Lực lượng kiểm soát hải quan hiện nay có thể thực hiện vai trò kiểm soát của mình đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, hành lý của hành khách xuất nhập cảnh cũng như phương tiện vận tải xuất
Trang 1VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN TIẾN
KIỂM SOÁT HÀNG HÓA THÔNG QUAN THEO PHÁP LUẬT HẢI QUAN
TỪ THỰC TIỄN CỦA CỤC HẢI QUAN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại : Học viện Khoa học xã hội Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Bùi Nguyên Khánh
Phản biện 1: TS Đặng Vũ Huân
Phản biện 2: PGS.TS Lê Thị Bích Thọ
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc
sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội 16 giờ 55 ngày 04 tháng 5 năm
2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, tình hình buôn lậu, gian lận thương mại ở nước ta ngày càng diễn biến phức tạp, mang tính thời sự, gây trở ngại cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Ngày 06 tháng 5 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy chế về trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả tại Quyết định số 19/2016/QĐ-TTg; sau đó, ngày 09/6/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 41/NQ-CP (Nghị quyết 41) về việc đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới
Công tác Kiểm soát Hải quan - mang tính đặc thù của ngành hải quan với chức năng điều tra - là công tác nghiệp vụ chính để vạch trần các thủ đoạn buôn lậu, gian lận thương mại Lực lượng kiểm soát hải quan hiện nay có thể thực hiện vai trò kiểm soát của mình đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, hành lý của hành khách xuất nhập cảnh cũng như phương tiện vận tải xuất nhập cảnh trước khi xuất- nhập khẩu, xuất-nhập cảnh; trong quá trình làm thủ tục hải quan và đặc biệt là thực hiện vai trò kiểm soát sau khi hàng hóa đã thông quan với chức năng “truy đuổi” mới được quy định tại Luật Hải quan năm 2014
Trong thời gian qua, dựa vào những đổi mới của việc nội lực hóa luật nhằm phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia cộng với các chủ trương, chính sách phù hợp, công tác Kiểm soát Hải quan mặc dù đã thu được một số kết quả đáng khích lệ nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như: Công tác tham mưu, chỉ đạo chưa
Trang 4đảm bảo tính tập trung, thống nhất; Các đơn vị Kiểm soát Hải quan các cấp chưa thực hiện hết quyền hạn, thẩm quyền pháp luật quy định (như nghiệp vụ điều tra, trinh sát, thu thập thông tin…)…nhưng quan trọng nhất vẫn là “độ chênh” của pháp luật, kẽ hở của chính sách và khoảng trống do pháp luật tạo ra với những điều khoản chung chung và chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể
Là một công chức hiện đang công tác tại Đội Kiểm soát Hải quan – Cục Hải quan Tp.Hồ Chí Minh, từ thực tiễn công tác và
những hạn chế nêu trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Kiểm soát hàng hóa thông quan theo pháp luật hải quan từ thực tiễn của Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh”làm luận văn Thạc sỹ
chuyên ngành Luật Kinh tế
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ khi Luật Hải quan năm 2014 có hiệu lực (01/01/2015) đã có nhiều luận văn về đề tài kiểm soát hải quan như: “Công tác kiểm soát hải quan tại Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài” năm 2015 của tác giả Nguyễn Trọng Hoàng- Học viện Tài chính; hoặc luận văn Thạc sĩ Luật học “Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu thông quan theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn các cửa khẩu biên giới Việt Trung”- năm 2016- Học Viện Khoa học xã hội của Vũ Thị Phượng… nhưng đa phần nội dung chỉ tập trung vào công tác chống buôn lậu tại một cửa khẩu (sân bay quốc tế Nội Bài) hoặc tập trung vào kiểm soát hải quan liên quan đến sở hữu trí tuệ tại biên giới Việt Trung mà không đi sâu vào phân tích quá trình kiểm soát hải quan trước, trong và sau khi hàng hóa thông quan (quyền truy đuổi-điểm mới của Luật Hải quan năm 2014)
Trang 5Vì vậy, có thể khẳng định đề tài nghiên cứu của tôi có kế thừa nhưng không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn nhằm làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận về kiểm soát hàng hóa thông quan theo pháp luật hải quan; phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan và thực tiễn áp dụng của Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh, để từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan ở Việt Nam hiện nay
b Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đã đặt ra, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề sau: nhằm làm sáng tỏ những vấn đê lý luận về kiểm soát hàng hóa thông quan theo pháp luật hải quan; Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hải quan các quy định pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan và thực tiễn áp dụng của Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh; Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 6- Hiệu quả của công tác kiểm soát hải quan tại Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh
b Phạm vi:
Kiểm soát thông quan hàng hóa từ thực tiễn của Đội Kiểm soát Hải quan – Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp phân tích hệ thống và thống kê để có được các con số cụ thể về số liệu vụ việc vi phạm; Phương pháp khảo sát thực
tế tại Đội Kiểm soát Hải quan – Cục Hải quan Tp.Hồ Chí Minh; Phương pháp phân tích, đánh giá
Các phương pháp khác như mô tả, so sánh…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Nếu đề tài được nghiên cứu thành công, đề tài có những đóng góp sau:
- Về mặt lý luận: Góp phần bổ sung các vấn đề lý luận về nghiệp
vụ kiểm soát của lực lượng hải quan
- Về mặt thực tiễn: Góp phần tuyên truyền ý nghĩa, tác dụng và thực tiễn của công tác kiểm soát hải quan trong lĩnh vực hải quan tới các cán bộ, công chức của ngành nói riêng cũng như các tổ chức, cá nhân trong hoạt động kinh tế liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa… có mối liên quan tới ngành hải quan và giới thiệu lực lượng kiểm soát hải quan ở một góc nhìn tích cực hơn, góp phần khẳng định vai trò của lực lượng này đối với nền kinh tế; trong quá trình thực hiện đề tài cũng như trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến công tác kiểm soát thông quan hàng hóa, tác giả sẽ phát hiện ra
Trang 7những hạn chế, vướng mắc và bất cập, từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp khắc phục; Những giải pháp và kiến nghị sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm soát thông quan hàng hóa
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, phần nội dung chính của đề tài được kết cấu thành 3 chương chính, bao gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm soát hàng hóa thông quan theo pháp luật hải quan
Chương 2: Thực trạng các quy định pháp luật hải quan các quy định pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan và thực tiễn áp dụng của Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan ở Việt Nam hiện nay
Trang 8Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT HÀNG HÓA THÔNG QUAN THEO PHÁP LUẬT HẢI QUAN
1.1 Khái niệm kiểm soát hải quan và kiểm soát hàng hóa thông quan
Theo định nghĩa tại Điều 4 Luật Hải quan năm 2014, “Kiểm soát hải quan là biện pháp tuần tra, điều tra, xác minh hoặc biện pháp nghiệp vụ khác do cơ quan hải quan áp dụng để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan.”
Kiểm soát hàng hóa thông quan là việc thực hiện công tác kiểm soát hải quan trước, trong và sau khi hàng hóa đã thông quan (đối với công tác kiểm soát hải quan tập trung vào quyền truy đuổi hàng hóa đã được thông quan chứ không phải là công tác kiểm tra sau thông quan của ngành hải quan)
Kiểm soát hải quan trước khi đối tượng khai báo hải quan, trong thời điểm đối tượng khai báo hải quan : Căn cứ theo Chương VI Luật Hải quan năm 2014 thì nguồn thu thập thông tin của cơ quan hải quan có 02 nguồn: trong nước và ngoài nước
Kiểm soát hải quan sau khi hàng hóa đã được thông quan (quyền truy đuổi): theo Điều 88 Luật Hải quan năm 2014
1.2 Pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan
1.2.1 Nguyên tắc kiểm soát hàng hóa thông quan
Một là, tuân thủ pháp luật, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật đã định; phát hiện kịp thời, chính xác, xử lý nghiêm minh các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa
Trang 9qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan; không gây khó khăn cho các hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh Hai là, lực lượng kiểm soát hải quan được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất; cơ quan cấp trên chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động nghiệp vụ đối với cơ quan cấp dưới;
cơ quan cấp dưới chấp hành sự chỉ đạo của cơ quan cấp trên, thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất theo yêu cầu của cơ quan cấp trên
Ba là, nghiêm cấm tiết lộ bí mật về công tác kiểm soát hải quan cho cá nhân, tổ chức không có trách nhiệm
Bốn là, các biện pháp nghiệp vụ, phương tiện nghiệp vụ chuyên dụng của lực lượng kiểm soát hải quan chỉ sử dụng vào mục đích phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan
Năm là, trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, lực lượng kiểm soát hải quan chủ trì thực hiện công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan Ngoài phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, lực lượng kiểm soát hải quan có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan và chính quyền các cấp thực hiện công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan
1.2.2 Chủ thể kiểm soát hàng hóa thông quan
Cũng là chủ thể của công tác kiểm soát hải quan, theo quy định tại Luật Hải quan năm 2014 gồm: Tổ chức, cá nhân thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải; Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên
Trang 10quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải; Cơ quan hải quan, công chức hải quan; Cơ quan khác của Nhà nước trong việc phối hợp quản lý nhà nước về hải quan
1.2.3 Nội dung pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan
Nội dung cơ bản của pháp luật về kiểm soát hàng hóa thông quan cũng chính là những quy định của pháp luật về công tác kiểm soát hải quan, mà chủ yếu là công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan
Luật Hải quan quy định: hải quan có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Chương V Luật Hải quan năm 2014 gồm 6 điều, từ Điều 87 đến Điều 92 quy định về trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới Trong Bộ luật hình sự hiện hành (1999), Điều 153 quy định tội
“buôn lậu” và Điều 154 quy định tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới”
Điều 111 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 9, Điều 33 Luật Tổ chức
cơ quan điều tra hình sự năm 2015 đều có điều khoản quy định về thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra của cơ quan hải
Trang 11quan đối với tội “buôn lậu” Điều 153 và tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới” Điều 154 Bộ luật Hình sự
Luật Hải quan năm 2014 quy định về thẩm quyền của cơ quan hải quan trong công tác kiểm soát hải quan tại Điều 89, 90
Chương VII (từ Điều 101 đến Điều 104) Nghị định
08/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Hải quan năm 2014, Chính phủ đã quy định rõ các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan mà cơ quan được
áp dụng, thực hiện
1.2.4 Trách nhiệm pháp lý theo pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan
Được quy định tại Điều 88 Luật Hải quan năm 2014
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát hàng hóa thông quan theo pháp luật hải quan
WCO đã nghiên cứu đưa ra các chuẩn mực, xây dựng thành các công ước quốc tế để các quốc gia thành viên căn cứ áp dụng Đồng thời WCO cũng tiến hành các hoạt động hỗ trợ, giám sát, đánh giá và
tư vấn cho các quốc gia trong lộ trình cải cách chính sách pháp luật Hải quan; nhấn mạnh hai yếu tố minh bạch và liêm chính (bằng các tuyên bố, khuyến cáo chung) và thành lập Tiểu ban liêm chính (ISC) Năm 1993, Tuyên bố Arusha của WCO về liêm chính Hải quan đã được đưa ra với 12 nhân tố, giải pháp chính Tại Nariobi (Cộng hòa Kenya) các nước thành viên của WCO đã ký Công ước quốc tế về giúp đỡ hành chính giữa các nước nhằm ngăn ngừa, điều tra, trấn áp các hành vi vi phạm pháp luật hải quan (công tác kiểm soát hải quan theo định nghĩa tại Công ước Kyoto) Luật Hải quan của các nước đều có một phần quan trọng quy định về hành vi buôn lậu và các vấn
đề có liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu Có thể kể đến Luật Hải quan của một số nước như: Trung Quốc, Pháp,
Trang 12Nga, Indonesia, Philippin… nước không quy định chi tiết trong Luật Hải quan thì xây dựng thành một Luật riêng về phòng, chống buôn lậu như Đài Loan
Hầu hết các nước đều quy định cho nhân viên Hải quan có tư cách đầy đủ của một điều tra viên hoặc nhân viên điều tra Ví dụ: Indonesia, Vương quốc Anh, Nga…
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Pháp luật Việt Nam đang từng bước được hoàn thiện để thực hiện các cam kết quốc tế, để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập Với sự thay đổi gần như toàn diện của Luật Hải quan năm 2014 dẫn đến nhiều thách thức, khó khăn hơn trong công tác kiểm soát hải quan Nhất là đối với lực lượng kiểm soát hải quan tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh phức tạp và đa dạng nhất nước
Việc tìm hiểu pháp luật về kiểm soát hải quan và những vấn đề liên quan là cơ sở để xác định được mục đích nghiên cứu Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu các công trình, bài viết có liên quan của các tác giả trong và ngoài nước, tác giả đã rút ra được những vấn đề chưa được các nhà nghiên cứu trước làm rõ Nhiệm vụ của Luận án phải tiếp tục làm rõ các vấn đề dưới đây: Thực trạng các quy định pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan và thực tiễn áp dụng tại Cục Hải quan Tp.Hồ Chí Minh; từ đó đề xuất được các giải pháp
cụ thể về hoàn thiện
Đây là những vấn đề lý luận chủ yếu để tác giả dựa vào để làm
rõ các vấn đề nêu trên trong Chương 2 và Chương 3 dưới đây của Luận văn
Trang 13Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HẢI QUAN VỀ KIỂM SOÁT HÀNG HÓA THÔNG QUAN VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG CỦA CỤC HẢI QUAN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Thực trạng các quy định pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan
2.1.1 Nguyên tắc kiểm soát hàng hóa thông quan
Có khó khăn nhất định trong việc đảm bảo nguyên tắc “phát hiện kịp thời, chính xác, xử lý nghiêm minh các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan; không gây khó khăn cho các hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh” của công tác kiểm soát hải quan Cụ thể, với
tờ khai được phân luồng xanh (miễn kiểm tra) sau 1 click chuột máy tính, doanh nghiệp chỉ cần in tờ khai và đến cảng làm thủ tục nhận hàng, thời gian làm thủ tục hải quan cho đến khi nhận hàng của doanh nghiệp chỉ còn vài chục phút Với thời gian ngắn ngủi này, nếu thu thập được thông tin hoặc nhận được tin tố giác, tố cáo về hành vi buôn lậu thì lực lượng kiểm soát hải quan cũng gặp không ít khó khăn khi phải xác minh nguồn thông tin và tiến hành ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm
2.1.2 Chủ thể kiểm soát hàng hóa thông quan:
Doanh nghiệp và đại lý hải quan chưa ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình trong việc làm thủ tục hải quan Có thể đơn cử như việc doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp có uy tín, lâu năm) vẫn còn chưa chú trọng đúng mức vấn đề bảo mật chữ ký số của mình dẫn đến tình trạng lợi dụng sơ hở của chủ doanh nghiệp, chính đối tượng được doanh nghiệp giao đi làm thủ tục khai báo hải quan lại