hải quan kiểm tra hồ sơ hải quan,

các chứng từ, tài liệu liên quan và kiểm tra thực tế hàng hoá, phương tiện vận tải (Khoản 12, Điều 4)

Để kiểm tra hải quan, pháp luật hải quan quy định những vấn đề chủ yếu sau:

+ Nguyên tắc kiểm tra hải quan;

+ Đối tượng chịu sự kiểm tra hải quan;

+ Kiểm tra hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan: Cơ quan hải quan kiểm tra hồ sơ hải quan, các chứng

từ, tài liệu liên quan; kiểm tra quy trình,…

Trang 36

+ Cơ quan hải quan kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải

Pháp luật hải quan quy định về kiểm tra hải quan, bao gồm quy định về căn cứ, thẩm quyền, thủ tục trong quá trình: + Kiểm tra hồ sơ hải quan;

+ Kiểm tra thực tế hàng hóa;

+ Kiểm tra thực tế hàng hoá trong trường hợp vắng mặt người khai hải quan;

+ Kiểm tra hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất;

+ Kiểm tra hải quan đối với hàng hóa bán tại cửa hàng miễn thuế;

+ Kiểm tra hải quan đối với hàng hóa tạm nhập khẩu, tạm xuất khẩu;

+ Kiểm tra hải quan đối với hàng hóa là quà biếu, tặng; + Kiểm tra hải quan đối với hàng hóa phục vụ yêu cầu khẩn cấp, hàng hóa chuyên dùng phục vụ an ninh, quốc phòng;

+ Kiểm tra hải quan đối với hàng hoá mua bán, trao đổi của cư dân biên giới;

Trang 37

+ Kiểm tra hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh;

+ Kiểm tra hải quan đối với tài sản di chuyển;

+ Kiểm tra hải quan đối với hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh;

+ Kiểm tra hải quan đối với ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt, công cụ chuyển nhượng, vàng, kim loại quý, đá quý của người xuất cảnh, nhập cảnh;

+ Kiểm tra hải quan đối với hàng hóa trên phương tiện vận tải;

+ Kiểm tra hải quan đối với túi ngoại giao, túi lãnh

sự, hành lý, phương tiện vận tải của cơ quan, tổ chức, cá nhân được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ;

+ Kiểm tra hải quan đối với hàng hoá tồn đọng;

+ Kiểm tra hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng xuất khẩu;

+ Kiểm tra hải quan đối với hàng hóa tại kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ;

+ Kiểm tra hải quan đối với hành hóa vận chuyển chịu sự giám sát hải quan;

Trang 38

+ Kiểm tra hải quan đối với phương tiện vận tải; + Kiểm tra hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ;

+ Kiểm tra sau thông quan;…

1.2.2.2 Quy định về giám sát hải quan

Luật hải quan năm 2014 quy định: Giám sát hải quan

là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hoá, sự tuân thủ quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hoá, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan (Khoản 5, Điều 4)

Theo đó, pháp luật hải quan quy định: Đối tượng, phương thức, thời gian giám sát hải quan và trách nhiệm của các chủ thể (cơ quan hải quan; người khai hải quan; người chỉ huy hoặc người điều khiển phương tiện vận tải; doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi) trong hoạt động giám sát hải quan

Về giám sát hải quan, pháp luật hải quan quy định các vấn đề chủ yếu sau:

+ Nguyên tắc giám sát hải quan;

Trang 39

+ Đối tượng chịu sự giám sát hải quan;

+ Giám sát hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất;

+ Giám sát hải quan đối với hàng hóa bán tại cửa hàng miễn thuế;

+ Giám sát hải quan đối với hàng hóa tạm nhập khẩu, tạm xuất khẩu;

+ Giám sát hải quan đối với hàng hóa là quà biếu, tặng; + Giám sát hải quan đối với hàng hóa phục vụ yêu cầu khẩn cấp, hàng hóa chuyên dùng phục vụ an ninh, quốc phòng;

+ Giám sát hải quan đối với hàng hoá mua bán, trao đổi của cư dân biên giới;

+ Giám sát hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh;

+ Giám sát hải quan đối với tài sản di chuyển;

+ Giám sát hải quan đối với hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh;

+ Giám sát hải quan đối với ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt, công cụ chuyển nhượng, vàng, kim loại quý, đá quý của người xuất cảnh, nhập cảnh;

Trang 40

+ Giám sát hải quan đối với hàng hóa trên phương tiện vận tải;

+ Giám sát hải quan đối với túi ngoại giao, túi lãnh

sự, hành lý, phương tiện vận tải của cơ quan, tổ chức, cá nhân được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ;

+ Giám sát hải quan đối với hàng hoá tồn đọng;

+ Giám sát hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng xuất khẩu;

+ Giám sát hải quan đối với hàng hóa tại kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ;

+ Giám sát hải quan đối với hành hóa vận chuyển chịu sự giám sát hải quan;

+ Giám sát hải quan đối với phương tiện vận tải; + Giám sát hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ;…

1.2.2.3 Quy định về kiểm soát hải quan

Theo Công ước Kyoto, kiểm soát hải quan (customs control) là các biện pháp được các cơ quan Hải quan tiến hành nhằm đảm bảo thực thi pháp luật hải quan

Ở Việt Nam, Khoản 11, Điều 4 Luật hải quan năm

2014 quy định: Kiểm soát hải quan là biện pháp tuần tra,

Ngày đăng: 03/02/2022, 15:06

w