1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Kiểm soát hàng hóa thông quan theo pháp luật hải quan từ thực tiễn của Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh

83 289 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hình này trong thực tế (Jamaliah and Maliah, 2008; Henrik and Erling, 2011, Phillip, 2013; Martha et al, 2014). Theo Huynh and Gong (2014) và Huynh et al (2014) việc vận dụng phương pháp này vào các doanh nghiệp tại Việt Nam là rất hạn chế. Đặc biệt nghiên cứu có hệ thống về các nhân tố tác động tiêu cực đến việc vận dụng phương pháp ABC chưa có, đây chính là lỗ hổng nghiên cứu về phương pháp này tại Việt Nam. Việc tìm ra các nhân tố cản trở áp dụng phương pháp ABC vào các doanh nghiệp tại Việt Nam có ý nghĩa quan trọng, giúp cho các nhà quản lý nhận định được các khó khăn khi triển khai, và tìm cách khắc phục để có thể áp dụng thành công phương pháp này vào từng doanh nghiệp cụ thể giúp tăng khả năng cạnh tranh và tăng hiệu quả kinh doanh tại đơn vị. Như vậy, phương pháp phân bổ chi phí ước tính theo mức độ hoạt động có thể xem là một công cụ tăng hiệu quả và tính cạnh tranh cho doanh nghiệp (Kaplan and Johnson, 1987) và có thể giúp các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ khó khăn như hiện nay. Việc nghiên cứu các nhân tố cản trở vận dụng phương pháp này vào các doanh nghiệp Việt Nam được xem là cấp thiết phù hợp với điều kiện thực tế đang diễn ra tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc vận dụng phương pháp ABC vào thực tế còn nhiều thách thức (Phillip, 2013), việc tìm ra các nhân tố ngăn trở áp dụng phương pháp này vào thực tế để từ đó có các giải pháp vận dụng phương pháp này là mục tiêu cấp thiết của luận án này. 2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của luận án hướng đến các vấn đề sau: Xác định các nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình vận dụng phương pháp phân bổ chi phí ước tính theo mức độ hoạt động vào các doanh nghiệp tại Việt Nam. - Đo lường và đánh giá mức độ tác động của các nhân tố này đến quá trình vận dụng phương pháp ABC vào thực tế tại các doanh nghiệp ở Việt Nam. Từ đó, có thể đưa ra một số gợi ý về xây dựng các giải pháp để nhằm vận dụng có hiệu quả mô hình này vào thực tế. này. Cụ thể, Ngày 06 tháng 5 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy chế về trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả tại Quyết định số 19/2016/QĐ-TTg; sau đó, ngày 09/6/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 41/NQ-CP (Nghị quyết 41) về việc đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới. Tổng cục Hải quan là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, là cơ quan chủ quản, chịu trách nhiệm chính trong công tác phòng, chống buôn lậu. Song song với việc tạo điều kiện, chính sách thuận lợi cho xuất nhập khẩu như áp dụng cơ chế quản lý rủi ro, khai báo điện tử, cơ chế một cửa quốc gia, kiểm tra sau thông quan…thì công tác Kiểm soát Hải quan - mang tính đặc thù của ngành hải quan với chức năng điều tra - là công tác nghiệp vụ chính để vạch trần các thủ đoạn buôn lậu, gian lận thương mại, từ đó đề ra các giải pháp phù hợp nhằm đẩy lùi, ngăn chặn kịp thời và xử lý hiệu quả các hành vi buôn lậu, vận chyển trái phép hàng hóa qua biên giới và gian lận thương mại. Lực lượng kiểm soát hải quan hiện nay có thể thực hiện vai trò kiểm soát của mình đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, hành lý của hành khách xuất nhập cảnh cũng như phương tiện vận tải xuất nhập cảnh trước khi xuất- nhập khẩu, xuất-nhập cảnh; trong quá trình làm thủ tục hải quan và đặc biệt là thực hiện vai trò kiểm soát sau khi hàng hóa đã thông quan với chức năng “truy đuổi” mới được quy định tại Luật Hải quan năm 2014. Trong thời gian qua, dựa vào những đổi mới của việc nội lực hóa luật nhằm phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia cộng với các chủ trương, chính sách phù hợp, công tác Kiểm soát Hải quan mặc dù đã thu được một số kết quả đáng khích lệ nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như: Công tác tham mưu, chỉ đạo chưa đảm bảo tính tập trung, thống nhất; Các đơn vị Kiểm soát Hải quan các cấp chưa thực hiện hết quyền hạn, thẩm quyền pháp luật quy định (như nghiệp vụ điều tra, trinh sát, thu thập thông tin…)…nhưng quan trọng nhất vẫn là “độ chênh” của pháp luật, kẽ hở của chính sách và khoảng trống do pháp luật tạo ra với những điều khoản chung chung và chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể. Là một công chức hiện đang công tác tại Đội Kiểm soát Hải quan – Cục Hải quan Tp.Hồ Chí Minh, từ thực tiễn công tác và những hạn chế nêu trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Kiểm soát hàng hóa thông quan theo pháp luật hải quan từ thực tiễn của Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh”làm luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Luật Kinh tế.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VĂN TIẾN

KIỂM SOÁT HÀNG HÓA THÔNG QUAN

THEO PHÁP LUẬT HẢI QUAN

TỪ THỰC TIỄN CỦA CỤC HẢI QUAN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT HÀNG HÓA THÔNG QUAN THEO PHÁP LUẬT HẢI QUAN 9

1.1 Khái niệm kiểm soát hải quan và kiểm soát hàng hóa thông quan 9

1.2 Pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan 15

1.2.1 Nguyên tắc kiểm soát hàng hóa thông quan 15

1.2.2 Chủ thể kiểm soát hàng hóa thông quan 17

1.2.3 Nội dung pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan 18

1.2.4 Trách nhiệm pháp lý theo pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan 21

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát hàng hóa thông quan theo pháp luật hải quan 23

Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HẢI QUAN VỀ KIỂM SOÁT HÀNG HÓA THÔNG QUAN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG CỦA CỤC HẢI QUAN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 27

2.1 Thực trạng các quy định pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan 31

2.1.1 Nguyên tắc kiểm soát hàng hóa thông quan 31

2.1.2 Chủ thể kiểm soát hàng hóa thông quan 33

2.1.3 Nội dung pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan 37

2.1.4 Trách nhiệm pháp lý theo pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan 40

2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan tại Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh 46

2.2.1 Trong lĩnh vực gia công xuất khẩu 46

2.2.2 “Kẽ hở” của pháp luật về trách nhiệm hình sự 47

2.2.3 Quy định chưa minh bạch 58

2.2.5 Đạo luật khác hạn chế hoạt động 60

Trang 3

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HẢI QUAN VỀ KIỂM SOÁT HÀNG HÓA THÔNG

QUAN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 63

3.1 Phương hướng hoàn thiện 63

3.2 Giải pháp hoàn thiện 64

3.2.1 Về chủ thể 64

3.2.2 Về các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan 67

3.2.3 Về trách nhiệm pháp lý theo pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan 68

3.2.4 Về thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật 69

KẾT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CITES Convention on International Trade in Endangered

Species of Wild Fauna and Flora

Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp

VNACCS/VCIS Viet Nam Automated Cargo Clearance System

Hệ thống thông quan hàng hóa tự động Việt Nam, sử dụng để thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu

Vietnam Customs Intelligence Information System

Hệ thống thông tin tình báo Hải quan Việt Nam, chủ yếu phục vụ nội bộ cho công tác quản lý rủi ro và giám sát nghiệp vụ của cơ quan Hải quan

Ngân hàng thế giới

Tổ chức Hải quan thế giới

Trang 5

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH MINH HỌA

Biểu đồ 2.1: số thu ngân sách nhà nước của Cục Hải quan TP.HCM so với

toàn ngành Hải quan 28

Biểu đồ 2.2: vụ việc buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới phát hiện qua các năm 2015, 2016 của Cục Hải quan Tp.Hồ Chí Minh và của Đội Kiểm soát Hải quan 31

Hình 2.1: ảnh minh họa cho Ví dụ 2: Phế liệu cấm nhập khẩu 48

Hình 2.2: ảnh minh họa cho Ví dụ 3: tang vật ngà voi 53

Hình 2.3: ảnh minh họa cho Ví dụ 4: website doanh nghiệp xuất khẩu 55

Hình 2.4: ảnh minh họa cho Ví dụ 4: tang vật Da trăn gấm 56

Trang 6

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Nếu như vào thời kỳ sau giải phóng đất nước, Tổng cục Hải quan là cơ quan trực thuộc chính phủ (Hội đồng bộ trưởng), là “lực lượng chuyên chính nửa vũ trang”, thì đến năm 2002- khi đã là thành viên của tổ chức hải quan thế giới (WCO)- Luật Hải quan có hiệu lực thi hành, Tổng cục Hải quan đã chuyển thành một cơ quan hành chính sự nghiệp trực thuộc Bộ Tài chính Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, nền kinh tế nước ta càng ngày càng tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế thế giới thì vai trò, trách nhiệm của lực lượng Hải quan ngày càng to lớn, nặng nề hơn Và với Luật Hải quan năm 2014, bước phát triển mới về cơ sở pháp lý, ngành Hải quan đã đẩy mạnh cải cách thủ tục hải quan từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Với vai trò “Người gác cửa nền kinh tế đất nước”, Hải quan Việt Nam

hoạt động tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế liên quan đến công tác Hải quan Theo đó, một mặt Hải quan phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế và các mối quan hệ giao lưu, hợp tác phát triển Mặt khác, lực lượng Hải quan phải kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn hiện tượng gian lận thương mại, buôn lậu qua biên giới, góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, bảo vệ lợi ích và quyền lợi người tiêu dùng, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, bảo vệ lợi ích và chủ quyền an ninh quốc gia

Những năm gần đây, tình hình buôn lậu, gian lận thương mại ở nước ta ngày càng diễn biến phức tạp, mang tính thời sự, gây trở ngại cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Nhận thức rõ vấn đề đó, Đảng và Nhà nước

đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để ngăn chặn, phòng ngừa “hiểm họa”

Trang 7

này Cụ thể, Ngày 06 tháng 5 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy chế về trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả tại Quyết định số 19/2016/QĐ-TTg; sau đó, ngày 09/6/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 41/NQ-CP (Nghị quyết 41)

về việc đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới

Tổng cục Hải quan là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, là cơ quan chủ quản, chịu trách nhiệm chính trong công tác phòng, chống buôn lậu Song song với việc tạo điều kiện, chính sách thuận lợi cho xuất nhập khẩu như áp dụng cơ chế quản lý rủi ro, khai báo điện tử, cơ chế một cửa quốc gia, kiểm tra sau thông quan…thì công tác Kiểm soát Hải quan - mang tính đặc thù của ngành hải quan với chức năng điều tra - là công tác nghiệp vụ chính để vạch trần các thủ đoạn buôn lậu, gian lận thương mại, từ đó đề ra các giải pháp phù hợp nhằm đẩy lùi, ngăn chặn kịp thời và xử lý hiệu quả các hành vi buôn lậu, vận chyển trái phép hàng hóa qua biên giới và gian lận thương mại

Lực lượng kiểm soát hải quan hiện nay có thể thực hiện vai trò kiểm soát của mình đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, hành lý của hành khách xuất nhập cảnh cũng như phương tiện vận tải xuất nhập cảnh trước khi xuất- nhập khẩu, xuất-nhập cảnh; trong quá trình làm thủ tục hải quan và đặc biệt là thực hiện vai trò kiểm soát sau khi hàng hóa đã thông quan với chức năng “truy đuổi” mới được quy định tại Luật Hải quan năm 2014

Trong thời gian qua, dựa vào những đổi mới của việc nội lực hóa luật nhằm phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia cộng với các chủ trương, chính sách phù hợp, công tác Kiểm soát Hải quan mặc dù đã thu được một số kết quả đáng khích lệ nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như: Công tác tham mưu, chỉ đạo chưa đảm bảo tính tập trung, thống

Trang 8

nhất; Các đơn vị Kiểm soát Hải quan các cấp chưa thực hiện hết quyền hạn, thẩm quyền pháp luật quy định (như nghiệp vụ điều tra, trinh sát, thu thập thông tin…)…nhưng quan trọng nhất vẫn là “độ chênh” của pháp luật,

kẽ hở của chính sách và khoảng trống do pháp luật tạo ra với những điều khoản chung chung và chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể

Là một công chức hiện đang công tác tại Đội Kiểm soát Hải quan – Cục Hải quan Tp.Hồ Chí Minh, từ thực tiễn công tác và những hạn chế nêu

trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Kiểm soát hàng hóa thông quan theo pháp luật hải quan từ thực tiễn của Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh”làm luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Luật Kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vào thời điểm viết luận văn, báo cáo thường niên về chỉ số thuận lợi kinh doanh 2017 do Ngân hàng thế giới (WB) công bố vừa qua có thể thấy, thời gian thông quan hàng hóa qua biên giới của Việt Nam đã rút ngắn đáng

kể, đứng trong top 4 khu vực Đông Nam Á Hoạt động cải cách chủ yếu được

WB ghi nhận đó là “quá trình xuất nhập khẩu của Việt Nam đã thuận lợi hơn

do áp dụng hiệu quả hệ thống thông quan Hải quan điện tử”; Tuy nhiên tỉ lệ phát hiện vi phạm từ hàng nhập khẩu cũng tăng lên cả trong phân luồng kiểm tra thực tế hàng hóa lẫn trong công tác kiểm soát (Từ 16-12-2015 đến 15-11-

2016, toàn lực lượng Hải quan đã chủ trì, phối hợp phát hiện, bắt giữ, xử lý 18.247 vụ việc vi phạm, trị giá hàng hóa vi phạm ước tính hơn 378 tỷ đồng, thu ngân sách đạt hơn 156 tỷ Đề nghị cơ quan khác khởi tố 87 vụ; Ban hành

25 quyết định tịch thu hàng vô chủ do không xác định được chủ sở hữu; Xử lý 192/208 container hàng hóa vi phạm…)

Từ khi Luật Hải quan năm 2014 có hiệu lực (01/01/2015) đã có nhiều luận văn về đề tài kiểm soát hải quan như: “Công tác kiểm soát hải quan tại Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài” năm 2015 của tác giả

Trang 9

Nguyễn Trọng Hoàng- Học viện Tài chính; hoặc luận văn Thạc sĩ Luật học “Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu thông quan theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn các cửa khẩu biên giới Việt Trung”- năm 2016- Học Viện Khoa học xã hội của Vũ Thị Phượng… nhưng đa phần nội dung chỉ tập trung vào công tác chống buôn lậu tại một cửa khẩu (sân bay quốc tế Nội Bài) hoặc tập trung vào kiểm soát hải quan liên quan đến sở hữu trí tuệ tại biên giới Việt Trung mà không đi sâu vào phân tích quá trình kiểm soát hải quan trước, trong và sau khi hàng hóa thông quan (quyền truy đuổi-điểm mới của Luật Hải quan năm 2014)

Vì vậy, công tác kiểm soát hải quan dù đã từng có nhiều cơ quan, cá nhân nghiên cứu trước đây; thế nhưng, đối với công tác kiểm soát hải quan (thuộc cấp Cục Điều tra chống buôn lậu, Cục Hải quan Tỉnh, thành phố và Chi cục theo quy định tại Luật Hải quan) và cụ thể là công tác kiểm soát hàng hóa thông quan từ thực tiễn tại Đội Kiểm soát Hải quan - Cục Hải quan Tp.Hồ Chí Minh từ lúc Luật Hải quan năm 2014 có hiệu lực và những vướng mắc, tồn tại trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện cho đến nay, tôi nhận thấy chưa có một công trình nào nghiên cứu Vì vậy, có thể khẳng định đề tài nghiên cứu của tôi có kế thừa nhưng không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

a. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của Luận văn nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về kiểm soát hàng hóa thông quan theo pháp luật hải quan; phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan và thực tiễn áp dụng của Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh,

để từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan ở Việt Nam hiện nay

Trang 10

b. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu đã đặt ra, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề sau:

- Nghiên cứu của Luận văn nhằm làm sáng tỏ những vấn đê lý luận về kiểm soát hàng hóa thông quan theo pháp luật hải quan;

- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hải quan các quy định pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan và thực tiễn áp dụng của Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 11

- Phương pháp phân tích hệ thống và thống kê để có được các con số cụ thể về số liệu vụ việc vi phạm

- Phương pháp khảo sát thực tế tại Đội Kiểm soát Hải quan – Cục Hải quan Tp.Hồ Chí Minh để có được các thông tin thực tế cần thiết, chính xác

- Phương pháp phân tích, đánh giá nhằm tìm ra những ưu điểm để kế thừa, phát triển, đồng thời phát hiện các hạn chế từ đó có biện pháp khắc phục

Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như mô tả, so sánh…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Nếu đề tài được nghiên cứu thành công, đề tài có những đóng góp sau:

- Về mặt lý luận: Góp phần bổ sung các vấn đề lý luận về nghiệp vụ kiểm soát của lực lượng hải quan

- Về mặt thực tiễn: Đề tài được thực hiện tốt sẽ có nhiều ý nghĩa thực tế đối với công tác kiểm soát thông quan hàng hóa, đó là:

+ Góp phần tuyên truyền ý nghĩa, tác dụng và thực tiễn của công tác kiểm soát hải quan trong lĩnh vực hải quan tới các cán bộ, công chức của ngành nói riêng cũng như các tổ chức, cá nhân trong hoạt động kinh tế liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa… có mối liên quan tới ngành hải quan và giới thiệu lực lượng kiểm soát hải quan ở một góc nhìn tích cực hơn, góp phần khẳng định vai trò của lực lượng này đối với nền kinh tế

+ Đề tài có ý nghĩa thiết thực đối với công việc hiện nay của tác giả, một công chức công tác tại Đội Kiểm soát Hải quan – Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh, trong quá trình thực hiện đề tài cũng như trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến công tác kiểm soát thông quan hàng hóa, tác giả sẽ phát hiện ra những hạn chế, vướng mắc và bất cập, từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp khắc phục

Trang 12

+ Những giải pháp và kiến nghị sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm soát thông quan hàng hóa

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu tham khảo chính sau:

- Các giáo trình mang tính lý luận chung về công tác chống buôn lậu của ngành Hải quan Tiêu biểu là cuốn Tài liệu chương trình bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính ngành hải quan

- Một số khóa luận tốt nghiệp của sinh viên, luận văn thạc sĩ của học viên cao học liên quan đến ngành hải quan;

- Báo cáo kết quả hoạt động chống buôn lậu và gian lận thương mại của Đội Kiểm soát Hải quan, Cục Hải quan Tp.Hồ Chí Minh năm 2015, 2016;

- Báo Hải quan online các số năm 2016,2017;

- Luật Hải quan năm 2014 số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014; Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan; Nghị định 01/2015/NĐ-CP ngày 02/01/2015 quy định chi tiết phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; trách nhiệm phối hợp trong phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; Quyết định số 65/2015/QĐ-TTg ngày 17/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ; …

- Các website của Cục Hải quan Tp.Hồ Chí Minh, Tổng cục Hải quan,

Bộ tài chính

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, phần nội dung chính của đề tài được kết cấu thành 3 chương chính, bao gồm:

Trang 13

Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm soát hàng hóa thông quan theo pháp luật hải quan

Chương 2: Thực trạng các quy định pháp luật hải quan các quy định pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan và thực tiễn áp dụng của Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan ở Việt Nam hiện nay

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT HÀNG HÓA

THÔNG QUAN THEO PHÁP LUẬT HẢI QUAN 1.1 Khái niệm kiểm soát hải quan và kiểm soát hàng hóa thông quan

Theo Công ước Kyoto của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) – Công ước về đơn giản hóa, hài hòa thủ tục Hải quan, khái niệm Kiểm soát Hải quan được định nghĩa như sau:

Kiểm soát Hải quan (Customs control) là các biện pháp được cơ quan Hải quan tiến hành nhằm đảm bảo thực thi pháp luật Hải quan.

Khái niệm này cho thấy nội hàm công tác Kiểm soát Hải quan rất rộng, bao gồm tất cả các biện pháp nghiệp vụ được Hải quan thực hiện, nhằm mục đích đảm bảo cho các đối tượng chịu sự quản lý về Hải quan phải tuân thủ các quy định của pháp luật Hải quan Thậm chí, ở một số nước là thành viên của WCO, trong một số trường hợp, thuật ngữ “customs control” còn được dùng

với hàm nghĩa “là việc Nhà nước tiến hành các thủ tục, biện pháp cần thiết để đảm bảo hàng hóa, phương tiện được xuất ra hay nhập vào quốc gia theo đúng các quy định của pháp luật hiện hành”.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, với nhiệm vụ: Phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; thực hiện các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới ngoài phạm vi địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật; cơ quan hải quan được tổ chức thống nhất

từ trung ương đến địa phương một cách thống nhất để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Và, các đơn vị cụ thể thực hiện chức năng này một cách chuyên sâu là Cục Điều tra chống buôn lậu trực thuộc Tổng cục Hải quan và các Đội Kiểm soát hải quan trực thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh và thành phố

Trang 15

Theo định nghĩa tại Điều 4 Luật Hải quan năm 2014, “Kiểm soát hải quan là biện pháp tuần tra, điều tra, xác minh hoặc biện pháp nghiệp vụ khác

do cơ quan hải quan áp dụng để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan.”

Như vậy, so với công ước Kyoto, định nghĩa kiểm soát hải quan của Hải quan Việt Nam cụ thể, rõ ràng hơn nhưng vẫn có cùng nội dung và có phạm vi hoạt động khá rộng Với khái niệm này, kiểm soát hải quan bao gồm toàn bộ các hoạt động không trái luật của ngành Hải quan nhằm phòng, chống buôn lậu và các hành vi vi phạm pháp luật hải quan

Kiểm soát hàng hóa thông quan là việc thực hiện công tác kiểm soát hải quan trước khi hàng hóa làm thủ tục hải quan, trong khi hàng hóa làm thủ tục hải quan và sau khi hàng hóa đã thông quan ( được hiểu là quyền truy đuổi hàng hóa đã được thông quan chứ không phải là công tác kiểm tra sau thông quan của ngành hải quan)

Kiểm soát hải quan trước khi đối tượng khai báo hải quan, trong thời điểm đối tượng khai báo hải quan : Căn cứ theo Chương VI Luật Hải quan năm 2014 thì nguồn thu thập thông tin của cơ quan hải quan có 02 nguồn: trong nước và ngoài nước

Cơ quan hải quan tổ chức thu thập thông tin từ các nguồn sau:

- Hoạt động nghiệp vụ hải quan;

- Bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan;

- Tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến sản xuất và hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;

- Các nguồn thông tin khác

Trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan hải quan trong việc thu thập, cung cấp thông tin hải quan:

- Tiếp nhận, cung cấp thông tin cho người khai hải quan;

Trang 16

- Xây dựng, thực hiện cơ chế phối hợp trao đổi, cung cấp thông tin với các cơ quan chức năng thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan;

- Áp dụng biện pháp, kỹ thuật nghiệp vụ để thu thập thông tin;

- Yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;

- Khai thác các nguồn thông tin khác có liên quan

Quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp thông tin hải quan:

- Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan hải quan cung cấp thông tin hải quan liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình;

- Bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh cho cơ quan hải quan;

- Tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan hải quan theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan

Bên cạnh nguồn thông tin thu thập trong nước, cơ quan hải quan còn có thể thu thập thông tin từ hải quan nước ngoài

Nguồn thông tin hải quan được thu thập ở nước ngoài bao gồm:

- Thông tin do cơ quan hải quan, cơ quan khác của Nhà nước và vùng lãnh thổ cung cấp theo hiệp định hợp tác hỗ trợ trao đổi, cung cấp thông tin;

- Thông tin do tổ chức quốc tế có liên quan cung cấp theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

- Thông tin của tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến sản xuất hàng hóa và hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa cung cấp theo đề nghị của cơ quan hải quan được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt

Trang 17

Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Cơ quan hải quan tổ chức thu thập thông tin ở nước ngoài để phục vụ các hoạt động sau:

- Xác định xuất xứ, trị giá giao dịch, tiêu chuẩn, chất lượng của hàng hóa nhập khẩu;

- Xác định tính hợp pháp của các chứng từ, giao dịch liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

- Xác minh hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới hoặc hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan;

- Xác minh thông tin khác liên quan đến người tham gia hoặc liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.”

Trong công tác kiểm soát hải quan đối với hàng hóa trước khi làm thủ tục khai báo hải quan, nguồn thông tin từ nước ngoài là nguồn đầu tiên mà cơ quan hải quan tiếp cận Từ thực tiễn hoạt động, Đội Kiểm soát Hải quan thường xuyên tiếp cận và xử lý thông tin ban đầu đối với thông tin khai báo điện tử - E mainifest (các hãng tàu, đại lý hãng tàu, công ty giao nhận truyền thông tin về phương tiện vận chuyển, hàng hóa, người gửi hàng, người nhận hàng… cho cơ quan hải quan trước khi hàng đến) do đặc thù cơ quan hải quan TP.HCM là đơn vị triển khai thí điểm đầu tiên Hệ thống E-manifest, và đã có toàn bộ (100%) các hãng tàu, đại lý hãng tàu đã thực hiện khai báo điện tử cho tàu biển xuất nhập cảnh

Thông qua dữ liệu của Manifest điện tử được gửi trước, cơ quan Hải quan có nguồn thông tin ban đầu để đánh giá rủi ro và phân luồng hàng hóa, chủ động giải quyết thông quan nhanh hàng hóa và phương tiện vận tải, nâng

Trang 18

cao hiệu quả của hoạt động quản lý hải quan.Với các thông tin về tàu như tên tàu, quốc tịch, số hiệu, số chuyến tàu, tên thuyền trưởng, cảng xếp hàng, cảng

dỡ hàng, cảng chuyển tải, cảng đích… Và thông tin về hàng hóa như số vận đơn, tên người gửi hàng, tên người nhận hàng, tên người thông báo, tên hàng, loại hàng, phẩm chất, ký mã ký hiệu, số kiện, trọng lượng hàng…thì quả thật đây là nguồn thông tin lý tưởng cho công tác kiểm soát Hải quan để góp phần xác định tính hợp pháp của các chứng từ, giao dịch liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Bên cạnh thông tin thu thập từ hệ thống E-mainifest, nguồn thông tin từ các tổ chức xã hội trong và ngoài nước, cảnh báo của hải quan các nước cũng như cảnh báo của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) cũng được Đội Kiểm soát Hải quan sử dụng cho công tác chống buôn lậu của mình Từ những vụ việc buôn lậu được phát hiện, Đội Kiểm soát Hải quan hệ thống hóa mặt hàng, tuyến đường, doanh nghiệp trọng điểm; kết hợp với thông tin thu thập

từ trong và ngoài nước, áp dụng các biện pháp trinh sát nội tuyến, ngoại tuyến, sử dụng nguồn tin từ cơ sở bí mật, trích xuất thông tin từ cơ sở dữ liệu trên hệ thống thông tin điện tử của ngành… Đội Kiểm soát Hải quan sẽ lên kế hoạch thực hiện công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại sao cho đạt được hiệu quả cao nhất, tùy thuộc vào tình hình, tính chất của từng vụ việc cụ thể mà có thể ban hành quyết định khám xét hoặc cung cấp thông tin cho Chi cục Hải quan cửa khẩu, ngoài cửa khẩu thực hiện việc kiểm tra thực tế hàng hóa

Kiểm soát hải quan sau khi hàng hóa đã được thông quan (quyền truy đuổi): Nhằm tăng cường hiệu quả công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, Luật Hải quan năm 2014 lần đầu tiên được bổ sung thẩm quyền tiếp tục truy đuổi hàng hóa buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới, phương tiện vận tải chở hàng hóa buôn lậu,

Trang 19

vận chuyển trái phép qua biên giới đang di chuyển từ địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn hoạt động hải quan

Theo đó, Điều 88 Luật Hải quan năm 2014 quy định phạm vi trách nhiệm, phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới như sau:

“Trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải để chủ động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới Trường hợp hàng hóa, phương tiện vận tải chưa đưa ra khỏi phạm vi địa bàn hoạt động hải quan mà cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đó báo ngay cho cơ quan hải quan để kiểm tra, xử lý… Trường hợp có căn cứ xác định hàng hóa buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới, phương tiện vận tải chở hàng hóa buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới đang di chuyển từ địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn hoạt động hải quan thì cơ quan hải quan tiếp tục truy đuổi, thông báo cho cơ quan công an, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, quản lý thị trường trên địa bàn để phối hợp, đồng thời áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xử lý theo quy định của pháp luật Việc dừng, truy đuổi phương tiện vận tải nước ngoài đang đi trong vùng biển Việt Nam được thực hiện theo quy định của Luật biển Việt Nam.”

Để hướng dẫn thực hiện Luật Hải quan năm 2014, Chính phủ đã có Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải

quan; tại khoản 2, Điều 104 Truy đuổi phương tiện vận tải, hàng hóa buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới đã quy định:

“Chi cục trưởng Chi cục Hải quan, Đội trưởng Đội kiểm soát hải quan thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Đội

Trang 20

trưởng Đội kiểm soát chống buôn lậu, Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trên biển thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu được quyết định việc truy đuổi

Trong trường hợp có căn cứ cho rằng nếu không thực hiện ngay việc truy đuổi thì phương tiện vận tải, hàng hóa buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới có thể bị tẩu tán, tiêu hủy, công chức hải quan đang thi hành nhiệm

vụ được thực hiện việc truy đuổi và báo cáo ngay với người có thẩm quyền nêu tại Khoản này”

1.2 Pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan

1.2.1 Nguyên tắc kiểm soát hàng hóa thông quan

Mục tiêu tổng quát của Hải quan Việt Nam là phấn đấu để trở thành Hải quan tiên tiến trong khu vực ASEAN và ngày càng hiện đại hóa theo chuẩn mực quốc tế với phương châm: CHUYÊN NGHIỆP – MINH BẠCH – HIỆU QUẢ

Để thực hiện mục tiêu đề ra, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, của Bộ Tài chính, toàn ngành Hải quan đã và đang tập trung toàn bộ trí tuệ, sức lực vào việc cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện tổ chức bộ máy, nâng cao trình

độ, ý thức trách nhiệm và tính kỷ luật cho cán bộ công chức, tăng cường hợp tác quốc tế và áp dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật, trang thiết bị tiên tiến vào quy trình, thủ tục, hoạt động Hải quan Kiểm soát Hải quan là một bộ phận cấu thành của ngành, đương nhiên phải thực hiện và thực hiện tốt mục tiêu mà ngành đã đề ra

Công tác Kiểm soát Hải quan phải tạo thuận lợi cho hoạt động xuất, nhập khẩu; xuất, nhập cảnh; quá cảnh và được thể hiện:

- Mọi hoạt động công vụ của tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ Kiểm soát Hải quan phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, các quy định, quy trình, quy chế

do Bộ, ngành, đơn vị đề ra và các Công ước, Hiệp định quốc tế mà Nhà nước, ngành Hải quan tham gia, ký kết

Trang 21

- Ưu tiên và kiên quyết bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu; xuất, nhập cảnh, quá cảnh.

Mặt khác, chúng ta cũng thấy rằng các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực Hải quan thường xảy ra ở những mức độ lỗi/tội vi phạm nặng, nhẹ khác nhau Dù lỗi/tội vi phạm nặng hay nhẹ thì cán bộ công chức Hải quan nói chung và lực lượng Kiểm soát Hải quan nói riêng đều phải có trách nhiệm điều tra, phát hiện và xử lý kịp thời Tuy nhiên, lực lượng Kiểm soát Hải quan chuyên trách cần phải tập trung đi sâu điều tra, phát hiện và xử lý kịp thời đối tượng chủ mưu, cầm đầu đường dây, ổ nhóm buôn lậu, gian lận thương mại

có quy mô quốc gia và xuyên quốc gia, bởi vì:

- Đây là những đối tượng có khả năng thực hiện những vụ việc vi phạm lớn, có khả năng lôi kéo, tụ tập nhiều đối tượng khác nhau tham gia; có nhiều kinh nghiệm, thủ đoạn đối phó với các cơ quan chức năng quản lý Nhà nước

- Hậu quả gây ra thường nghiêm trọng, có thể gây thiệt hại lớn về kinh

tế cho đơn vị kinh doanh, ngành, địa phương hoặc quốc gia; có thể gây ảnh hưởng xấu cho trật tự an toàn xã hội, giống nòi, tạo điều kiện cho tham nhũng, buôn lậu phát triển hoặc gây nguy hại cho an ninh quốc gia cũng như quan hệ quốc tế của Việt Nam

Kiểm soát hàng hóa thông quan là thực hiện công tác kiểm soát hải quan trước khi đối tượng được làm thủ tục hải quan, trong khi làm thủ tục hải quan và khi đã hoàn tất thủ tục hải quan (quyền truy đuổi) nên phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây:

Một là, tuân thủ pháp luật, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật đã định; phát hiện kịp thời, chính xác, xử lý nghiêm minh các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các

Trang 22

hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan; không gây khó khăn cho các hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh

Hai là, lực lượng kiểm soát hải quan được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất; cơ quan cấp trên chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động nghiệp vụ đối với cơ quan cấp dưới; cơ quan cấp dưới chấp hành sự chỉ đạo của cơ quan cấp trên, thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất theo yêu cầu của cơ quan cấp trên

Ba là, nghiêm cấm tiết lộ bí mật về công tác kiểm soát hải quan cho cá nhân, tổ chức không có trách nhiệm

Bốn là, các biện pháp nghiệp vụ, phương tiện nghiệp vụ chuyên dụng của lực lượng kiểm soát hải quan chỉ sử dụng vào mục đích phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan

Năm là, trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, lực lượng kiểm soát hải quan chủ trì thực hiện công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan Ngoài phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, lực lượng kiểm soát hải quan có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan và chính quyền các cấp thực hiện công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan

1.2.2 Chủ thể kiểm soát hàng hóa thông quan

Cũng là chủ thể của công tác kiểm soát hải quan, theo quy định tại Luật Hải quan năm 2014 gồm:

- Tổ chức, cá nhân thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải

Trang 23

- Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải

- Cơ quan hải quan, công chức hải quan

- Cơ quan khác của Nhà nước trong việc phối hợp quản lý nhà nước

1.2.3 Nội dung pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan

Nội dung cơ bản của pháp luật về kiểm soát hàng hóa thông quan cũng chính là những quy định của pháp luật về công tác kiểm soát hải quan, mà chủ yếu là công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan

Luật Hải quan quy định: hải quan có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước

về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Chương V Luật Hải quan năm 2014 gồm 6 điều, từ Điều 87 đến Điều

92 quy định về trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

Trong Bộ luật hình sự hiện hành (1999), Điều 153 quy định tội “buôn lậu” và Điều 154 quy định tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới” Các tội danh về tội phạm ma túy

Trang 24

Điều 111 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 9, Điều 33 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 đều có điều khoản quy định về thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra của cơ quan hải quan đối với tội “buôn lậu” Điều 153 và tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới” Điều 154 Bộ luật Hình sự

Luật Hải quan năm 2014 cũng quy định về thẩm quyền của cơ quan hải quan trong công tác kiểm soát hải quanh như sau:

- Tổ chức lực lượng, xây dựng cơ sở dữ liệu, áp dụng biện pháp nghiệp

vụ kiểm soát hải quan, thu thập thông tin trong nước và ngoài nước liên quan đến hoạt động hải quan để chủ động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, phục vụ thông quan hàng hóa và kiểm tra sau thông quan; phối hợp với các cơ quan hữu quan bảo vệ bí mật về người cung cấp thông tin các vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới theo quy định của pháp luật

- Thực hiện kiểm soát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải; chủ trì, phối hợp với cơ quan nhà nước hữu quan thực hiện các hoạt động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong địa bàn hoạt động hải quan

- Khi tiến hành kiểm soát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan được áp dụng biện pháp tuần tra, điều tra, xác minh hoặc biện pháp nghiệp vụ khác theo quy định của Luật này, pháp luật xử lý vi phạm hành chính, pháp luật tố tụng hình sự

và pháp luật tổ chức điều tra hình sự

- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin, tài liệu để phục vụ việc kiểm tra, điều tra, xác minh hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

- Yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, chuyển phát

Trang 25

nhanh mở bưu phẩm, hàng hóa được xuất khẩu, nhập khẩu qua đường bưu chính, chuyển phát nhanh để kiểm tra khi có căn cứ cho rằng bưu phẩm, hàng hóa đó có tài liệu, hàng hóa liên quan đến buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

- Sử dụng cờ hiệu, đèn hiệu, pháo hiệu, còi, loa; sử dụng vũ khí và công

cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ

và công cụ hỗ trợ

- Ngoài địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan phối hợp, thực hiện các hoạt động kiểm soát hải quan để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới theo quy định của pháp luật

Về thẩm quyền của cơ quan hải quan, công chức hải quan trong việc xử

lý hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới:

- Xử lý vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm

xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

- Trường hợp có căn cứ cho rằng có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát thuộc Cục Hải quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát chống buôn lậu và Hải đội trưởng Hải đội Kiểm soát trên biển thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu có thẩm quyền dừng phương tiện vận tải, tạm giữ người, áp giải người vi phạm Trình tự, thủ tục tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính

- Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật về hải quan đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì cơ quan hải quan, công chức hải quan có thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thực hiện các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật tổ chức điều tra hình

sự

Trang 26

- Cơ quan hải quan, công chức hải quan khi tiến hành các hoạt động được quy định tại Điều này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình

Bên cạnh đó, nếu như trước đây các biện pháp nghiệp vụ về kiểm soát hải quan được quy định kèm với quy chế hoạt động của lực lượng hải quan chuyên trách phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới tại quyết định 65/2004/QĐ-TTg ngày 19/4/2004 và được áp dụng xuyên suốt cho đến hết năm 2014 cho đến khi Luật Hải quan năm 2014 ra đời, với những thay đổi mang tính bước ngoặt, thì tại Chương VII (từ Điều 101 đến Điều 104) Nghị định 08/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Hải quan năm

2014, Chính phủ đã quy định rõ các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan

mà cơ quan được áp dụng, thực hiện

1.2.4 Trách nhiệm pháp lý theo pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa

thông quan

Trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải để chủ động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

Trường hợp hàng hóa, phương tiện vận tải chưa đưa ra khỏi phạm vi địa bàn hoạt động hải quan mà cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đó báo ngay cho cơ quan hải quan để kiểm tra, xử lý

Trường hợp có căn cứ xác định hàng hóa buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới, phương tiện vận tải chở hàng hóa buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới đang di chuyển từ địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn hoạt động hải quan thì cơ quan hải quan tiếp tục truy đuổi, thông báo cho cơ quan công an, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, quản lý thị trường trên

Trang 27

địa bàn để phối hợp, đồng thời áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xử lý theo quy định của pháp luật Việc dừng, truy đuổi phương tiện vận tải nước ngoài đang đi trong vùng biển Việt Nam được thực hiện theo quy định của Luật biển Việt Nam

Trường hợp hàng hóa, phương tiện vận tải đã đưa ra ngoài phạm vi địa bàn hoạt động hải quan mà cơ quan nhà nước hữu quan có căn cứ cho rằng có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới thì theo thẩm quyền, cơ quan đó thực hiện việc kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật;

cơ quan hải quan có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan thực hiện các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

Đối với hàng hóa chịu sự giám sát hải quan đang vận chuyển trên các tuyến đường, cơ quan hải quan có trách nhiệm giám sát bằng các biện pháp nghiệp vụ hải quan; khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật thì cơ quan hải quan chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật

Tại vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, cơ quan hải quan thực hiện, phối hợp thực hiện tuần tra, kiểm soát nhằm ngăn ngừa hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; thực hiện các biện pháp ngăn chặn và xử lý vi phạm theo thẩm quyền trong vùng nội thủy, lãnh hải phù hợp với quy định của Luật biển Việt Nam

Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo phối hợp hoạt động của cơ quan hải quan và các cơ quan nhà nước hữu quan khác tại địa phương trong việc thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

Chính phủ quy định chi tiết biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan; trách nhiệm phối hợp của các cơ quan với cơ quan hải quan trong phòng,

Trang 28

chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.”

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát hàng hóa thông quan theo pháp luật hải quan

Do chính sách pháp luật của các quốc gia khác nhau cùng với những đặc thù về kinh tế chính trị xã hội (ví dụ : ở Việt Nam, theo quy định của pháp luật, tại các khu kinh tế cửa khẩu thì Chính phủ lại cho phép mỗi người, mỗi lần đi qua được mang theo một lượng hàng hóa không cần có chứng từ có giá trị đến 2 triệu đồng ; dẫn đến, những người nông dân, những người không có nghề nghiệp, những sinh viên nghỉ hè mỗi ngày đều cố gắng đi qua cửa khẩu nhiều lần Tích tiểu thành đại, góp gió thành bão, 2 triệu một lần một người, nhiều lần một ngày thì đương nhiên sẽ tạo ra một lượng hàng lậu khổng lồ cho thị trường nội địa) nên công tác kiểm soát hải quan của mỗi quốc gia hoàn toàn khác nhau nhưng vẫn đặc biệt được quan tâm và nghiên cứu

Hợp tác tăng cường đấu tranh, phòng chống buôn lậu qua biên giới chính là một trong những nội dung được đưa ra bàn thảo tại rất nhiều diễn đàn quốc tế và đàm phán thỏa thuận ngoại giao, thương mại giữa các nước, các khu vực trên thế giới Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) đã thường xuyên tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế để bàn về vấn đề cải cách thể chế chính sách pháp luật, nâng cao năng lực hoạt động nghiệp vụ kiểm soát hải quan

Về cải cách chính sách pháp luật, WCO đã nghiên cứu đưa ra các chuẩn mực, xây dựng thành các công ước quốc tế để các quốc gia thành viên căn cứ

áp dụng Đồng thời WCO cũng tiến hành các hoạt động hỗ trợ, giám sát, đánh giá và tư vấn cho các quốc gia trong lộ trình cải cách chính sách pháp luật Hải quan, để thúc đẩy các nước nhanh chóng tham gia hội nhập với thế giới Thông qua hoạt động này, WCO Đã tổng kết kinh nghiệm, xây dựng thành cẩm nagn để các quốc gia tham khảo Về hoạt động nghiệp vụ, WCO đặc biệt quan tâm đến xây dựng tính chuyên nghiệp, tuân thủ nghiêm chính sách pháp

Trang 29

luật và quy trình tác nghiệp của lực lượng hải quan Trong đó nhấn mạnh hai yếu tố minh bạch và liêm chính (bằng các tuyên bố, khuyến cáo chung) và thành lập Tiểu ban liêm chính (ISC) Năm 1993, Tuyên bố Arusha của WCO

về liêm chính Hải quan đã được đưa ra với 12 nhân tố, giải pháp chính Cho đến nay Tuyên bố Arusha vẫn được coi là tài liệu, cẩm nang quan trọng để tham khảo và xây dựng lực lượng hải quan nói chung và lực lượng kiểm soát hải quan nói riêng

Tại Nariobi (Cộng hòa Kenya) các nước thành viên của WCO đã ký Công ước quốc tế về giúp đỡ hành chính giữa các nước nhằm ngăn ngừa, điều tra, trấn áp các hành vi vi phạm pháp luật hải quan (công tác kiểm soát hải quan theo định nghĩa tại Công ước Kyoto) Công ước Nariobi đã xác định rõ buôn lậu là một thủ đoạn chủ yếu của gian lận thương mại, là trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của Hải quan để đưa hàng hóa lén lút qua các nước

Quan niệm này đã được các quốc gia thành viên thừa nhận, vì thế trong Luật Hải quan của các nước đều có một phần quan trọng quy định về hành vi buôn lậu và các vấn đề có liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu Có thể kể đến Luật Hải quan của một số nước như: Trung Quốc, Pháp, Nga, Indonesia, Philippin…Một số nước khác không quy định chi tiết trong Luật Hải quan thì xây dựng thành một Luật riêng về phòng, chống buôn lậu như Đài Loan Như một lẽ tất nhiên, khi đã coi buôn lậu là hành vi vi phạm pháp luật hải quan, là trốn tránh sự kiểm soát hải quan thì lực lượng hải quan phải là cơ quan giữ vai trò chính trong đấu tranh phòng, chống buôn lậu Điều này đã được quy định rất rõ ràng, cụ thể trong Luật Hải quan của các nước và được giao nhiệm vụ, quyền hạn rất lớn cho nhân viên và cơ quan hải quan; đồng thời quy định đầy đủ các biện pháp nghiệp vụ nhằm đảm bảo cho hải quan thực hiện tốt nhiệm vụ của mình

Về tư cách pháp lý khi tiến hành các biện pháp điều tra hình sự, hầu hết

Trang 30

các nước đều quy định cho nhân viên Hải quan có tư cách đầy đủ của một điều tra viên hoặc nhân viên điều tra Ví dụ: Điều 112 Luật Hải quan Indonesia quy định “Nhân viên Hải quan được chỉ định sẽ được trao thẩm quyền đặc biệt của nhân viên điều tra theo quy định của Luật tố tụng hình sự

để điều tra các tội phạm trong lĩnh vực hải quan” Tại Vương quốc Anh, theo quy định của Luật điều tra và tố tụng hình sự, cơ quan Cảnh sát Hải quan và thuế vụ cũng có tư cách của đều tra viên khi tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu vụ án hình sự Tại Nga, Luật tố tụng hình sự năm 2001 quy định rõ :

“Điều tra viên của Cơ quan hải quan Liên bang có thẩm quyền điều tra ban đầu đối với các tội buôn lậu và trốn thuế”

Ngày nay, để việc thực hiện công tác kiểm soát hải quan được chủ động

và có hiệu quả cao thì hải quan các nước phải có một hệthống thông tin tình báo phát triển WCO có mạng lưới văn phòng liên lạc tình báo tại khu vực (viết tắt là RILO), Hải quan Mỹ có Vụ hợp tác tình báo, cơ quan phụ trách tình báo hải quan của Hải quan Trung Quốc đặt tại Cục Điều tra chống buôn lậu (lực lượng cảnh sát chuyên trách chống buôn lậu), Hải quan Hàn Quốc có phòng tình báo chiến lược thuộc Cục Điều tra và giám sát Hải quan, và ở Việt Nam thì cơ quan phụ trách tình báo hải quan thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu – Tổng Cục Hải quan – Bộ Tài chính

Như vậy, công tác kiểm soát hải quan ở các nước đều được coi trọng và được giao nhiệm vụ quyền hạn rất lớn, cho thấy tầm ảnh hưởng của công tác kiểm soát hải quan không chỉ riêng đối với ngành hải quan mà còn là sự phát triển kinh tế của một quốc gia

Trang 31

Kết luận chương 1

Pháp luật Việt Nam đang từng bước được hoàn thiện để thực hiện các cam kết quốc tế, để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập Với sự thay đổi gần như toàn diện của Luật Hải quan năm 2014 dẫn đến nhiều thách thức, khó khăn hơn trong công tác kiểm soát hải quan Nhất là đối với lực lượng kiểm soát hải quan tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh phức tạp và đa dạng nhất nước

Việc tìm hiểu pháp luật về kiểm soát hải quan và những vấn đề liên quan là cơ sở để xác định được mục đích nghiên cứu Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu các công trình, bài viết có liên quan của các tác giả trong và ngoài nước, tác giả đã rút ra được những vấn đề chưa được các nhà nghiên cứu trước làm rõ Nhiệm vụ của Luận án phải tiếp tục làm rõ các vấn đề dưới đây: Thực trạng các quy định pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan

và thực tiễn áp dụng tại Cục Hải quan Tp.Hồ Chí Minh; từ đó đề xuất được các giải pháp cụ thể về hoàn thiện

Đây là những vấn đề lý luận chủ yếu để tác giả dựa vào để làm rõ các vấn đề nêu trên trong Chương 2 và Chương 3 dưới đây của Luận văn

Trang 32

Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HẢI QUAN VỀ KIỂM SOÁT HÀNG HÓA THÔNG QUAN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

CỦA CỤC HẢI QUAN TP HỒ CHÍ MINH

Cục Hải quan TP.HCM với đặc thù quản lý nhà nước trên địa bàn có nhiều cửa khẩu cảng biển, cảng hàng không quốc tế, bưu điện quốc tế; hoạt động xuất nhập khẩu tập trung tại 12 đơn vị hải quan cửa khẩu và ngoài cửa khẩu Tuyến sông Sài Gòn, với chiều dài hơn 40 km, qua khu vực cảng TP.HCM (cảng Sài Gòn) bắt đầu từ ICD Phước Long đến khu vực Tân cảng,

Ba Son, cảng Nhà Rồng, cảng Khánh Hội, cảng Tân Thuận, cảng Bến Nghé, cảng Vict, cảng Tân Thuận Đông, cảng Rau quả, cảng Lotus, cảng Dầu Thực Vật, cảng Tổng kho xăng dầu, cảng Hiệp Phước, cảng Cát Lái; tổng cộng gồm

15 cảng Trên tuyến đường biển có khoảng 179 hãng tàu biển đang hoạt động trong lĩnh vực vận tải biển, mỗi năm có khoảng 9,838 chuyến tàu biển xuất nhập cảnh Tuyến hàng không với hơn 55 hãng hàng không đang khai thác, bình quân mỗi ngày có khoảng 200 chuyến bay xuất nhập cảnh, với lượng hành khách xuất nhập cảnh mỗi năm gần 10 triệu lượt người (chiếm tỉ lệ 66% của cả nước) Tại địa bàn TP Hồ Chí Minh có trên 30.000 doanh nghiệp trong nước và hàng ngàn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường xuyên hoạt động xuất nhập khẩu; số thu thuế hàng năm của Cục Hải quan TP.HCM rất lớn ( Năm 2015 là 93.926 tỷ đồng, năm 2016 là 101.157 tỷ đồng) chiếm tỉ lệ trên 35% số thu của toàn Ngành (năm 2015 chiếm 37,96%, năm

2016 chiếm 37,15%)

Điều đó cho thấy với phạm vi địa bàn hoạt động rộng, phức tạp, đa dạng; khối lượng hàng hóa cũng như số lượng doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn; chỉ tiêu thu thuế được giao ngày càng tăng cao; công việc và mức độ phức tạp trong công tác quản lý điều hành, đặc biệt là trong công tác chống buôn lậu và

Trang 33

gian lận thương mại để hoàn thành nhiệm vụ được giao của Cục Hải quan Tp.Hồ Chí Minh là vô cùng khó khăn, góp phần đáng kể trong việc thực hiện nhiệm vụ của ngành Hải quan và cả trong nhiệm vụ thu ngân sách của Thành phố cũng như của cả nền kinh tế nước ta

Biểu 2.1: Biểu đồ số thu ngân sách nhà nước của Cục Hải quan TP.HCM so với toàn ngành Hải quan

Với nhiệm vụ thu ngân sách từ nguồn thuế xuất nhập khẩu của Cục Hải quan Tp.HCM ngày càng tăng lên thì trọng trách chống buôn lậu, gian lận thương mại của Đội Kiểm soát Hải quan cũng tăng theo tương ứng nhằm làm giảm thiểu thất thu thuế, đảm bảo “sân chơi” bình đẳng cho doanh nghiệp

Hiện nay, Đội Kiểm soát Cục Hải quan Tp.Hồ Chí Minh là đơn vị được giao nhiệm vụ thực hiện công tác kiểm soát hải quan của Cục Hải quan Tp.Hồ Chí Minh, đứng đầu là Đội trưởng và 03 Phó Đội trưởng phụ trách các tổ nghiệp vụ gồm hơn 40 công chức Căn cứ theo địa bàn hoạt động và địa điểm làm thủ tục hải quan mà đơn vị hiện có 05 Tổ nghiệp vụ tương ứng:

Trang 34

Tổ 1: thực hiện công tác kiểm soát hải quan tại địa bàn Cảng Sài Gòn Khu vực 1, Khu chế xuất Linh Trung

Tổ 2: thực hiện công tác kiểm soát hải quan tại địa bàn Cảng Sài Gòn khu vực 2, Cảng Sài Gòn khu vực 3, Cảng Sài Gòn khu vực 4 và Cảng Hiệp Phước

Tổ 3: thực hiện công tác kiểm soát hải quan đối với doanh nghiệp làm thủ tục tại Chi cục Hải quan quản lý hàng gia công, Chi cục Hải quan quản lý hàng đầu tư, Khu chế xuất Tân Thuận, Cảng Tân Cảng

Tổ 4: thực hiện công tác kiểm soát hải quan tại địa bàn sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, kho hàng hóa, địa điểm kiểm tra tập trung (TECS) đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ chuyển phát nhanh

Tổ 5: Tuần tra trên sông

Tùy thuộc tình hình, tính chất phức tạp của kế hoạch chống buôn lậu cũng như vụ việc cụ thể mà Lãnh đạo Đội sẽ điều tiết, phân công, phối hợp trinh sát giữa các Tổ công tác để hoàn thành nhiệm vụ được giao

Từ khi ngành hải quan triển khai hệ thống thông quan điện tử VNACCS/VCIS (hoạt động chính thức từ năm 2014) với việc thông quan hàng hóa tự động theo các tiêu chí quản lý rủi ro làm cho tình hình buôn lậu diễn biến phức tạp hơn, đã phát sinh nhiều thủ đoạn mới, nguy cơ rủi ro cao trên nhiều lĩnh vực: Ma túy; sở hữu trí tuệ- hàng giả; trị giá tính thuế, thuế xuất và chuyển giá; tạm nhập – tái xuất; buôn lậu sản phẩm động, thực vật hoang dã vi phạm công ước CITES; giả mạo xuất xứ; hoàn thuế; chính sách chuyên ngành; ô nhiễm môi trường; kho ngoại quan; gia công- sản xuất xuất khẩu Tại địa bàn sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và lĩnh vực Chuyển phát nhanh hiện nay, buôn lậu ma túy đang có chiều hướng tăng cao, các vụ việc buôn lậu, gian lận thương mại thông qua hình thức đầu tư, gia công cũng đang diễn biến phức tạp Mặt khác, tại các địa bàn trọng điểm, tuyến trọng điểm

Trang 35

thuộc cảng biển, cảng hàng không quốc tế, đang diễn ra tình trạng các đối tượng lợi dụng cơ chế chính sách thông quan qua việc phân luồng tự động để buôn lậu hàng hoá có giá trị cao, xuất nhập khẩu hàng cấm, hàng có điều kiện với thủ đoạn tinh vi; tạo ra sự dịch chuyển hàng hóa về các địa bàn lân cận -

là những nơi chưa có điều kiện máy móc, trang thiết bị chưa đầy đủ, lạc hậu việc quản lý còn lỏng lẻo - nhằm thoát khỏi sự tầm soát của cơ quan hải quan, điều này sẽ ảnh hưởng đến số thu ngân sách của đơn vị, làm cho môi trường hoạt động kinh doanh, sản xuất hàng hoá trong nước gặp nhiều khó khăn; gây hại cho sức khỏe, tính mạng con người, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị

và an toàn xã hội từ đó phát sinh tham nhũng, tiêu cực

Từ việc nắm bắt sát sao thay đổi về chính sách, quy định và các phương thức thủ đoạn buôn lậu và gian lận thương mại, Đội Kiểm soát Hải quan đã chủ động xây dựng nhiều chuyên đề, kế hoạch đấu tranh chống buôn lậu; qua

đó, phát hiện nhiều vụ việc vi phạm nghiêm trọng, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị cũng như của ngành

Theo báo cáo tổng kết năm 2015 và 2016, công tác chống buôn lậu và

xử lý vi phạm của Cục Hải quan thành phố đã đạt được những kết quả sau:

Năm 2015: phát hiện và xử lý 2.287 vụ vi phạm, trị giá 121,07triệu đồng (bao gồm cả buôn lậu, gian lận thương mại, vi phạm thủ tục hải quan,

Trang 36

(Nguồn: Báo cáo năm 2015, 2016 của Cục Hải quan TP.HCM và của Đội Kiểm soát Hải quan)

Biểu đồ 2.2: Biểu đồ vụ việc buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới phát hiện qua các năm 2015, 2016 của Cục Hải quan Tp.Hồ Chí Minh và của Đội Kiểm soát Hải quan:

Để đạt được thành tích đó, bên cạnh việc triển khai thực hiện tốt các kế hoạch chống buôn lậu theo chỉ đạo của lãnh đạo các cấp, điều chủ yếu vẫn là đơn vị đã làm tốt công tác kiểm soát hàng hóa thông quan – ngay từ khi hàng hóa chưa cập cảng, chưa làm thủ tục, đang làm thủ tục hoặc thậm chí đã hoàn tất thủ tục hải quan Thế nhưng, trong thực tiễn hoạt động vẫn còn đó những vướng mắc, khó khăn trong việc áp dụng các quy định pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan tại Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh

2.1 Thực trạng các quy định pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa thông quan

2.1.1 Nguyên tắc kiểm soát hàng hóa thông quan

Trong xu thế toàn diện cải cách thủ tục hành chính, tập trung mọi nguồn lực nhằm mục đích phát triển kinh tế của chính phủ, ngành Hải quan

là một trong những đơn vị đi đầu về hiện đại hóa công nghệ, thủ tục hành

Trang 37

chính Điển hình là với mô hình thủ tục hải quan điện tử (chương trình VINACCS/VCIS) được triển khai 100% đơn vị Hải quan, nhận được sự hưởng ứng tích cực từ phía doanh nghiệp với tỷ lệ hơn 99% tổng số doanh nghiệp tham gia, tỷ lệ miễn kiểm tra hàng hóa hơn 93% ngành Hải quan đã tạo được sự thông thoáng, thuận lợi “chưa từng có” từ trước đến nay Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được từ cải cách thủ tục hành chính nêu trên, cũng xuất hiện những khó khăn nhất định trong việc đảm bảo nguyên tắc

“phát hiện kịp thời, chính xác, xử lý nghiêm minh các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan; không gây khó khăn cho các hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh” của công tác kiểm soát hải quan Cụ thể, với tờ khai

được phân luồng xanh (miễn kiểm tra) sau 1 click chuột máy tính, doanh nghiệp chỉ cần in tờ khai và đến cảng làm thủ tục nhận hàng, thời gian làm thủ tục hải quan cho đến khi nhận hàng của doanh nghiệp chỉ còn vài chục phút Với thời gian ngắn ngủi này, nếu thu thập được thông tin hoặc nhận được tin

tố giác, tố cáo về hành vi buôn lậu thì lực lượng kiểm soát hải quan cũng gặp không ít khó khăn khi phải xác minh nguồn thông tin và tiến hành ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm Đó cũng là lý do bên cạnh việc thủ tục thông thoáng

là việc tỷ lệ vi phạm pháp luật hải quan tăng cao cả về số lượng và tính chất (hàng vi phạm thiên về hàng cấm như phế liệu, phế thải, sản phẩm động vật hoang dã quý hiếm…) Tuy nhiên, khó khăn này cũng chỉ là một mặt khác của vấn đề tạo thuận lợi, thông thoáng trong hoạt động xuất nhập khẩu Với

sự thay đổi lớn mạnh, trưởng thành và phát triển ngày càng vững chắc của lực lượng kiểm soát hải quan – chủ công trong công tác chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa – cùng với việc ứng dụng tốt công tác quản lý rủi

ro, tận dụng tốt thông tin tình báo, tăng cường triệt để hợp tác quốc tế…lực lượng kiểm soát hải quan sẽ đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, đảm

Trang 38

bảo phát hiện kịp thời và không gây khó khăn cho hoạt động của đối tượng

tham gia thủ tục hải quan

2.1.2 Chủ thể kiểm soát hàng hóa thông quan:

Trong thực tiễn hoạt động, chủ thể tham gia trong công tác kiểm soát thông quan hàng hóa chủ yếu gồm doanh nghiệp, cá nhân, đại lý khai thuê hải quan và công chức làm công tác kiểm soát hải quan

Đối với doanh nghiệp và đại lý khai thuê hải quan, việc chuyển đổi từ

mô hình thủ tục hải quan truyền thống sang thực hiện thủ tục hải quan điện tử toàn bộ và thực hiện việc quản lý rủi ro còn khá mới mẻ, do đó một bộ phận doanh nghiệp và đại lý hải quan dường như chưa ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình trong việc làm thủ tục hải quan Có thể đơn cử như việc doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp có uy tín, lâu năm) vẫn còn chưa chú trọng đúng mức vấn đề bảo mật chữ ký số của mình dẫn đến tình trạng lợi dụng sơ

hở của chủ doanh nghiệp, chính đối tượng được doanh nghiệp giao đi làm thủ tục khai báo hải quan lại sử dụng chữ ký số (CKS) để buôn lậu Khi cơ quan Hải quan điều tra, xác minh, chủ doanh nghiệp rất bất ngờ vì không biết bất

cứ thông tin gì về lô hàng sai phạm do chính doanh nghiệp mình đứng tên

Bắt đầu từ 01/4/2014, Tổng cục Hải quan triển khai Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS, toàn bộ tờ khai mà DN khai báo đều được thực hiện bằng phương thức điện tử Để tham gia khai báo trên Hệ thống, một trong những điều kiện bắt buộc đối với DN là phải đăng ký CKS với cơ quan Hải quan Quá trình này giúp DN chứng thực những thông tin khai báo trên tờ khai hải quan khi gửi đến cho cơ quan Hải quan (xác nhận qua CKS là đúng các thông tin mà DN gửi đến để làm thủ tục hải quan) Tuy nhiên, một thực trạng đáng báo động được cơ quan Hải quan phát hiện là việc lợi dụng CKS

để cố tình khai báo sai tên hàng hóa được miễn kiểm tra thực tế hàng hóa với nhiều phương thức thủ đoạn tinh vi Chính những nhân viên được DN tin

Trang 39

tưởng phân công thực hiện khai báo hải quan lại sử dụng CKS để buôn lậu Các DN chỉ biết được sự thật khi lực lượng Hải quan tiến hành điều tra, làm

rõ vụ việc Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do nhiều DN còn chưa nắm

kỹ về các biện pháp bảo mật CKS, vì vậy tạo ra sơ hở để đối tượng buôn lậu lợi dụng Mặt khác, một số đối tượng khi làm thủ tục đã đăng ký, sử dụng CKS của nhiều đơn vị cung cấp, sau đó cất giữ CKS trái phép và sử dụng vào mục đích bất chính Thực tế, trong quá trình thực hiện khai báo hải quan, các đối tượng buôn lậu nắm rất rõ các thông tin liên quan tờ khai hải quan của DN như: Xếp hạng của DN, chế độ ưu tiên về thuế, loại hình XNK thường thực hiện, hàng hóa thường giao dịch, thông tin về lô hàng, tuyến đường, đối tác Sau khi nắm được quy luật, đối tượng đã sử dụng CKS trái phép để đăng ký

tờ khai đứng tên DN chấp hành tốt pháp luật Hải quan, với các thông tin đã chuẩn bị như trên kết hợp cùng vận đơn, số container chứa hàng hóa vi phạm

để khai báo với cơ quan Hải quan Ngay sau khi được cơ quan Hải quan chấp nhận thông quan, đối tượng sẽ thực hiện ngay thủ tục về thuế để tránh bị DN phát hiện và sử dụng các giấy tờ giả mạo DN để làm thủ tục thông quan cho

lô hàng Trường hợp lợi dụng gian lận như trên sẽ rất khó phát hiện vì ngay chính bản thân DN bị lợi dụng để mở tờ khai cũng không biết thông tin về lô hàng, tờ khai đã được đăng ký tên DN nếu không thường xuyên kiểm tra, đối chiếu Để ngăn chặn tình trên, cách tốt nhất là DN phải tự bảo vệ mình Trước tiên DN phải thường xuyên theo dõi, đối chiếu số liệu xuất nhập khẩu; quản

lý chặt CKS, gắn trách nhiệm của từng cá nhân sử dụng CKS Nếu DN nào buông lỏng quản lý để các đối tượng lợi dụng CKS thực hiện hiện hành vi buôn lậu thì DN đó, lẫn đối tượng buôn lậu, đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, thậm chí là trách nhiệm hình sự (Ví dụ: Công ty TNHH MB Việt Nam, chuyên nhập vải gia công, bị lợi dụng chữ ký số để mở tờ khai nhập khẩu hàng điện tử đã qua sử dụng bị cơ quan chức năng phát hiện và hiện

Trang 40

đang khởi tố vụ án – tham khảo thông tin : Quang Hùng, Khởi tố vụ nhân viên

cong-ty-de-buon-lau.aspx , 06/9/2016) [16] Bên cạnh đó, đại lý khai thuê dù

http://www.baohaiquan.vn/Pages/Khoi-to-vu-nhan-vien-dung-chu-ky-so-cua-đã được đào tạo bài bản, cấp chứng chỉ hành nghề, thế nhưng, vì chạy theo lợi nhuận nên sẵn sàng tiếp tay cho đối tượng buôn lậu khi dùng chữ ký số của mình để truyền thông tin khai báo hải quan lên mạng thông tin điện tử, góp phần thực hiện hành vi buôn lậu Tuy hiện tượng này chỉ mới manh nha nhưng không loại trừ việc lợi dụng chữ ký số như đã nêu sẽ tiếp tục diễn ra trong thời gian tới nên giải pháp cho tình trạng này hiện nay là cơ quan hải quan, thông qua các kênh thông tin tuyên truyền như hội nghị, báo chí…, đã tiến hành nhắc nhở, cảnh báo doanh nghiệp và đại lý khai thuê cũng như kiến nghị bộ ngành liên quan bên cạnh việc ban hành quy chế hoạt động cần có những chế tài phù hợp, mang tính răn đe để hạn chế mặt tiêu cực, kẽ hở của quy định

Song song với hoạt động của doanh nghiệp, phải nói đến công chức làm công tác kiểm soát hải quan

Hiện tại, đội ngũ cán bộ công chức Kiểm soát Hải quan được hình thành từ nhiều nguồn, nhiều chuyên ngành khác nhau, qua nhiều thời kỳ (trong đó số lượng lớn là chuyển từ ngành Công an, Quân đội và một số cơ quan thực thi pháp luật sang), tuy nhiên trải qua thời gian dài chưa được đào tạo thành lực lượng chuyên nghiệp và chuyên sâu; chưa có nhiều đội ngũ chuyên gia về từng lĩnh vực, đặc biệt là nghiệp vụ cơ bản, nghiệp vụ điều tra tội phạm theo thẩm quyền của lực lượng Kiểm soát Hải quan Thực hiện Luật Công chức, viên chức, những năm gần đây nhiều sinh viên tốt nghiệp các ngành kinh tế - xã hội đã thi công chức và trúng tuyển vào ngành Hải quan, chưa có chuyên môn nghiệp vụ kiểm soát cũng được bố trí vào các đơn vị

Ngày đăng: 05/06/2017, 13:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Học viện Tài chính (2015), Giáo trình Kiểm soát Hải quan”, Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kiểm soát Hải quan”
Tác giả: Học viện Tài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2015
5. Nguyễn Thị Lan Hương (2017), Pháp luật về trị giá hải quan ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về trị giá hải quan ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Hương
Năm: 2017
6. Trịnh Thị Nguyệt (2014), Tổ chức khai thác và sử dụng tài liệu tại kho lưu trữ tổng cục hải quan phục vụ công tác kiểm soát hải quan, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học xã hội và nhân văn Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức khai thác và sử dụng tài liệu tại kho lưu trữ tổng cục hải quan phục vụ công tác kiểm soát hải quan
Tác giả: Trịnh Thị Nguyệt
Năm: 2014
7. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
9. Quốc hội (2009), Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
14. Luc De Wulf – José B.Sokol(2004), “Sổ tay hiện đại hóa Hải quan” – Ban Thương mại của Ngân hàng Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sổ tay hiện đại hóa Hải quan”
Tác giả: Luc De Wulf – José B.Sokol
Năm: 2004
17. (Lê Thu, Cận cảnh 4 container "rác" điện tử Hải quan vừa phát hiện,http://www.baohaiquan.vn/Pages/Kham-xet-4-container-rac-dien-tu.aspx, ngày cập nhật 03/01/2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: rác
15. (Thu Hoa, Phát hiện lô da trăn khô 7 tỷ đồng nhập khẩu trái phép, baohaiquan.vn, http://www.baohaiquan.vn/pages/phat-hien-lo-da-tran-kho-7-ty-dong-nhap-khau-trai-phep.aspx, ngày cập nhật 26/9/2016) Link
16. (Quang Hùng , Khởi tố vụ nhân viên dùng chữ ký số của công ty để buôn lậu, baohaiquan.vn, http://www.baohaiquan.vn/Pages/Khoi-to-vu-nhan-vien-dung-chu-ky-so-cua-cong-ty-de-buon-lau.aspx, ngày cập nhật 06/9/2016) Link
18. (Lê Thu , Lai-phat-hien-hon-500-kg-nga-voi-giau-trong-go-nhap-khau, baohaiquan.vn, http://www.baohaiquan.vn/Pages/Lai-phat-hien-hon-500-kg-nga-voi-giau-trong-go-nhap-khau.aspx, ngày cập nhật 01/12/2016) Link
1. Chính phủ (2015). Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 qui định chi tiết và biện pháp thi hành luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan Khác
2. Chính phủ (2011). Quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 25/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 Khác
3. Chính phủ (2015). Quyết định số 65/2015/QĐ-TTg ngày 17/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính Khác
8. Quốc hội (2005), Bộ Luật Hàng hải số 40/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 Khác
10. Quốc hội (2014), Luật Hải quan số 54/2014/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 23-06-2014 Khác
11. Quốc hội (2015), Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2015 Khác
12. Trường Hải quan Việt Nam (2014), Tài liệu đào tạo ngạch kiểm tra viên chính - lưu hành nội bộ Khác
13. Tổng cục Hải quan (2016). Quyết định số 4294/QĐ-TCHQ ngày 12/12/2016 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đội kiểm soát hải quan trực thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w