- Ở Việt Nam lần đầu tiên thuật ngữ logistics được ghi nhận tại Điều 233 Luật Thương mại, năm 2005: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một
Trang 1HỌC VIỆN TÀI CHÍNH PGS.TS NGUYỄN THỊ THƯƠNG HUYỀN
TS NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
BÀI GIẢNG GỐC PHÁP LUẬT LOGISTICS
NHÀ XUẤT BẢN TÀI CHÍNH
Năm 2020
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII xác định, logistics
là một “ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao” và phải “hiện đại
và mở rộng” dịch vụ logistics Để tận dụng các lợi thế, cơ hội
và đưa lĩnh vực logistics trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp tích cực vào cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật đối với hoạt động này
Nhằmcung cấp những kiến thức pháp luật trong lĩnh vực logistics làm nền tảng, cơ sở về phương diện pháp lý cho việc nghiên cứu các môn học nghiệp vụ chuyên ngành của sinh viên chuyên ngành hải quan và logistics, Bộ môn Nghiệp vụ
hải quan tổ chức biên soạn bài giảng gốc “Pháp luật về Logistics” Đây là tài liệu được biên soạn lần đầu để phục vụ
cho việc giảng dạy của giáo viên và học tập của sinh viên chuyên ngành Hải quan và logistics (chất lượng cao) của Học viện Tài chính theo hình thức đào tạo tín chỉ
Bài giảng gốc được thiết kế gồm 6 chương với thời lượng 02 tín chỉ, do PGS.TS Nguyễn Thị Thương Huyền và TS.Nguyễn Thị Lan Hương làm chủ biên Bao gồm:
Chương 1: Tổng quan Pháp luật về Logistics
Chương 2: Pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics
Trang 3Chương 3: Pháp luật về hoạt động Logistics
Chương 4: Hợp đồng dịch vụ Logistics và giải quyết tranh chấp về hợp đồng dịch vụ logistics
Chương 5:Quản lý Nhà nước về Logistics
Chương 6: Pháp luật quốc tế về dịch vụ Logistics
Bài giảng gốc cung cấp những kiến thức cơ bản và chuyên sâu về pháp luật điều chỉnh các hoạt động thuộc lĩnh vực Logistics.Để biên soạn bài giảng này, chúng tôi đã kế thừa nhiều công trình khoa học của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế Chúng tôi trân trọng cảm ơn các nhà nghiên
cứu có tài liệu sử dụng trong bài giảng này
Dù đã cố gắng rất nhiều trong quá trình biên soạn bài giảng này nhưng chúng tôi cũng không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì thế chúng tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp, bổ sung của các nhà khoa học và quý bạn đọc để cuốn bài giảng được hoàn chỉnh hơn trong những lần tái bản sau
Hà Nội, Tháng 12 năm 2020
Tập thể tác giả
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ LOGISTICS
1.1 Khái niệm, đặc điểm pháp luật về logistics
Pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính xã hội Nó là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, nó cũng
là công cụ có hiệu lực nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội
cơ bản, chứa đựng những chuẩn mực chung trong xã hội Kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa con người và xã hội, liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có giới hạn Cũng có thể hiểu, kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mỗi quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Nói đến kinh tế suy cho cùng
là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích
Hoạt động kinh tế là yếu tố quyết định đối với sự tồn tại của xã hội loài người Trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của lịch sử xã hội loài người, các hoạt động kinh tế luôn chiếm giữ vị trí đặc biệt quan trọng và tác động mạnh mẽ tới các hoạt động xã hội khác Chính vì vậy, giai cấp thống trị trong xã hội ở điều kiện nhất định, luôn tìm cách tác động tới
Trang 5các quan hệ kinh tế ở các mức độ khác nhau nhằm duy trì và bảo đảm cho lợi ích của giai cấp mình Theo đó đã hình thành nên các các nhóm, các mảng pháp luật khác nhau trong lĩnh vực kinh tế Trong nền kinh tế, kinh doanh dịch vụ là lĩnh vực hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển Xã hội phát triển càng cao thì đòi hỏi các dịch vụ được cung cấp phải thể hiện tính năng
ưu việt, toàn diện với mục đích đem đến sự thuận lợi nhất đối với khách hàng sử dụng Là sự phát triển cao của dịch vụ giao nhận, vận tải đa phương thức, dịch vụ logistics đã chứng minh được những ưu điểm nổi trội của mình và những lợi ích đó có thể khiến cho khách hàng hoàn toàn yên tâm và thỏa mãn về
sự phong phú và tính hiệu quả của dịch vụ Dịch vụ logistics ngày càng phát triển trên thế giới và khẳng định được vị thế của mình trong chuỗi dịch vụ phát triển kinh tế Do vậy pháp luật điều chỉnh các hoạt động dịch vụ logistics cũng ngày càng được được chú trọng hoàn thiện và phát triển Ở Việt Nam, dù dịch vụ logistics mới được hình thành và phát triển trong những năm gần đây nhưng cũng đã đem lại nhiều giá trị trong nền kinh tế quốc dân, mở ra một cơ hội cho các doanh nghiệp có thể đầu tư và khai thác có hiệu quả Vì vậy pháp luật về logistics đang được quan tâm hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển của các dịch vụ logistics cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ logistics của doanh nghiệp Việt Nam trên thương trường quốc tế trong bối cảnh hội nhập
Trên thế giới hiện nay, logistics được biết đến với những khái niệm chủ yếu như sau:
- Theo Tài liệu của Liên hợp quốc (UNESCAP), logistics là hoạt động quản lý dòng chu chuyển và lưu kho
Trang 6nguyên vật liệu, quá trình sản xuất thành phẩm xử lý các thông tin liên quan v.v… từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng
- Theo Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (1988), logistics là quá trình lên kế hoạch thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và giữ nguyên vật liệu, hàng tồn thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng
- Theo Ngân hàng thế giới (WB), logistics liên quan đến việc quản lý dây chuyền cung cấp hoàn chỉnh một sản phẩm đặc thù, bao gồm vận tải nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra, lưu kho, phân phối, liên kết các phương thức vận tải và các dịch vụ tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại
- Ở Việt Nam lần đầu tiên thuật ngữ logistics được ghi nhận tại Điều 233 Luật Thương mại, năm 2005: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stic” Cho đến nay, logistics chưa được dịch sang tiếng việt, nên thuật ngữ này được dùng như một từ mượn tại Việt Nam Qua các định nghĩa trên cho thấy, logistics không phải là một dịch vụ đơn lẻ Logistics luôn là một chuỗi các dịch vụ về
Trang 7giao nhận hàng hóa như: làm các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, bao bì đóng gói, ghi nhãn hiệu, lưu kho, lưu bãi, giao hàng hóa có thể là nguyên liệu hay thành phẩm tới các địa chỉ khác nhau Chính vì vậy, nói tới logistics người ta thường nói tới một chuỗi hệ thống dịch vụ (logistics system chain) Logistics chính là quá trình tối ưu hóa mọi công việc, hoặc thao tác từ khâu cung ứng, sản xuất, phân phối và tiêu dùng
Trong quá trình thực hiện dịch vụ logistics đã phát sinh rất nhiều quan hệ xã hội khác nhau giữa các chủ thể khác nhau
và để thúc đẩy các quan hệ xã hội đó phát triển theo một quỹ đạo nhất định đáp ứng được yêu cầu chung của xã hội cũng như các nhu cầu, quyền lợi chính đáng của các chủ thể, nhà nước đã ban hành các quy phạm pháp luật để tác động điều chỉnh tới hành vi của các chủ thể khi tham gia các hoạt động
logistics Sự tập hợp các quy phạm đó được gọi là pháp luật
Pháp luật về logistics được hiểu là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện các dịch vụ logstics
Pháp luật về logistics có vị trí hết sức quan trọng trong bối cảnh hiện nay khi mà quy mô thị trườnglogistics ngày càng tăng trưởng Thị trường logistics toàn cầu dự báo tăng trưởng trung bình 6,54%/năm trong giai đoạn năm 2017-2020,
và đạt 15,5 nghìn tỷ USD vào năm 2024, gần gấp đôi so với mức 8,2 nghìn tỷ USD vào năm 2016 Mặt khác,thương mại điện tử đang và sẽ là nhân tố dẫn dắt chính sự phát triển của logistics toàn cầu trong thời gian tới Mặc dù hiện nay chỉ chiếm trên 5% doanh thu toàn thị trường nhưng với tốc độ tăng trưởng luôn cao hơn mức trung bình của toàn ngành
Trang 8logistics toàn cầu, dự kiến đến năm 2020, thương mại điện tử
sẽ chiếm khoảng 7,2-7,5% tổng doanh thu logistics thế giới (Armstrong and Associates, 2017) Hơn nữa, xu hướng logistics thời đại Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang ngày càng chiếm vị thế Cách mạng Công nghiệp 4.0 với những bứt phá trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo tích hợp trí tuệ nhân tạo với mạng lưới kết nối Internet vạn vật (IoT) và các công cụ hiện đại hóa đang bắt đầu thay đổi toàn bộ viễn cảnh của dịch vụ kho bãi và phân phối hàng hóa trên toàn thế giới, với ước tính khoảng 5,5 triệu thiết bị mới được kết nối mỗi ngày Đối với lĩnh vực logistics, cuộc cách mạng này sẽ ngày càng mở rộng việc kết nối những thiết bị phi truyền thống như pallet, xe cần cẩu, thậm chí xe rơ-mooc chở hàng với mạng Internet Hiện tại, tất cả các công ty logistics quốc tế lớn dự kiến sẽ sử dụng công nghệ IoT Trong những năm tới, IoT sẽ trở nên phổ biến trong lĩnh vực logistics Các công ty logistics trên thế giới đang nhanh chóng cải tiến công nghệ để bắt kịp xu hướng này
và cải thiện tỷ suất lợi nhuận trong thời gian tới, thông qua việc trang bị các công cụ tự động, hiện đại như Robot sẽ giúp tiết kiệm năng lượng, chi phí lao động phổ thông đáng kể; hoặc xe chuyển hàng tự động (Autonomated Guided Vehicles
- AGV) có thể thực hiện đơn hàng, tự bổ sung hàng trong kho bãi và đáp ứng hiệu quả những nhu cầu cần thiết tại đây;hoặc
xe nâng thông minh có thể truyền tải thông tin từng hoạt động của xe cho người sử dụng để tối đa hóa độ an toàn và huấn luyện người sử dụng mới Trang bị cảm biến cho phép xe tự phát hiện sắp va chạm vật thể, hoặc các hỏng hóc trong động
cơ, quá tải và tự động lập báo cáo hư hỏng nếu cần thiết Thiết
Trang 9bị theo dõi, định vị, dẫn đường và quan sát bằng các thiết bị
sử dụng WiFi, Bluetooth Ứng dụng Co-pilot trên Android của điện thoại di động được sử dụng trong hoạt động logistics quốc tế Ứng dụng cung cấp định tuyến (mapping) và định hướng (direction routing), tạo điều kiện cho chuyển hướng thông qua việc theo dõi trực tuyến phương tiện vận tải Ứng dụng quét mã vạch trực tuyến trong quản lý kho hàng Tối ưu hóa hàng tồn kho dựa trên điện toán đám mây Đây là một trong những công cụ logistics trực tuyến cần thiết có thể giúp các nhà quản lý dự báo, lập kế hoạch kiểm kê và ngân sách cho các nguồn lực sẵn có
Ngoài ra còn ứng dụng kiểm soát lao động hàng ngày trong logistics, nhưứng dụng Web fleet của Android- là một ứng dụng di động trong việc kiểm soát hoạt động hàng ngày của lực lượng lao động Ứng dụng này có thể được truy cập thông qua trình duyệt web, các chuyên gia logistics có thể quản lý hoạt động kinh doanh trong thời gian thực từ điện thoại hoặc máy tính xách tay của họ ở bất kỳ nơi đâu, giúp theo dõi các hoạt động hàng ngày 24/24 giờ để đảm bảo độ tin cậy của lực lượng lao động và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh Tích hợp hợp đồng dịch vụ, quản lý đơn hàng, quan hệ khách hàng trong logistics trực tuyến, như: Ứng dụng kết hợp việc tích hợp các hợp đồng dịch vụ, quản lý đơn đặt hàng, tối
ưu hóa lực lượng lao động và giám sát các khách hàng truyền thông xã hội Ứng dụng xây dựng hoạt động tổ chức dịch vụ
và quan hệ từ đầu đến cuối giữa bạn và khách hàng, giúp bạn phân tích chất lượng dịch vụ và phản ứng của khách hàng đối với các dịch vụ được cung cấp Các phản hồi được chia sẻ qua
Trang 10các phương tiện truyền thông xã hội như Twitter của những người sử dụng dịch vụ, giúp đo lường hiệu suất hoạt động của công ty mình và chỉ ra được những lĩnh vực cần cải thiện Hệ thống quản lý giao thông dựa trên Web với ứng dụng di động
đi kèm Cerasis Rater cho phép xử lý các lô hàng theo phương thức vận tải đường bộ như: Less Than Truckload (LTL), Small Packages, Parcel (bưu kiện nhỏ), Intermodal (liên phương thức), Full Truckload (FTL) Cerasis Rater loại bỏ quá trình booking thủ công, cung cấp nhiều lợi ích về tự động hóa và hiệu quả Xử lý lô hàng 24/7 qua cổng thông tin dựa trên website v.v…
Tất cả những xu hướng phát triển đó của logistics nói lên
sự cần thiết khách quan của pháp luật về logistics cũng như vị trí, vai trò và sự tất yếu của việc hoàn thiện và phát triển của pháp luật về logistics để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ logisics Bởi pháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội đã phát triển tới một mức độ nhất định
Pháp luật về logistics thuộc lĩnh vực pháp luật tư, mang đầy đủ các tính chất, đặc điểm của pháp luật tư được thiết kế trên cơ sở nguyên tắc “các chủ thể được phép làm những gì
mà pháp luật không cấm”, ngoài ra pháp luật về logistics có các đặc điểm cơ bản sau:
- Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về logistics là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện các dịch vụ logistics Các quan hệ xã hội này thực chất là các quan hệ dân sự - thương mại, các quan hệ mang tính chất tư giữa các chủ thể với nhau phát sinh trong quá trình thực hiện
Trang 11kinh doanh dịch vụ như: Dịch vụ bốc xếp hàng hóa; Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa; Dịch vụ đại lý vận tải; các dịch
vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý lại hàng hóa
bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn; hoạt động cho thuê và thuê mua container v.v các hoạt động dịch vụ này luôn gắn liền với một quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gắn liền với khâu phân phối sản phẩm Do vậy, nội dung của dịch vụ logistics rất đa dạng, bao gồm các công việc như:
+ Nhận hàng từ người gửi để vận chuyển: đóng gói bao
bì, ghi ký mã hiệu, chuyển hàng từ kho của người gửi tới cảng, bến tàu, bến xe v.v theo thỏa thuận giữa người vận chuyển với người thuê vận chuyển
+ Làm các thủ tục giấy tờ cần thiết: thủ tục hải quan, vận đơn vận chuyển, làm thủ tục gửi giữ hàng hóa v.v…để gửi hàng hóa hoặc nhận hàng hóa được vận chuyển đến
+ Giao hàng hóa cho người vận chuyển, xếp hàng hóa lên phương tiện vận chuyển theo quy định, nhận hàng hóa được vận chuyển đến
+ Tổ chức nhận hàng, lưu kho, lưu bãi, bảo quản hàng hóa hoặc thực hiện giao hàng hóa được vận chuyển đến cho người có quyền nhận hàng
+ V.v…
Trang 12- Phương pháp điều chỉnh của pháp luật về logistics là phương pháp lựa chọn, bình đẳng thỏa thuận.Phương pháp điều chỉnh của pháp luật logistics là các cách thức nhà nước
sử dụng tác động tới các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện các dịch vụ logstics Phương pháp điều chỉnh của pháp luật logistics phụ thuộc vào đối tượng điều chỉnh của pháp luật logistics, hay nói cách khác phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm của các quan hệ xã hội do pháp luật logistics điều chỉnh Các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật logistics là các quan hệ dịch vụ phát sinh giữa các chủ thể
có vị thế pháp lý bình đẳng với nhau, vì vậy các chủ thể được quyền tự do thỏa thuận trên cơ sở thương thuyết với nhau trong phạm vi pháp luật không cấm
- Chủ thể trong quan hệ pháp luật logistics bình đẳng với nhau và được hình thành chủ yếu trên cơ sở các hợp đồng thương mại dịch vụ
Chủ thể của quan hệ dịch vụ logistics gồm hai bên, đó là Nhà cung cấp dịch vụ và Khách hàng
Nhà cung cấp dịch vụ logistics phải là thương nhân, kinh doanh có điều kiện Điều 234 Luật thương mại 2005 quy định:
“ 1 Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật
2 Chính phủ quy định chi tiết điều kiện kinh doanh dịch
vụ logistics.”
Khách hàng là những người có hàng hóa cần gửi hoặc cần nhận và có nhu cầu sử dụng dịch vụ giao nhận, vận tải
Trang 13Khách hàng có thể là thương nhân hay không phải là thương nhân; có thể là chủ sở hữu hàng hóa hoặc không phải là chủ
sở hữu hàng hóa; Khách hàng có thể là người vận chuyển hay thậm chí là người làm dịch vụ khác
Hợp đồng logistics là một loại hợp đồng cung ứng dịch
vụ thương mại, trong đó nhà/doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phải thực hiện các yêu cầu của khách hàng và được hưởng thù lao/hưởng phí dịch vụ, còn khách hàng được hưởng các kết quả dịch vụ và phải trả phí dịch vụ
Hợp đồng logistics là hình thức pháp lý của các quan hệ giao nhận, vận tải hàng hóa bằng các phương thức khác nhau,
trong đó đặc biệt là vận tải đa phương thức Bởi logistics là sự
phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ giao nhận, vận tải và là
sự phát triển sâu rộng của dịch vụ vận tải đa phương thức.Logistics là sự phát triển của dịch vụ giao nhận, vận tải ở trình độ cao và hoàn thiện Qua các giai đoạn phát triển, logistics đã làm cho khái niệm giao nhận, vận tải truyền thống ngày càng đa dạng và phong phú thêm Từ chỗ thay mặt khách hàng để thực hiện các công việc đơn điệu, lẻ tẻ, tách biệt như: thuê tàu, lưu cước, chuẩn bị hàng, đóng gói, tái chế hàng, làm thủ tục thông quan… cho tới cung cấp trọn gói một dịch vụ vận chuyển từ kho đến kho (Door to Door) đúng thời gian, đúng địa điểm để phục vụ nhu cầu khách hàng Từ chỗ đóng vai trò người được ủy thác trở thành một bên chính trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi của mình
Do yêu cầu về dịch vụ cung cấp cho khách hàng ngày càng đa dạng, phong phú, người cung cấp dịch vụ phải tổ
Trang 14chức quản lý một hệ thống đồng bộ từ giao nhận đến vận tải, cung ứng nguyên liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, bảo quản hàng hóa trong kho, giao hàng hóa đúng địa điểm, đúng thời gian, sử dụng thông tin điện tử để theo dõi, kiểm tra việc giao, nhận hàng hóa theo các điều khoản trong hợp đồng
Dịch vụ logistics chính là sự phát triển sâu rộng của dịch
vụ vận tải đa phương thức Toàn bộ hoạt động vận tải có thể được thực hiện theo một hợp đồng vận tải đa phương thức do người tổ chức mọi dịch vụ logistics đảm nhiệm
Như vậy, trên cơ sở nhiều hợp đồng mua bán, người tổ chức dịch vụ logistics sẽ nhận hàng tại cơ sở của từng người bán, gom hàng thành nhiều đơn vị, gửi hàng tại kho hay nơi xếp dỡ hàng trước khi chúng được gửi đến nước người mua trên các phương tiện vận tải khác nhau Tại nước người mua, người tổ chức dịch vụ logistics sẽ thu xếp tách các đơn vị gửi hàng và hình thành các chuyến hàng thích hợp để chuyển hàng hóa đến những địa điểm cuối cùng theo yêu cầu khách hàng
Qua sự phân tích trên cho thấy, chủ thể trong quan hệ pháp luật logistics luôn bình đẳng với nhau và chủ yếu được hình thành trên cơ sở các hợp đồng thương mại dịch vụ gắn liền với các hoạt động mua bán hàng hóa
- Nguồn của pháp luật logistics gồm các văn bản pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Bởi các dịch vụ logistics rất đa dạng, ngoài các dịch vụ logistics chủ yếu, như: Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container; Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động
Trang 15kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị; Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa; Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container v.v…
Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm: Dịch vụ vận tải hàng hải; Dịch vụ vận tải thủy nội địa; Dịch
vụ vận tải hàng không; Dịch vụ vận tải đường sắt; Dịch vụ vận tải đường bộ; Dịch vụ vận tải đường ống
Các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm: Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật; Dịch vụ bưu chính; Dịch vụ thương mại bán buôn; Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng; Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác
Theo quy định của Điều 3, Nghị định số CPngày 30/12/2017 của Chính phủ về kinh doanh dịch vụ logistics, dịch vụ logistics bao gồm: 1 Dịch vụ xếp dỡ container, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay; 2 Dịch vụ kho bãi container thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển; 3 Dịch vụ kho bãi thuộc dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải; 4 Dịch vụ chuyển phát; 5 Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa; 6 Dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan (bao gồm cả dịch vụ thông quan);
163/2017/NĐ-7 Dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động: kiểm tra vận đơn,
Trang 16dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch
vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải; 8 Dịch vụ hỗ trợ bán buôn, hỗ trợ bán lẻ bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa và giao hàng; 9 Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển;
10 Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa; 11 Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt; 12 Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ; 13 Dịch vụ vận tải hàng không; 14 Dịch vụ vận tải đa phương thức; 15 Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật; 16 Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác; 17 Các dịch vụ khác do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng thỏa thuận phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật Thương mại
Hoặcdịch vụ logistics trong ASEAN gồm 11 phân ngành sau: 1 Dịch vụ xếp dỡ hàng hóa trong vận tải biển (có mã phân loại trong Bảng phân loại các hàng hóa và dịch vụ chủ yếu của Liên hiệp quốc là 741-CPC 741); 2 Dịch vụ kho bãi (CPC 742); 3 Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa (CPC 748); 4 Các dịch vụ bổ trợ khác (CPC 749); 5 Dịch vụ chuyển phát (CPC 7512**); 6 Dịch vụ đóng gói (CPC 876); 7 Dịch vụ thông quan (không có trong phân loại của CPC); 8 Dịch vụ vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường biển, loại trừ vận tải ven bờ; 9 Dịch vụ vận tải hàng không (được đàm phán trong khuôn khổ Hội nghị các quan chức cao cấp về vận tải trong ASEAN); 10 Dịch vụ vận tải đường sắt quốc tế (CPC 7112);
11 Dịch vụ vận tải đường bộ quốc tế (CPC 7213)
Trang 17Để điều chỉnh các dịch vụ logistics rất đa dạng đó thì nguồn của pháp luật logistics gồm các văn bản pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau và được thể hiện ở các cấp độ khác nhau
- Pháp luật về logistics có quan hệ chặt chẽ với pháp luật quản trị doanh nghiệp Bởi dịch vụ logistics là một loại hoạt động dịch vụ chuỗi hỗ trợ doanh nghiệp, dịch vụ logistics không phải là từng hoạt động riêng lẻ màLogistics tồn tại để cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp hoặc cho khách hàng của doanh nghiệp; dịch vụ đối với cả doanh nghiệp hay khách hàng đều được cung cấp thông qua việc tập trung các yếu tố khác nhau, các yếu tố này là các bộ phận tạo thành chuỗi logistics
Dịch vụ logistics trong doanh nghiệp chú trọng đến các yếu tố về quản trị nguyên liệu, vật liệu, lưu kho và phân phối sản phẩm, hàng hóa Tuy nhiên trong hoạt động của doanh nghiệp không phải chỉ dừng lại ở yêu cầu các yếu tố cơ bản
mà dịch vụ logistics cung cấp trên đây mà có thể cần cung cấp thêm các dịch vụ khác của logistics như: Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật; Dịch vụ bưu chính; Dịch vụ thương mại bán buôn; Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng; Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác Dịch vụ logistics bao gồm rất nhiều yếu tố và các yếu tố này tạo thành chuỗi logistics (logistics chain) Cụ thể một số yếu tố cơ bản cần có trong dịch vụ logistics như: Yếu tố vận tải (trong các yếu tố cấu thành chuỗi logistics thì vận tải giao nhận là khâu quan trọng nhất và thường chiếm trên 1/3 tổng
Trang 18chi phí của hoạt động logistics); Yếu tố Marketing; Yếu tố phân phối;Yếu tố quản trị;Các yếu tố khác: kho bãi, nhà xưởng, phụ tùng thay thế và sửa chữa, tài liệu kỹ thuật, thiết
bị kiểm tra và hỗ trợ, tài liệu kỹ thuật
1.2 Vai trò của pháp luật logistics
Có thể thấy, trong thời kỳ hiện nay, pháp luật đã trở thành một bộ phận cấu thành của nền kinh tế, thiếu pháp luật, nền kinh tế, nhất là nền kinh tế thị trường định của nước ta trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội sẽ rất khó vận hành hoặc vận hành không có hiệu quả, các hoạt động kinh tế
sẽ trở nên hỗn loạn và không thể kiểm soát Vai trò của pháp luật đối với sự phát triển kinh tế là không thể phủ nhận Vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với những bước đi kinh tế của nước ta có ý nghĩa quyết định trong công cuộc xây dựng đất nước ngày một giàu mạnh, hiện đại với một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Với đặc điểm riêng của mình, pháp luật là phương tiện quan trọng nhất để nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình Pháp luật có khả năng triển khai những chủ trương, chính sách của nhà nước một cách thống nhất, nhanh chóng và có hiệu quả trên quy mô rộng lớn nhất Nhờ vào pháp luật, nhà nước có cơ sở để phát huy quyền lực của mình Trong tổ chức và quản lý kinh tế, pháp luật lại càng có vai trò
to lớn Nó góp phần tích cực vào việc tổ chức, quản lý và điều tiết nền kinh tế
Trang 19Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay pháp luật logistics ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong hệ thống pháp luật và với đời sống kinh tế xã hội
Cụ thể vai trò của pháp luật logistics được thể hiện trên các phương diện cơ bản sau:
- Pháp luật logistics tạo lập một khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động dịch vụ logistics Vai trò này trước hết được thể hiện ở tính định hướng và tính hướng dẫn của pháp luật logistics Thông qua các quy phạm mang tính định hướng và các quy phạm mang tính hướng dẫn, pháp luật logistics thiết lập, duy trì một trật tự xã hội nhất định trong lĩnh vực phát triển dịch vụ logistics của mỗi quốc gia cũng như định hướng phát triển dịch vụ logistics của doanh nghiệp
-Pháp luật logistics góp phần thúc đẩy mở rộng thị trường mua bán hàng hóa quốc tế Các nhà sản xuất muốn chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ trợ của dịch vụ logistics Dịch vụ này có tác dụng như cầu nối trong vận chuyển hàng hóa trên các tuyến đường đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra Vì vậy, doanh nghiệp có thể khai thác và mở rộng thị trường nhanh và mạnh hơn không chỉ trong phạm vi quốc gia
mà đặc biệt là trên thị trường quốc tế
- Pháp luật logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước, nâng cao chất lượng quản trị của doanh nghiệp, thúc đẩy năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Bằng những quy định cụ thể về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics; bằng việc xác lập cụ thể các
Trang 20quyền và nghĩa vụ của nhà cung cấp dịch vụ logistics, của khách hàng; bằng việc xác định trách nhiệm pháp lý của các chủ thể cũng như các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình cung cấp các dịch vụ logistics v.v…pháp luật logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước, nâng cao chất lượng quản trị của doanh nghiệp, thúc đẩy năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Pháp luật logistics đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động sản xuất, phân phối và lưu thông của nền kinh tế Thông qua việc quy định các hoạt động logistics của pháp luật logistics, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics có đủ căn cứ, cơ sở pháp lý để chủ động trong việc xác định chiến lược, định hướng và kế hoạch kinh doanh của mình, qua đógiảm thiểu chi phí, góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của doanh nghiệp.Đối với doanh nghiệp, logistics đóng vai trò to lớn trong việc giải quyết bài toán đầu vào và đầu ra một cách có hiệu quả Logistics có thể tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên liệu, vật liệu, hàng hóa, dịch vụ…qua đó giảm chi phíthúc đẩy các hoạt động sản xuất, phân phối và lưu thông của nền kinh tế
Ngoài ra, logistics còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt là marketing hỗn hợp (4P: Right Product, Right Price, ProperPromotion, Right Place) Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến, đúng thời điểm thích hợp Mục tiêu của logistics là cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phí nhỏ nhất Bên cạnh đó logistics có tác dụng tiết kiệm, giảm
Trang 21chi phí trong quá trình lưu thông phân phối (ở đây, chủ yếu là phí vận tải chiếm tỷ lệ lớn, chi phí này cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường Dịch vụ logistics càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm cho chi phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông Do đó, giảm thiểu được chi phí này sẽ góp phần làm cho giá cả hàng hóa trên thị trường giảm, mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng, tăng yếu tố cạnh tranh trong các doanh nghiệp
- Pháp luật logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản trị của doanh nghiệp, hạn chế rủi ro trong kinh doanh Logistics còn là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia Đối với những nước phát triển như Nhật và Mỹ logistics đóng góp khoảng 10% GDP Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể hơn 30% Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ Theo tính toán của công ty nghiên cứu thị trường Armstrong and Associates (2017), doanh thu 3PL toàn cầu đạt 802 tỷ USD vào năm
2016, chiếm hơn 10% tổng chi phí logistics toàn cầu và dự kiến đến năm 2022 sẽ đạt 11,1 nghìn tỷ USD Thị trường logistics đang chứng kiến sự phát triển của các gói dịch vụ tích hợp nhiều loại hình logistics Xây dựng cơ sở hạ tầng cho logistics được thực hiện nhờ quá trình mở rộng vốn và sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ Do đó, các dịch
Trang 22vụ logistics được các công ty khác nhau thuê ngoài để giảm chi phí hoạt động và chi phí đầu tư Hơn nữa, dịch vụ logistics thuê ngoài và các dịch vụ liên quan đến chuỗi cung ứng do các nhà cung cấp dịch vụ 3PL và 4PL thực hiện cho phép các doanh nghiệp tập trung vào năng lực cốt lõi của họ, thay vì đầu tư dàn trải và rủi ro cho các hoạt động khác
Đối với nền kinh tế quốc dân, logistics đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong sản xuất, lưu thông, phân phối Các nghiên cứu gần đây cho thấy, chỉ riêng hoạt động logistics đã chiếm từ 10 đến 15% GDP của hầu hết các nước tại Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu á Thái Bình Dương
Bằng các quy định mang tính tổ chức và điều chỉnh, bằng các quy định mang tính tiên liệu, dự báo, pháp luật logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản trị của doanh nghiệp, hạn chế rủi ro trong kinh doanh
1.3 Nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật logistics
Với cách tiếp cận pháp luật về logistics là mảng pháp luật tư, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện các dịch vụ logistics giữa các chủ thể, pháp luật logistics gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics.Kinh doanh dịch vụ logistics thuộc nhóm ngành nghề kinh doanh có điều kiện, vì vậy để tạo một hành lang pháp lý chung cho các chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics, pháp luật logistics quy định những điều kiện nhất định Khi các doanh
Trang 23nghiệp/thương nhân đáp ứng được các điều kiện đó mới trở thành các chủ thể cung cấp dịch vụ logistics Các điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics gồm điều kiện về chủ thể, điều kiện về vốn, điều kiện về phạm vi ngành nghề kinh doanh, điều kiện về cơ sở vật chất, điều kiện về ứng dụng công nghệ thông tin v.v
-Quy định nội dung hoạt động của các dịch vụ logistics: logistics thực chất là một chuỗi ung ứng dịch vụ thuộc các hoạt động khác nhau, vì vậy để thiết lập, duy trì một trật tự xã hội trong hoạt động của các dịch vụ logistics, pháp luật cần quy định nội dung hoạt động của các dịch vụ logistics Cụ thể pháp luật xác lập hành lang pháp lý cho các hoạt động sau: + Quy định về dịch vụ khách hàng
+ Quy định về hệ thống thông tin logistics
+ Quy định về dự trữ hàng hóa
+ Quy định về vận tải
+ Quy định về giao nhận
+ Quy định về dịch vụ kho, bãi
+ Quy định về dịch vụ khai thuê hải quan
+ V.v…
- Quy định các quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ dịch vụ logistics, gồm: Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics vàquyền và nghĩa vụ của khách hàng
Trang 24Trong quá trình thực hiện dịch vụ logistics, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng có những quyền
và nghĩa vụ pháp lý nhất định
Quyền pháp lý: Là mức độ, khả năng được phép xử sự của các chủ thể khi thực hiện dịch vụ logistics do pháp luật quy định và được nhà nước bảo vệ
Nội dung của quyền pháp lý bao gồm:
Nghĩa vụ pháp lý: Là mức độ, khả năng xử sự cần phải
có của các chủ thể thực hiện dịch vụ logisticsdo pháp luật quy định và được nhà nước đảm bảo thực hiện
Nội dung của nghĩa vụ pháp lý bao gồm:
Trang 25- Quy định về hợp đồng logisticsvà giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động logistics
Một trong những đặc điểm của pháp luật logistics đó là chủ thể trong quan hệ pháp luật logistics bình đẳng với nhau
và được hình thành chủ yếu trên cơ sở các hợp đồng thương mại Vì vậy một trong những nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật logistics đó là hợp đồng dịch vụ logistics
Hợp đồng dịch vụ logistics là sự thỏa thuận, theo đó một bên (bên cung cấp dịch vụ/làm dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện hoặc tổ chức thực hiện một hoặc một số dịch vụ liên quan đến quá trình lưu thông hàng hóa, còn bên kia (khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán thù lao dịch vụ
Hợp đồng dịch vụ logistics xác lập các quyền và nghĩa
vụ giữa các chủ thể trong quan hệ hợp đồng và là cơ sở pháp
lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng dịch vụ logistics
Trong quá trình đàm phán giao kết hợp đồng cũng như thực hiện hợp đồng xuất phát từ nhiều lý do và nguyên nhân khác nhau có thể làm phát sinh mâu thuẫn, bất đồng, xung đột giữa các bên Các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột tới mức không thể dung hòa được giữa các bên trong quan hệ hợp đồng được gọi là tranh chấp hợp đồng Các tranh chấp hợp đồng được giải quyết bằng nhiều phương thức khác nhau Mỗi một phương thức giải quyết tranh chấp có những ưu, nhược điểm khác nhau và các bên được tự do lựa chọn phương thức phù hợp để giải quyết tranh chấp
Trang 26- Quy định trách nhiệm pháp lý của người làm dịch vụ logistics Logistics là một nghề, nghề này là kết quả củasự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận và là
sự phát triển sâu rộng của dịch vụ vận tải đa phương thức, do vậy người làm dịch vụ logistics thường gặp nhiều rủi ro liên quan đến mất mát, hư hỏng hàng hóa trong quá trình hàng hóa được vận chuyển từ khách hàng đến người nhận và họ phải có trách nhiệm pháp lý đối với những rủi ro này
Trách nhiệm pháp lý của người làm dịch vụ logistics được thể hiện ở giới hạn trách nhiệm và các trường hợp được miễn trách nhiệm.Giới hạn trách nhiệm là hạn mức tối đa mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng đối với những tổn thất phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện dịch vụ logistics.Việc quy định về giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics nhằm giảm thiểu những rủi ro trong quá trình kinh doanh cho thương nhân Theo tập quán thương mại quốc tế về kinh doanh dịch vụ logistics không vượt quá giá trị tổn thất hàng hóa, trừ trường hợp thương nhân cung ứng và khách hàng có thỏa thuận khác Tuy nhiên thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không được hưởng giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nếu người có quyền và lợi ích liên quan chứng minh được sự mất mát, hư hỏng là do thương nhân kinh doanh dịch vụ logisticscố ý hành động hoặc không hành động để gây ra mất mát, hư hỏng
Các trường hợp được miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thường được áp dụng khi: i) Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không có lỗi trong
Trang 27tổn thất hàng hóa; ii) Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics vi phạm hợp đồng vì lý do khách quan ngoài tầm kiểm soát của họ như các trường hợp bất khả kháng, đình công hay do thay đổi chính sách pháp luật
- Quy định quản lý nhà nước về logistics Quản lý nhà nước đối với dịch vụ logistics là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên các hoạt động của các tổ chức trong hệ thống dịch vụ logistics nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế nhất định nằm trong tổng thể nền kinh tế quốc gia, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế Hay nói cách ngắn gọn, quản lý nhà nước về logistics là sự quản lý của nhà nước đối với các hoạt động dịch vụ logistics của các tổ chức nhằm hướng các hoạt động
đó phát triển theo những mục tiêu định hướng nhất định
1.4 Nguồn của pháp luật về logistics
Nguồn của pháp luật về logistics là những hình thức thể hiện các quy định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động các dịch vụ logistics
Nguồn pháp luật về logistics gồm:
- Các văn bản pháp luật quốc gia;
- Các văn bản pháp luật quốc tế;
- Tập quán và thông lệ quốc tế
1.4.1 Các văn bản pháp luật quốc gia
Xuất phát từ tính chất, đặc điểm của dịch vụ logistics do vậy các hoạt động dịch vụ logistics được điều chỉnh bằng
Trang 28nhiều văn bản pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, cụ thể:
Thứ nhất, Luật thương mại,ngày 14 tháng 6 năm 2005
(từ Điều 233 đến Điều 240); Luật Quản lý ngoại thương,ngày
12 tháng 6 năm 2017 và Nghị định số163//2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 quy định về kinh doanh dịch vụ logistics; Nghị định 69/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Quản lý thương mại về một số biện pháp phát triển ngoại thương
Thứ hai, Các văn bản pháp luật liên quan điều chỉnh dịch
vụ logistics Các văn bản này gồm các văn bản quy định
chung như, Bộ luật dân sự 2015; Luật doanh nghiệp 2015;
Luật đầu tư 2015; Luật cạnh tranh 2004; Luật Hải quan 2014; v.v…Các quy định tại các văn bản pháp luật khác
Ngoài các văn bản quy định chung còn có các văn bản quy định chuyên ngành, chẳng hạn:
- Dịch vụ vận tải hàng hải: Bộ luật Hàng hải 2015; Nghị định 30/2014/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh vận tải biển và dịch vụ hỗ trợ vận tải biển; Thông tư 66/2014/TT-BGTVT quy định về vận tải hành khách, hành lý, bao gửi bằng tàu khách cao tốc giữa các cảng, bến, vùng nước thuộc nội thủy Việt Nam và qua biên giới Nghị định 160/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ về điều kiện kinh doanh vận tải biển, kinh doanh dịch vụ đại lý tàu biển và dịch vụ lai dắt tàu biển
- Dịch vụ vận tải đường thủy nội địa: Luật Giao thông đường thủy nội địa 2004; Luật Giao thông đường thủy nội địa
Trang 29sửa đổi năm 2014; Nghị định 110/2014/NĐ-CP,quy định điều kiện kinh doanh vận tải đường thủy nội địa; Văn bản hợp nhất
số 13/VBHN-BGTVT ngày 28/12/2015 hợp nhất Thông tư quy định về vận tải hành khách, hành lý, bao gửi trên đường thủy nội địa
- Dịch vụ vận tải hàng không: Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006;Luật sửa đổi Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2014; Nghị định 30/2013/NĐ-CP về kinh doanh vận chuyển hàng không và hoạt động hàng không chung; Thông tư 81/2014/TT-BGTVT quy định về việc vận chuyển hàng không và hoạt động hàng không chung.Nghị định 160/NĐ-CP (sửa đổi Nghị định 147/2018/NĐ-CP) về điều kiện kinh doanh vận tải biển, kinh doanh dịch vụ đại lý tàu biển và dịch vụ lai dắt tàu biển.Nghị định 144/2014/NĐ-
CP (sửa đổi bởi Nghị định 147/2018/NĐ-CP) quy định về đối tượng và điều kiện được phép nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng.Nghị định 37/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 147/2018/NĐ-CP) về điều kiện kinh doanh khai thác cảng biển.Nghị định 111/2016/NĐ-CP (sửa đổi Nghị định 147/2018/NĐ-CP) về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics đóng gói mới, hoán cải, sửa chữa tàu.Nghị định 70/2016/NĐ-
CP (sửa đổi bởi Nghị định 147/2018/NĐ-CP) về điều kiện cung cấp dịch vụ đảm bảo an toàn hàng hải
- Dịch vụ vận tải đường sắt: Luật Đường sắt 2005, Luật Đường sắt 2017; Nghị định 14/2015/NĐ-CP quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của luật đường sắt; Thông
tư 78/2014/TT-BGTVT quy định về việc vận tải hành khách, hành lý, bao gửi trên đường sắt quốc gia
Trang 30- Dịch vụ vận tải đường bộ: Luật Giao thông đường bộ 2008; Nghị định 86/2014/NĐ-CP về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô; Thông tư 63/2014/TT-BGTVT quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải bằng
xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ; Thông tư 60/2015/TT-BGTVT sửa đổi, bổ sung một số điều của thông
tư số 63/2014/TT-BGTVT về tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ
- Dịch vụ kho, bãi: Nghị định 68/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 quy định về điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế, kho bãi, địa điểm làm thủ tục hải quan, tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan;Thông tư 84/2017/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định số 68/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế, kho bãi, địa điểm làm thủ tục hải quan, tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan; Quyết định 2061/QĐ-BTC về áp dụng thí điểm quản lý, giám sát áp dụng quản lý, giám sát hải quan tự động đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu, quá cảnh tại cảng hàng không quốc tế Nội Bài v.v
Hệ thống kho tại biên giới: Quyết định 229/QĐ-BCT ngày 23 tháng 01 năm 2017 phê duyệt đề án “Quy hoạch phát triển hệ thống kho hàng hóa tại các cửa khẩu khu vực biên giới Việt Nam- Lào và biên giới Việt Nam- Campuchia đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 Quyết định 1093/QĐ-BCT ngày 03 tháng 02 năm 2015 phê duyệt Quy hoạch phát triển kho hàng hóa tại các cửa khẩu khu vực biên giới Việt Nam- Trung Quốc đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035
Trang 31Cảng cạn (ICD): có Quyết định 2223/QĐ-TTg ngày 13 tháng 12 năm 2011 cuả Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống cảng cạn Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 với quan điểm “phát triển hệ thống cảng biển để đáp ứng nhu cầu, xuất khẩu hàng hóa của từng khu vực và hành lang kinh tế, đặc biệt đối với hàng hóa được vận chuyển bằng container; Phát triển hệ thống cảng biển phải đảm bảo sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành và địa phương có liên quan trong hoạt động quản lý, khai thác cảng cạn, đặc biệt trong quá trình lựa chọn địa điểm
cụ thể để xây dựng cảng cạn
Ngoài ra còn một số văn bản hành chính khác liên quan đến dịch vụ logistics, như: Quyết định 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến 2025; Chỉ thị 21/CT-TTg ngày 18/07/2018 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh triển khai các giải pháp nhằm giảm chi phí logistics, kết nối hiệu quả hệ thống hạ tầng giao thông; Nghị quyết 19/NQ-CP năm 2018 của Chỉnh phủ ngày 15/05/2018
về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện mội trường kinh doanh, nâng cao năng lực canh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo
1.4.2 Các văn bản pháp luật quốc tế
Các hoạt động dịch vụ logistics ngoài việc được điều chỉnh bằng nhiều văn bản pháp luật quốc gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau còn được điều chỉnh bằng nhiều văn bản pháp luật quốc tế, cụ thể:
Trang 32- Dịch vụ logistics liên quan tới vận tải biển chịu sự tác động của các điều ước quốc tế như Công ước Brussel (1924), Nghị định thư Visby (1968), Công ước Hamburg (1978)
- Liên quan tới vận tải hàng không có Công ước Vacsava (1929), Nghị định thư Hague (1955), Nghị định thư Montreal (1975), Công ước Montreal (1999)
- Công ước quốc tế vận tải đa phương thức (1980) Công ước quốc tế về vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt (1951), Quy tắc của UNCTAD/ICC về chứng từ vận tải đa phương thức (1992),
Bên cạnh đó, còn có Công ước đơn giản hóa hài hòa hóa thủ tục hải quan tại Kyoto (Nhật) năm 1973 và được sửa đổi,
bổ sung năm 1999 (được gọi là Công ước Kyoto sửa đổi) Đối với hàng nguy hiểm, việc vận chuyển được điều chỉnh hệ thống văn bản riêng, chẳng hạn: Quy định vận chuyển hàng nguy hiểm đường hàng không theo Hiệp hội vận tải hàng không (IATA); Quy định vận chuyển hàng nguy hiểm theo Bộ luật quốc tế về vận chuyển hàng nguy hiểm bằng đường biển ( Bộ luật IMDG); Bộ luật Quốc tế về An ninh Tàu
và Bến cảng (Bộ luật ISPS); Hiệp ước của Liên Hiệp Quốc năm 1957 về việc vận chuyển xuyên quốc gia các vật liệu nguy hiểm (ADR); Hiệp ước Châu Âu về vận chuyển quốc tế hàng nguy hiểm bằng đường thủy nội địa (AND); Quy định về vận chuyển quốc tế hàng nguy hiểm bằng đường sắt (RID); Hầu hết các công ước quốc tế này được hình thành từ các nước có kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật… các thành viên khác chấp thuận
Trang 33Khi Việt Nam là thành viên của 10 nước ASEAN, dịch
vụ logistics còn chịu tác động của các thỏa thuận tại khu vực như: Hiệp định vận tải qua biên giới (GMS) 1999; Tạo thuận lợi cho hàng hóa quá cảnh (1968); Hiệp định khung vận tải đa phương thức ASEAN 2005
1.4.3 Tập quán, thông lệ thương mại quốc tế
Trong quá trình kinh doanh dịch vụ logistics, các doanh nghiệp cũng phải thực hiện các tập quán quốc tế, chẳng hạn, điều kiện giao nhận hàng (Incoterms); quy tắc thực hiện tín dụng chứng từ; bảo hiểm hàng hóa trong quá trình vận chuyển, bốc xếp, lưu kho, giao nhận
Tập quán thương mại quốc tế là thói quen thương mại
được hình thành lâu đời, có nội dung cụ thể, rõ ràng, được áp dụng liên tục và được thừa nhận trong quan hệ thương mại quốc tế
Tập quán thương mại quốc tế cũng là một trong những nguồn luật cơ bản điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc
tế nói chung và hoạt động dịch vụ logistics nói riêng Thông thường, các tập quán quốc tế được chia thành 3 nhóm: các tập quán có tính chất nguyên tắc, các tập quán quốc tế chung và các tập quán thương mại khu vực
Tập quán có tính chất nguyên tắc là những tập quán cơ bản, bao trùm, được hình thành trên cơ sở của những nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và bình đẳng giữa các dân tộc Ví dụ, tập quán “được quyền chọn luật” cho phép các đương sự được quyền chọn luật nước ngoài để điều chỉnh cho hợp đồng mà mình ký; tập quán “luật quốc tịch” quy định
Trang 34pháp nhân mang quốc tịch nước nào thì địa vị pháp lý của nó
do luật nước đó quy định; tập quán “tòa án hoặc trọng tài nước nào khi giải quyết tranh chấp có quyền áp dụng các quy tắc tố tụng của nước đó”
Tập quán thương mại quốc tế chung là các tập quán thương mại được nhiều nước công nhận và được áp dụng ở nhiều nơi, nhiều khu vực Ví dụ các điều kiện thương mại quốc tế (INCOTERMS) do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) tập hợp và soạn thảo trong đó quy định các điều kiện thương mại khác nhau (như điều kiện FOB, CIF, CFR…) được rất nhiều nước trên thế giới thừa nhận và áp dụng INCOTERMS được ban hành lần đầu tiên vào năm 1936, và phiên bản gần đây nhất là INCOTERMS năm 2010 và INCOTERMS năm
2020 Đây là nhóm tập quán thương mại liên quan trực tiếp và mật thiết với hoạt động thương mại quốc tế
Các tập quán thương mại khu vực (địa phương) là các tập quán thương mại quốc tế được áp dụng ở từng nước, từng khu vực Ví dụ, ở Hoa Kỳ cũng có điều kiện giao hàng FOB nhưng nghĩa vụ của người bán theo FOB của Hoa Kỳ sẽ nặng hơn nhiều so với điều kiện FOB trong Incoterms của ICC
Thông lệ (Thói quen) trong hoạt động thương mại là quy
tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thương mại Chẳng hạn, trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế cho phép trọng lượng/khối lượng hàng hóa được dung sai theo một tỷ lệ nhất định Mức dung sai này không cố định mà phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm của hàng
Trang 35hóa xuất khẩu, nhập khẩu nhưng cũng không được vượt quá mức cho phép (thường < 10%) Theo thông lệ, nông sản, ngũ cốc dung sai là 3%; Cà phê, chè, lạc là 2,5%; Dung sai lớn nhất là mặt hàng gỗ tròn và dầu mỏ là 10% v.v…
Nguyên tắc áp dụng cơ sở pháp lý, trước hết áp dụng pháp luật quốc gia, nếu pháp luật quốc gia chưa quy định thì
áp dụng pháp luật quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết hoặc công nhận Trường hợp pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế chưa có quy định thì có thể áp dụng tập quán và thông
lệ thương mại quốc tế
Điều 5, Luật Hải quan năm 2014 quy định Áp dụng điều ước quốc tế, tập quán và thông lệ quốc tế liên quan đến hải quan như sau:
“1 Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc
tế đó
2 Đối với những trường hợp mà Luật này, văn bản pháp luật khác của Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên chưa có quy định thì có thể
áp dụng tập quán và thông lệ quốc tế liên quan đến hải quan, nếu việc áp dụng tập quán và thông lệ quốc tế đó không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”
Có thể nói, các Công ước quốc tế cũng như các tập quán thương mại quốc tế cũng được hình thành chủ yếu từ các nước phát triển và là một trong những nguồn hết sức cơ bản của pháp luật logistics
Trang 361.5 Quá trình phát triển của pháp luật về logistics ở Việt Nam
Hệ thống luật pháp Việt Nam liên quan tới logistics dần được hình thành và hoàn thiện Luật Thương mại năm 2005
đã thay thế Luật Thương mại 1997, trong đó thuật ngữ
“logistics” được thay cho thuật ngữ “dịch vụ giao nhận” được
quy định trong Luật Thương mại 1997 Năm 2005, Bộ Luật Hàng hải sửa đổi Bộ Luật Hàng hải 1990, phù hợp dần với luật quốc tế Năm 2006, Việt Nam chính thức công nhận Công ước tạo điều kiện thuận lợi cho tàu biển ra vào cảng biển (FAL-65) Đồng thời với Bộ luật Hàng hải, các luật về hàng không, đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, Luật Hải quan, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm cũng ra đời Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics được quy định tại Nghị định số 140/2007/NĐ- CP ngày 5/9/2007 quy định chi tiết Luật Thương mại năm 2005 về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Đến năm 2017, Luật Quản lý ngoại thương ra đời Luật Quản lý ngoại thương đã được Quốc hội thông qua năm 2017, chính thức có hiệu lực từ 01/01/2018, gồm 8 Chương 113 Điều quy định về biện pháp quản lý ngoại thương, phát triển hoạt động ngoại thương Luật điều chỉnh chủ yếu công tác quản lý nhà nước về ngoại thương bao gồm: các biện pháp quản lý, điều hành hoạt động ngoại thương có liên quan đến mua bán hàng hóa quốc tế; không điều chỉnh, can thiệp vào các hoạt động cụ thể của thương nhân, giữa các thương nhân với nhau Luật chỉ điều chỉnh đối tượng là hàng hóa, không điều chỉnh đối tượng dịch vụ Luật Quản lý ngoại
Trang 37thương hệ thống hóa lại các hình thức thương mại quốc tế, bao gồm cả xuất khẩu, nhập khẩu, gia công, đại lý, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh, v.v Trong năm 2017, Chính phủ tiến hành sửa đổi Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 5/9/2007 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Nghị định 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 đưa ra phân loại mới cho dịch vụ logistics, cập nhật những cam kết mở cửa dịch vụ logistics trong WTO sau 10 năm Việt Nam tham gia tổ chức này Nghị định 160/2016/NĐ-CP, ngày 29/11/2016 về điều kiện kinh doanh vận tải biển, kinh doanh dịch vụ đại lý tàu biển và dịch vụ lai dắt tàu biển có hiệu lực từ ngày 01/7/2017
và thay thế cho Nghị định 30/2014/NĐ-CP, ngày 14/4/2014 của Chính phủ về điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải biển và dịch vụ hỗ trợ vận tải biển Mục đích của Nghị định 160/2016/NĐ-CP là nhằm quy định chi tiết những điều khoản
có liên quan của Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015, có hiệu lực
từ ngày 01/7/2017 Vì vậy, Nghị định đã quy định rõ ràng hơn các điều kiện kinh doanh về tổ chức bộ máy, tài chính và nhân lực so với Nghị định 30/2014/NĐ-CP và phù hợp với tiến trình hội nhập sâu rộng của nước ta khi thực hiện đầy đủ các cam kết của Việt Nam về dịch vụ vận tải biển trong ASEAN
và WTO, tiến tới thực hiện các cam kết trong TPP và các FTA thế hệ mới, qua đó tạo ra một môi trường pháp lý minh bạch
và bình đẳng cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải biển trong nước cũng như nước ngoài tại Việt Nam
Trang 38Bên cạnh đó, một số văn bản pháp luật trong lĩnh vực hải quan cũng được ra đời, như: Luật Hải quan năm 2014; Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 của Chính phủ qui định chi tiết và biện pháp thi hành Luật hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan; Nghị định số 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 08/2015/NĐ-CP;Nghị định 01/2015/NĐ-CP ngày 02/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; trách nhiệm phối hợp trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; Nghị định 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 quy định việc
xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan và Nghị định 45/2016/NĐ-
CP ngày 26 tháng 5 năm 2016 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 127/2013/NĐ-CP; Thông tư số 38 /2015/TT-BTC, ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính, Quy định
về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 38 /2015/TT-BTC; Thông tư số 42/2015/TT-BTC ngày 27/03/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; Thông tư số 14/2015/TT-BTC ngày 30/01/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phân loại hàng hóa, phân tích để phân loại hàng hóa; phân tích để kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Thông tư số 39/2015/TT-BTC ngày 35/03/2015 của Bộ Tài chính quy định về trị giá hải
Trang 39quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Thông tư số 12/2015/TT-BTC ngày 30/01/2015 của Bộ Tài chính quy định chi tiết Thủ tục cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan; cấp và thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan; trình tự, thủ tục công nhận và hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan; Thông tư số 13/2015/TT-BTC ngày 30/01/2015 của Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; Thông tư số 203/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý hàng hóa tồn đọng thuộc địa bàn hoạt động hải quan; Thông tư số 49/2015/TT-BTC ngày 14/04/2015 của Bộ Tài chính quy định thủ tục hải quan đối với thư, gói, kiện hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua dịch vụ bưu chính của doanh nghiệp được chỉ định; Thông tư số 72/2015/TT-BTC ngày 12/5/2015 của Bộ Tài chính quy định áp dụng chế độ ưu tiên trong thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp; v.v
Đối với lĩnh vực thông quan hàng hóa đường hàng không: Ngày 13/10/2017, Bộ Tài chính đã ký Quyết định 2061/QĐ-BTC về việc áp dụng thí điểm quản lý, giám sát hải quan tự động đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh tại cảng hàng không quốc tế Nội Bài Phạm vi áp dụng thí điểm là đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh
có cửa khẩu xuất (địa điểm xếp hàng khai trên tờ khai xuất khẩu) hoặc cửa khẩu nhập (địa điểm dỡ hàng khai trên tờ khai
Trang 40nhập khẩu) là cảng hàng không quốc tế Nội Bài thuộc địa bàn quản lý của Cục Hải quan Hà Nội
Đối với lĩnh vực thông quan hàng hóa đường biển: Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 2722/QĐ-BTC về việc
áp dụng thí điểm quản lý, giám sát hải quan tự động đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh tại cảng biển, cảng hàng không dân dụng quốc tế, ban hành ngày 29/12/2017 Quá trình phát triển của pháp luật logistics ở Việt Nam gắn liền với sự tham gia Hiệp định Tạo thuận lợi thương mại của WTO Việt Nam phê chuẩn Hiệp định Tạo thuận lợi thương mại (TFA) từ tháng 11/2015 Ngày 22/2/2017, TFA đã nhận được phê chuẩn cần thiết từ 2/3 trong tổng số 164 thành viên của WTO và chính thức có hiệu lực.TFA có hiệu lực hứa hẹn sẽ đẩy nhanh sự luân chuyển, thông quan và giải phóng hàng hóa; mở ra một thời kỳ mới cho cải cách, tạo thuận lợi thương mại và tạo ra một động lực quan trọng thúc đẩy hoạt động thương mại hàng hóa quốc tế, mang lại lợi ích chung cho tất cả các quốc gia thành viên Việc triển khai đầy đủ TFA được dự báo sẽ cắt giảm trung bình 14,3% chi phí thương mại của các quốc gia thành viên, trong đó các nước đang phát triển
sẽ được lợi nhiều nhất Cùng với việc tham gia TFA, đó là sự
ra đời của Quyết định 1899/QĐ-TTg ngày 4/10/2016 thành lập Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN, Cơ chế một cửa Quốc gia và Tạo thuận lợi thương mại Cơ chế một cửa ASEAN, Cơ chế một cửa Quốc gia mang lại cho cộng đồng doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp dịch vụ logistics nhiều lợi ích như: giảm thời gian thực hiện TTHC, giảm số hồ sơ phải nộp cho các cơ quan quản lý, đơn giản hóa