1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập nhóm 2 luật hải quan phân tích các phương pháp xác định trị giá hải quan hiện hành tại việt nam

12 328 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 90,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm: Theo quy định tại Điều 71 Luật Hải quan thì trị giá hải quan “ được sử dụng làm cơ sở cho việc tính thuế và thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu” Trị giá hải quan đối với h

Trang 1

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Khái quát chung về trị giá hải quan

1 Khái niệm

2 Nguyên tắc và phương pháp xác định

3 Thời điểm xác định trị giá hải quan

II Xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu

III Xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu

1 Phương pháp trị giá giao dịch

2 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt

3 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự

4 Phương pháp trị giá khấu trừ

5 Phương pháp trị giá tính toán

6 Phương pháp trị giá suy luận

IV Thực tiễn và việc xác định trị giá hải quan và những phương hướng hoàn thiện

1 Thực tiễn

2 Phương hướng

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trị giá hải quan nói chung và trị giá tính thuế nói riêng là một vấn đề quan trọng với vai trò phục vụ mục tiêu quản lý và xây dựng chính sách xuất nhập khẩu hàng hoá trong nền kinh tế và là cơ sở để thực thi các chính sách quản lý hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Có tổng thể sáu phương pháp tính trị giá tính thuế áp dụng đối với từng đối tượng cụ thể và cách tính riêng biệt Với mục đích nghiên cứu các phương pháp xác định trị giá hải quan hiện nay, trong phạm vi bài tập nhóm tháng, chúng em xin giới hạn phạm vi bài làm chỉ nghiên cứu, phân tích về trị giá tính thuế Bài viết dưới đây xin làm rõ đề tài: “Phân tích các phương pháp xác định trị giá hải quan hiện hành tại Việt Nam”

NỘI DUNG

I Tổng quan về trị giá hải quan:

1 Khái niệm:

Theo quy định tại Điều 71 Luật Hải quan thì trị giá hải quan “ được sử dụng làm cơ sở cho việc tính thuế và thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”

Trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu là phần số liệu về trị giá của hàng hoá được đưa ra hoặc đưa vào lãnh thổ hải quan do cơ quan hải quan quản lý và sử dụng phục vụ cho các mục tiêu quản lý Nhà nước về hải quan

Quan niệm giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu theo Hiệp định trị giá hải quan ( ACV)- Hiệp định thực hiện điều VII của GATT năm 1994 thì“Trị giá tính thuế là trị giá hải quan nhằm mục đích tính thuế Xác định trị giá hải quan là xác định trị giá làm cơ sở tính thuế” hay trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu là trị giá hải quan của hàng hoá nhập khẩu đó phục vụ mục đích tính thuế

2 Nguyên tắc và phương pháp xác định:

2.1 Mục đích thuế (Điều 4 Nghị định 40/2007/NĐ-CP):

- Đối với hàng hoá xuất khẩu, trị giá tính thuế là giá bán tại cửa khẩu xuất (giá FOB, giá DAF), không bao gồm phí bảo hiểm (I) và phí vận tải (F)

- Đối với hàng hoá nhập khẩu, trị giá tính thuế là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên và được xác định theo các phương pháp xác định trị giá tính

Trang 3

thuế quy định từ Điều 7 đến Điều 12 Nghị định này, bằng cách áp dụng tuần tự từng phương pháp và dừng ngay ở phương pháp xác định được trị giá tính thuế Trường hợp người khai hải quan có văn bản đề nghị thì trình tự áp dụng các phương pháp xác định trị giá tính thuế quy định tại Điều 10 và Điều 11 Nghị định này có thể thay đổi cho nhau

2.2 Mục đích thống kê (Điều 5 Nghị định 40/2007/NĐ-CP):

- Đối với hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế, trị giá thống kê được xác định dựa trên trị giá tính thuế đã được xác định theo các nguyên tắc và phương pháp quy định tại Điều 4 Nghị định này;

- Đối với hàng hoá không thuộc đối tượng chịu thuế, xét miễn thuế hoặc không xác định được trị giá tính thuế theo quy định tại Điều 4 Nghị định này thì trị giá thống kê là trị giá do người khai hải quan khai báo theo nguyên tắc sau:

- Đối với hàng hoá nhập khẩu, trị giá thống kê là giá bán tại cửa khẩu nhập đầu tiên (giá CIF);

- Đối với hàng hoá xuất khẩu, trị giá thống kê là giá bán tại cửa khẩu xuất (giá FOB, giá DAF)

3 Thời điểm xác định trị giá hải quan:

Theo quy định tại Điều 4 Thông tư 205/2010/TT-BTC ngày 15/12/2010 hướng dẫn thi hành Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ quy đinh về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thì thời điểm xác định trị giá hải quan được quy định cụ thể như sau:

- Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thì thời điểm xác định trị giá hải quan là ngày đăng ký tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

- Đối với trường hợp phải trì hoãn việc xác định trị giá tính thuê, thì thời điểm xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là ngày cơ quan hải quan hoặc người khai hải quan xác định được trị giá tính thuế theo quy định của Thông tư

II Xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu:

Trị giá tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu là giá bán thực tế tại cửa khẩu xuất không bao gồm phí bảo hiểm quốc tế và phí vận tải quốc tế phù hợp với các chứng từ có liên quan

Trang 4

Việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu được thực hiện dựa trên hai phương pháp, được quy định cụ thể tại Điều 10 Thông tư 205/2010/TT-BTC hướng dẫn Nghị định số 40/2007/NĐ-CP về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu:

- Trị giá tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu là giá bán ghi trên hợp đồng mua bán hàng hoá hoặc các hình thức có giá trị pháp lý tương đương hợp đồng, hoá đơn thương mại và các chứng từ có liên quan của lô hàng phù hợp với hàng hoá thực xuất khẩu

- Trường hợp hồ sơ không hợp pháp hoặc nội dung giữa các chứng từ có mâu thuẫn thì cơ quan hải quan xác định trị giá tính thuế căn cứ vào trình tự các nguồn thông tin quy định tại khoản 5 Điều 21 Thông tư này và các chứng từ, tài liệu kèm theo như:

+ Tờ khai hải quan của hàng hoá xuất khẩu giống hệt, hàng hoá xuất khẩu tương tự làm cơ sở xác định trị giá tính thuế; hoặc/và

+ Hoá đơn bán hàng của hàng hoá xuất khẩu giống hệt, hàng hoá xuất khẩu tương tự do Bộ Tài chính phát hành hoặc cho phép sử dụng; hoặc/và

+ Các chứng từ dùng để quy đổi về giá FOB, giá DAF sử dụng để xác định trị giá tính thuế

Ngoài ra quy định tại khoản 5 Điều 21 Thông tư 205/2010/TT-BTC như sau: + Giá FOB, giá DAF của hàng hoá xuất khẩu giống hệt, hàng hoá xuất khẩu tương tự;

+ Giá bán tại thị trường nội địa của hàng hoá xuất khẩu giống hệt, hàng hoá xuất khẩu tương tự sau khi trừ thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có)

và các chi phí hợp pháp phát sinh trước khi xuất khẩu hàng hoá tại cửa khẩu xuất + Các thông tin khác do cơ quan hải quan thu thập được sau khi quy đổi về giá FOB, giá DAF

III Xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu:

1 Phương pháp trị giá giao dịch:

Theo quy định tại điều 7 Nghị định 40/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm

2007 Trị giá giao dịch” là giá mà người mua thực tế đã thanh toán hay sẽ phải

Trang 5

thanh toán cho hàng hoá được bán để xuất khẩu tới Việt Namkhi đã tính đến các khoản điều chỉnh ( điều chỉnh cộng hoặc điều chỉnh trừ)

Trị giá giao dịch gồm:

- Giá mua ghi trên hóa đơn thương mại

- Các khoản tiền người mua phải thanh toán nhưng chưa tính vào giá mua ghi trên hóa đơn thương mại

- Các khoản điều chỉnh

Điều kiện áp dụng phương pháp xác định trị giá giao dịch bao gồm:

- Người mua không bị hạn chế quyền định đoạt hoặc sử dụng hàng hóa sau khi nhập khẩu, trừ các trường hợp:

+ Hạn chế về việc mua bán, sử dụng hàng hóa theo quy định của pháp luật + Hạn chế về nơi tiêu thụ hàng hóa sau khi nhập khẩu

+ Những hạn chế khác nhưng không làm ảnh hưởng đến trị giá của hàng hóa

- Giá cả hoặc việc bán hàng không phụ thuộc vào những điều kiện hay các khoản thanh toán mà vì chúng không xác định được trị giá của hàng hóa cần xác định giá trị thuế

- Sau khi bán lại, chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng hóa nhập khẩu, người mua không phải trả thêm bất kỳ khoản tiền nào từ số tiền thu được do việc định đoạt hàng hóa nhập khẩu mang lại, không kể khoản điều chỉnh cộng

- Người mua và người bán không có mối quan hệ đặc biệt hoặc nếu có thì mối quan hệ đặc biệt đó không ảnh hưởng đến trị giá giao dịch

Nguyên tắc điều chỉnh đối với phương pháp là đối với các khoản phải cộng, chỉ điều chỉnh khi có các điều kiện các khoản này do người mua thanh toán và chưa được tính trong giá thực tế đã trả hay sẽ phải trả hoặc khoản phải cộng phải liên quan trực tiếp đến hàng hóa nhập khẩu.Đối với các khoản được trừ, chỉ điều chỉnh khi có các số liệu, chứng từ hợp pháp, hợp lệ để tách khỏi giá bán và có sẵn tại thời điểm xác định giá tính thuế

2 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu giống hệt:

Theo quy định tại khoản 7 Điều 2 Nghị định 40/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng3 2007 quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu,nhập khẩu và khoản 8 Điều 2Thông tư số 205 /2010/TT-BTC ngày

Trang 6

15/12/2010 Thông tư Hướng dẫn Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩuthì “Hàng hoá nhập khẩu giống hệt là những hàng hoá giống nhau về mọi phương diện, kể cả đặc điểm vật lý, chất lượng và danh tiếng; được sản xuất ở cùng một nước, bởi cùng một nhà sản xuất hoặc nhà sản xuất khác theo sự ủy quyền của nhà sản xuất đó, được nhập khẩu vào Việt Nam” Những hàng hoá nhập khẩu về cơ bản đáp ứng các điều kiện là hàng hoá nhập khẩu giống hệt nhưng có những khác biệt không đáng kể về bề ngoài như màu sắc, kích cỡ, kiểu dáng mà không làm ảnh hưởng đến giá trị của hàng hoá thì vẫn được coi là hàng hoá nhập khẩu giống hệt

Ví dụ : Ô tô cùng nhãn hiệu, cùng nhà sản xuất, seri nhưng khác màu ; áo sơ

mi Dior và Pie Cardin cùng chất liệu, cùng màu sắc

Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt được quy định cụ thể tại Điều 8 Nghị định 40/2007/NĐ-CP và Điều 16 Thông tư 205/2010/TT-BTC với điều kiện hàng hoá nhập khẩu tương tự đã được cơ quan hải quan chấp nhận xác định trị giá tính thuế theo phương pháp trị giá giao dịch và có cùng các điều kiện mua bán, điều kiện về thời gian xuất khẩu với hàng hoá nhập khẩu đang xác định trị giá tính thuế.Khi xác định trị giá tính thuế quy định tại Điều này mà xác định được từ hai trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu giống hệt trở lên thì trị giá tính thuế là trị giá giao dịch thấp nhất, sau khi đã điều chỉnh mức giá

về cùng các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 16 Nghị định 40/2007/NĐ-CP

3 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu tương tự:

Theo quy định tại khoản 8 Điều 2 Nghị định 40/2007/NĐ-CP và khoản 9 Điều

2 Thông tư 205/2010 hướng dẫn thi hành luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì

“Hàng hoá nhập khẩu tương tự” là những hàng hoá mặc dù không giống nhau về mọi phương diện nhưng có các đặc trưng cơ bản giống nhau, được làm từ các nguyên, vật liệu giống nhau; có cùng chức năng và có thể hoán đổi cho nhau trong giao dịch thương mại; được sản xuất ở cùng một nước, bởi cùng một nhà sản xuất hoặc nhà sản xuất khác theo sự uỷ quyền của nhà sản xuất đó, được nhập khẩu vào Việt Nam.”

Trang 7

Ví dụ : Đèn chiếu sáng cùng kích cỡ, kiểu dáng,độ sáng, khác lượng tiêu thụ điện; Cao su cùng chất lượng, tiêu chuẩn và phương thức chế biến, nhập khẩu để sản xuất săm ô tô, cùng nước xuất khẩu, khác nhãn hiệu

Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự được áp dụng khi thực hiện 2 phương pháp trên nhưng không xác định được trị giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu Trình tự, thủ tục thực hiện phương pháp này tương tự với trình tự, thủ tục thực hiện phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hết

4 Phương pháp trị giá khấu trừ:

Trị giá khấu trừ trị giá được từ giá bán hàng nhập khẩu, hàng nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự trên thị trường nội địa Việt Nam sau khi đã trừ đi chi phí hợp lý, lợi nhuận thu được sau khi bán hàng nhập khẩu Phương pháp trị giá khấu trừ khi không xác định được trị giá tính thuế theo 2 phương pháp đã trình bầy ở trên

Công thức tính trị giá khấu trừ: Trị giá khấu trừ = giá bán lại hàng hóa – chi phí chung và lợi nhuận + chi phí vẩn tải và bảo hiểm nội địa + thuế hải quan phải nộp

Đối với phương pháp này điều kiện áp dụng được quy định như sau:

- Phải có hoạt động bán hàng nhập khẩu hoặc hàng nhập khẩu tương tự hàng nhập khẩu giống hệt

- Hàng nhập khẩu, hang nhập khẩu tương tự, hàng nhập khẩu giống hệt phải được bán nguyên trạng như khi nhập khẩu

- Người bán, người mua trong nước phải không có quan hệ đặc biệt với người nhập khẩu hàng hóa

- Mức giá được dung để làm cơ sở trị giá khấu trừ được tính trên số lượng đơn nhất và được hình thành đơn giá

- Hàng nhập khẩu, hàng nhập khẩu tương tự, hàng nhập khẩu giống hệt phải được bán lại hoặc cùng với hàng nhập khẩu xác định trị giá

- Không được sử dụng đơn giá bán lẻ tại Việt Nam…

5 Phương pháp trị giá tính toán:

Phương pháp này xác định giá tính thuế bằng giá thành để sản xuất ra loại hàng hóa đang cần tính thuế cộng với một khoản lợi nhuận và các chi phí chung (ở

Trang 8

mức tương đương với lợi nhuận và chi phí chung thường tính trong giá bán của các măt hàng cùng loại được sản xuất để xuất khẩu bởi cùng một nhà sản xuất ở nước xuất khẩu)

Trị giá tính toán của hàng hoá nhập khẩu được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 18 Thông tư 205/2010/TT-BTC bao gồm các khoản như: chi phí trực tiếp để sản xuất ra hàng hoá nhập khẩu, chi phí chung và lợi nhuận phát sinh trong hoạt động bán hàng hoá cùng phẩm cấp hoặc cùng chủng loại với hàng hoá nhập khẩu đang xác định trị giá, được sản xuất ở nước xuất khẩu để bán hàng đến Việt Nam, các chi phí vận tải, bảo hiểm và các chi phí có liên quan đến việc vận tải hàng hoá nhập khẩu

Căn cứ để xác định trị giá tính toán là số liệu được ghi chép và phản ánh trên chứng từ, sổ sách kế toán của người sản xuất trừ khi các số liệu này không phù hợp các số liệu thu thập được tại Việt Nam Số liệu này phải tương ứng với những

số liệu thu được từ những hoạt động sản xuất, mua bán hàng hoá nhập khẩu cùng phẩm cấp hoặc cùng chủng loại do người sản xuất tại nước xuất khẩu sản xuất ra để xuất khẩu đến Việt Nam

Công thức tính theo trị giá tính toán: giá tính thuế = giá thành sản xuất ra hàng hóa đó + lợi nhuận + chi phí chung

Bên cạnh đó, lưu ý đối với phương pháp này là việc xác định trị giá tính toán phải dựa trên các số liệu của nhà sản xuất cung cấp phù hợp với các nguyên tắc kế toán của nước sản xuất hàng hóa, trừ khi số liệu này không phù hợp với các

số liệu thu thấp được ở việt nam

Tóm lại, việc sử dụng phương pháp tính thuế theo trị giá tính toán khi không thể xác định được trị giá hải quan theo phương pháp trị giá khấu trừ Trong trường hợp người nhập khẩu có văn bản yêu cầu thì mới áp dụng phương pháp trị giá tính toán trước khi thử áp dụng phương phương pháp trị giá khấu trừ

6 Phương pháp suy luận:

Có thể nói phương pháp này chỉ được sử dụng khi đã áp dụng tất cả các phương pháp trên và theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Thông tư số 205 /2010/TT-BTC nếu không xác định được trị giá tính thuế theo các phương pháp hướng dẫn

Trang 9

trên thì trị giá tính thuế được xác định theo phương pháp suy luận, căn cứ vào các tài liệu, số liệu khách quan, có sẵn tại thời điểm xác định trị giá tính thuế

Trị giá tính thuế theo phương pháp suy luận được xác định bằng cách áp dụng tuần tự và linh hoạt các phương pháp xác định trị giá tính thuế hướng dẫn trên và dừng ngay tại phương pháp xác định được trị giá tính thuế

Một vấn đề lưu ý khi áp dụng phương pháp này là không được sử dụng các trị giá sau để xác định trị giá tính thuế: Một là, Giá bán trên thị trường nội địa của mặt hàng cùng loại đã được sản xuất tại Việt Nam Hai là, Giá bán hàng hoá ở thị trường nội địa nước xuất khẩu Ba là, Giá bán hàng hoá để xuất khẩu đến một nước khá Bốn là, Chi phí sản xuất hàng hoá, trừ chi phí sản xuất của hàng hoá nhập khẩu quy định tại Điều 11 Nghị định này Năm là, Giá tính thuế tối thiểu Sáu là, Các loại giá giả định Bảy là, Hệ thống xác định trị giá cho phép sử dụng trị giá cao hơn trong hai trị giá thay thế để làm trị giá tính thuế

III Thực tiễn việc xác định trị giá hải quan và những phương hướng hoàn thiện:

1 Thực tiễn:

Có thể nói, quy định của pháp luật hiện nay về trị giá hải quan đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng và phù hợp với quy định của hiệp định trị giá GATT Tuy nhiên, với những quy định này sẽ không tránh khỏi gian lận thương mại qua trị giá bằng nhiều hình thức khác nhau, các thủ đoạn tinh vi và rất khó kiểm soát Tham vấn để xác định giá trị thực của mặt hàng nhập khẩu là biện pháp hữu hiệu mà ngành hải quan áp dụng nhằm tránh thất thu ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, tiến hành tham vấn tràn lan dễ dẫn tới việc gây phiền hà cho doanh nghiệp, cản trở quá trình cải cách thủ tục hành chính đang được ngành hải quan triển khai mạnh mẽ

Bên cạnh đó, việc áp dụng trị giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu theo GATT là một vấn đề mới và phức tạp, triển khai và quản lý còn thiếu kinh nghiệm, đã xuất hiện hiện tượng gian lận thương mại về hàng hoá nhập khẩu khá đa dạng, tinh vi nhất là những mặt hàng có thuế suất cao, giá trị lớn Bên cạnh hành vi gian lận thương mại trong ký kết các hợp đồng kinh tế ngoại thương thì gian lận hoàn thuế đối với hàng hoá xuất nhập khẩu ở khu kinh tế thương mại tự do cũng là vấn đề cần

Trang 10

phải có biện pháp quản lý chặt chẽ Khó khăn của các cơ quan quản lý thuế hiện nay vẫn là việc xác minh các khoản tiền thực tế giao dich và thanh toán các hợp đồng, mua bán qua mạng và thanh toán qua hệ thống ngân hàng Có thể nói gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan ở nước ta hiện nay đang diễn ra hết sức phức tạp, với nhiều thủ đoạn tinh vi, hình thức gian lận thường thấy nhất là gian lận qua giá nhằm mục đích trốn thuế hải quan

Ngoài ra, công tác xác định trị giá tính thuế còn nhiều tồn tại, chưa tương xứng với thực tế công việc và yêu cầu của Ngành đặt ra Những tồn tại tập trung vào các việc như: thu thập, khai thác và sử dụng thông tin chưa phù hợp; việc tham vấn chưa thực sự có hiệu quả, còn mang tính hình thức; việc xác định lại trị giá tính thuế sau tham vấn; hệ thống tổ chức, con người chưa phù hợp; hệ thống dữ liệu giá chưa hiệu quả Nhưng theo đánh giá của Tổng cục hải quan, trình độ công chức làm công tác giá hiện nay nhìn chung còn yếu kém về chuyên môn, bố trí cán bộ chưa đúng đối tượng, chuyên môn đào tạo Tại các Chi cục nhỏ chưa có cán bộ chuyên trách, cán bộ làm giá còn thiếu kinh nghiệm thực tế do việc luân chuyển cán bộ liên tục giữa các bộ phận còn bất cập, chỉ chú trọng đến vị trí công tác mới mà chưa chú

ý đến tính nghiệp vụ chuyên sâu

Một số vấn đề pháp lý liên quan đến trị giá hải quan chưa được pháp luật điều chỉnh như: đó là việc quy định chặt chẽ các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng, những mối quan hệ có ảnh hưởng đến trị giá giao dịch có ảnh hưởng đến các khoản điều chỉnh cộng, trừ vào giá trị giao dịch hàng hoá Hiện nay chưa có quy định cho việc bắt buộc tất cả các giao dịch đều phải thanh toán qua hệ thống ngân hàng Điều này gây khó khăn trong việc xác định số tiền thực thanh toán của doanh nghiệp; vấn đề xác định hành vi khai báo sai trị giá hải quan hay hành vi trốn thuế; các văn bản quy định về việc xử lý các hành vi vi phạm về vấn đề liên quan đến trị giá hải quan tại Việt Nam vẫn còn chưa đồng bộ chưa tương xứng với mức độ thiệt hại của hành vi Các quy định hiện hành vẫn còn thiếu và còn nhiều bất cập, không cập nhật

2 Phương hướng hoàn thiện:

Một là, cần phải hoàn thiện yếu tố con người, đây là nhân tố quyết định cho sự

Ngày đăng: 21/03/2019, 15:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w